Skkn bồi dưỡng thị hiếu thẩm mỹ cho học sinh thpt khi dạy học

  • Số trang: 32 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 17 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 24000 tài liệu

Mô tả:

BẢN CAM KẾT I. TÁC GIẢ: Họ và tên: Hà Thị Thanh Nga Ngày tháng năm sinh: 20- 08- 1979 Đơn vị: Trường THPT Lê Quý Đôn Điện thoại: 0313.551205 Di động: 0985754909 Email: thanhnga30@gmail.com II. SẢN PHẨM: BỒI DƯỠNG THỊ HIẾU THẨM MỸ CHO HỌC SINH THPT KHI DẠY HỌC THƠ LÃNG MẠN VIỆT NAM 1930-1945 III. CAM KẾT: Tôi xin cam kết sáng kiến kinh nghiệm này là sản phẩm của cá nhân tôi. Nếu có xảy ra tranh chấp về quyền sở hữu đối với một phần hoặc toàn bộ sản phẩm sáng kiến kinh nghiệm tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo về tính trung thực của bản cam kết này. Ngày 26 tháng 2 năm 2011 Người cam kết Hà Thị Thanh Nga PHẦN MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI. 1.1. Sống và sáng tạo theo quy luật của cái đẹp là bản chất của con người. Nhưng cuộc sống vốn đa dạng và phức tạp. Mọi sự vật, hiện tượng luôn vận động, biến hoá vô cùng giữa thực- hư, đẹp- xấu, cao cả- thấp hèn…Biết bao cái xấu xa, thấp hèn nhưng lại núp trong cái đẹp, nguỵ trang bằng hình dáng lộng lẫy bề ngoài. Do đó, cái khó là làm sao hướng dẫn và phát triển đúng đắn con đường đi đến cái đẹp đích thực, giúp con người có khả năng lựa chọn và đánh giá đặc biệt nhạy cảm, chính xác trước cái đẹp, từ đó biết sáng tạo ra cái đẹp muôn màu trong mọi hoạt động sống của mình. Chính vì vậy, việc bồi dưỡng cho thanh thiếu niên một thị hiếu thẩm mỹ lành mạnh trở thành một trong những nhiệm vụ quan trọng của quá trình giáo dục thẩm mỹ trong nhà trường. 1.2. Với tính chất hai mặt: vừa là một môn học, vừa là một môn nghệ thuật, môn Văn có nhiều ưu thế trong việc giáo dục thẩm mỹ nói chung, bồi dưỡng thị hiếu thẩm mỹ nói riêng cho học sinh. Tuy nhiên, việc dạy học Văn trong nhà trường hiện nay chưa chú ý đúng mức đến vấn đề này. Các tài liệu hướng dẫn dạy học cũng như giáo án của giáo viên chưa hề đề cập đến vấn đề bồi dưỡng thị hiếu thẩm mỹ cho học sinh. Đây chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng nhiều em học sinh do ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường chưa có thị hiếu thẩm mỹ lành mạnh 1.3.Thơ lãng mạn 1930-1945 là thành tựu xuất sắc của thơ ca Việt Nam hiện đại, đã “mở ra một thời đại trong thi ca” và có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển của thơ ca giai đoạn tiếp sau. Bộ phận văn học này là một kho tàng thẩm mỹ phong phú nên có nhiều khả năng bồi dưỡng thị hiếu thẩm mỹ cho học sinh. Hơn nữa, theo cấu trúc đồng tâm, học sinh được học thơ lãng mạn ở cả cấp học THCS và THPT. Đây là điều kiện thuận lợi để tiến hành mục đích giáo dục, bồi dưỡng. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về thơ lãng mạn chưa đề cập đến vấn đề này. 1.4. Công cuộc đổi mới phương pháp dạy học ở nước ta hiện nay đang hướng vào mục đích: phát huy vai trò chủ thể của người học. Tuy nhiên, những thành tựu thu được còn quá ít ỏi, hầu như mới dừng lại ở lý thuyết. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài: “Bồi dưỡng thị hiếu thẩm mỹ cho học sinh THPT khi dạy học thơ lãng mạn Việt Nam 1930-1945” chính là một giải pháp nhằm đưa lý luận vào thực tiễn sinh động, đem lại hiệu quả giáo dục thiết thực. 2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU. - Xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề bồi dưỡng thị hiếu thẩm mỹ cho học sinh THPT khi dạy học Văn. - Đề xuất một số biện pháp bồi dưỡng thị hiếu thẩm mỹ cho học sinh khi dạy học tác phẩm văn chương nói chung, thơ lãng mạn Việt Nam 1930-1945 nói riêng, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học Văn, góp phần đổi mới phương pháp dạy học Văn. 3. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU. 3.1. Đối tượng nghiên cứu: - Thơ lãng mạn Việt Nam 1930-1945. - Học sinh lớp 11 trường THPT Lê Quý Đôn. 3.2. Phạm vi nghiên cứu: - Nghiên cứu khả năng bồi dưỡng thị hiếu thẩm mỹ cho học sinh của các tác phẩm văn chương. - Thơ lãng mạn Việt Nam 1930-1945, chủ yếu là thơ của các tác giả tiêu biểu được tuyển chọn vào chương trình Văn THPT. - Các biện pháp bồi dưỡng thị hiếu thẩm mỹ cho học sinh khi dạy học thơ lãng mạn Việt Nam 1930-1945. 4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. - Phương pháp tổng hợp và nghiên cứu lý luận. - Phương pháp điều tra khảo sát và phân tích số liệu thống kê. PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ BỒI DƯỠNG THỊ HIẾU THẨM MỸ CHO HỌC SINH THPT KHI DẠY HỌC THƠ LÃNG MẠN VIỆT NAM 1930-1945 1.1. Thị hiếu và thị hiếu thẩm mỹ. 1.1.1. Thị hiếu: Thị hiếu được hiểu theo nghĩa gốc là sự ngon miệng, sự ham thích (Schmecken). Ở những cá nhân khác nhau, thị hiếu lại biểu hiện muôn hình vạn trạng, nó khiến người ta lựa chọn những đối tượng khác nhau, phù hợp với sở thích của mình. Sự lựa chọn này mang tính phổ biến và ổn định thành một xu hướng, một kiểu, một lối, một thói quen riêng của từng người trong sinh hoạt cá nhân, gia đình và xã hội. 1.1.2. Thị hiếu thẩm mỹ: 1.1.2.1. Định nghĩa: Thị hiếu thẩm mỹ là một bộ phận cấu thành năng lực thẩm mỹ, là sở thích, khát vọng của con người hướng tới cái đẹp, tới các phạm trù thẩm mỹ. Nó giúp con người tiến sâu vào thế giới thẩm mỹ bằng những mẫn cảm đặc biệt và đạt tới những thói quen trong thưởng thức và sáng tạo.Thị hiếu thẩm mỹ thường được hình thành, bồi dưỡng dưới tác động của nghệ thuật. 1.1.2.2. Đặc điểm của thị hiếu thẩm mỹ: Thị hiếu thẩm mỹ là sự thống nhất giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính. Mặt khác, thị hiếu thẩm mỹ còn là sự thống nhất hài hoà giữa hai mặt cá nhân và xã hội. Thị hiếu thẩm mỹ có nhiều mức độ phát triển khác nhau: thị hiếu thẩm mỹ tốt, thị hiếu thẩm mỹ kém phát triển và thị hiếu thẩm mỹ xấu. 1.1.3. Ý nghĩa của vấn đề bồi dưỡng thị hiếu thẩm mỹ: Thị hiếu thẩm mỹ gắn bó với đạo đức, hệ tư tưởng và những vấn đề chính trị to lớn của thời đại. Xét cho cùng, thị hiếu thẩm mỹ bao giờ cũng chứa đựng những khát vọng tương đối toàn diện của một thời đại lịch sử. Không có thị hiếu thẩm mỹ lành mạnh thì không có cuộc sống đẹp. Thị hiếu thẩm mỹ trở thành động lực quan trọng của phẩm chất văn hoá và là nội dung sâu sắc của cá tính cao đẹp. Hiện nay, quá trình đổi mới đem lại những thay đổi kỳ diệu cho nước ta đồng thời tác động sâu sắc đến cuộc sống của mỗi người dân. Trình độ dân trí nâng cao, sự giao lưu rộng rãi với các nước trên thế giới, sự phát triển của các phương tiện truyền thông đã làm cho nhu cầu về đời sống tinh thần của con người ngày càng tăng. Trong bối cảnh ấy, thị hiếu thẩm mỹ cũng được nâng cao và phát triển phong phú, đa dạng hơn, có sự đan xen giữa cái cũ và cái mới, giữa truyền thống và hiện đại, giữa dân tộc và quốc tế. Trong lĩnh vực nghệ thuật, điều này được thể hiện rất rõ. Con người Việt Nam hiện nay không chỉ yêu thích các loại hình nghệ thuật dân tộc mà còn tiếp thu nhanh chóng nhiều loại hình nghệ thuật hiện đại của thế giới. Bên cạnh ảnh hưởng tích cực đó, mặt trái của nền kinh tế thị trường cùng với sự du nhập của lối sống phương Tây đã ít nhiều tác động đến thước đo giá trị. Đã có lúc, nhiều giá trị dường như bị đảo lộn nghiêm trọng, có nơi cái đẹp bị đối xử như một kẻ xa lạ, thậm chí như cái lố bịch. Hành động quên mình vì lý tưởng, lối sống giản dị, trong sạch không dựa vào địa vị, chức vụ để kiếm chác, mưu lợi riêng bị cho là “tẩm”, là “âm lịch”. Trong thị hiếu thẩm mỹ đã xuất hiện tâm lý của xã hội tiêu thụ- tâm lý thực dụng. Đồ vật không còn là phương tiện phục vụ cho cuộc sống mà biến thành “thước đo giá trị và uy tín của một con người”. Những biểu hiện tầm thường hoá trong thị hiếu thẩm mỹ như thói học đòi, khoe khoang, sùng ngoại một cách vô lối, bất chấp giá trị đích thực của nó ra sao đã xuất hiện ở một bộ phận dân cư giàu có mới phất lên, muốn sống theo kiểu “trưởng giả học làm sang”. Do trình độ văn hoá hạn chế, nhiều người cổ vũ cho loại hình nghệ thuật hình thức chủ nghĩa hoặc tự nhiên chủ nghĩa. Những tác phẩm nghệ thuật độc hại, kích thích hành vi tính dục và bạo lực xuất hiện tràn lan và được nhiều người ưa chuộng như một thứ mốt thời thượng. Việc lựa chọn những tác phẩm thuần giải trí thay cho những tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao ngày càng trở thành một xu hướng ổn định và có chiều hướng gia tăng trong xã hội. Bên cạnh đó, những nét thị hiếu thẩm mỹ mang tính dân tộc có nguy cơ bị mất đi. Tình hình này tác động không nhỏ đến thanh thiếu niên- lứa tuổi vốn nhạy cảm với cái mới, cái lạ, thích khẳng định cá tính riêng nhưng vốn kinh nghiệm thẩm mỹ còn ít ỏi khiến các em ít nhiều có những biểu hiện lệch lạc, thiếu lành mạnh trong thị hiếu thẩm mỹ như thái độ lúng túng, sa đà, mất phương hướng trước những xu hướng thẩm mỹ khác nhau. Ảnh hưởng của thứ thẩm mỹ lai căng, rẻ tiền, thiên về giá trị vật chất tác động đến các em ngày càng lớn. Do vậy, vấn đề giáo dục thị hiếu thẩm mỹ cho mọi người, nhất là thanh thiếu niên trở thành một nhiệm vụ vô cùng quan trọng nhưng không kém phần phức tạp của xã hội và nhà trường. 1.2. Thị hiếu thẩm mỹ trong hoạt động tiếp nhận văn học của bạn đọc- học sinh: 1.2.1. Thị hiếu thẩm mỹ có vai trò quan trọng trong hoạt động tiếp nhận văn học của bạn đọc- học sinh: Trước hết, thị hiếu thẩm mỹ giúp người đọc phát hiện ra chiều sâu, giá trị nội tại của tác phẩm văn chương. Không chỉ vậy, thị hiếu thẩm mỹ còn giúp người đọc tiếp nhận đúng đắn các tác động của tác phẩm văn chương đồng thời giúp bạn đọc khắc phục khoảng cách thẩm mỹ giữa tác phẩm văn chương và bạn đọc cũng như nâng cao tầm đón nhận, mở rộng vốn ngôn ngữ cho bạn đọc. 1.2.2. Những điểm cần lưu ý trong quá trình bồi dưỡng thị hiếu thầm mỹ cho học sinh khi dạy học Văn: Quá trình bồi dưỡng thị hiếu thẩm mỹ cho học sinh khi dạy học Văn phải chú trọng bồi dưỡng cho các em năng lực ngôn ngữ, đặc biệt là khả năng cảm xúc, đánh giá hết cái hay, cái đẹp của ngôn từ nghệ thuật trong tác phẩm. Nhưng mặt khác, giáo viên cũng cần ý thức được hoạt động tiếp nhận văn học trong nhà trường là hoạt động có tính đặc thù của môi trường sư phạm để tổ chức tốt các hoạt động dạy học. Trước hết, tính đặc thù được thể hiện ở đối tượng được tiếp nhận. Tác phẩm văn chương được học trong chương trình đều là những tác phẩm ưu tú của dân tộc và nhân loại, đã được thay đổi ít nhiều về dung lượng, quy mô, về yêu cầu chức năng, thậm chí về vị trí trong lịch sử văn học để phù hợp với mục đích giáo dục- đào tạo. Mặt khác, việc tiếp nhận văn chương trong nhà trường có tính tập thể và có sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên. Không chỉ vậy, tính đặc thù của hoạt động tiếp nhận văn học trong nhà trường còn được thể hiện ở chủ thể tiếp nhận. Đó là học sinh trong cùng một lớp, cùng một độ tuổi, có đặc điểm tâm sinh lý giống nhau đồng thời khá đồng đều về trình độ, về vốn sống và vốn kinh nghiệm thẩm mỹ. Đây là cơ sở để giáo viên xây dựng các biện pháp dạy học nhằm khắc phục khoảng cách tiếp nhận giữa học sinh và tác phẩm, rút ngắn quá trình tiếp nhận những giá trị đích thực của tác phẩm, từ đó từng bước bồi dưỡng thị hiếu thẩm mỹ cho các em. Mặt khác, trong quá trình dạy học giáo viên vừa phải lựa chọn những nội dung tác phẩm phù hợp với mục đích giáo dục thị hiếu thẩm mỹ lành mạnh, tiến bộ cho các em, vừa phải phát huy cá tính của thị hiếu thẩm mỹ bằng những biện pháp phát huy tính năng động, sáng tạo của chủ thể. 1.3. Thơ lãng mạn Việt Nam 1930-1945- nơi hội tụ những thị hiếu thẩm mỹ mới mẻ của các thi nhân và nơi khơi dậy những thị hiếu thẩm mỹ lành mạnh cho bạn đọchọc sinh. 1.3.1. Vài nét về thơ lãng mạn: Thơ lãng mạn là tiếng nói của bản thân cái tôi- cá nhân chủ quan, cụ thể. Đọc thơ lãng mạn, điều ta cảm nhận được trước tiên và chủ yếu nhất, ấy là tâm hồn của nhà thơ. Cùng với việc đi sâu vào thế giới nội tâm phong phú, phức tạp, nhà thơ lãng mạn để ngỏ lòng mình để đón nhận hương sắc của cuộc đời. Cái tôi trở thành xuất phát điểm, trở thành điểm tựa để nhìn ra và phản ánh toàn bộ thế giới. Nó thấy ý nghĩa tồn tại của mình trong cảm giác về thế giới. Xuất phát từ nguyên tắc tôn trọng cái tôi cá nhân, câu thơ lãng mạn là câu thơ thổ lộ, giãi bày, câu thơ điệu nói. 1.3.2. Thơ lãng mạn Việt Nam 1930-1945 có nhiều khả năng bồi dưỡng thị hiếu thẩm mỹ cho bạn đọc- học sinh: 1.3.2.1. Tính đa dạng mà thống nhất của thị hiếu thẩm mỹ trong thơ lãng mạn Việt Nam 1930-1945: Thơ lãng mạn đã thay thế tiếng nói của cái tôi “vô ngã”, cái tôi vũ trụ bằng tiếng nói của cái tôi cá nhân tràn đầy cảm xúc, tâm trạng, đòi giải phóng cá tính sáng tạo. Không chấp nhận cái đẹp vĩnh hằng, bất biến, mang tính quy phạm, ước lệ trong thơ cổ điển, các nhà thơ lãng mạn tìm đến cái đẹp muôn hình, muôn vẻ của thế giới này, cái đẹp được phát hiện từ góc độ cá nhân, cá thể với nhiều tưởng tượng, liên tưởng mới lạ, kỳ thú. Trên cái nền chung có tính ổn định của thời đại, thị hiếu thẩm mỹ của mỗi một nhà thơ lãng mạn giai đoạn 1930-1945 lại có những đặc điểm riêng. Nếu Thế Lữ đưa ta phiêu du vào tiên cảnh, Lưu Trọng Lư đắm mình trong cõi mộng và Chế Lan Viên quay về với quá khứ xa xăm, khóc thương cho dân tộc Chàm xấu số thì Xuân Diệu xây dựng vườn địa đàng ngay chốn trần gian với những nguyện ước thật mãnh liệt, chân thành: Ta ôm bó cánh tay ta làm rắn Làm dây đa quấn quýt cả mình xuân Không muốn đi mãi mãi ở vườn trần Chân hoá rễ để hút mùa dưới đất. (Thanh niên) Là bạn thơ thân thiết của Xuân Diệu nhưng ngọn lửa thơ trong thơ Huy Cận không nồng nàn, mãnh liệt mà âm ỉ cháy bởi chất chứa nỗi sầu vô tận: "Một chiếc linh hồn nhỏ. Mang mang thiên cổ sầu". Giữa lúc các nhà thơ lãng mạn say sưa với cái đẹp mới mẻ từ trời Tây đưa lại, Nguyễn Bính vẫn nặng lòng với “hồn xưa đất nước”. Thi sĩ đến với ta bằng tiếng thơ “chân quê”, phảng phất phong vị ca dao, dân ca. Hồn thơ ấy chỉ “ưa sống trong tình quê mà ít chú ý đến cảnh quê” : Nhà em có một giàn giầu Nhà anh có một hàng cau liên phòng Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào? (Tương tư) Như vậy, qua việc tìm hiểu phong cách nghệ thuật của các nhà thơ lãng mạn giai đoạn 1930-1945, chúng ta càng có cơ sở để khẳng định rằng thị hiếu thẩm mỹ là một nhân tố đã tham gia tích cực vào quá trình sáng tạo nghệ thuật, tạo nên cá tính độc đáo của các thi sĩ. Tính thống nhất mà đa dạng của thị hiếu thẩm mỹ đã góp phần tạo nên những giá trị thẩm mỹ tốt đẹp, có nhiều khả năng bồi dưỡng thị hiếu thẩm mỹ cho học sinh THPT. 1.3.2.2. Thơ lãng mạn Việt Nam 1930-1945 kết tinh nhiều giá trị thẩm mỹ có khả năng bồi dưỡng thị hiếu thẩm mỹ cho bạn đọc- học sinh: Về phương diện nội dung, thơ lãng mạn Việt Nam 1930-1945 là một kho tàng thẩm mỹ phong phú. Thưởng thức các tác phẩm văn học này, trước hết, chúng ta cảm nhận được vẻ đẹp của tình yêu quê hương đất nước- một truyền thống lớn của thơ ca dân tộc. Chưa bao giờ, phong cảnh thiên nhiên đất nước lại được thể hiện cụ thể, gần gũi, sinh động và mỹ lệ như thế. Người ta có thể tìm thấy vẻ đẹp riêng của nhiều miền quê khác nhau. Một xứ Huế thơ mộng, đằm thắm trong thơ Hàn Mặc Tử, một làng chài mặn nồng hương vị biển trong thơ Tế Hanh, một đồng quê xứ Bắc bình dị mà chứa chan thi vị trong thơ Nguyễn Bính, Bàng Bá Lân, Đoàn Văn Cừ, Anh Thơ. Bên cạnh đó, thơ lãng mạn giai đoạn này còn là quá trình tìm về với những giá trị văn hoá truyền thống, những phong tục tốt đẹp của dân tộc để nâng niu và gìn giữ. Cũng có khi, lòng yêu nước được biểu hiện kín đáo qua nỗi buồn non nước. Nhưng có lẽ, biểu hiện tập trung nhất của tình yêu nước trong thơ lãng mạn 1930-1945 chính là tình yêu tiếng Việt- thứ tiếng mang hồn dân tộc giờ đây trong chế độ thuộc địa bị hắt hủi như một kẻ ngoại lai. Yêu tiếng Việt, các nhà thơ lãng mạn bảo vệ tiếng Việt, làm cho tiếng Việt ngày càng giàu và đẹp hơn. Không chấp nhận cuộc sống tầm thường, tẻ nhạt, các nhà thơ lãng mạn luôn hướng tới một lý tưởng cao đẹp, có phần phi thường. Mặc dù ước mơ của họ còn mơ hồ, phi thực tế nhưng ít nhất cũng đánh thức khát vọng sống của con người. Thơ lãng mạn giai đoạn này khắc hoạ vẻ đẹp của những đấng trượng phu sẵn sàng lên đường, gạt tình riêng vì nghĩa lớn: Ly khách! Ly khách con đường nhỏ Chí nhớn chưa về bàn tay không Thì không bao giờ nói trở lại Ba năm mẹ già cũng đừng mong (Tống biệt hành- Thâm Tâm) Tuy có lúc đau buồn, sầu mộng nhưng nhìn chung, thơ lãng mạn Việt Nam 19301945 vẫn ánh lên vẻ đẹp của tình yêu cuộc sống, yêu con người tha thiết. Thơ Hàn Mặc Tử là tinh hoa của một tâm hồn khát khao được sống, được hoà nhập với cuộc đời, với con người nhưng lại gặp một chuỗi đau thương, bất hạnh. Tiếng thơ sầu đau “ảo não” của Huy Cận cũng chẳng qua “là trá hình của lòng ham đời, là cái tật dĩ nhiên của kẻ yêu sự sống”. Thành tựu nổi bật nhất của thơ lãng mạn Việt Nam 1930-1945 về phương diện hình thức nghệ thuật là sự cải tạo lại một cách căn bản “thơ trữ tình tiếng Việt từ câu thơ “điệu ngâm” sang câu thơ “điệu nói”. Đọc thơ lãng mạn, ta được tiếp xúc với vẻ đẹp của hình ảnh thơ mới lạ, độc đáo, hấp dẫn. Do huy động nhiều giác quan và hoà trộn các giác quan trong cảm nhận thế giới, các nhà thơ lãng mạn sáng tạo ra nhiều hình ảnh thơ tân kì: Này lắng nghe em khúc nhạc thơm Say người như rượu tối tân hôn (Huyền diệu- Xuân Diệu) Mặt khác, thơ lãng mạn 1930-1945 rất giàu có về nhạc điệu. Nhạc điệu trong thơ lãng mạn là nhạc điệu của cảm xúc, của ngữ điệu người, giọng điệu người. Chính điều này đã phá vỡ cấu trúc câu thông thường của thơ cổ điển. Mỗi dòng thơ không còn là một đơn vị cú pháp độc lập mà chảy tràn sang nhau bởi hiện tượng vắt dòng hoặc đột ngột bị tách làm đôi: Xao xác tiếng gà. Trăng ngà lạnh buốt (Lời kỹ nữ- Xuân Diệu) Kiểu câu cũng rất đa dạng: xuất hiện nhiều câu hỏi, câu cảm thán, câu hỏi tu từ, câu nghị luận, câu nghi vấn, câu cầu khiến… Em không nghe mùa thu Dưới trăng mờ thổn thức? (Tiếng thu- Lưu Trọng Lư) Các biện pháp tu từ như điệp từ, điệp ngữ, điệp câu cũng được khai thác để tạo ra tính nhạc: Em phải nói, phải nói và phải nói Bằng lời riêng nơi cuối mắt đầu mày Bằng nét vui bằng vẻ thẹn, chiều say Bằng đầu ngả, bằng miệng cười, tay riết… (Phải nói- Xuân Diệu) Các nhà thơ cũng phối hợp thanh điệu và sử dụng các kiểu hiệp vần: vần ôm, vần gián cách, vần liên tiếp… để tạo ra tính nhạc cho thơ: Chị ấy năm nay còn gánh thóc Dọc bờ sông trắng nắng chang chang (Mùa xuân chín- Hàn Mặc Tử) Không những thế, kết cấu thơ lãng mạn cũng rất đa dạng, mới mẻ. Có bài trình bày theo lối kể lể, giãi bày như “Tương tư”(Nguyễn Bính), “Đây thôn Vĩ Dạ” (Hàn Mặc Tử), “Tương tư chiều”(Xuân Diệu), “Ngậm ngùi” (Huy Cận), có bài kết cấu theo lối đối lập như “Nhớ rừng”(Thế Lữ), “Tống biệt hành” (Thâm Tâm), “Ông đồ”(Vũ Đình Liên), có bài thiên về trình bày một quan niệm như “Vội vàng”(Xuân Diệu), “Cây đàn muôn điệu”(Thế Lữ), “Cảm xúc”(Xuân Diệu)…Lối thơ hoạ cổ điển được sử dụng nhưng mang đậm dấu ấn cảm xúc chủ thể trữ tình như: “Chiều xuân”(Anh Thơ), “Đẹp xưa”(Huy Cận), “Tràng giang”(Huy Cận)… Điểm qua một vài phương diện, chúng ta có thể thấy rằng, thơ lãng mạn Việt Nam 1930-1945 đã có những tìm tòi, bứt phá về nghệ thuật để thể hiện cho thật toàn vẹn, sắc nét sự thay đổi trong điệu cảm xúc, trong nội dung tư tưởng của tác phẩm. Nhìn một cách tổng thể, loại hình thơ này đã căn bản đổi mới thi pháp thơ trữ tình Việt Nam và có ảnh hưởng sâu rộng đến sự phát triển của thơ ca các giai đoạn tiếp sau. Chính vì thế, những tác phẩm tiêu biểu của phong trào thơ ca này ẩn chứa nhiều giá trị thẩm mỹ quý báu, có khả năng bồi dưỡng thị hiếu thẩm mỹ lành mạnh cho bạn đọc- học sinh. Việc tiếp xúc với các tác phẩm này dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên sẽ giúp các em không những được thưởng thức, rung cảm với cái đẹp trong tác phẩm mà còn có khả năng đánh giá đúng đắn giá trị của nó. Hệ thống hình tượng được tích luỹ ngày càng nhiều cùng với sự hiểu biết về nghệ thuật ngày càng gia tăng sẽ nâng cao trình độ và năng lực thẩm mỹ của các em, giúp các em dần dần hình thành khả năng đặc biệt nhạy cảm với cái đẹp trong nghệ thuật và cuộc sống. “Thói quen phân tích và lĩnh hội một cách chín chắn những hiện tượng nghệ thuật làm cho thị hiếu phát triển, phong phú, thêm hoàn thiện, tinh vi” (V.R.Rađumnưi- Bàn về thị hiếu nghệ thuật. NXB Văn hoá nghệ thuật, H,. 1962). Đến đây, ta càng hiểu thêm ý nghĩa sâu sắc, có tính khái quát cao trong câu nói của Mác: “Tác phẩm nghệ thuật và mọi sản phẩm cũng thế có thể tạo ra công chúng sính nghệ thuật, biết thưởng thức cái đẹp. Cho nên, sản xuất không những sản xuất ra đối tượng cho chủ thể mà còn sản xuất ra chủ thể cho đối tượng” (Nhiều tác giả -Lý luận văn học. NXB Đại học sư phạm 2002) CHƯƠNG 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG THỊ HIẾU THẨM MỸ CHO HỌC SINH THPT KHI DẠY HỌC THƠ LÃNG MẠN VIỆT NAM 1930-1945 2.1. Khảo sát thị hiếu thẩm mỹ của học sinh THPT khi học thơ lãng mạn 19301945. 2.1.1. Mục đích khảo sát: Chúng tôi tiến hành khảo sát thị hiếu của học sinh THPT khi học thơ lãng mạn 1930-1945 nhằm mục đích nắm được trình độ phát triển thị hiếu thẩm mỹ của các em để xác lập cơ sở thực tiễn của đề tài. 2.1.2. Đối tượng, địa bàn, phương pháp khảo sát: - Địa bàn: trường THPT Lê Quý Đôn- Hải Phòng. - Đối tượng: học sinh lớp 11. Cụ thể như sau: hai lớp cơ bản D, hai lớp Tự nhiên, hai lớp cơ bản A. Tổng số: 6 lớp (303 học sinh). - Phương pháp khảo sát: Sử dụng phiếu điều tra với câu hỏi như sau: Câu 1: So với thơ trung đại, thơ ca lãng mạn Việt Nam 1930-1945 đem lại cho em những ấn tượng mới mẻ như thế nào về nội dung và nghệ thuật? - Nội dung: - Nghệ thuật: Câu 2: Em có thích học thơ ca lãng mạn Việt Nam 1930-1945 không? Vì sao? Có Bình thường Không Lý do: Câu 3: Em có tìm đọc thêm những tác phẩm thơ ca lãng mạn Việt Nam 1930- 1945 không? Vì sao? Có Không Câu 4: Tác giả nào của thơ ca lãng mạn Việt Nam 1930-1945 để lại ấn tượng sâu sắc nhất trong em? Vì sao? Câu 5: Khi học thơ ca lãng mạn Việt Nam 1930-1945, em yêu thích bài thơ nào nhất? Nêu cảm nhận của em về bài thơ đó. 2.1.3. Kết quả khảo sát: *Lập bảng thống kê: - Tương ứng với mỗi câu hỏi, chúng tôi lập một bảng thống kê. Kết quả như sau: Bảng 1: Khả năng đánh giá giá trị nội dung, nghệ thuật của thơ lãng mạn: 8,25Mức độ Khá25/303 Tốt TB Yếu Số học sinh 47/303 Tỷ lệ(%) 15,51 145/303 86/303 47,85 28,38 Bảng 2: Thích Thị hiếu đối với thơ lãng mạn Bình thường Lý do Đặc sắc về nội dung, nghệ thuật Phù hợp với tâm trạng, tính cách Bồi dưỡng tâm hồn Không cảm thụ được hết cái hay, cái đẹp của tác phẩm Không phù hợp với tính cách Không thích học văn Không thi ban C Không thích thơ Không thích Nội dung xa rời thực tế Không phù hợp với xã hội hiện nay Không thi ban C Khó hiểu Thiếu tinh thần dân tộc Giáo viên dạy chưa hay Số h.s Tỷ lệ (%) 42/303 13,86 74/303 24,42 25/303 8,25 33/303 10,89 23/303 7,59 14/303 4,62 32/303 10,56 9/303 2,97 3/303 0,99 2/303 0,66 6/303 5.28 25/303 8,25 1/303 0,33 4/303 1,32 Bảng 3: Tỷ lệ (%) Số h.s Có Đọc thêm Lý do Không Phù hợp với tâm trạng, tính cách Giúp ích cho học tập Tác phẩm hay Không có thời gian Sách đắt Không thi ban C Ngại đọc sách Không cảm thụ được Trên lớp học nhàm chán 54/303 17,82 32/303 28/303 45/303 18/303 63/303 7/303 2,31 54/303 10,56 9,24 14,85 5,94 20,79 2/303 0,66 17,82 Bảng 4: Tác giả yêu thích Lý do Ấn tượng về cuộc đời Nội dung thơ hay Hình thức nghệ Tác giả thuật đặc sắc yêu thích 53/303 Thơ dễ hiểu, dễ thuộc Thơ có nội dung và nghệ thuật đặc sắc Bảng 5: Khả năng cảm thụ thơ Mức độ Tốt Khá TB Yếu Số học sinh Tỷ lệ(%) 32/303 10,56 84/303 27,72 Số học sinh 24/303 45/303 151/303 83/303 17,49 68/303 22,44 66/303 21,78 Tỷ lệ(%) 7,92 14,85 49,83 27,39 2.1.4. Phân tích số liệu thống kê: Qua bảng 1, chúng tôi thấy có tổng số 141/303 em thích thơ lãng mạn giai đoạn 1930-1945 (chiếm 46,53%). Lý do chủ yếu khiến các em yêu thích bộ phận văn học này vì nội dung của các tác phẩm phù hợp với tâm tư, tình cảm, tâm trạng của các em. (74/141 em = 53,48%). Điều này cũng dễ hiểu vì lứa tuổi học sinh THPT là lứa tuổi vị thành niên, thích khám phá, ưa hiểu biết và đặc biệt có một tâm hồn đầy mơ mộng, dễ xúc cảm. Đây là một cơ sở rất thuận lợi để tiến hành việc bồi dưỡng thị hiếu thẩm mỹ cho các em khi dạy bộ phận thơ ca này. Trong số các em yêu thích thơ lãng mạn 19301945, có những em đã xuất phát từ giá trị nội dung, nghệ thuật và khả năng vun đắp tâm hồn của các tác phẩm để đưa ra lý do của mình. Như vậy, ở các em này đã có sự phát triển nhất định về thị hiếu thẩm mỹ. Nếu chúng ta có biện pháp giáo dục phù hợp thì chẳng những góp phần nâng cao thị hiếu thẩm mỹ của các em mà còn thúc đẩy quá trình bồi dưỡng thị hiếu thẩm mỹ nhanh đi đến đích bởi các em đó sẽ là những tấm gương cho các em khác học tập và giúp đỡ chúng ta trong quá trình giáo dục, bồi dưỡng. Bên cạnh đó, số học sinh chưa yêu thích hoặc cảm thấy bình thường khi học thơ lãng mạn Việt Nam 1930-1945 còn chiếm số lượng lớn (162/303 em = 53,46%). Các em đưa ra nhiều lý do nhưng nhìn chung có thể chia làm hai nhóm lý do chính. Nhóm 1: Việc chọn khối, chọn trường để thi đại học đã ảnh hưởng đến thái độ của các em đối với môn Văn nói chung và bộ phận thơ ca này nói riêng (48/162 em= 29,62%). Đây là vấn đề ngày càng bức xúc đối với môn văn cũng như các môn khoa học xã hội khác, đòi hỏi chúng ta phải có cách dạy văn thế nào cho phù hợp để tình yêu đối với văn chương ở các em không lụi tắt và để môn văn phát huy được khả năng giáo dục to lớn của nó dù các em không chọn nghề văn làm hướng đi cho cuộc đời mình. Nhóm 2: Việc không cảm thụ hết cái hay, cái đẹp của tác phẩm thậm chí cảm thấy khó hiểu khi học bộ phận văn học này cũng ảnh hưởng rất lớn đến thái độ các em (58/162 em = 35,8%). Sở dĩ như vậy vì thực tế, thơ lãng mạn Việt Nam 1930-1945 là thành tựu xuất sắc của thơ ca Việt Nam hiện đại, những bài được tuyển chọn vào chương trình đều là những thi phẩm tuyệt tác, mà việc “giải mã” chúng từng tạo nên những cuộc tranh luận không có hồi kết trong đội ngũ giáo viên văn và giới nghiên cứu phê bình. Việc khám phá giá trị của tác phẩm luôn là một hành trình vô tận đối với độc giả. Trong khi đó, vốn kinh nghiệm thẩm mỹ của học sinh chưa nhiều, thời gian để các em tiếp xúc với một tác phẩm trong chương trình còn ít ỏi. Do đó, việc các em cảm thấy khó cảm nhận hết cái hay, cái đẹp của tác phẩm là điều có thể hiểu được. Nhưng mặt khác, cũng cần phải xem lại cách dạy và học văn nói chung và bộ phận thơ ca này nói riêng. Những em nêu lý do “không thích học văn”, “giáo viên dạy chưa hay”, hoặc đánh giá sai: “thơ lãng mạn thiếu tinh thần dân tộc” xét đến cùng cũng xuất phát từ cách dạy và cách học chưa phù hợp. Các bảng 2, 3, 4, 5 cung cấp số liệu về khả năng tiếp nhận tác phẩm của học sinh. Từ kết quả điều tra, chúng tôi thấy rằng, một số em có năng lực tiếp nhận văn học tốt, có khả năng tư duy hình tượng, năng lực liên tưởng, tưởng tượng phong phú, trình độ khái quát hoá và cụ thể hoá nghệ thuật khá phát triển. Tuy nhiên, số lượng các em này chưa nhiều. Nhìn chung, khả năng tiếp nhận của học sinh chưa tốt. (số liệu ở bảng 3: mức độ trung bình và yếu: 231/303 =76,23% và bảng 5: mức độ trung bình và yếu: 234/303 = 77,22%). Số liệu ở bảng 2 (lý do các em có đọc thêm hoặc không đọc thêm thơ lãng mạn Việt Nam 1930-1945) và bảng 4 (lý do yêu thích tác giả) khẳng định thêm nhận định nêu trên của chúng tôi. Phần lớn những nhận xét về tác phẩm của các em còn nặng về cảm tính, chủ quan, ít xuất phát từ giá trị nội dung và nghệ thuật. Không những thế, khả năng diễn đạt của nhiều em còn rất vụng về. Kết quả khảo sát và việc phân tích số liệu thống kê cho thấy: nhiệm vụ cấp bách là phải dạy cho học sinh cách đọc hiểu văn bản, từ đó, dần dần hình thành cho các em khả năng tự tiếp nhận các tác phẩm văn học. Kết quả là, các em biết lựa chọn các tác phẩm ưu tú để thưởng thức và làm giàu có thêm đời sống tâm hồn của chính mình đồng thời có khả năng đánh giá chính xác cái đẹp trong cuộc sống, nâng cao năng lực sáng tạo theo quy luật của cái đẹp. Nói cách khác, phải xây dựng các biện pháp để bồi dưỡng cho học sinh một thị hiếu thẩm mỹ lành mạnh, phát triển. Trước khi đề xuất các biện pháp, chúng tôi xin đưa ra một số nguyên tắc sau: 2.2. Những nguyên tắc của việc xác lập các biện pháp bồi dưỡng thị hiếu thẩm mỹ khi dạy học thơ lãng mạn Việt Nam 1930-1945. 2.2.1. Phải phát huy vai trò chủ thể học sinh- chủ thể thưởng thức thẩm mỹ: Để thực hiện nguyên tắc này, giáo viên phải đóng vai trò định hướng, tổ chức hướng dẫn quá trình tiếp nhận văn học của học sinh trên cơ sở hiểu rõ tâm sinh lý lứa tuổi, nhu cầu, hứng thú, thị hiếu thẩm mỹ cùng toàn bộ vốn kinh nghiệm thẩm mỹ của các em. Từ đó, mọi biện pháp đều phải chú ý hướng vào học sinh, vì học sinh, vừa giải phóng tiềm năng sáng tạo trong nhận thức, vừa kịp thời uốn nắn những lệch lạc, sai lầm của các em trên con đường đến với chân lý nghệ thuật. 2.2.2. Phải coi văn bản văn học là chủ thể tác động, góp phần bồi dưỡng, nâng cao thị hiếu thẩm mỹ lành mạnh cho học sinh THPT: Chỉ bằng con đường "giải mã" văn bản, người đọc mới có thể nắm bắt được giá trị thẩm mỹ của tác phẩm, "chiều sâu ý vị nhân sinh" mà tác giả đã gửi gắm vào đó bằng tất cả tài năng và tâm huyết của mình. Quá trình tiếp xúc thường xuyên với các tác phẩm văn học ưu tú không những làm cho con người trở nên sành sỏi về mặt nghệ thuật mà còn giúp họ biết cách khám phá ra cái đẹp của cuộc sống xung quanh mình. 2.2.3. Phải đảm bảo sự gắn kết hợp lý giữa các yếu tố dân tộc- giai cấp và thời đại khi tiến hành bồi dưỡng thị hiếu thẩm mỹ cho học sinh: Khi dạy một tác phẩm văn học, chúng ta cần phải xác định những thị hiếu thẩm mỹ có tính ổn định lịch sử nào là hay, là đẹp để giáo dục, bồi dưỡng. Mặt khác, cần phải đặt tác phẩm vào xu thế vận động của cuộc sống hôm nay, trong sự tranh luận, đánh giá của học sinh để phát hiện những giá trị thẩm mỹ hiện đại đồng thời mạnh dạn phê phán những gì là tiêu cực, hạn chế. Từ đó, góp phần xây dựng cho các em một thị hiếu thẩm mỹ lành mạnh, phát triển, trong đó có sự cân đối, hài hòa một cách hợp lý giữa ba yếu tố: dân tộc- giai cấp- thời đại. 2.2.4. Phải kết hợp hài hòa giữa việc phát triển cảm xúc và phát triển trí tuệ khi tiến hành bồi dưỡng thị hiếu thẩm mỹ cho chủ thể học sinh: Các biện pháp bồi dưỡng thị hiếu thẩm mỹ vừa phải chú ý phát triển những rung động, cảm xúc thẩm mỹ vừa phải rèn luyện, nâng cao năng lực tư duy văn học cho học sinh. Mặt khác, các biện pháp bồi dưỡng có thể tiến hành ở nhiều khâu của quá trình tiếp nhận văn học của học sinh: từ việc chuẩn bị bài, việc tham gia vào các hoạt động phân tích, cắt nghĩa, bình giá tác phẩm trên lớp đến việc làm các bài tập thu hoạch ở nhà có sự nhận xét, đánh giá của giáo viên. 2.3. Các biện pháp bồi dưỡng thị hiếu thẩm mỹ cho học sinh THPT khi dạy học thơ lãng mạn Việt Nam 1930-1945. 2.3.1. Bồi dưỡng thị hiếu thẩm mỹ cho học sinh qua hoạt động đọc: Đọc văn là con đường duy nhất để hiểu văn, để tiếp nhận văn học. Đặc biệt, đọc văn còn là "thể cách phát huy trực cảm". Vì thế, việc rèn luyện cho học sinh kỹ năng đọc văn khi dạy học tác phẩm văn chương nói chung, dạy học thơ nói riêng chính là hình thức bồi dưỡng năng lực tiếp nhận văn học, từ đó bồi dưỡng thị hiếu thẩm mỹ cho học sinh.. Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh đọc văn bản bằng năm hình thức đọc sau: đọc lướt, đọc kỹ, đọc có bổ sung, đọc có định hướng mục đích và đọc diễn cảm. Trước hết, cần đọc lướt văn bản thơ một lần để sơ bộ hình dung và có ấn tượng chung về hình tượng nhân vật trữ tình với những nỗi niềm, tâm trạng, những xúc cảm, trăn trở...cũng như thái độ, tình cảm và phong cách nghệ thuật của nhà thơ. Ví dụ: Yêu cầu học sinh đọc lướt và nêu cảm nhận của em về bài thơ "Vội vàng" của Xuân Diệu. Tiếp theo là hình thức đọc kỹ. Đây là cách đọc thật tỉ mỉ, chính xác từng câu, từng ý, là sự quan sát tập trung, theo dõi sát sao từng từ và từng dòng ngữ nghĩa trầm lắng trong đó người đọc sẽ vượt qua biên giới các từ và phóng chiếu lên bộ não một thế giới nghệ thuật toàn vẹn mà mỗi từ, mỗi câu, mỗi chi tiết chỉ có giá trị chức năng bộ phận. Bằng cách đọc này, người đọc sẽ tìm ra mối liên hệ giữa các ý và kết cấu của tác phẩm để thực sự thâm nhập vào thế giới cảm xúc của cái tôi trữ tình, phát hiện ra vấn đề nhân sinh mà tác giả gửi gắm. Bởi thế, đây là hình thức đọc bắt buộc đối với tất cả các văn bản văn học, nhất là văn bản thơ. Bên cạnh đó, giáo viên có thể yêu cầu học sinh đọc có bổ sung- một hình thức đọc phù hợp với các tác phẩm thơ. Như chúng ta đã biết, ngôn ngữ thơ được cấu tạo đặc biệt, nó không có tính liên tục và tính phân tích như ngôn ngữ văn xuôi mà có tính nhảy vọt, tính gián đoạn tạo thành những "khoảng trống" giàu ý nghĩa. Vì thế, thơ sử dụng nhiều phép tu từ ẩn dụ, nhiều tỉnh lược, nhiều định ngữ. Ngôn từ trong thơ thường phá vỡ logic kết hợp thông thường để tạo thành những kết hợp mới theo nguyên tắc lạ hoá. "Đây thôn Vĩ Dạ" của Hàn Mặc Tử là một ví dụ tiêu biểu. Những phát hiện mới mẻ cũng như những ngộ nhận đáng tiếc của người đọc trong thời gian qua đều bắt nguồn từ sự đột biến mạnh của tư duy thơ "nhảy cóc". Khổ 1: cảnh vườn tược, khổ 2: cảnh sông nước, khổ 3: hình ảnh khách đường xa. Ba khổ thơ tưởng chừng như rời rạc, không có mối liên hệ logic nào. Từ ngữ trong bài "Tống biệt hành" được cấu tạo theo nguyên tắc dồn nén, nhiều tỉnh lược, giữa các dòng thơ có nhiều khoảng trống cũng tạo nên những ám ảnh bí ẩn không dễ lý giải. Vì thế, người đọc phải bằng vốn kinh nghiệm, vốn sống, vốn hiểu biết của mình khoả lấp những "chỗ trống" mà do yêu cầu của thể loại, tác giả không nói hết, từ đó phát hiện thêm những lớp "hàm ngôn" đằng sau lớp "hiển ngôn". Ngoài ra, hình thức đọc đặc biệt có hiệu quả trong việc khám phá thế giới hình tượng để nắm được chiều sâu tư tưởng của tác phẩm thơ là hình thức đọc có định hướng mục đích. Học sinh sẽ đọc một đoạn thơ, một dòng thơ hoặc một số câu thơ theo yêu cầu nhất định của giáo viên. Đây thường là những "điểm sáng thẩm mỹ" của tác phẩm, nơi tập trung tư tưởng và ý đồ nghệ thuật của nhà thơ. Ví dụ: Khi dạy bài thơ "Vội vàng" của Xuân Diệu, giáo viên có thể gọi học sinh đọc đoạn thơ cuối: "Ta muốn ôm…hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi" với yêu cầu phân tích nghệ thuật sử dụng ngôn từ (điệp từ, tính từ, động từ…) ở đoạn thơ này. Hình thức đọc cao nhất là đọc diễn cảm. Hình thức đọc này yêu cầu người đọc phải biết phát huy ưu thế về chất giọng của mình để thể hiện cho thật rõ nét, sinh động giọng điệu trữ tình của tác phẩm. Bằng ngữ điệu của mình, người đọc phải làm nổi bật tiếng nói và nhất là ngụ ý của thi sĩ trong từng câu thơ qua việc nhấn mạnh trọng âm logic, trọng âm tâm lý và trọng âm ngữ pháp. Hình thức đọc này tạo nên một không khí giao cảm đầy tri âm, đồng điệu giữa tác giả và người đọc, nhất là đối với các tác phẩm trữ tình bởi tác phẩm thơ trữ tình "xao động, phập phồng, thắc thỏm ở đằng sau mỗi câu chữ…Chỉ có nhờ âm điệu thì nhà thơ, người dạy, người học… mới cộng hưởng được với nhau" (Tố Hữu). Chính vì thế, qua việc yêu cầu học sinh đọc diễn cảm, giáo viên có thể đánh giá được khả năng cảm, hiểu tác phẩm của học sinh. Hình thức đọc này thường được thực hiện như sau: Khi bắt đầu giờ học, giáo viên yêu cầu một em học sinh đọc to và diễn cảm bài thơ. Sau đó, nếu giọng đọc của học sinh chưa phù hợp, giáo viên uốn nắn đồng thời rút kinh nghiệm cho cả lớp về giọng đọc, những chỗ ngừng, nghỉ, chỗ cao giọng, xuống giọng, những trọng âm cần nhấn mạnh để thể hiện các cung bậc cảm xúc
- Xem thêm -