Skkn cách khắc phục một số ảnh hưởng về giao văn hoá trong giảng dạy tiếng anh cho học viên năm thứ nhất

  • Số trang: 13 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 18 |
  • Lượt tải: 0
nguyen-thanhbinh

Đã đăng 8358 tài liệu

Mô tả:

A. ĐẶT VẤN ĐỀ Đối với bất kì quốc gia nào trên thế giới, văn hoá và ngôn ngữ là hai bộ phận không thể tách rời. Ngôn ngữ là sản phẩm của văn hoá và phản chiếu nền văn hoá. Vì vậy mà trong quá trình học ngoại ngữ, học viên không chỉ phải lĩnh hội kiến thức về ngôn ngữ mà còn phải hiểu biết về nền văn hoá của ngôn ngữ đó đặc biệt là các giá trị, chuấn mực và khái niệm. Ngày nay tiếng Anh đã trở thành ngôn ngữ quan trọng trên phạm vi toàn cầu. Nhu cầu học tiếng Anh ngày càng lớn đặc biệt là ở Việt Nam. Hầu hết tất cả những người học đều mong muốn sẽ có được khả năng giao tiếp sau mỗi khoá học. Đa số học viên cho rằng kiến thức về ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng mới là chiếc cầu nối đưa họ tiến đến việc làm chủ một ngôn ngữ. Tuy nhiên trong thực tế chính sự khác biệt trong thói quen giao tiếp mới là những rào cản đối với việc dạy và học tiếng Anh. Những khoảng ngưng, chủ đề phù hợp khi tham gia hội thoại, cách xưng hô là rất khác nhau giữa các nền văn hoá. Có thể nói rằng một số phạm trù giao văn hoá có những ảnh hưởng nhất định đến việc học tiếng Anh. Có nhiều học viên học rất giỏi từ vựng, cấu trúc hoặc đọc hiểu nhưng vẫn không thể nói hoặc viết theo văn phong của Anh và sự giao thoa văn hoá này có thể ảnh hưởng tiêu cực đến việc học tiếng Anh. Hơn nữa, trong một số nghiên cứu cũng chỉ ra rằng học viên đặc biệt là đối với các học viên năm thứ nhất gặp rất nhiều khó khăn trong việc nhận ra các lỗi mắc phải trong khi sử dụng tiếng Anh do ảnh hưởng của văn hoá Việt. Do đó, trong sáng kiến kinh nghiệm này, tác giả muốn trình bày “Cách khắc phục một số ảnh hưởng về giao văn hoá trong dạy học tiếng Anh cho học viên năm thứ nhất” và đưa ra các giải pháp phù hợp cho giáo viên để phần nào đó giảm bớt những khó khăn trong giảng dạy do những ảnh hưởng này mang lại -1- B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. Cơ sở lí luận: Halliday trong công trình nghiên cứu của mình đã chỉ ra ba chức năng cơ bản của ngôn ngữ: - Chức năng biểu đạt: diễn đạt của người nói về thế giới có thật bao gồm thế giới nội tâm trong ý thức của người đó - Chức năng liên nhân: Thiết lập và duy trì các mối quan hệ xã hội - Chức năng nguyên bản: Kết nối với chính ngôn ngữ và tình huống mà nó được sử dụng Như vậy ta có thể thấy ngôn ngữ và văn hoá có mối liên hệ mật thiết không thể tách rời. Chúng ta không thể hiểu ngôn ngữ mà không có văn hoá và ngược lại. Nếu không có ngôn ngữ của nền văn hoá đó chúng ta cũng không thể sử dụng ngôn ngữ phù hợp. Những người trong cũng một nền văn hoá giao tiếp với nhau dễ dàng hơn rất nhiều so với những người đến từ những nền văn hoá khác nhau. Chính vì những kiến thức và giá trị văn hoá khác nhau mà dẫn đến những hiểu nhầm thậm chí còn gây sốc. Chưa kể đến một số người còn thường xuyên sử dụng tiếng lóng. Để khắc phục những vấn đề này, chúng ta học cách nhận biết những điểm tương đồng và khác biệt về văn hoá là rất cần thiết. Đó là lí do tại sao cần đưa những kiến thức văn hoá vào quá trình dạy học một ngoại ngữ. Theo công trình nghiên cứu của Nguyễn Quang (Foreign Language Journal, 1998) có tất cả 14 cặp phạm trù gây giao văn hoá: Khách quan- Chủ quan, Trực tiếp- Gián tiếp, Chính xác- phi chính xác, lịch sự âm tính- Lịch sự dương tính, Hạ mình- Khẳng định mình, Trừu tượng- cụ thể, Duy cảm- Duy lí, Tôn ti- Bình đẳng, Hướng nội- Hướng ngoại, Diễn dịch- Quy nạp, Thiên về nhóm- Thiên về cá nhân, Ngữ cảnh cao- Ngữ cảnh thấp, Tính ngôn rườmTính ngôn kiệm, Tĩnh- Động. Và những cặp phạm trù này có chi phối nhiều tới quá trình học tiếng Anh của học viên: -2- II. Thực trạng Trong qua trình giảng dạy Tiếng Anh, tôi nhận thấy các học viên chịu rất nhiều ảnh hưởng về sự khác nhau giữa hai nền văn hoá Anh – Việt. Nhưng đối với học viên năm thứ nhất, có hai ảnh hưởng điển hình: 1. Ảnh hưởng từ tính khách quan – tính chủ quan trong văn hoá của hai nước . Người Anh tôn trọng tính khách quan, trong khi đó người Việt lại có xu hướng dùng nhiều tính chủ quan trong văn hoá giao tiếp của mình. Người Anh không quan trọng về vị trí và phương hướng của cái tôi. Nhưng người Việt thì ngược lại. Chính vì lí do này, trong quá trình nói và viết tiếng Anh, học viên thường mắc phải những lỗi về a) Vị trí và cách dùng giới từ trong tiếng Anh và tiếng Việt. Ví dụ người Anh nói: This is the first time I have come to Hanoi Từ câu nói này, người nghe không thể đoán được vị trí của người nói. Nhưng người nghe/người đọc dễ dàng xác định vị trí của người nói/viết trong câu: “ Đây là lần đầu tiên tôi ra/ xuống/ đến Hà nội”. Chính vì lối tư duy này mà học sinh cũng mắc lỗi khi viết: “I swim under the water” chứ không viết “ I swim in the water”. Trong trường hợp này, người viết muốn chỉ ra vị trí của mình so với mặt nước đó là “under the water” chứ không phải là “in the water”. Sử dụng cặp giới từ “Trong- Ngoài” (In-Out) cũng làm cho học viên gặp rất nhiều khó khăn. Người Việt thường tư duy theo lối: khi chủ thể đứng ở một vị trí rộng hơn, sáng hơn so với một nơi khác nhỏ hơn, tối hơn, họ thường dùng giới từ trong- ngoài. Chẳng hạn như “Trong nhà- Ngoài ngõ” và nếu như so với đường, ngõ lại nhỏ hơn và tối hơn, họ sẽ viết: Trong ngõ-ngoài đường). Đương nhiên học viên theo cách tư duy này mà sẵn sàng viết “ in the houseout the lane” và “in the lane- out the road”. b) Cách sử dụng câu bị động và câu chủ động của hai ngôn ngữ AnhViệt. Người Anh có xu hướng nói và viết ở dạng bị động nhiều hơn người Việt trong những tình huống trang trọng. Ví dụ : It is believed that…..., He is -3- considered to be……Nhưng trong những tình huống này, người Việt lại nói ở dạng chủ động: Người ta tin rằng…., người ta cho rằng anh ta…….Ngược lại, trong những tình huống chủ động của ngôn ngữ Anh người Việt lại dùng bị động để diễn đạt và cách dùng này thể hiện theo hai hướng để thể hiện thái độ của người nói/ viết: VD: I got mark 7 Có thể nói: tôi bị điểm 7( dưới sự mong đợi), và tôi được điểm 7 ( trên sự mong đợi) Có thể thấy, chính sự khác biệt về văn hoá này đã làm cho học viên gặp rất nhiều khó khăn trong việc trong việc tiếp cận ngôn ngữ đích. 2. Ảnh hưởng từ tính chính xác và phi chính xác. Người Anh khi nói và viết, họ luôn hướng tới sự chỉnh xác và tỉ mỉ. Nhưng Người Việt, tính phi chính xác thể hiện rất rõ trong văn hoá giao tiếp. Chính vì lí do này, học viên gặp rất nhiều khó khăn khi sử dụng thì: Dưới góc độ sử dụng thì và thể, người Anh- Mỹ có một hệ thống các thì rất phức tạp. Trong tiếng Anh có 16 thì để diễn đạt hành động xảy ra tại một thời điểm trong khi đó người Việt chỉ có một số từ như: “ đã, đang, sẽ, toan…”để diễn tả quá khứ, hiện tại, tương lai. Nên khi dịch từ tiếng Việt sang tiếng Anh , rất nhiều học viên cảm thấy rất khó khăn để lựa chọn một thì cho phù hợp. Ví dụ, từ “ đã” trong tiếng Việt có thể được thể hiện bằng rất nhiều thì khác nhau trong tiếng Anh: + Sáng qua tôi đã ngủ dạy muộn ( I got up late yesterday morning) + Trước khi xem TV, tôi đã làm bài tập (Before watching TV, I had done my homework) + Anh đã xem phim “ Cuốn theo chiều gió” chưa? ( Have you watched “Gone with the wind” yet?) Thậm chí, “đã” còn được diễn đạt cả thì hiện tại ở tiếng Anh + Phố cổ Hà Nội đã tạo ra sự hấp dẫn với du khách nước ngoài. (Hanoi ancient streets draw foreign tourists’ attraction) -4- Và “ đã” dùng để diễn đạt cả tương lai: + Khi anh nhận được thư này thì em đã đi nước ngoài rồi ( By the time you receive this letter, I will have gone abroad) Tương tự như “đã”, “đang” cũng gây ra rất nhiều vấn đề cho người học vì bản thân từ này cũng có rất nhiều cách diễn đạt. + Dân số Việt nam đang tăng nhanh từ sau năm 1975 ( Vietnamese population has been increasing rapidly since 1975) + Khi tôi đến, họ đang tán chuyện (When I came, they were chatting) + Hắn đang yêu đấy ( He is in love) + Mày đang đọc cái gì đấy? ( What are you reading?) Từ phân tích trên ta thấy, tính chính xác trong văn hoá Anh và phi chính xác trong văn hoá Việt thật sự là rào cản rất lớn cho học viên khi tiếp cận ngôn ngữ mới. III.Các giải pháp Để giải quyết được những vấn đề nêu ở phần thực trạng, tác giả đã đưa ra một số giải pháp sau: 1. Dạy sinh viên cách tiếp cận văn hoá của ngôn ngữ bản địa 2. Nâng cao vai trò của giáo viên trong việc dạy ngôn ngữ bản địa 3. Lồng ghép kiến thức văn hoá vào bài giảng IV. Cách thức tổ chức thực hiện 1. Dạy sinh viên cách tiếp cận văn hoá ngôn ngữ bản địa “ Chúng ta không thể nói về sự thành công trong việc học tiếng Anh mà không có kiến thức đầy đủ về sự khác biệt giao văn hoá và không có một sự khác biệt nào đó sự tiếp biến về văn hoá” (Nguyễn Quang, 1997:5) Như nhiều tác giả đã nhấn mạnh, học văn hoá của ngôn ngữ bản địa là điều vô cùng quan trọng. Tuy vậy, ở các lớp học hiện nay, việc học ngôn ngữ thật sự đang tách rời với việc học văn hoá. Cái mà thầy cô giáo cho học sinh học đơn thuần mới dừng lại ở hình thức rất mộc mạc của ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng và đọc hiểu. Thêm vào đó hình thức học cũng chỉ đơn thuần là đọc- bắt -5- chước. Trong khi đó các thầy cô chưa ý thức được rằng, muốn bài học thật sự hiệu quả, ngoài phương pháp tích cực, tiếp cận văn hoá của ngôn ngữ đó đóng vai trò rất lớn. Ta vẫn biết rằng, sách giáo khoa có chứa các yếu tố văn hoá và sách nói về sự khác biệt về văn hoá Anh- Việt không nhiều, bên cạnh đó, giáo viên cũng không bị bắt buộc phải lấp đầy chỗ trống về văn hoá. Do đó việc tiếp cận văn hoá của một ngôn ngữ càng trở nên rất xa vời trong các bài giảng. Vì vậy để tiếp cận được văn hoá Anh tôi không dạy trực tiếp trong các bài học mà tổ chức dưới hình thức những buổi ngoại khoá cho sinh viên như sinh hoạt câu lạc bộ tiếng Anh. Câu lạc bộ tếng Anh tập trung theo từng tuần với từng chủ điểm về văn hoá như: văn hoá giao tiếp, văn hoá điện thoại, văn hoá ẩm thực…..trong mỗi chủ điểm đó, các video clip của người bản xứ được trình bày, các câu hỏi được đưa ra thảo luận, các trò chơi, phân vai được sinh viên tham gia tích cực. Với hình thức tổ chức này, các bài học trên lớp không bị gián đoạn mà sinh viên hiểu được nhiều hơn, được làm việc nhiều hơn và thực hành ngôn ngữ tốt hơn. 2. Nâng cao vai trò của giáo viên trong việc dạy ngôn ngữ bản địa Khi học tiếng Anh ở Việt Nam, sinh viên không có môi trường nói tiếng bản ngữ để học ngôn ngữ và văn hoá Anh. Cùng lúc đó họ cũng không có cơ hội để tiếp cận với ngôn ngữ cũng như “văn hoá thật sự”. Trong tình huống này, vai trò của giáo viên rất quan trọng bởi vì chính họ sẽ là nguồn đầu tiên để qua đó sinh viên có thể học văn hoá của ngôn ngữ thứ hai. Vì vậy điều mà giáo viên cần tập trung là giúp sinh viên hiểu được mối quan hệ tư duy, văn hoá và ngôn ngữ. Theo tôi, đối với giáo viên, tiếp cận văn hoá bản địa có thể chia làm ba mục tiêu: - Nâng cao nhận thức và mở rộng kiến thức về văn hoá bản địa - Hiểu được sự khác nhau của văn hoá Anh và văn hoá mẹ đẻ - Hiểu được những giá trị của văn hoá bản địa Để đạt được những mục tiêu này, bản thân giáo viên như tôi phải tự đọc sách, nghiên cứu thêm những tài liệu hình về văn hoá, tiếp cận thêm với người -6- nước ngoài để có kiến thức thực tế. Tuy vậy, nguồn tài liệu, sách vở về văn hoá có thể tìm kiếm qua mạng, nhưng tiếp cận với người bản ngữ là một việc khó khăn vì Thanh Hoá không phải là điểm du lịch như những thành phố khác. Vì vậy ngoài những cơ hội làm việc part-time theo các dự án, tôi kết bạn trên mạng và tìm hiểu về văn hoá nhờ vào những người bạn này. Vì vậy, bản thân tôi cũng tự tin khi tổ chức cho các em sinh viên những buổi ngoại khoá về văn hoá. 3. Lồng ghép những kiến thức văn hoá trong giờ học Bước đầu tiên khi dạy về một nền văn hoá đó là nâng cao nhận thức của sinh viên về bản chất của nền văn hoá đó. Vì vậy, trước khi lồng ghép kiến thức văn hoá, tôi phải cung cấp thông tin cho sinh viên về sự khác nhau cơ bản giữa hai nền văn hoá Anh- Việt để giảm thiểu những phản ứng tiêu cực của sinh viên. Và bản thân tôi cũng lưu tâm đến tầm quan trọng của sinh viên trong việc phát triển quan điểm: các nền văn hoá khác nhau sẽ ứng xử với nhu cầu cuộc sống theo cách khác nhau. Để tăng sự hứng thú của sinh viên đối với những kiến thức về văn hoá, tôi đã tổ chức một số hoạt động lồng ghép vào bài dạy trên lớp: 3.1 Kết bạn qua thư: Tôi giúp sinh viên cách tìm bạn trên mạng để họ tiếp cận với những người bạn bản xứ. Yêu cầu sinh viên phải hỏi được bạn của mình về một kiến thức văn hoá nào đó liên quan đến bài học. Vì dụ, bài học hôm nay liên quan đến Chủ đề “Thời tiết” thì phải hỏi thế nào, nói những gì….. Thêm vào đó, tôi chia sẻ những thông tin tôi khai thác được từ bạn của tôi để cung cấp thêm cho sinh viên cùng học tập và tham khảo. 3.2 So sánh: Theo Michael Byram và Michael Flemming: “ Chính sự so sánh nền văn hoá của nước mình với nền văn hoá của nước khác sẽ giúp người học lĩnh hội và đương đầu với những nét khác biệt . Nó cung cấp cho họ những kiến thức cơ -7- bản để giao tiếp thành công với các thành viên của nhóm văn hoá khác, không chỉ đơn giản là phường tiện trao đổi thông tin” (1993:4) Sự khẳng định này cho ta thấy, vai trò của việc so sánh hai nền văn hoá AnhViệt trong các bài giảng là hết sức cần thiết. Vì vậy, khi có những tình huống cần thiết tôi vẫn giải thích sự khác biệt cho sinh viên. Tình huống 1: Bác John là người Anh sang Việt Nam để làm dự án. Nếu gặp Bác John em sẽ chào thế nào? Theo văn hoá Việt chúng ta hoàn toàn có thể chào: Chào bác John, bác đi đâu thế ạ? Nhưng theo văn hoá của Anh/Mỹ, những câu như : Hello Uncle John, where are you going now?” thật sự sẽ gây sốc cho người nước ngoài. Theo đúng văn hoá Anh chúng ta chỉ cần chào: Hi/ Hello/Good morning/ how do you do? Hoặc thân mật hơn nữa có thể hỏi: How are you getting on?/ how is everything?/ how are you doing? Tình huống 2: Một người bạn khen bạn: “Cậu có cái áo đẹp quá”!. Bạn phản ứng ra sao? Theo văn hoá Việt, chúng ta có thói quen đáp lại một cách hoài nghi: Thật á? (Really?), Nó thật sự hợp với mình? (Is it really suitable for me?) hoặc từ chối lời khen: Cảm ơn nhưng đồ second hand ấy mà (Thanks, but it’s only a secondhand) Hoặc làm trệch hướng lời khen: Mẹ mình mua tặng hôm sinh nhật đấy (My mom bought it as a birthday present for me) Nhưng văn hoá Anh, chiến lược khen lại rất được ưa chuộng vì nó thể hiện sự lịch sự, tính tôn trọng cao: - Cậu thật tốt khi cho mình lời khen như vậy ( you are very kind to say so) -8- - Hôm nay cậu trông cũng rất đẹp mà ( you also look very attractive today) Tình huống 3: Bạn nói thế nào khi diễn đạt câu “vào Nam ra Bắc” Với câu này, người Anh chỉ dùng giới từ To (To the North and to the South), nhưng sinh viên Việt vẫn theo tư duy của mình nên dùng giới từ In-Out hoặc Into-Out of để viết. Và kết quả sẽ thành: : Go in South and Go out North hoặc into the South, out of the North Ở đây tôi giải thích cho học viên hiểu vì sao họ chỉ dùng giới từ To mà không dùng những giới từ khác. Người Anh không đề cao tầm quan trọng của vị trí và phương hướng của chủ thể, họ chỉ quan niệm nếu câu mang tính định hướng sẽ dùng To. Nhưng người Việt, vị trí và phương hướng lại rất quan trọng, nó làm cho người nghe/đọc dễ xác định vị trí của người nói/viết. Tình huống 4: Dịch câu “Hôm qua tôi bị thi trượt” Văn hoá Việt dùng “bị”, hoặc “được” để diễn tả thái độ, cảm xúc của người nói, nên không phải bị động nhưng chủ thể lời nói vẫn dùng những từ chỉ dấu hiệu của câu bị động. Song, tiếng Anh lại không vậy. Câu bị động rất hay dùng nhưng được dùng rất chính xác và rất đúng mục đích. Tuy vậy, sinh viên của tôi khi viết vẫn dùng: I was failed the exam yesterday Trong khi tiếng Anh chỉ cần viết: I failed the exam yesterday Tình huống 5: Dịch câu. Đợi tôi tí, tôi gọi điện thoại xong đã. Người Việt không có khái niệm về thì, chỉ đơn giản dùng những từ: đã, đang và sẽ… để diễn đạt ý niệm thời gian của hành động. Tuy vậy những từ đó cũng không được sử dụng một cách chính xác. Như câu trên, tiếng Anh chỉ cần viết: Wait for a moment. I am making a phone call. Trong khi có những em sinh viên lại viết: Wait for a moment. I finish the phone call. -9- Từ những tình huống trên ta thấy được việc cần thiết và tính hiệu của việc so sánh những tình huống cụ thể để sinh viên có thể nắm bắt được sự khác biệt trong cách dùng của từng ngôn ngữ. 3.3. Đóng vai: Với cách này tôi hay cho sinh viên đóng vai trong những bài hội thoại vì “Khi sinh viên nhớ đoạn hội thoại và thực hành nó, họ đã học được thông qua việc đóng vai, như họ đã làm với chính nền văn hoá của họ trong những trò chơi thời thơ ấu và những mối quan hệ họ đã trải nghiệm” (Rivers, 1968:274) Mỗi bài hội thoại là một tình huống của đời thường, việc đóng vai diễn lại theo hội thoại sẽ giúp học viên nhớ lại từ vựng, ngữ pháp. Quan trọng hơn là học viên có thể hình thành thói quan giao tiếp như người bản địa mà không cần phải thông qua sách nói về văn hoá mới có thể học được - 10 - C. KẾT LUẬN I. Kết quả thực hiện Ý thức được tầm quan trọng của văn hoá trong việc học ngôn ngữ bản địa và áp dụng những cách thức khác nhau để hỗ trợ cho quá trình dạy, tôi đã đạt được những kết quả sau: - Giáo viên học hỏi được nhiều qua quá trình giảng dạy và nghiên cứu, từ đó tự hoàn thiện kiến thức và kĩ năng ngôn ngữ - Sinh viên không chỉ hoàn thiện được các kĩ năng nghe, nói, đọc viết mà còn sử dụng đúng tình huống ngôn ngữ trong quá trình giao tiếp thông qua quá trình tham gia câu lạc bộ Tiếng Anh. - Sinh viên hiểu thêm nhiều về sự khác nhau cơ bản giữa văn hoá Anh và văn hoá Việt. - Sinh viên có thêm kiến thức về những giá trị của văn hoá Anh. Kết quả cụ thể là: + Đối với sinh viên lớp K1 : là kháo đào tạo sinh viên chuyên ngành tiếng Anh đầu tiên của trung tâm liên kết với trường ĐHNN-ĐHQGHN nhưng đầu vào của các em rất thấp, kinh nghiệm giảng dạy chưa nhiều, kiến thức về văn hoá của giáo viên còn hạn chế, nên việc áp dụng được phương pháp tiếp cận mới vào giảng dạy chưa nhuần nhuyễn. Do đó, gần như sinh viên có hiểu bài nhưng số sinh viên tham gia vào các hoạt động tái tạo ngôn ngữ sau khi học không nhiều. Hầu hết chỉ dừng lại ở việc đọc được bài, đọc được từ mới nhưng không tái tạo được ngôn ngữ. Kết quả sau mỗi bài dạy là 30-35% học viên bước đầu tái tạo ngôn ngữ + Đối với sinh viên K2 và K3 : Hai khoá sau, đầu vào của các em có tốt hơn khoá 1, tôi mạnh dạn tiếp cậ phương pháp mới, tổ chức nhiều buổi ngoại khoá cho các em và hướng dẫn các em dịch nhiều hơn. Ban đầu có nhiều dấu hiêu khả quan. Có tới 65-70% học viên tham gia thành công vào quá trình tái tạo ngôn ngữ và các bài dịch cũng đạt kết quả khả quan. - 11 - + Đối với các lớp học tiếng Anh không chuyên như lớp Luật Kinh tế, Kế toán, tôi không tổ chức ngoại khoá vì số học viên trong 1 lớp quá đông, trình độ Tiếng ânh lại quá thấp vì vậy tôi đã lồng ghép các yếu tố văn hoá vào bài giảng thông qua các hoạt dộng trên lớp, chủ yếu là so sánh sự khác biệt giữa hai nền văn hoá, nên học viên cũng phần nào nắm được mục tiêu của ngôn ngữ. Kết quả tuy chưa khả quan, học viên chưa có khả năng tái tạo ngôn ngữ nhưng họ đã viết được câu đúng và sử dụng chính xác trong một số tình huống cơ bản. II. Đề xuất, kiến nghị - Văn hoá là một phạm trù rộng, học về văn hoá cần có cả một quá trình, vì vậy trong quá trình giảng dạy và lồng ghép yếu tố văn hoá vào bài giảng, tôi cũng không kì vọng quá nhiều vào sự tiến bộ vượt bậc của học viên. Cái mà tôi muốn là, sinh viên và học viên nắm được sự khác biệt giữa hai nền văn hoá, để từ đó có cái nhìn khác về tư duy và phương pháp tiếp cận ngôn ngữ của mình. Nhưng khi làm sáng kiến kinh nghiệm này, bản thân tôi cũng có một số đề xuất sau : - Trung tâm tạo điều kiện hơn nữa để giáo viên dạy ngoại ngữ có điều kiện tìm hiểu về văn hoá. Hàng năm tổ chức những buổi học tập, rút kinh nghiệm và tham gia những tour du lịch ở các nước nói Tiếng Anh để nâng cao trình độ. - Sở giáo dục và đào tạo nên tổ chức những buổi tập huấn có chuyên gia nước ngoài để họ cũng cấp thêm những kiến thức về văn hoá. - Trên đây là những đóng góp của tôi trong quá trình giảng dạy. Tuy các lớp học bây giờ không còn nhiều nhưng tôi hi vọng những kinh nghiệm mà tôi chia sẻ trên đây phần nào giúp đồng nghiệp của tôi có thể nắm được những hướng cơ bản để áp dụng cho các lớp mà mình đang giảng dạy. Tôi xin chân thành cảm ơn ! - 12 - Môc lôc A. Đặt vấn đề.............................................................. Trang 01 B. Giải quyết vấn đề .................................................. Trang 02 I. Cơ sở lí luận ................................................. Trang 02 II. Thực trạng.................................................... Trang 03 III. Các giải pháp ........................................... Trang 05 IV. Cách thức tổ chức thực hiện.................... Trang 05 C. Kết luận .............................................................. Trang 11 I. Kết quả thực hiện........................................ Trang 11 II. Kiến nghị và đề xuất.................................. Trang 12 - 13 -
- Xem thêm -