Skkn cách thức dạy tác phẩm tự sự ở trường thpt

  • Số trang: 22 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 24 |
  • Lượt tải: 0
nguyen-thanhbinh

Đã đăng 8358 tài liệu

Mô tả:

MỤC LỤC A. Đặt vấn đề (Lý do chọn đề tài) 1. Lí do chọn đề tài 2. Mục đích nghiên cứu 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4. Phương pháp nghiên cứu 5. Cấu trúc của đề tài B. Giải quyết vấn đề (Nội dung sáng kiến kinh nghiệm) Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề 1.1. Khái quát chung về tự sự 1. 2. Đặc điểm của tác phẩm tự sự Chương 2: Cơ sở thực tiễn( thực trạng của vấn đề) Chương 3: Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề 3. 1. Biện pháp giải quyết 3. 2. Nội dung và phương pháp thưc hiện 3.2.1 Khâu chuẩn bị bài ở nhà 3.2.2 Khâu giảng trên lớp 3.2.2.1 Phần kiểm tra bài cũ 3.2.2.2 Phần dạy bài mới 3.3. Đánh giá kết quả và rút ra bài học kinh nghiệm 3. 3.1 Kết quả kiểm nghiệm 3. 3.2 Nguyên nhân thành công và tồn tại 3. 3.3 Bài học kinh nghiệm C. Kết luận và đề xuất 1. Kết luận 2. Đề xuất 1 A. ĐẶT VẤN ĐÊ 1. Lí do chọn đề tài: Như chúng ta đã biết, tác phẩm tự sự chiếm một số lượng lớn trong chương trình Ngữ văn ở trường phổ thông. Việc khai thác, tìm hiểu, khám phá và hiểu tác phẩm tự sự một cách có hiệu quả cao vẫn đang là một thử thách lớn với giáo viên và học sinh. Trong những năm gần đây, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học được đặt ra như một yêu cầu cấp thiết được toàn Đảng, toàn dân đặc biệt quan tâm. Nghị quyết TW2 khoá VIII và kết luận của hội nghị TW6 khoá IX nêu rõ : “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thói quen nề nếp, tư duy sáng tạo của người học”. Từ yêu cầu đó, trong những năm qua Bộ GD –ĐT đã từng bước có những cải tiến tích cực như việc cải cách chương trình, thay sách giáo khoa, tổ chức các lớp bồi dưỡng đổi mới phương pháp giảng dạy cho giáo viên, đổi mới cách thức ra đề thi…Đặc biệt, gần đây nhất là tập huấn về cách thức dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng và cách ra đề theo ma trận. Nhờ đó, trong công tác giảng dạy, kiểm tra đánh giá nói riêng và giáo dục nói chung đã đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, nhận thức về đổi mới phương pháp dạy học trong phần lớn giáo viên còn chuyển biến chậm do thói quen vận dụng các phương pháp dạy học truyền thống, do ngại thay đổi, do chưa thực sự tâm huyết với nghề hoặc nên chưa có sự vận dụng, đổi mới phương pháp dạy học. Bên cạnh đó, còn có sự chi phối của yếu tố khách quan là: ngành Giáo dục - Đào tạo chưa thực sự có nhiều lớp bồi dưỡng đổi mới phương pháp dạy học thật căn bản, cụ thể cho giáo viên, cho nên nhiều giáo viên còn gặp nhiều khó khăn, lúng túng trong phương pháp giảng dạy. Vì thế, ở đề tài này người viết xin đề cập đến một vài kinh nghiệm về cách thức dạy học tác phẩm tự sự trong trường THPT. 2. Mục đích nghiên cứu: Tôi chọn đề tài này với mục đích có điều kiện nghiên cứu kĩ lưỡng,sâu sắc hơn về cách thức dạy tác phẩm tự sự ở trường THPT.Đồng thời mong muốn được trao đổi kinh nghiệm để trong quá trình dạy học phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh,tạo thêm hứng thú và niềm say mê,yêu thích các tác phẩm tự sự trong chương trình Ngữ văn ở trường THPT. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Trong phạm vi đề tài này tôi tập trung nghiên cứu cách thức dạy tác phẩm tự sự ở trường THPT.Và tôi đã chọn một số tác phẩm tiêu biểu đó là: Truyền 2 thuyêt An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy. Tác phẩm Chí Phèo, Đời thừa của Nam Cao. Tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng.Truyện ngắn Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân và tác phẩm Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài. 4. Phương pháp nghiên cứu: Dựa trên cơ sở đọc, tìm hiểu các tài liệu tin cậy, thực dạy, kiểm tra đánh giá học sinh và dự giờ đồng nghiệp. 5. Cấu trúc của đề tài: Ngoài phần mở đầu và phần kết luận đề tài gồm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lí luận của vấn đề Chương 2: Cơ sở thực tiễn của vấn đề Chương 3: Các biện pháp giải quyết vấn đề B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐÊ CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐÊ Để có được phương pháp giảng dạy học tốt tác phẩm tự sự ở trường THPT phổ thông ta cần làm rõ một số vấn đề về cơ sở lý luận xoay quanh thể loại tự sự. 1.1. Khái quát chung về tự sự. Theo Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong: “Từ điển thuật ngữ văn học" (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội-1997) thì tự sự được hiểu là: “Phương thức tái hiện đời sống bên cạnh hai phương diện khác là trữ tình và kịch, được dùng làm cơ sở để phân loại tác phẩm văn học”. Theo “Từ điển tiếng Việt” do Hoàng Phê chủ biên (NXB Đà Nẵng2007): “Tự sự là thể loại văn học phản ánh hiện thực bằng cách kể lại sự việc, miêu tả tính cách thông qua cốt truyện, tương đối hoàn chỉnh”. Trong lý luận văn học thì: “Tác phẩm tự sự là loại tác phẩm phản ánh đời sống trong quá trình khách quan của nó, qua con người, hành vi, sự kiện được kể lại bởi một người kể chuyện nào đó”. Theo Giáo sư Nguyễn Văn Hạnh, Tiến sĩ Huỳnh Như Phương: "Tự sự là kể chuyện, trình bày sự việc, sự vật một cách cụ thể, chi tiết, có đầu có đuôi, tự sự tập trung chủ yếu vào việc miêu tả thế giới bên ngoài". Từ những cơ sở trên, chúng ta có thể hiểu một cách chung nhất về thể loại tự sự như sau: “Tự sự là thể loại văn học phản ánh cụ thể hiện thực đời sống một cách khách quan bằng cách kể lại sự việc, sự kiện, miêu tả tính cách nhân vật, chi tiết ... có đầu có đuôi thông qua cốt truyện tương đối hoàn chỉnh và được kể lại bởi một người kể chuyện nào đó”. 1.2. Đặc điểm của tác phẩm tự sự 3 1.2.1. Tác phẩm tự sự phản ánh đời sống trong tính khách quan của nó thông qua các sự kiện, hệ thống sự kiện Các nhà lí luận từ Aristot đến Lessing, Bêlinxki đều cho rằng tác phẩm tự sự đưa ra một bức tranh khách quan về thế giới. Trong Nghệ thuật thơ ca, Aristot cho rằng thế giới của tác phẩm tự sự là thế giới tồn tại bên ngoài người trần thuật, không phụ thuộc vào ý muốn và tình cảm của họ. Ở đây, nhà văn dường như đứng bên ngoài để kể lại. Tất cả những sự việc của đời sống được nhà văn kể lại như một đối tượng khách quan ở bên ngoài mình. Ðể có cái nhìn khách quan, tác phẩm tự sự tập trung phản ánh đời sống qua các sự kiện, hệ thống sự kiện. Vì vậy, nhiều nhà lí luận khẳng định tính sự kiện có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng và là đặc điểm hàng đầu của tác phẩm tự sự. Các biến cố, sự kiện này có thể là những biến cố, sự kiện bên ngoài, tức là phần tồn tại vật chất với các việc làm, hành động cụ thể có thể thấy được, cũng có thể là những biến cố, sự kiện bên trong bao gồm tâm trạng, cảm xúc, ý nghĩ... nhưng những biến cố, sự kiện này không được biểu hiện trực tiếp mà được xem như một đối tượng để đem ra phân tích, nhận biết. Như vậy, tác phẩm tự sự tái hiện toàn bộ thế giới bao gồm những sự kiện bên ngoài và bên trong của con người nhưng đều xem chúng như là những sự kiện khác nhau về đời sống con người, xã hội. 1.2.2. Tác phẩm tự sự có khả năng phản ánh hiện thực một cách rộng lớn, bao quát Tác phẩm tự sự miêu tả cuộc sống qua các sự kiện, hệ thống sự kiện mà sự kiện là sản phẩm của mối quan hệ giữa con người với con người, con người và môi trường xung quanh. Do đó, tác phẩm tự sự mở ra một phạm vi hết sức rộng lớn trong việc miêu tả hiện thực khách quan, được thể hiện trong nhiều mốiquanhệ. Trong tác phẩm tự sự, không gian và thời gian không bị hạn chế. Nhà văn có thể thể hiện những vùng đất khác nhau, có thể lùi về dĩ vãng hay đắm mình trong hiện tại, có thể lướt qua hoặc tập trung miêu tả một mặt nào đó mà mình cho là quan trọng. Nó có thể kể về một khoảnh khắc hoặc một sự kiện dài 10 năm hay 20 năm trong một không gian nhất định hoặc ở nhiều vùng đất khác nhau. Từ những đặc điểm trên, nhân vật tự sự cũng được khắc họa đầy đặn, nhiều mặt nhất; có thể được triển khai sâu rộng trong nhiều mối quan hệ đa dạng và phong phú. Nhân vật thường có số phận, con đường đi và quá trình phát triển qua nhiều giai đoạn khác nhau. so với các loại nhân vật khác, nhân 4 vật trong tác phẩm tự sự được khắc họa tỉ mỉ từ ngoại hình đến nội tâm, cả quá khứ, hiện tại và trong xu thế phát triển...Tóm lại, nhân vật tự sự được miêu tả nhiều mặt, toàn diện và sinh động, nhiều màu sắc thẩm mĩ. Do tính chất phản ánh rộng lớn và bao quát, hệ thống chi tiết trong tác phẩm tự sự cũng phong phú và đa dạng, mang chất "văn xuôi". Ở đây, có thể bắt gặp những chi tiết về chân dung, ngoại hình, tâm sinh lí, phong tục, tập quán, đồ vật, đời sống lao động sản xuất, tôn giáo, chính trị...bao gồm những chi tiết có thực, tưởng tượng, hoang đường... hơn tất cả mọi loại tác phẩm khác. 1.2.3. Tác phẩm tự sự luôn luôn có hình tượng người trần thuật. Hình tượng người trần thuật có thể là tác giả nhưng không nên đồng nhất người trần thuật với tác giả. Người trần thuật có thể xuất hiện dưới nhiều hình thức: khi thì tác giả ẩn mình sau những nhân vật tưởng tượng, khi thì nhân danh chính bản thân mình mà kể chuyện với ngôi thứ nhất. Nhưng dù dưới hình thức nào, người trần thuật cũng làm nhiệm vụ tường thuật, kể chuyện để phân tích, nghiên cứu, khêu gợi, bình luận, cắt nghĩa những quan hệ phức tạp giữa nhân vật và nhân vật, giữa nhân vật và hoàn cảnh...Trong tác phẩm tự sự, hình tượng người trần thuật giữ một vai trò hết sức quan trọng và luôn luôn muốn hướng dẫn, gợi ý cho người đọc nên hiểu nhân vật, hoàn cảnh...thế này hoặc thế khác. 1.2.4. Lời văn trong tác phẩm tự sự Lời văn trong tác phẩm tự sự chủ yếu là lời văn kể chuyện, miêu tả. Nó có thể được viết bằng văn vần hoặc văn xuôi nhưng bao giờ cũng hướng người đọc đến đối tượng mà nó miêu tả. Lời nói của nhân vật trong tác phẩm tự sự là một bộ phận của văn tự sự, do đó nó thường được giải thích, cắt nghĩa trước khi nhân vật phát biểu. Ðiều này khác với tác phẩm kịch và tác phẩm trữ tình. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN( THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐÊ) Việc phân tích tác phẩm tự sự đóng vai trò rất quan trọng trong nội dung chương trình của bộ môn văn học cấp phổ thông trung học. Những tác phẩm tự sự được đem vào giảng dạy là những kiệt tác văn chương thế giới và những tác phẩm đặc sắc trong nền văn học nước nhà. Trong văn chương cái hay nó thường đi liền với cái sâu sắc thâm thúy, đa nghĩa. Vì vậy, việc cảm thụ một tác phẩm tự sự đặc sắc đối với học sinh là một vấn đề khá khó khăn. Muốn làm được điều này đòi hỏi học sinh phải có lòng yêu thích văn học, phải có tâm thế đọc tác phẩm, chuẩn bị bài trước khi đến lớp. Nhưng trên thực tế, qua quá trình 5 giảng dạy môn văn ở nhà trường THPT tôi nhận thấy, học sinh ở trường THPT Bá Thước nói riêng và các trường THPT khác nói chung ngày càng ít say mê và yêu thích văn học mặc dù đó vẫn được coi là một môn học chính. Vì thế một bộ phận không nhỏ học sinh không chịu đọc tác phẩm ở nhà. Việc soạn bài, chuẩn bị bài trước khi đến lớp mang tính đối phó. Tuy không đọc tác phẩm nhưng các em cũng vẫn soạn được bài vì nhiều lí do: thứ nhất học sinh chép tài liệu tham khảo mà không đầu tư suy nghĩ. Các em mượn vở ghi giảng văn của học sinh các khóa trước trước hoặc cùng khóa nhưng đã học trước hoặc các em chép vở soạn của nhau. Điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến việc tiếp thu bài học ở lớp của các em. Bên cạnh đó, việc giảng dạy tác phẩm tự sự ở giáo viên chưa thực sự có nhiều cải tiến, đổi mới, trong phương pháp giảng dạy vẫn chủ yếu giảng theo phương pháp truyền thống, chỉ tập trung nhiều vào việc khai thác nội dung tác phẩm theo phương pháp lịch sử mà chưa chú ý đến cấu trúc, hình thức tác phẩm. Vì thế đã gây ra sự nhàm chán cho học sinh, làm giảm sức thu hút của tác phẩm văn chương đối với học sinh. Việc đổi mới phương pháp dạy học ở các giờ giảng văn thuộc thể loại tác phẩm tự sự diễn ra chậm là do nhiều nguyên nhân: Thứ nhất, thường một truyện ngắn hay một đoạn trích tác phẩm tự sự được đưa vào dạy ở nhà trường phổ thông là tác phẩm đặc sắc, mà trong khi đó thời gian cho phép thông thường chỉ từ 1 đến 2 tiết cho nên giáo viên còn gặp những khó khăn nhất định trong việc truyền tải kiến thức, học sinh cũng gặp khó khăn trong việc tiếp nhận đầy đủ, sâu sắc nội dung bài học vì thời gian eo hẹp. Thứ hai, giáo viên còn gặp nhiều lúng túng trong việc đổi mới phương pháp trong giờ giảng văn tác phẩm tự sự. Thứ ba, học sinh không đầu tư thời gian cho việc đọc tác phẩm trước ở nhà. Trước tình hình đó, bản thân tôi mạnh dạn nêu lên một số giải pháp, một số kinh nghiệm mà bản thân đã áp dụng trong thời gian qua để cùng với đồng nghiệp trao đổi với mong muốn mang lại hiệu quả hơn trong những giờ giảng văn thuộc thể loại tác phẩm tự sự. CHƯƠNG 3: CÁC BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐÊ 3.1. Biện pháp giải quyết Trước thực trạng trên, qua quá trình giảng dạy môn văn ở trường THPT Bá Thước ,bản thân tôi đã áp dụng một số biện pháp như sau: 6 Bằng mọi cách buộc học sinh phải đọc trước tác phẩm hoặc đoạn trích, tóm tắt được những nội dung cơ bản của tác phẩm hoặc đoạn trích ở nhà và soạn bài theo những định hướng của giáo viên và phần hướng dẫn học bài. Cải tiến, đổi mới phương pháp trong việc giảng dạy những tác phẩm tự sự, thu hút học sinh vào bài giảng. Đổi mới cách thức kiểm tra bao gồm cả kiểm tra vấn đáp; kiểm tra 15’ và bài viết Đổi mới cách đánh giá, phân loại năng lực cảm thụ tác phẩm tự sự của học sinh 3.2. Nội dung và phương pháp thực hiện 3.2.1. Khâu chuẩn bị bài ở nhà Giáo viên cần dành thời gian của tiết học trước (sau phần củng cố, luyện tập) để hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài mới, đặt ra những yêu cầu cụ thể và bắt buộc học sinh phải hoàn thành. Đặc biệt, bằng mọi cách phải cho học sinh đọc kĩ và tóm tắt được nội dung tác phẩm hoặc đoạn trích ở nhà. Giáo viên kiểm tra việc đọc và tóm tắt nội dung tác phẩm hoặc đoạn trích của học sinh trong quá trình học bài mới hoặc kiểm tra thường xuyên vào đầu tiết học. Việc làm này sẽ giúp học sinh có ý thức tự học và tự giác hoàn thành yêu cầu của giáo viên. Ngoài việc bắt buộc phải đọc tác phẩm, chuẩn bị bài theo một số câu hỏi trong sách giáo khoa, giáo viên cần đưa ra những câu hỏi nhỏ hơn, cụ thể hơn. Tuỳ theo trình độ, năng lực, tư duy của học sinh ở từng lớp mà giáo viên có thể có những loại câu hỏi thêm khác nhau với mục đích giúp học sinh phát hiện những vấn đề trọng tâm, cốt lõi của tác phẩm hoặc đoạn trích. 3.2.2. Khâu giảng trên lớp 3.2.2.1. Phần kiểm tra bài cũ Ở phần này giáo viên nên kết hợp giữa việc kiểm tra kiến thức của bài học trước với kiểm tra việc đọc tác phẩm và chuẩn bị bài mới của học sinh. Vì thế, một học sinh được gọi lên kiểm tra bài cũ tôi thường cho hai câu hỏi: Câu hỏi thứ nhất, nhằm kiểm tra những kiến thức cơ bản, trọng tâm của tiết học trước. Câu hỏi thứ hai, nhằm kiểm tra việc đọc và hiểu tác phẩm của tiết học mới. Cần lưu ý, những câu hỏi kiểm tra việc chuẩn bị bài mới chưa đòi hỏi tư duy nhiều, chủ yếu là nhằm kiểm tra xem thực chất học sinh có học bài cũ và 7 đọc tác phẩm hay không. Bởi trên thực tế nhiều học sinh chỉ đọc sách tham khảo hay vở ghi của học sinh khác để soạn bài. 3.2.2.2. Phần bài mới * Giới thiệu tác giả Phần này học sinh đã đọc phần tiểu dẫn ở nhà trước khi soạn bài vì vậy ở phần này tôi thường nêu ra một số câu hỏi để học sinh trả lời, sau đó bổ sung và chốt lại vấn đề. Các câu hỏi tôi thường đặt ra cho học sinh đối với một tác giả là: Dựa vào tiểu dẫn và những hiểu biết của em, hãy nêu những nét chính về tiểu sử của tác giả? Nêu vài nét cơ bản về sự nghiệp sáng tác của tác giả? Hãy đánh giá khái quát về tác giả? * Hoàn cảnh sáng tác Phần này chủ yếu là giáo viên thuyết giảng nhằm làm sống lại đôi nét lịch sử mà tác phẩm ra đời để học sinh nhận thức được mối quan hệ giữa tác phẩm và cuộc sống. Chẳng hạn, Khi giới thiệu về hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm Chí Phèo (Nam Cao) chúng ta không thể không đề cập đến hai vấn đề: Dựa vào những cảnh thật, việc thật, người thật mà Nam Cao chứng kiến và nghe kể về làng quê mình, bức xúc trước hiện thực tàn khốc, xót xa cho số phận những người nông dân nghèo, căm tức giới địa chủ đè nén người dân nghèo mà Nam Cao viết thành truyện vào năm 1941. Bá Kiến thật ngoài đời không chết giống như trong tác phẩm, mà vẫn sống đến đầu cách mạng. Sau khi tác phẩm ra đời hắn rất căm tức nhưng không làm gì được. * Tóm tắt tác phẩm Ở phần này, giáo viên nên tận dụng tối đa những dụng cụ trực quan hoặc trình chiếu tranh ảnh, sơ đồ (trong giờ dạy bằng giáo án điện tử) và kiểm tra mức độ tóm tắt tác phẩm hoặc đoạn trích của học sinh ở nhà… nhằm giúp các em dễ nắm bắt nội dung và nhớ lâu cốt truyện hơn. Trong quá trình tóm tắt tác phẩm cần chú trọng đến những nét chủ yếu về cuộc đời và số phận của nhân vật chính. Tái hiện cho học sinh nắm được những dẫn chứng, chi tiết quan trọng. Đồng thời, qua các dụng cụ trực quan tôi thường gọi một học sinh lên tóm tắt tác phẩm hoặc đoạn trích. Cho một vài học sinh bổ sung và cuối cùng giáo viên đúc kết lại những nội dung trọng tâm. 8 Để hiểu được nội dung phản ánh, để phân tích được các giá trị về mặt tư tưởng lẫn nghệ thuật của một tác phẩm tự sự, cần tóm tắt chính xác cốt truyện của nó. Cách tóm tắt cốt truyện thể hiện mức độ thâm nhập tác phẩm, năng lực bao quát và khả năng diễn đạt cô đúc, gãy gọn của người tóm tắt. Điều quan trọng là phải hiểu được cốt truyện chính là hệ thống sự kiện cụ thể được tổ chức theo yêu cầu tư tưởng và nghệ thuật nhất định của nhà văn. Nhờ cốt truyện, nhà văn thể hiện sự hình thành, đặc điểm của mỗi tính cách cũng như sự tác động qua lại giữa các tính cách. Cũng nhờ cốt truyện, nhà văn tái hiện các xung đột xã hội, chứng tỏ năng lực, cách thức chiếm lĩnh thực tại khách quan của mình. Dù đa dạng, mọi cốt truyện đều trải qua một tiến trình vận động có hình thành, phát triển và kết thúc. Mỗi cốt truyện thường bao gồm các phần sau: Trình bày: Giới thiệu thời kì lịch sử, khung cảnh cụ thể của sự việc. Khai đoạn: Nêu tình huống, vấn đề nảy sinh để người đọc chú ý theo dõi. Phát triển: Diễn tả sự tiến triển của hành động, của tính cách, của mâu thuẫn, xung đột. Đỉnh điểm (hoặc cao trào): Hành động, tính cách, mâu thuẫn được phát triển đến độ cao nhất, căng thẳng nhất. Kết thúc (hoặc mở nút): Giải quyết, kết thúc một quá trình phát triển của mâu thuẫn. Đó là kể một cách đầy đủ, theo trình tự thông thường. Tuy nhiên, không phải bất cứ cốt truyện nào cũng bao hàm đầy đủ các phần như vậy, trình tự các phần ấy cũng biến hóa sinh động như cuộc sống muôn màu và tùy theo ý đồ nghệ thuật của nhà văn. Điều quan trọng học sinh phải chiếm lĩnh, cảm thụ, tái hiện được những diễn biến trọng tâm, những tình tiết liên quan đến tính cách và kết cục của nhân vật. Từ khái niệm xác định như trên, muốn tóm tắt được cốt truyện một tác phẩm tự sự, trước tiên cần đọc kĩ tác phẩm và trả lời được những câu hỏi sau: Hoàn cảnh xã hội, thời kì lịch sử mà tác phẩm phản ánh, tái hiện là gì? Chủ đề của tác phẩm ra sao? Nhân vật chính của tác phẩm và các bước phát triển của tính cách, của số phận nhân vật ấy như thế nào? Các chi tiết, sự kiện quan trọng trong tác phẩm tác động tới cuộc đời nhân vật ra sao? Cách tổ chức cốt truyện của nhà văn bao giờ cũng gắn với sự thể hiện có hiệu quả chủ đề, tư tưởng của tác phẩm. Vì thế, hiểu chủ đề, ý đồ tư tưởng của 9 nhà văn thì chúng ta mới định hướng đúng sự phát triển của cốt truyện cũng như nội dung cụ thể, trực tiếp của tác phẩm. Trên cơ sở đọc kĩ tác phẩm, nắm vững kiến thức cơ bản theo yêu cầu trên mới có thể đi đến xây dựng văn bản tóm tắt. Tóm tắt cốt truyện thông thường tóm tắt các bước phát triển của dòng cốt truyện, dựa vào những sự kiện nổi bật, những chặng đường diễn biến của tính cách, số phận các nhân vật chủ yếu. Khi tóm tắt cốt truyện, cần chú ý vị trí của các nhân vật và mối quan hệ tương tác giữa chúng. Nhân vật chính thường xuất hiện nhiều lần trong tác phẩm, có vai trò chi phối đối với các nhân vật khác và góp phần chủ yếu thể hiện nội dung, bộc lộ chủ đề của tác phẩm. Bởi thế, cần quan tâm đến những bước ngoặt trên đường đời nhân vật chính. Chẳng hạn, cốt truyện của truyện ngắn Chí Phèo (Nam Cao) xoay quanh trục hai nhân vật điển hình Chí Phèo – Bá Kiến và diễn biến mối quan hệ giữa hai nhân vật này. Tóm tắt cốt truyện của Chí Phèo, phải dựa vào lai lịch, thân phận của Chí từ một đứa bé bị bỏ rơi đến đi ở, làm thuê rồi vô cớ bị cụ Bá đẩy đi ở tù, dựa vào những lần Chí Phèo đến nhà Bá Kiến sau khi ở tù về để thấy được quá trình tha hóa tất yếu của Chí khi gặp phải kẻ thống trị xảo quyệt, gian ngoan như Bá Kiến, thấy được số phận bi thảm của kẻ trượt quá xa khỏi xã hội loài người. Mặt khác, khi tóm tắt truyện ngắn này, cần đặc biệt chú ý đến thời điểm Chí Phèo tình cờ gặp Thị Nở, được người đàn bà ấy thương yêu, chăm sóc. Người cố nông lương thiện với những ước muốn bình dị bấy lâu nay bị vùi lấp trong con qủy dữ Chí Phèo sống dậỵ, Chí được làm người… nhưng rồi, Thị Nở đột ngột cự tuyệt chung sống. Sự kiện này khiến Chí Phèo vỡ lẽ, tự ý thức ra tấn bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của mình, để từ đó đi đến hành động trả thù quyết liệt cuối tác phẩm. * Chủ đề tác phẩm Như chúng ta đều biết, chủ đề của tác phẩm tự sự chính là nội dung cuộc sống được phản ánh trong tác phẩm. Vì vậy, để tìm hiểu chủ đề của tác phẩm hay đoạn trích giáo viên cần nêu ra nhiều câu hỏi nhỏ mang tính chất gợi mở để học sinh trả lời. Chẳng hạn có thể nêu một số câu hỏi như: Tác phẩm (hoặc đoạn trích) kể về ai ? Về việc gì ? Thông qua câu chuyện đó tác giả nhằm đề cập đến vấn đề gì? Thái độ, tình cảm của tác giả đối với con người và cuộc sống ra sao? 10 Sau đó, thông qua việc trả lời được những câu hỏi trên, giáo viên gọi một đến hai học sinh khái quát thành chủ đề của tác phẩm (hoặc đoạn trích) và giáo viên nhận xét, bổ sung, chốt kiến thức. * Phân tích tác phẩm Ở phần này, giáo viên nên sử dụng phối hợp nhiều phương pháp nhằm giúp học sinh hiểu bản chất của tác phẩm (hoặc đoạn trích). Giáo viên gợi mở cho học sinh thấy được những tình huống có vấn đề để học sinh tìm hiểu, thảo luận sau đó giáo viên bổ sung, làm sáng tỏ và hệ thống vấn đề một cách hoàn chỉnh. Về cơ bản, trong phần phân tích, giáo viên cần phải làm rõ những vấn đề trọng tâm sau: - Làm cho học sinh nắm vững được sự phát triển của tình tiết trong tác phẩm (hoặc đoạn trích) tức là học sinh nắm được cốt truyện. Học một bài thơ trữ tình phải nắm được diễn biến tình cảm, cảm xúc của nhân vật trữ tình; học một bài văn nghị luận phải nắm được trình tự lập luận của tác giả; còn học một thiên truyện, trước hết phải nắm được diễn biến của câu chuyện. Trong rất nhiều trường hợp, do không nắm được quá trình diễn biến của tình tiết tác phẩm mà giáo viên không phân tích được tác phẩm, học sinh hiểu vấn đề chưa thấu đáo, thậm chí còn hiểu một cách sai lệch nội dung tác phẩm (hoặc đoạn trích). Chính vì vậy, điều quan trọng là phải nắm được tình tiết, biến cố, sự kiện của câu chuyện đó. Khi phân tích cần quan tâm nhiều đến tình huống của truyện. Nó có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc thể hiện tính cách và số phận nhân vật. Tình huống truyện chính là trạng thái xã hội, là hoàn cảnh bất bình thường đang thử thách con người. Nó gồm những diễn biến, sự kiện đòi hỏi con người trong đó cần phải xoay xở, cần phải bộc lộ một cách chính xác năng lực và bản thân của mình. Như vậy, tình huống gắn chặt cùng cốt truyện và tác động trực tiếp tới nhân vật, tạo dựng tình huống trở thành nhiệm vụ và hứng thú, trở thành nơi thử thách tài nghệ của nhà văn. Một số truyện trong Ngữ văn lớp 10 có cốt truyện đơn giản. Do đó, cần hướng dẫn học sinh nhận ra được tình huống truyện và tập trung phân tích các tâm trạng, hành động của các nhân vật ở trong tình huống đó. Chẳng hạn: Truyền thuyết An Dương Vương và Mị Châu Trọng Thủy, cốt truyện xoay quanh tình huống An Dương Vương xây thành, chế nỏ và do mất cảnh giác nên bị mất nước. Vì thế, khi phân tích giáo viên nên cho học sinh thấy được hai giai đoạn: giai đoạn đầu xây thành, chế nỏ, đánh thắng được Triệu Đà và 11 giai đoạn hai là phân tích sâu tình huống cơ đồ đắm biển sâu, bài học về tinh thần mất cảnh giác của An Dương Vương. Tuy vậy, khi phân tích truyền thuyết này giáo viên cũng cần làm rõ hình tượng Mị Châu, vì nhân vật này quyết định tới kết cục cuối cùng của An Dương Vương. Còn trong chương trình Ngữ văn lớp 11, 12 cốt truyện phức tạp hơn, nhân vật có nhiều mối quan hệ hơn, nhiều mâu thuẫn xung đột hơn, nhiều cung bậc tình cảm hơn. Vì vậy, giáo viên cần hướng dẫn học sinh nhận ra được nội tâm của nhân vật, tính cách của nhân vật. Từ đó, giúp học sinh thấy được cần phải tư duy, cần phải liên tưởng, cần phải xâu chuỗi nhiều tình tiết để rút ra nhận xét cuối cùng về toàn bộ câu chuyện. Trước khi đi sâu vào phân tích chi tiết, một sự phân tích đại cương như vậy về các chi tiết của bài văn sẽ củng cố ấn tượng hoàn chỉnh đầu tiên của học sinh đối với hình tượng tự sự của tác phẩm. - Làm cho học sinh cảm thụ sâu sắc, đánh giá được đúng đắn nhân vật trong tác phẩm Trong tác phẩm tự sự, nhà văn thể hiện tư tưởng, tình cảm, phát biểu quan điểm thông qua nhân vật. Nhân vật trong tác phẩm hoặc đoạn trích chứa đựng nội dung phản ánh, tư tưởng, chủ đề của tác phẩm, là nơi ký thác quan niệm về con người, về nhân sinh của nhà văn. Do đó, phân tích nhân vật trở thành con đường quan trọng nhất để đi đến giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo của tác phẩm để nhận ra lí tưởng thẩm mĩ của nhà văn. Một nhân vật văn học lớn bao giờ cũng thể hiện một số phận, một quan niệm nhân sinh độc đáo và thường điển hình cho một tầng lớp xã hội, một giai cấp, thậm chí một thời đại nào đó. Nhân vật trong tác phẩm tự sự rất đa dạng, phong phú. Dựa trên phương diện kết cấu và ý thức hệ có thể chia nhân vật ra thành các loại sau: Nhân vật chính, nhân vật phụ, nhân vật trung tâm, nhân vật chính diện, nhân vật phản diện...các nhân vật sẽ góp phần thể hiện tư tưởng chủ đề và nội dung của tác phẩm. Tuy nhiên, trong giờ học ở trường phổ thông chúng ta không có đủ thời gian để hướng dẫn học sinh phân tích hết các nhân vật được nên chúng ta phải lựa chọn các nhân vật để phân tích. Chẳng hạn, trong tác phẩm Chí Phèo có nhiều nhân vật như Chí Phèo, Bá Kiến, Thị Nở, Bà cô Thị Nở, Lý Cường, Binh Chức, Năm Thọ, Đội Tảo… nhưng chỉ có nhân vật Chí Phèo, Bá Kiến thể hiện rõ tư tưởng của nhà văn, 12 cho nên khi phân tích tác phẩm này cần chú ý khai thác kĩ hai nhân vật này, đặc biệt là nhân vật Chí Phèo. Hoặc trong tác phẩm Vợ chồng A phủ của Tô Hoài cũng xuất hiện nhiều nhân vật nhưng nhân vật Mị mới là hình tượng điển hình cần phân tích. Nội tâm nhân vật được thể hiện trong nhiều thời điểm, có thể trong quá khứ, hiện tại hoặc trong nhiều hoàn cảnh khác nhau. Trong tác phẩm Đời thừa nhân vật Hộ bộc lộ nội tâm trong những hoàn cảnh đời thường của cuộc sống mưu sinh, trong mối quan hệ với bạn văn chương, gia đình. Trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ nội tâm của Mị được bộc lộ khá rõ qua hai thời điểm đó là trong đêm tình mùa xuân và đêm đông cởi trói cứu A Phủ. Như vậy, qua những tác phẩm trên chúng ta sẽ tập trung khai thác nội tâm các nhân vật Chí Phèo, Hộ và Mị để tìm hiểu toàn diện về nhân vật. Khi phân tích nhân vật cần chú trọng những khía cạnh sau: Một nhân vật văn học thành công bao giờ cũng mang một tính cách, số phận riêng, một cách trung nhất, muốn phân tích nhân vật tức là phân tích đặc điểm tính cách của nhân vật chúng ta cần căn cứ vào những chi tiết có liên quan đến nhân vật trong tác phẩm để đó từ mà tìm hiểu suy luận, tìm ra đặc điểm, tính cách của nhân vật. Ở tác phẩm tự sự, những chi tiết có giá trị góp phần thể hiện đặc điểm tính cách nhân vật, lai lịch, ngoại hình, ngôn ngữ, nội dung, hành vi cử chỉ, hành động của nhân vật Vì thế, khi phân tích cần lưu ý đến các chi tiết miêu tả, tự sự, nhận xét về nhân vật trong tác phẩm. Những chi tiết này có lúc được bộc lộ rõ ràng nhưng thường rất tế nhị, kín đáo ẩn trong lời văn đọc qua thường ít gây chú ý. Phát hiện và lựa chọn các chi tiết tiêu biểu, sắp xếp phân loại chúng theo trình tự hợp lí nhằm làm sáng tỏ tính cách của nhân vật. Thông thường khi phân tích hình tượng nhân vật thường chú ý các phương diện sau: + Lai lịch: Đây là phương tiện đầu tiên góp phần chi phối đặc điểm tính cách cũng như cuộc đời nhân vật. Lai lịch có quan hệ khá trực tiếp và quan trong với đường đờì của một người, một số phận nào dó trong văn học. Chẳng hạn, trong tiểu thuyết Số đỏ hoàn cảnh mồ côi từ nhỏ, hành vi vô giáo dục khi ở với người bác họ (để rồi bị đuổi ra khỏi nhà) bằng những thành 13 tích bất hảo của Xuân Tóc đỏ trong cuộc sống lang thang hè đường, xó chợ đã góp phần tạo nên tính cách lưu manh, láu lỉnh của y sau này. Hoặc Chí phèo trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao, ngay từ khi được sinh ra đã bị ném khỏi cuộc sống, đã là đứa trẻ hoang không biết bố mẹ, chẳng có cửa nhà. Hoàn cảnh xuất thân ấy tạo nên sự cô độc, thê thảm của Chí Phèo. Tính cách, số phận được lí giải một phần bởi thành phần xuất thân, hoàn cảnh gia đình và điều kiện sinh hoạt trước đó. + Ngoại hình: Tục ngữ Việt Nam có câu: “Xem mặt mà bắt hình rong” trong văn học, miêu tả ngoại hình chính là một biện pháp của nhà văn nhằm hé mở tính cách nhân vật. Một nhà văn có tài thường chỉ qua một số nét phác hoạ chấm phá có thể giúp người đọc hình dung ra diện mạo, tư thế cùng bản chất của nhân vật nào đó. Trong truyện ngắn Chí Phèo những vết sẹo ngang dọc trên khuôn mặt của Chí cùng với những nét chạm trỗ ở ngực tự có đã nói lên rất nhiều…Phải chăng cái ngoại hình biến dạng, kỳ dị gớm ghiếc kia như đã muốn trưng ra quá khứ dữ dằn, và nội tâm tha hoá biến chất của Chí Phèo. Hay trong truyện ngắn Vi hành, mượn lời người con trai (đôi nam nữ thanh niên người Pháp đi trên toa xe điện ngầm) tác giả Nguyễn Ái Quốc đã phác hoạ chân dung Khải Định: “Chẳng phải vẫn cái mũi tẹt ấy vẫn đôi mắt xếch ấy, vẫn cái mặt bủng như vỏ chanh đấy à?” Các chi tiết này ám chỉ thật sâu cay một tính cách hèn kém, chẳng có mấy thiên lương, cùng lối sống xa hoa, truỵ lạc của ông vua bù nhìn An Nam. Trong khi phân tích nhân vật, cần qua các chi tiết, ngoại hình mà đi sâu vào nội tâm, vào bản chất của nhân vật. + Ngôn ngữ Qua lời ăn tiếng nói của một người, chúng ta có thể nhận ra trình độ văn hoá, nhận ra tính cách của người ấy. Ngôn ngữ của nhân vật trong tác phẩm văn học được cụ thể hoá cao độ, nghĩa là mang đậm dấu ấn của một cá nhân. Chẳng hạn, nhân vật cố Hồng trong tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng hễ cứ mở miệng ra là gắt: “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi” mặc dầu ông ta chẳng biết cho tường tận việc gì cả. Còn nhân vật Xuân Tóc Đỏ, cho đến khi trở thành “Nhà cải cách thẩm mĩ”, “Đốc tờ Xuân”, “ Giáo sư quần vợt”, “Cố vấn báo gõ mõ”…. đựơc cả xã hội thượng lưu thành thị trọng vọng nhưng mấy câu cửa miệng của hắn vẫn là: “Mẹ kiếp”, “nước mẹ gì” điều ấy chứng tỏ cái tính cách lưu manh, vô học của y không sao gột rửa nổi. 14 Thông thường, mỗi con người thường theo tính khí mà có khẩu khí. Con người làm sao thì lời ăn tiếng nói sẽ như vậy. Vì thế, khi phân tích nhân vật ta cần đặc biệt chú ý phân tích ngôn ngữ, lời ăn tiếng nói nhân vật. + Nội tâm Là thế giới bên trong của nhân vật gồm cảm giác, cảm xúc, tình cảm, tâm lí, suy nghĩ… của con người. Thế giới nội tâm của con người rất sâu kín, phong phú, phức tạp. Ngòi bút của nhà văn có khả năng miêu tả được những ngõ ngách sâu kín của nội tâm con người từ những điều thuộc phạm vi ý thức đến những điều trong tiềm thức lẫn vô thức. Qua đó ta có thể xét đoán được tính cách nhân vật. Chẳng hạn, đoạn miêu tả nội tâm của Chí Phèo sau cơn ốm cho thấy được sau những lần quen rạch mặt, ăn vạ, là con quỷ dữ của làng Vũ Đại, thì đây là lần hắn thực sự tỉnh: “Tỉnh dậy hắn thấy hắn già mà hắn vẫn còn cô độc. Buồn thay cho đời! có lí nào như thế được? Hắn đã già rồi hay sao? Ngoài bốn mươi tuổi đầu… Dẫu sao đó không phải là tuổi mà người ta mới bắt đầu sửa soạn. Hắn đã tới cái dốc bên kia của đời. Ở những người như hắn chịu đựng biết bao nhiêu là chất độc, đầy đoạ cực nhọc, mà chưa bao giờ ốm, một trận ốm có thể là dấu hiệu báo rằng cơ thể hắn đã hư hỏng nhiều. Nó là một cơn mưa gió cuối thu cho biết trời trở rét nay mùa đông đã đến. Chí Phèo hình như đã trông thấy trước tuổi già của hắn, đói rét và ốm đau, và cô độc, cái này còn sợ hơn đói rét và ốm đau. Cũng may Thị Nở vào nếu không vào cứ để hắn vẩn vơ nghĩ mãi thì đến khóc được mất”. Qua suy nghĩ của Chí Phèo ta có thể nhận ra một Chí Phèo thứ hai – “Chí không còn là một con Quỷ dữ của làng Vũ Đại nữa mà là một con người bình thường như bao con người khác: Buồn lo trước tuổi già ập đến, cảm thấy cô đơn và sợ cô đơn. + Cử chỉ, hành động Đây là chi tiết quan trong nhất trong việc tìm hiểu phân tích tính cách nhân vật. Con người trong cuộc đời cũng như nhân vật trong tác phẩm, trước hết là con người hoạt động, hành động. Trong môi trường tự nhiên và xã hội, trong quan hệ với người khác, với công việc, con người phải hành động. Hành động của con người được thể hiện qua việc làm, hành vi. Nhân vật trong tác phẩm cũng vậy, con người thế nào sẽ có hành vi thế ấy. Chẳng hạn, qua hành động “rỗ gông” bất chấp lời doạ nạt của bọn lính, người đọc nhận ra ở Huấn Cao trong Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân) có một khí phách hiên ngang, coi thường cường quyền, bạo lực… 15 Hay qua hành động Chí Phèo định vác dao đến nhà Thị Nở nhưng lại đi thẳng đến nhà Bá Kiến, người đọc nhận ra rằng người cự tuyệt Chí không phải Thị Nở, không phải Bà cô Thị Nở mà chính là Bá Kiến. Vì thế, vác dao đến nhà Bá Kiến, giết Bá Kiến và kết liễu đời mình là điều tất yếu đối với Chí. Tóm lại, muốn phân tích nhân vật, ta phải chú ý đến những chi tiết có liên quan đến nhân vật từ lai lịch, ngoại hình, nội tâm đến ngôn ngữ hành vi của nhân vật. Tuy nhiên, không phải bất cứ nhân vật nào cũng được nhà văn thể hiện đầy đủ các phương diện này. Có chỗ nhiều, có chỗ it, có chỗ đậm, chỗ nhạt, thậm chí có nhân vật còn không rõ đặc điểm ngoại hình, lai lịch... Vì thế, không nhất thiết phải máy móc tìm đủ, phân tích đủ mà nên tập trung, xoáy sâu vào phương diện thành công trong tác phẩm để khái quát nội dung toàn bộ tác phẩm hoặc đoạn trích. - Làm cho học sinh cảm và hiểu được cái ý vị trong lời kể của tác giả(hay của người kể chuyện). Lời kể chính là ngôn ngữ nghệ thuật của truyện. Phân tích lời kể của tác giả chính là thực chất, là nội dung chính của việc phân tích ngôn ngữ khi giảng truyện. Ngôn ngữ nghệ thuật bao giờ cũng nhằm khêu gợi được sự sống và truyền đạt được cảm xúc. Đặc điểm đó của ngôn ngữ nghệ thuật thể hiện rất rõ trong lời kể của truyện. Cái hay của lời kể trong truyện thường là ở chỗ tự nhiên, nhuần nhị, sinh động và truyền cảm. Một câu chuyện tự nó sống qua lời kể, tuy có người kể nhưng xem ra dường như truyện tự kể về mình. Muốn vậy, lời kể thường xen với lời tả, tả cảnh, tả người, tả vật, tả tình. Khi phân tích lời kể trong truyện cần chú trọng chỉ ra được sức mạnh gợi tả của ngôn ngữ, chỉ rõ các từ ngữ, câu văn, cách viết, lối kể của tác giả đã làm hiển hiện được cảnh, vật, việc, người như thế nào, đồng thời gây xúc cảm cho người đọc ra sao. Để làm cho nhân vật biểu hiện lên như đang sống thật, nghệ thuật tiểu thuyết hiện đại đã tìm ra một phương pháp thần tình là miêu tả từ bên trong ra. Trong tiểu thuyết thời cổ, thường người ta chỉ kể lại việc làm, lời nói của nhân vật. Tiểu thuyết ngày nay, chỉ lấy cách miêu tả nhân vật từ trong làm chính. Nhà văn như nhập vào nhân vật mà nhìn, nghe, xúc cảm, suy nghĩ, nói bằng lời nói của nhân vật. Chẳng hạn, khi miêu tả một quang cảnh của đời sống, nếu nhà văn chỉ đứng ngoài mà ghi lại như một buổi chụp ảnh, thì dù ngòi bút miêu tả thật giỏi, cảnh ấy vẫn chỉ là một bức tranh chết. Trong cảnh phải có tình thì cảnh mới 16 sống lên, vì vậy nhà văn phải miêu tả những quang cảnh qua tâm trạng của chính người viết. Thường khi phân tích ngôn ngữ đòi hỏi người giáo viên phải có kiến thức cơ bản về tu từ học. Nhưng cái hay của ngôn ngữ trong văn học có muôn màu muôn vẻ, tuỳ thuộc vào sự đa dạng, biến hóa của nội dung. Ngôn ngữ lời văn được coi là hay khi nó diễn đạt được tốt nhất nội dung cuộc sống và nội dung tư tưởng, tình cảm của tác phẩm. Cái hay của ngôn ngữ nghệ thuật là ở chỗ sinh động và rung cảm, chất chứa, chất liệu đời sống và tình ý con người. Văn chương hay thật sự không phải ở chỗ màu mè, hoa mĩ: Cái hay của truyện lại càng thường ngưng đọng ở sự trong sáng, giản dị mà sinh động, rung cảm. Vì vậy, giảng dạy tác phẩm hay đoạn trích thuộc thể loại tự sự thì phải phân tích lời kể của truyện, phân tích phong cách ngôn ngữ nghệ thuật của tác phẩm. Lời kể chuyện là sợi tơ dệt nên tình tiết và nhân vật, dệt nên toàn bộ hình tượng trong tác phẩm. - Thuyết trình và giảng bình. Nói chung, bình giảng xoáy vào ấn tượng chủ quan và không nhất thiết phải xem xét toàn diện đối tượng. Người viết chỉ cần lắng nghe mình, chắt lọc các cảm nhận của mình xem yếu tố nào tạo ấn tượng đậm nhất, lay động mình sâu xa nhất, nắm lấy nó rồi viết ra. Ấn tượng càng sâu đậm, ám ảnh bao nhiêu thì càng dễ truyền cảm bấy nhiêu. Nói chung, ngọn nguồn của lời bình bao giờ cũng phải là sự đồng cảm. Tiếng nói của lời bình là tiếng nói tri âm, dù lời bình rất cần đến sự hoa mĩ của ngôn từ. Còn giảng là giảng giải, là cắt nghĩa, lí giải. Nếu bình nghiêng về cảm thì giảng nghiêng về hiểu. Bình nghiêng về những rung động tâm hồn thì giảng nghiêng về nhận thức trí tuệ. Bình là sự thăng hoa, sự cất cánh còn giảng là sự đào sâu làm cơ sở, làm điểm tựa, làm đòn bẩy cho việc cất cánh. Ví dụ : Về mối tình Chí Phèo – Thị Nở trong truyện ngắn Chí Phèo của nhà văn Nam Cao, giáo viên có thể bình giảng để học sinh cảm nhận đươc đây là mối tình đẹp nhất trần gian. Nó được ví như một chiếc cầu vồng lung linh sau cơn mưa, như một chiếc bản lề khẽ xoay cánh cửa cuộc đời Chí Phèo sang một trang mới , từ cuộc đời của một con quỷ dữ sang cuộc đời khát khao sự hoàn lương , được trở về để làm hòa với xã hội của loài người bằng phẳng và thân thiện. Lâu nay, trong một số giờ dạy của giáo viên mải chạy theo phương pháp phát vấn mà không chú ý đến bình văn thơ nên giờ đọc hiểu văn bản trở thành giờ trò chuyện, trả lời vụn vặt các câu hỏi giữa thầy và trò, chỉ biết hướng dẫn 17 học sinh chia nhóm, thực hành, thảo luận mà hầu như quên đi việc đưa thêm những lời bình giảng, phân tích đầy chất “ văn chương” vào giờ dạy. Và như vậy, người thầy chưa truyền tới học sinh cái hay, cái đẹp của lời thơ, càng làm cho hình tượng văn học nằm im trên trang giấy và cuối cùng không truyền được ngọn lửa của tình yêu văn chương tới tâm hồn các em. Vấn đề là ở chỗ biết thuyết trình và giảng bình đúng mức, đúng lúc góp phần nâng cao hiệu quả của việc tiếp nhận văn bản từ đó bồi dưỡng học sinh giỏi. Quan trọng hơn là tổ chức cho học sinh cũng tham gia bình giảng nhằm tạo nên một sự “cộng hưởng” trong tiếp nhận, cảm thụ văn chương. Khi gặp những dạng kiến thức văn học trìu tượng, khó hiểu như hình tượng nghệ thuật có tính đa nghĩa, những vấn đề về thi pháp văn học trung đại, những vấn đề có tính khái quát tổng hợp thì sự giảng giải, bình giá của giáo viên là vô cùng quan trọng. - Xây dựng hệ thống câu hỏi Khi phân tích tác phẩm tôi đặc biệt chú trọng đến hệ thống câu hỏi để luôn đặt học sinh vào vị trí phải hoạt động, cùng đồng hành tư duy với người dạy. Câu hỏi trong bài dạy phải đạt được những yêu cầu sau : Hệ thống câu hỏi phải logic, chặt chẽ nhằm dẫn dắt một cách liên tục sự suy nghĩ của học sinh từ quan sát đến phân tích hiện tượng, từ những kết luận mang tính chất bộ phận đến những kết luận khái quát hơn. Câu hỏi phải ngắn gọn, rõ ràng, vừa sức ( có gợi ý khi cần thiết). Câu hỏi phải có tác dụng kích thích sự chú ý, sự tìm tòi suy nghĩ của học sinh. Câu hỏi phải tạo cho học sinh sự liên tưởng, mở rộng và suy luận. Chẳng hạn, giáo viên có thể nêu lên hệ thống câu hỏi khi giảng dạy tác phẩm Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân) trong chương trình Ngữ Văn 11 như sau: Sau khi nhận phiến trát trao đổi với thầy thơ lại, biết được Huấn Cao là người có tài thì viên quản ngục đã nảy sinh ý định gì? Qua cuộc trao đổi giửa viên quản ngục và thầy thơ lại, Huấn Cao hiện lên là con người như thế nào? Thái độ của Huấn Cao xuất hiện tại trại giam ra sao? Khi nhận rượu thịt mà lính ngục mang vào Huấn Cao có thái độ thế nào? Thái độ khi trả lời viên quản ngục? Từ đó rút ra nhân cách của Huấn Cao? Thái độ của viên quản ngục trong lần nhận sáu tử tù? 18 Tại sao viên quản ngục lại quyết định “biệt đãi” Huấn Cao, theo em, điều đó có ý nghĩa gì? Việc viên quản ngục gặp Huấn Cao trong nhà ngục có ý nghĩa như thế nào ? Theo em, vì sao Nguyễn Tuân lại gọi cảnh cho chữ là “cảnh tượng xưa nay chưa từng có” ? Em hãy nhận xét về thời gian, không gian diễn ra cảnh cho chữ ? Tư thế, thái độ của người cho chữ và kẻ nhận chữ như thế nào ? Nguyễn Tuân đã sử dụng biện pháp nghệ thuật gì để miêu tả cảnh cho chữ ? Qua cảnh cho chữ Nguyễn Tuân muốn khẳng định điều gì ? Có thể nói với hệ thống câu hỏi này giáo viên sẽ từng bước dẫn dắt học sinh đi tìm hiểu nội dung của tác phẩm, từ phân tích hình tượng các nhân vật cho đến rút ra được nội dung tư tưởng nhà văn muốn gửi tới. 3.3. Đánh giá kết quả và rút ra bài học kinh nghiệm 3.3.1. Kết quả kiểm nghiệm 3.3.1.1. Kết quả khảo sát trong quá trình giảng dạy Lớp 11A6 Trường THPT Bá Thước Số học sinh Số bài viết Số học đọc tác phẩm phân tích tác sinh được và soạn bài đạt phẩm tự sự đạt khảo sát yêu cầu TB trở lên Học kỳ I năm học 2011- 2012 40 28 = 70 % 30 = 75 % Học kỳ II năm học 2011-2012 40 34 = 85 % 35 = 87,5 % 3.1.2. Phạm vi, tác dụng của sáng kiến: Phương pháp này có thể áp dụng cho cả học sinh lớp 10, 11, 12. Với phương pháp này, giáo viên luôn đặt học sinh trong tình thế động, buộc các em phải làm việc một cách nghiêm túc với tác phẩm và tiếp thu bài học một cách chủ động tích cực. 3.3.2. Nguyên nhân thành công và tồn tại: 3.3.2.1. Nguyên nhân thành công: Có sự đầu tư lớn trong việc thiết kế bài dạy để phù hợp với đối tượng học sinh ở từng lớp. 19 Với phương pháp này, người giáo viên đã phát huy có hiệu quả nhất những giáo cụ trực quan. Với phương pháp này, giáo viên đã kích thích, khơi dậy được phần nào tấm lòng yêu thích và say mê đối với văn học của học sinh. 3.3.2.2. Tồn tại: Vẫn còn một số em chưa đọc tác phẩm hoặc đoạn trích ở nhà hoặc soạn bài đối phó. Một số em làm bài văn vẫn sa vào dạng kể tác phẩm. Một số học sinh chưa có sự cảm thụ tốt hoặc chưa đam mê với tác phẩm văn học, đặc biệt là những tác phẩm tự sự 3.3.3. Bài học kinh nghiệm: - Đối với bản thân: + Phải có sự đầu tư trong công tác soạn giảng. + Tìm mọi biện pháp để thực hiện được phương pháp dạy học “lấy học sinh làm trung tâm”. - Đối với tổ chuyên môn: Trong tổ chuyên môn phải thường xuyên trao đổi, học hỏi lẫn nhau để nâng cao tay nghề, kinh nghiệm giảng dạy. Đặc biệt là về phương pháp dạy học mới, hữu ích. C. KẾT LUẬN VÀ ĐÊ XUẤT 1. Kết luận: Thông qua đề tài này, bản thân đã vận dụng những phương pháp trong quá trình giảng dạy và nhận thấy rằng học sinh hứng thú với bài giảng, thích tìm hiểu, thích đọc tác phẩm tự sự, chất lượng học tập của học sinh khi học thể loại tự sự dần dần được cải thiện. Thực tế giảng đặt ra cho người giáo viên nhiều thách thức: trong quá trình giảng dạy nhiều vấn đề vừa có ý nghĩa phương pháp, vừa là nội dung mà người giáo viên phải luôn suy nghĩ nghiêm túc trong suốt quá trình chuẩn bị và thiết kế bài dạy. Cần phải bắt đầu bài giảng như thế nào để thu hút sự chú ý của học sinh ? nên sử dụng những phương pháp nào cho thích hợp với khả năng trình độ của từng lớp mà mình giảng dạy và với nội dung của từng bài giảng ? Có thể dùng những biện pháp nào để làm nổi bật, nhấn mạnh trọng tâm, trọng điểm bài học ? Cần đặt ra những câu hỏi như thế nào để kích thích sự chú ý, sự suy nghĩ, tìm tòi, phát hiện, sáng tạo của học sinh ? Sử dụng tài liệu trực quan nào và sử dụng như thế nào cho có hiệu quả ? Làm thế nào để vừa hình thành tri thức, vừa rèn luyện củng cố kỉ năng?…Đó là những câu hỏi 20
- Xem thêm -