Phát triển năng lực nhận thức và tư duy cho học sinh qua hệ thống bài tập hóa học chương nitơ lớp 11 ở trường trung học phổ thông

  • Số trang: 117 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 17 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM KHOA HÓA -------  ------- PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NHẬN THỨC VÀ TƢ DUY CHO HỌC SINH QUA HỆ THỐNG BÀI TẬP HÓA HỌC CHƢƠNG NITƠ LỚP 11 Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN KHOA HỌC GVHD : ThS. Phan Văn An SVTH : Trần Thị Ngọc Bích Lớp : 08SHH 1 MỞ ĐẦU I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc và hội nhập quốc tế, nguồn lực con ngƣời càng trở nên có ý nghĩa quan trọng, quyết định sự thành công của công cuộc phát triển đất nƣớc. Giáo dục ngày càng có vai trò và nhiệm vụ quan trọng trong việc xây dựng một thế hệ ngƣời Việt Nam mới đáp ứng đƣợc yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Một trong những nhiệm vụ cơ bản của giáo dục là bảo đảm cho học sinh nắm vững đƣợc kiến thức mà giáo viên truyền đạt, tức là làm cho học sinh hiểu đúng bản chất của kiến thức, gắn kết đƣợc với những kiến thức trƣớc và biết cách vận dụng vào giải bài tập, vào thực tiễn cuộc sống. Hiện nay, toàn ngành giáo dục đã và đang tiếp tục thực hiện đổi mới phƣơng pháp dạy học. Nếu nhƣ trƣớc đây tồn tại tình trạng “đọc - chép”, học sinh chỉ thụ động tiếp thu kiến thức của giáo viên thì phƣơng pháp dạy học mới hiện nay chú trọng vai trò của ngƣời học, xem ngƣời học là trung tâm, giáo viên chỉ làm nhiệm vụ tƣ vấn, hƣớng dẫn để học sinh tự mình tìm ra kiến thức. Một trong những xu thế cơ bản nhất của lý luận dạy học hiện nay là ngày càng đề cao vai trò của việc phát triển năng lực nhận thức và tƣ duy cho học sinh trong quá trình học tập. Đây là vấn đề lớn đã và đang đƣợc nghiên cứu, giải quyết trong tất cả các lĩnh vực dạy học nói chung cũng nhƣ phƣơng pháp luận về giảng dạy từng bộ môn nói riêng, trong đó có môn Hóa học. Trong công tác dạy học thì bài tập là một công cụ không thể thiếu. Với bộ môn Hóa học cũng nhƣ vậy, việc sử dụng bài tập hóa học đƣợc xem nhƣ là một trong những biện pháp quan trọng để nâng cao chất lƣợng dạy học bộ môn. Tuy nhiên không phải ngƣời giáo viên nào cũng biết cách khai thác tối đa những chức năng của bài tập hóa học. Một số giáo viên còn quá thụ động: ít ra bài tập sau tiết học, cho bài tập về nhà nhƣng không sửa… Nhƣ vậy, không những giáo viên chƣa 2 đáp ứng đƣợc nhu cầu của học sinh mà còn làm thui chột đi tiềm năng của họ. Đối với giáo dục mà nói đó là phản giáo dục. Vấn đề lớn đặt ra cho những ngƣời làm công tác giáo dục nói chung cũng nhƣ tất cả những giáo viên đang giảng dạy bộ môn Hóa học là làm thế nào để phát huy hết nguồn tiềm lực của mỗi học sinh, phát triển năng lực nhận thức, bồi dƣỡng và rèn luyện những phẩm chất tƣ duy cho học sinh? Là sinh viên ngành sƣ phạm Hóa học – là một nhà giáo tƣơng lai, tôi nghĩ mình cần phải tìm hiểu, nghiên cứu vấn đề này để phục vụ cho công tác giảng dạy về sau. Xuất phát từ nguyện vọng đó, tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Phát triển năng lực nhận thức và tƣ duy cho học sinh qua hệ thống bài tập hóa học chƣơng Nitơ lớp 11 ở trƣờng trung học phổ thông”. Tôi chọn đề tài này với mong muốn xây dựng một hệ thống bài tập chƣơng Nitơ lớp 11 từ cơ bản đến nâng cao, chú trọng những dạng toán nâng cao để phát triển năng lực nhận thức và tƣ duy cho học sinh, đồng thời làm tiền đề cho việc nghiên cứu những vấn đề khi giảng dạy ở phổ thông. II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Thông qua việc xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập chƣơng Nitơ lớp 11 để phát triển năng lực nhận thức và bồi dƣỡng các phẩm chất tƣ duy cho học sinh. III. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 1. Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn - Bài tập hóa học. Tác dụng, phân loại và quá trình giải bài tập hóa học. - Bản chất của năng lực trí tuệ. - Tƣ duy hóa học và tầm quan trọng của phát triển tƣ duy. - Mối quan hệ giữa bài tập hóa học và phát triển tƣ duy của học sinh. - Xu thế đổi mới phƣơng pháp dạy học theo hƣớng tích cực hóa hoạt động nhận thức của ngƣời học hiện nay. - Tình hình sử dụng các phƣơng pháp dạy học và bài tập hóa học để bồi dƣỡng trí thông minh cho học sinh hiện nay. + Cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm. + Về phƣơng pháp dạy học. 3 + Về bài tập hóa học. + Thực trạng vấn đề phát triển năng lực nhận thức của học sinh qua môn hóa học hiện nay. 2. Nội dung và những biện pháp phát triển năng lực nhận thức, bồi dƣỡng tƣ duy cho học sinh khi giảng dạy chƣơng Nitơ lớp 11 ở trƣờng phổ thông. 3. Thực nghiệm sƣ phạm Để đánh giá chất lƣợng hệ thống bài tập và hiệu quả sử dụng chúng trong giảng dạy. IV. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu lý thuyết. 2. Nghiên cứu thực tiễn. 3. Trò chuyện, trao đổi, tìm hiểu việc dạy và học hóa học, về giải bài tập hóa học ở trƣờng phổ thông. 4. Thực nghiệm sƣ phạm. V. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI - Đƣa ra những biện pháp để rèn luyện năng lực nhận thức và tƣ duy, bồi dƣỡng hứng thú học tập, rèn luyện phong cách làm việc khoa học và niềm say mê học tập bộ môn thông qua bài tập hóa học. - Đề xuất các mức độ phát triển tƣ duy thông qua hệ thống bài tập nitơ lớp 11 bao gồm 4 cấp độ: biết, hiểu, vận dụng và vận dụng sáng tạo. 4 NỘI DUNG CHƢƠNG I: BÀI TẬP HÓA HỌC VÀ VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NHẬN THỨC, TƢ DUY HÓA HỌC 1.1. BÀI TẬP HÓA HỌC 1.1.1. Khái niệm bài tập hóa học [4] Bài tập đó là những dạng bài gồm những bài toán, những câu hỏi hay đồng thời cả câu hỏi và bài toán, mà trong khi hoàn thành chúng, học sinh nắm đƣợc những tri thức hay kĩ năng nhất định hoặc hoàn thiện chúng. 1.1.2. Tác dụng của bài tập hóa học [12] Trong giáo dục đại cƣơng, bài tập là một trong những phƣơng pháp quan trọng nhất để nâng cao chất lƣợng dạy học. Đối với học sinh giải bài tập là phƣơng pháp học tập tích cực nhất. Thực tế cho thấy rằng trong các giờ luyện tập học sinh chỉ thích giải bài tập mà không thích ôn lại lý thuyết. Một học sinh có tƣ duy hóa học tích cực sẽ không dễ dàng bằng long với những lý thuyết vừa đƣợc học mà chỉ thật sự thỏa mãn khi giải quyết đƣợc hết các bài tập. Qua quá trình giải bài tập này, giúp học sinh phát triển năng lực quan sát, trí nhớ, khả năng tƣởng tƣợng, suy luận linh hoạt và kĩ năng làm việc có phƣơng pháp. ‫ ﻫ‬Bài tập hóa học có các tác dụng to lớn sau: - Rèn luyện cho học sinh kĩ năng vận dụng các kiến thức đã học, biến những kiến thức tiếp thu đƣợc qua bài giảng của thầy thành kiến thức của chính mình. Chỉ khi vận dụng đƣợc kiến thức vào việc giải bài tập, học sinh mới nắm vững đƣợc kiến thức một cách sâu sắc mà không làm nặng khối lƣợng kiến thức. Ví dụ: Viết phƣơng trình phản ứng nhiệt phân các muối sau: (NH4)2SO4, NH4HCO3, NH4Cl, NH4NO2, NH4NO3, NaNO3, Zn(NO3)2, AgNO3. Qua bài tập này học sinh vận dụng đƣợc các kiến thức về nhiệt phân muối amoni và muối nitrat đã đƣợc học. - Làm chính xác hóa các khái niệm, kiến thức đã học. Ví dụ: Hoàn thành các phƣơng trình phản ứng sau: 5 Al + HNO3 (loãng) → … + N2 O + … Zn + HNO3 (rất loãng) → … + NH4NO3 + … Cu + HNO3 (loãng) → … + NO + … Ag + HNO3 (đặc) → … + NO2 + … Hoàn thành những phƣơng trình này giúp cho học sinh hiểu rõ hơn tính oxi hóa mạnh của HNO3. Tuy nhiên tùy thuộc vào nồng độ của axit và bản chất của chất khử mà HNO3 có thể bị khử đến một số sản phẩm khác nhau của nitơ. - Củng cố, đào sâu mở rộng kiến thức một cách sinh động, phong phú, hấp dẫn. Ví dụ: Hòa tan 9,6 gam Cu vào 180ml dung dịch hỗn hợp HNO 3 1M và H2SO4 0,5M, kết thúc phản ứng thu đƣợc V lít (ở đktc) khí không màu duy nhất thoát ra, hóa nâu ngoài không khí. Giá trị của V là: A. 1,344. B. 4,032. C. 2,016. D. 1,008. Từ đây dạy cho học sinh về tính oxi hóa của NO3- trong môi trƣờng axit cũng tƣơng tự tính oxi hóa của HNO3. - Là phƣơng tiện để củng cố, ôn tập, hệ thống hóa kiến thức một cách tích cực nhất. Ví dụ: Hoàn thành chuỗi phản ứng: [Cu(NO 3)4](OH) 2 Cu(OH) 2 NaNO2 N2 Mg3N2 NH3 Cu Cu(NO 3)2 CuO N2 - Rèn luyện những kĩ năng hóa học cần thiết nhƣ: kĩ năng viết và cân bằng phản ứng, kĩ năng tính toán theo công thức và phƣơng trình hóa học… Nếu là các bài tập thực nghiệm sẽ giúp học sinh rèn luyện các kĩ năng thực hành nhƣ: cân, đo, sấy, hòa tan, lọc, nhận biết hóa chất…, góp phần vào việc giáo dục kĩ năng tổng hợp, đồng thời phát triển trí thông minh ở học sinh. - Rèn luyện năng lực nhận thức, trí thông minh, khả năng suy luận logic. Một số bài toán có cách giải đặc biệt, ngoài cách giải thông thƣờng còn có cách độc đáo nếu học sinh có tầm nhìn sắc sảo. Thông thƣờng nên yêu cầu học sinh giải bằng 6 nhiều cách có thể có, từ đó tìm ra cách giải nhanh nhất, hay nhất và ngắn gọn nhất. Qua đó buộc học sinh tƣ duy tích cực, rèn luyện trí thông minh cho học sinh. - Bài tập hóa học còn đƣợc sử dụng nhƣ một phƣơng tiện để nghiên cứu bài mới (hình thành định luật, khái niệm). Khi trang bị kiến thức mới giúp học sinh tích cực, tự lực lĩnh hội kiến thức một cách sâu sắc và bền vững. - Bài tập hóa học giúp bồi dƣỡng hứng thú học tập bộ môn. Hóa học là bộ môn gắn liền với thực nghiệm, học sinh sẽ không dễ dàng bằng lòng nếu không đƣợc trực tiếp khám phá. Trí tò mò và sự hiểu biết sẽ làm cho các em ngày càng yêu thích môn học. - Bài tập hóa học giúp học sinh hình thành phƣơng pháp học tập một cách đúng đắn. Qua quá trình giải bài tập, học sinh sẽ thấy đƣợc mối quan hệ chặt chẽ giữa cấu tạo và tính chất. - Bài tập hóa học giúp rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn cuộc sống, lao động sản xuất và bảo vệ môi trƣờng. Ví dụ: Cho các loại phân đạm sau: NH4NO3, NaNO3, Ca(NO3)2, NH4Cl. Tổng số phân đạm thích hợp bón cho loại đất trung tính là: A. 1. B. 2. C. 3. D. 4. Qua những kiến thức đã học về các loại phân bón, học sinh có sự hiểu biết nhất định về các loại phân, từ đó có thể tƣ vấn cho ngƣời thân về cách dùng phân bón hợp lý. - Giúp giáo dục đạo đức, tác phong nhƣ: rèn luyện tính chính xác, kiên nhẫn, trung thực và lòng say mê khoa học hóa học; rèn luyện văn hóa lao động nhƣ: lao động có tổ chức, có kế hoạch, gọn gàng, ngăn nắp… nhất là thông qua bài tập thực nghiệm. - Bài tập hóa học là phƣơng tiện kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh. Bài tập hóa học thật sự có những tác dụng hết sức quan trọng và to lớn nhƣ vậy, nhƣng sẽ chẳng có tác dụng gì cả nếu những ngƣời làm công tác giáo dục không biết cách sử dụng và khai thác triệt để các ý nghĩa nó mang lại. “Xây dựng 7 bài tập chƣa phải là quan trọng nhất; không phải một bài tập hóa học “hay” thì luôn luôn có tác dụng tích cực! Vấn đề phụ thuộc chủ yếu là “ngƣời sử dụng” nó. Làm thế nào phải biết trao đúng đối tƣợng, phải biết cách khai thác triệt để mọi khía cạnh có thể có của bài toán, để học sinh tự mình tìm ra cách giải”. 1.1.3. Phân loại bài tập hóa học [12] Tùy thuộc vào cơ sở phân loại, ngƣời ta phân bài tập hóa học thành nhiều loại. - Dựa vào hình thái khi hoạt động của học sinh: bài tập lý thuyết và bài tập thực nghiệm. - Dựa vào tính chất bài tập: bài tập định tính và bài tập định lƣợng. - Dựa vào kiểu bài hoặc dạng bài: bài tập xác định công thức phân tử của hợp chất, tính thành phần phần trăm của hỗn hợp, nhận biết, tách các chất, điều chế… - Dựa vào nội dung: bài tập nồng độ, điện phân… - Dựa vào chức năng. - Dựa vào khối lƣợng kiến thức: bài tập cơ bản và bài tập tổng hợp. Phân loại chi tiết bài tập hóa học ở trường phổ thông: gồm 4 loại: + Bài tập lý thuyết định tính + Bài tập lý thuyết định lƣợng (bài tập tính toán) + Bài tập thực nghiệm định tính + Bài tập thực nghiệm định lƣợng 1.1.4. Quá trình giải bài tập hóa học [12] Để giải một bài toán hóa học tổng hợp, ta thực hiện theo các bƣớc sau: - Bƣớc 1: Viết tất cả các phƣơng trình phản ứng xảy ra. - Bƣớc 2: Đổi các giả thiết không cơ bản sang các giả thiết cơ bản. - Bƣớc 3: Đặt ẩn số cho lƣợng các chất tham gia và thu đƣợc trong các phản ứng cần tìm. Dựa vào mối tƣơng quan giữa các ẩn đó trong các phƣơng trình phản ứng để lập ra các phƣơng trình đại số. - Bƣớc 4: Giải phƣơng trình hay hệ phƣơng trình và biện luận kết quả (nếu cần), rồi chuyển kết quả thuộc dạng cơ bản sang dạng không cơ bản. 8 Muốn chuyển đổi các giả thiết không cơ bản sang giả thiết cơ bản, ta sử dụng 4 công thức chính sau: ; (đktc) ; ; Ngoài ra có thể dung thêm công thức: , với P (atm), V (l), . 1.2. VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NHẬN THỨC 1.2.1. Bản chất của năng lực trí tuệ [5] Ở nƣớc ta, với trình độ khoa học kỹ thuật còn thấp, việc “nâng cao dân trí”, việc hình thành và phát triển năng lực trí tuệ cho học sinh là nhiệm vụ rất quan trọng của trƣờng phổ thông phải đƣợc thực hiện để biến thành hiện thực. “Năng lực trí tuệ ” là một vấn đề phức tạp và đƣợc hiểu dƣới nhiều góc độ khác nhau. Chẳng hạn, Koel Ler cho là “sự bừng hiểu”, Claparede cho đó là “sự mò mẫm có phƣơng hƣớng”, Terman nhấn mạnh vào năng lực tƣ duy trừu tƣợng, Dearben lại nhấn mạnh năng lực luyện tập, Colvin và Stern cho là năng lực thích ứng với ngoại cảnh, … Một số nhà tâm lý học xem trí tuệ là sự nhận thức của con ngƣời bao gồm cả kinh nghiệm. Sở dĩ nhƣ vậy năng lực trí tuệ biểu hiện dƣới nhiều mặt: - Mặt nhận thức: nhƣ mau biết, nhanh hiểu, mau nhớ, biết suy xét, tìm ra nhanh các qui luật. - Khả năng tưởng tượng: nhƣ óc tƣởng tƣợng phong phú, hình dung ngay và đúng điều ngƣời khác nói. - Ở hành động: nhƣ sự nhanh trí, tháo vát, linh hoạt, sáng tạo. - Ở phẩm chất: nhƣ óc tò mò, long say mê, hứng thú làm việc, sự kiên trì, miệt mài, … Còn “trí thông minh là tổng hợp các năng lực trí tuệ của con ngƣời (quan sát, ghi nhớ, tƣởng tƣợng, tƣ duy) mà đặc trƣng cơ bản nhất là tƣ duy độc lập và sáng tạo nhằm ứng phó với tình huống mới”. Trí thông minh có liên quan đến các chức năng tâm lý sau: + Nhận thức đƣợc đặc điểm bản chất của tình huống mới do ngƣời khác nêu ra hoặc tự mình đƣa ra đƣợc vấn đề cần giải quyết. 9 + Sáng tạo ra công cụ mới, phƣơng pháp mới, cách thức mới phù hợp với hoàn cảnh mới (trên cơ sở những tri thức và kinh nghiệm tiếp thu đƣợc trƣớc đó). Vì vậy, trí thông minh không chỉ bộc lộ qua nhận thức mà cả qua hành động (lý luận và thực tiển). 1.2.2. Tƣ duy hóa học 1. Tầm quan trọng của phát triển tƣ duy [8] Tƣ duy có vai trò rất to lớn đối với đời sống và đối với hoạt động nhận thức của con ngƣời. Cụ thể là: - Tƣ duy mở rộng giới hạn của nhận thức, tạo ra khả năng để vƣợt ra ngoài những giới hạn của kinh nghiệm trực tiếp do cảm giác mang lại, để đi sâu vào bản chất của sự vật, hiện tƣợng và tìm ra những mối quan hệ có tính quy luật giữa chúng với nhau. - Tƣ duy không chỉ giải quyết những nhiệm vụ trƣớc mắt, ngày hôm nay mà còn có khả năng giải quyết trƣớc cả những nhiệm vụ ngày mai, trong tƣơng lai do nắm đƣợc bản chất và quy luật vận động của tự nhiên, xã hội và con ngƣời. - Tƣ duy cải tạo lại thông tin của nhận thức cảm tính, làm cho chúng có ý nghĩa hơn cho hoạt động của con ngƣời. Tƣ duy vận dụng những cái đã biết để đề ra giải pháp giải quyết những cái tƣơng tự, nhƣng chƣa biết, do đó làm tiết kiệm công sức của con ngƣời. Nhờ tƣ duy con ngƣời hiểu biết sâu sắc và vững chắc về thực tiễn hơn đối với môi trƣờng và hành động có kết quả cao hơn. Chính vì vậy trong công tác giảng dạy, cần phải coi trọng việc phát triển tƣ duy cho học sinh. Nếu không có khả năng tƣ duy thì học sinh không thể hiểu biết, không thể cải tạo tự nhiên, xã hội và bản thân đƣợc. Tuy nhiên, phát triển tƣ duy cho học sinh không phải tiến hành độc lập, đơn thuần mà phải: + Tiến hành song song và thông qua truyền thụ kiến thức. Mọi tri thức đều mang tính khái quát, không tƣ duy thì không thể tiếp thu và vận dụng đƣợc tri thức. + Phải gắn với trao dồi ngôn ngữ cho học sinh. Không nắm đƣợc ngôn ngữ thì học sinh không có phƣơng tiện để tƣ duy tốt. 10 + Phải gắn với rèn luyện cảm giác, tính nhạy cảm, năng lực quan sát và trí nhớ của học sinh. Thiếu những tài liệu cảm giác thì không có gì để tƣ duy. 2. Vậy tƣ duy là gì? [8] Lý luận dạy học hiện đại đặc biệt chú ý đến sự phát triển tƣ duy cho học sinh thông qua việc điều khiển tối ƣu quá trình dạy học, còn các thao tác tƣ duy cơ bản là công cụ của quá trình nhận thức. Vậy tƣ duy là gì? Tƣ duy có các thao tác cơ bản nào? Theo M.N Sacdacop thì “Tƣ duy là sự nhận thức khái quát gián tiếp các sự vật và hiện tƣợng của hiện thực trong những dấu hiệu, những thuộc tính chung và bản chất của chúng. Tƣ duy cũng là sự nhận thức sáng tạo của những sự vật và hiện tƣợng mới, riêng lẽ của hiện tƣợng trên cơ sở những kiến thức khái quát đã thu nhận đƣợc”. Những thao tác tƣ duy: Trong giáo dục học ngƣời ta thƣờng sử dụng các thao tác tƣ duy sau: - Phân tích, tổng hợp - So sánh (tuần tự và đối chiếu) - Trừu tƣợng hóa và khái quát hóa 3. Tƣ duy hóa học [9] Qua quá trình dạy học hóa học, học sinh có thể đƣợc trang bị và rèn luyện 6 loại tƣ duy: - Tư duy độc lập Trong hóa học, tƣ duy độc lập đối với học sinh là rất cần thiết, học sinh có thể rèn tƣ duy độc lập khi đƣợc thực hiện các nhiệm vụ vừa sức với mình. Điều này dễ gây hứng thú đối với học sinh đồng thời tạo điều kiện cho học sinh nắm bắt vấn đề một cách tự nhiên theo đúng quy luật của quá trình nhận thức. Khi dạy một số vấn đề trong chƣơng trình hóa học phổ thông mà những bài học này mang tính giới thiệu thực tế hay mở rộng nhƣ “Chu trình nitơ trong tự nhiên”, “Phân bón hóa học”… giáo viên có thể cho học sinh về nhà tự tìm hiểu, lấy 11 mẫu vật, hình ảnh, phản ứng hoặc phƣơng trình hóa học để chứng minh những nhận định của chính học sinh trong quá trình tìm hiểu bài. - Tư duy logic Tƣ duy logic là một trong những kĩ năng không thể thiếu trong lĩnh hội các môn khoa học tự nhiên. Đối với môn hóa học, việc rèn tƣ duy logic cho học sinh còn là nhiệm vụ quan trọng. Thông qua các bài tập hóa học, học sinh đƣợc rèn luyện tƣ duy logic, điều này đƣợc thể hiện rất rõ. Ví dụ: Hiện tƣợng gì xảy ra khi nhỏ từ từ dung dịch NH3 đến dƣ vào dung dịch CuSO4? Học sinh phải tƣ duy đƣợc rằng khi nhỏ dung dịch NH3 vào dung dịch CuSO4, ban đầu tạo kết tủa Cu(OH)2 màu xanh lam, sau đó với lƣợng dƣ dung dịch NH3 thì kết tủa tan ra và tạo thành dung dịch phức [Cu(NH3)4](OH)2 màu xanh thẫm. - Tư duy trừu tượng Với trình độ của khoa học ngày nay, các nguyên tử chƣa đƣợc nhìn thấy bằng mắt, vậy làm sao để có thể mô tả đƣợc các hiện tƣợng xảy ra trong hóa học bằng bản chất của các hiện tƣợng đó. Tƣ duy trừu tƣợng đƣợc sử dụng nhƣ một công cụ đắc lực hỗ trợ cho quá trình nhận thức. Qua tƣ duy trừu tƣợng, các phân tử liên kết với nhau đƣợc mô tả bằng công thức hóa học, quá trình diễn ra trong phản ứng hóa học đƣợc mô tả bằng các phƣơng trình hóa học, sự cho nhận electron đƣợc mô tả bằng các quá trình oxi hóa, khử. Với sự giúp sức của công nghệ thông tin, quá trình tạo tƣ duy trừu tƣợng cho học sinh đƣợc dễ dàng hơn. - Tư duy biện chứng Môn Hóa học là một bộ môn khoa học mang tính thực tiễn cao, nó mô tả các tất yếu khách quan các hiện tƣợng dƣới góc độ hóa học. Tất cả các hiện tƣợng đều xảy ra trong một quy luật biện chứng. Vậy rèn tƣ duy biện chứng cho học sinh cũng là nhiệm vụ của môn hóa học. - Tư duy phê phán Trong học tập, tƣ duy phê phán sẽ giúp cho ngƣời học luôn tìm ra đƣợc hƣớng đi mới trong suy nghĩ và hành động, tránh rập khuôn, máy móc. Khoa học luôn phát triển theo quy luật phủ định của phủ định, tuy nhiên luôn có tính kế thừa để phát triển. 12 - Tư duy sáng tạo Tƣ duy sáng tạo là một hình thức tƣ duy cao nhất trong quá trình tƣ duy, việc tƣ duy sáng tạo giúp cho ngƣời học không gò bó trong không gian tri thức của ngƣời thầy đặt ra. 1.3. MỐI QUAN HỆ GIỮA BÀI TẬP HÓA HỌC VÀ PHÁT TRIỂN TƢ DUY [9] Bài tập hóa học và phát triển tƣ duy có mối quan hệ chặt chẽ với nhau: - Bài tập hóa học là phƣơng tiện quan trọng để phát triển tƣ duy. Ngƣợc lại khi tƣ duy phát triển thì sẽ định hƣớng cách giải bài tập, cách giải quyết vấn đề nhanh, chính xác hơn, nhìn bài tập dƣới nhiều góc độ hơn… - Mức độ sâu, rộng của bài tập có tầm quan trọng đặc biệt đối với việc phát triển tƣ duy. Tùy thuộc vào mức độ, tính chất của bài tập và hoạt động giải bài tập mà tƣ duy phát triển. - Khi giải bài tập, học sinh phải sử dụng các thao tác tƣ duy: phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa. Đó là những thao tác cần thiết cho sự phát triển của tƣ duy. 1.4. XU THẾ ĐỔI MỚI PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO HƢỚNG TÍCH CỰC HÓA HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC CỦA NGƢỜI HỌC HIỆN NAY Trên thế giới cũng nhƣ ở Việt Nam, đổi mới phƣơng pháp dạy học là một yêu cầu cấp bách và vô cùng cần thiết. - Đổi mới phƣơng pháp dạy học chuyển từ mô hình dạy học truyền thống một chiều: dạy – ghi nhớ sang mô hình dạy học hợp tác hai chiều: dạy – tự học. Trong phƣơng pháp dạy học truyền thống, thầy truyền thụ kiến thức, trò thụ động tiếp nhận; thầy truyền thụ một chiều, độc thoại hay phát vấn; thầy giảng, trò ghi nhớ, học thuộc lòng; thầy độc quyền đánh giá; thầy là thầy dạy: dạy chữ, dạy nghề, dạy ngƣời. Còn trong phƣơng pháp mới, trò tự mình tìm ra kiến thức dƣới sự hƣớng dẫn của thầy giáo; mô hình dạy học hợp tác, đối thoại giữa trò với trò, trò với thầy, dƣới sự điều kiển của thầy; trò học đƣợc cách học, cách ứng xử, cách giải quyết vấn đề, cách sống; trò tự đánh giá, tự điều chỉnh, cung cấp liên hệ ngƣợc cho thầy đánh 13 giá, khuyến khích tự học; thầy là thầy học, chuyên gia về việc học, dạy cách học cho trò tự học chữ, tự học nghề, tự học nên ngƣời. - Đổi mới phƣơng pháp dạy học chuyển từ quan điểm “lấy giáo viên làm trung tâm” sang quan điểm “lấy học sinh làm trung tâm”. - Dạy cách học, bồi dƣỡng năng lực tự học và tự đánh giá. - Học không chỉ nắm kiến thức mà cả phƣơng pháp giành lấy kiến thức. - Học lấy việc nắm kiến thức và bồi dƣỡng thái độ làm trung tâm. - Sử dụng các phƣơng pháp dạy học tích cực. - Sử dụng các phƣơng tiện kĩ thuật hiện đại. 1.5. TÌNH HÌNH SỬ DỤNG CÁC PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC VÀ BÀI TẬP HÓA HỌC ĐỂ BỒI DƢỠNG TRÍ THÔNG MINH CHO HỌC SINH HIỆN NAY 1.5.1. Cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm Nhiều trƣờng học đã xây dựng hệ thống cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm đầy đủ, phục vụ cho công tác dạy và học: xây dựng các phòng thí nghiệm, phòng máy, trang thiết bị, mô hình, tranh ảnh, các hóa chất, dụng cụ thí nghiệm… Tuy nhiên vẫn còn nhiều trƣờng ở vùng quê, vùng núi khó khăn chƣa có điều kiện để trang bị. Học sinh hầu nhƣ chỉ học lý thuyết chay mà không có điều kiện thực hành. Trong khi đó những trƣờng có điều kiện thì chƣa tận dụng triệt để, nhiều giáo viên cả năm học lên lớp mà chƣa từng đến phòng thí nghiệm mƣợn đồ dùng, dụng cụ dạy học. Học sinh sẽ cảm thấy nhiều căng thẳng, áp lực và khó tiếp thu bài nếu không có sự hỗ trợ tích cực của các phƣơng tiện dạy học trực quan. Điều đó làm cho chất lƣợng giáo dục chƣa thực sự đạt hiệu quả tích cực. 1.5.2. Về phƣơng pháp dạy học 1. Phƣơng pháp dạy - Giờ lý thuyết học bài mới Đa số giáo viên ngại đặt vấn đề khi vào bài mới vì họ cho rằng điều đó làm mất thời gian, do đó học sinh cảm thấy áp lực học tập nặng nề và không có hứng thú học. Thực tế thấy rằng, học sinh sẽ cảm thấy hứng thú, mong muốn tìm hiểu vấn đề giáo viên đặt ra để tự mình thỏa mãn những thắc mắc. Hóa học là một môn khoa 14 học gắn liền với thực nghiệm, nhiều giáo viên ở các trƣờng không có điều kiện phải tự sáng chế đồ dùng dạy học, trong khi đó nhiều giáo viên có điều kiện vẫn chƣa sử dụng triệt để những thuận lợi đó cho bài giảng của mình. Nhƣ vậy thì làm sao có thể thuyết phục học sinh tin tƣởng vào khoa học và tạo dựng trong các em niềm say mê, yêu thích môn học? - Giờ thực hành Hiện nay phƣơng pháp dạy học mới đang chú trọng giờ thực hành, tăng số tiết thực hành. Các trƣờng đã đảm bảo đƣợc các buổi thực hành, cho học sinh làm những thí nghiệm đơn giản, ít độc hại. Tuy nhiên giáo viên rất ít đặt ra những tình huống có vấn đề để buộc học sinh phải suy nghĩ, làm thực nghiệm để thuyết phục bản thân. Do đó giờ thực hành vẫn chỉ làm theo yêu cầu mà chƣa kích thích đƣợc óc sáng tạo, trí thông minh của học sinh. - Giờ ôn tập – luyện tập Trong giờ ôn tập giáo viên dành phần lớn thời gian để giải quyết các bài tập. Tuy vậy những bài tập giáo viên đƣa ra chỉ dừng lại ở mặt bằng chung của học sinh trong lớp. Do trình độ học sinh không đồng đều cộng với quỹ thời gian hạn chế nên ngƣời giáo viên chỉ có thể đáp ứng đƣợc nhu cầu của đại bộ phận học sinh trong lớp. Cho nên để có điều kiện phát triển, bồi dƣỡng trí thông minh cho học sinh là một điều hết sức khó khăn. - Kiểm tra – đánh giá Yêu cầu cần thiết của một đề kiểm tra là phải phân loại đƣợc học sinh. Tuy nhiên không ít trƣờng học vì chạy theo thành tích, không để học sinh trƣờng mình lƣu ban nên đã ra đề hết sức dễ dàng. Điều này là một nguyên tắc phản giáo dục, nó không những không giúp giáo viên phát hiện đƣợc nhân tài thật sự mà còn làm thui chột ý thức phấn đấu của học sinh. Bên cạnh đó, nhiều giáo viên vẫn chƣa đƣa đƣợc bài tập thực nghiệm vào trong bài kiểm tra, do đó việc phát triển kỹ năng sống cho học sinh còn nhiều hạn chế. 2. Phƣơng pháp học Hiện nay, nhìn chung chỉ có một bộ phận nhỏ học sinh có tinh thần học tập tốt và có kết quả cao, còn lại vẫn có nhiều học sinh rất thụ động trong việc học. Các 15 em lƣời biếng, không chịu đọc sách, tìm hiểu bài trƣớc khi đến lớp, trong lớp học thì làm việc riêng, không tập trung nghe giảng, về nhà thì không chịu đầu tƣ giải bài tập, bài hơi khó một chút đã bỏ qua mà không kiên trì tham khảo để giải. Học sinh chƣa tự giác khám phá tri thức, không tự đặt mình vào những tình huống có vấn đề để tìm hƣớng giải quyết. Chính vì vậy dẫn đến kết quả học tập kém, không phát huy đƣợc hết tiềm lực của bản thân. 1.5.3. Về bài tập hóa học Đổi mới phƣơng pháp dạy học hiện nay yêu cầu phải đổi mới về bài tập hóa học, trong đó loại bỏ dần những bài tập nặng về tính toán mà chỉ sử dụng những bài tập nêu đúng bản chất hóa học và tăng cƣờng bài tập thực nghiệm. Tuy nhiên, những bài tập thực nghiệm vẫn chƣa thực sự đƣợc đƣa vào sử dụng rộng rãi trong các tiết học hay các tiết luyện tập. Một phần vì chƣơng trình lớp 11 quá nặng nề, một phần vì giáo viên vẫn chƣa ý thức và trang bị cho mình hệ thống bài tập thực nghiệm cho học sinh. Vì vậy trong các giờ luyện tập học sinh chỉ đƣợc tiếp cận với số ít dạng bài tập, không có đủ điều kiện để tìm hiểu những dạng bài tập mới, đặc biệt và khó. Do đó nếu chỉ học trên lớp thì khó có điều kiện để bồi dƣỡng trí thông minh cho học sinh. 1.5.4. Thực trạng vấn đề phát triển năng lực nhận thức của học sinh qua môn hóa học hiện nay Hiện nay, khung chƣơng trình mà Bộ GD – ĐT đƣa ra còn nhiều điểm bất hợp lý. Trong khi chƣơng trình lớp 10 tƣơng đối ổn thì chƣơng trình lớp 11 gồm cả Hóa hữu cơ và vô cơ quá nặng nề, chƣơng trình lớp 12 thì ít kiến thức. Do đó, học sinh đa phần bị mất căn bản từ năm lớp 11. Mặc dù đã thực hiện đổi mới phƣơng pháp dạy học từ nhiều năm nay nhƣng thực sự vẫn chƣa áp dụng một cách hiệu quả phƣơng pháp này. Nhiều giáo viên vẫn còn thụ động trong việc truyền thụ kiến thức cho học sinh, ít biểu diễn thí nghiệm và cho học sinh thực hiện thí nghiệm. Việc sử dụng bài tập chƣa đạt hiệu quả tối ƣu, trên lớp ít có thời gian để giải bài tập, học sinh không đƣợc tiếp xúc với nhièu dạng bài tập, ra bài tập về nhà nhƣng không có thời gian và điều kiện để kiểm tra, sửa chữa. Vì vậy, việc phát triển tƣ duy cho học 16 sinh qua việc giải bài tập là rất khó khăn. Giáo viên hầu nhƣ không có điều kiện để bồi dƣỡng và phát triển nhân tài. 17 CHƢƠNG II: NỘI DUNG VÀ NHỮNG BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NHẬN THỨC, BỒI DƢỠNG TƢ DUY CHO HỌC SINH KHI GIẢNG DẠY CHƢƠNG NITƠ LỚP 11 Ở TRƢỜNG PHỔ THÔNG 2.1. NGƢỜI GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH PHẢI LÀM GÌ ĐỂ DẠY VÀ HỌC TỐT MÔN HÓA HỌC [6] 2.1.1. Ngƣời giáo viên phải làm gì để dạy tốt môn hóa học Để hoàn thành tốt nhiệm vụ dạy học bộ môn hóa học, ngƣời giáo viên cần phải: - Nắm vững kiến thức chuyên môn, thƣờng xuyên nghiên cứu, trao dồi kiến thức, học tập không ngừng để tiếp cận với nền văn minh và những đổi mới trong bộ môn. - Có lòng yêu trẻ, yêu nghề, tận tình chỉ dạy học sinh, có nhƣ vậy thì giáo viên mới có thể làm tốt công việc của mình với tâm trạng thoải mái và có hiệu quả. - Giáo viên phải nắm rõ tình hình học sinh trong lớp để có phƣơng pháp dạy phù hợp với từng đối tƣợng. - Trong quá trình dạy học, ngƣời giáo viên phải biết nêu các vấn đề xung quanh bài học, đề ra công việc cho học sinh có tính chất nghiên cứu để làm tăng tính tò mò, kích thích niềm hăng say học tập bộ môn. - Giáo viên phải biết khéo léo kết hợp giữa lời giảng và thí nghiệm để học sinh dễ tiếp thu bài học. Giáo viên có thể sử dụng thí nghiệm để gợi mở một vấn đề trong giờ học bài mới hoặc dùng nó để chứng minh bài học… - Giáo viên vận dụng sáng tạo việc sử dụng hình vẽ, tranh ảnh, mô hình… để cụ thể hóa những khái niệm trừu tƣợng hay đơn giản hóa những máy móc phức tạp, giúp học sinh dễ tiếp thu và nắm vững nội dung kiến thức. Giáo viên cần chú ý biểu diễn hình vẽ chính xác, các phép vẽ đúng và hợp lý. - Khi sử dụng phƣơng pháp thuyết trình để truyền đạt kiến thức, giáo viên phải chú ý bảo đảm tính khoa học, giáo dục và tính thiết thực của bài giảng, phải chặt chẽ về mặt logic, phải đảm bảo cho học sinh ghi chép đƣợc và biết cách ghi chép. Muốn làm đƣợc điều đó, ngƣời giáo viên phải có sức truyền cảm và thuyết phục trong lời nói của mình: ngôn ngữ nói phải đƣợc chọn lọc, chính xác, ý tứ trong 18 sáng, dễ hiểu, biểu thị cảm xúc khi nói, những công thức hóa học mới, danh pháp mới phải viết lên bảng để học sinh nắm đƣợc… - Đối với việc ra bài tập: giáo viên phải biết chọn lọc, ra những bài tập điển hình, có đủ loại và có tính mục đích rõ ràng, có bài tập chung cho cả lớp cũng có bài tập riêng cho những học sinh khá, giỏi… Ra bài tập phải có kiểm tra, nhận xét, khuyến khích, động viên. - Thƣờng xuyên ra bài tập với mức độ thích hợp để học sinh bắt buộc phải tự giác học tập, có kiểm tra, đánh giá. - Khi xây dựng bài tập hóa học cho học sinh, giáo viên cần phải xem xét các bài tập đó nhƣ những nấc thang. Giáo viên là ngƣời hƣớng dẫn để học sinh bƣớc qua những nấc thang đó dễ dàng và vững chắc, tránh bỏ qua những nấc quan trọng. - Giáo viên chú trọng xây dựng bài tập thực nghiệm giúp học sinh cảm thấy Hóa học trở nên gần gũi với cuộc sống, làm đa dạng hóa kiến thức của học sinh. Từ đó làm tăng hứng thú học tập bộ môn. - Trong các buổi thực hành, giáo viên cần phải giáo dục cho học sinh tinh thần nghiêm túc, tự giác làm việc và làm việc có khoa học. Trƣớc hết giáo viên phải là một hình mẫu, giáo viên phải thực hiện đúng các thao tác và đảm bảo cho thí nghiệm thành công và an toàn. Qua đây giáo dục cho học sinh những thao tác, kĩ năng, kĩ xảo trong quá trình làm và biểu diễn thí nghiệm. - Giáo viên thƣờng xuyên kiểm tra dƣới nhiều hình thức (kiểm tra miệng, kiểm tra 15/, kiểm tra 1 tiết, làm toán nhanh…) để ôn tập, củng cố kiến thức và đôn đốc việc học của học sinh. Việc kiểm tra đúng mức sẽ giúp giáo viên phát hiện những khó khăn, sai sót trong quá trình làm bài của học sinh, từ đó có kế hoạch điều chỉnh, uốn nắn kịp thời. Việc kiểm tra, đánh giá còn giúp tích lũy thêm kiến thức và kinh nghiệm cho bản thân giáo viên. - Trong giờ học giáo viên nên đƣa vào những bài tập đố vui, các trò chơi. Giáo viên kết hợp với tổ chuyên môn tổ chức bồi dƣỡng học sinh giỏi, tổ chức các câu lạc bộ, các buổi chuyên đề, dã ngoại để giảm bớt căng thẳng và làm tăng hứng thú học tập cho học sinh. 19 Một ngƣời giáo viên dạy giỏi là ngƣời biết truyền đạt những gì cho học sinh và truyền đạt nhƣ thế nào. Hiệu quả công tác dạy học của giáo viên sẽ đƣợc phản ánh rõ rệt qua kết quả học tập của học sinh. 2.1.2. Ngƣời học sinh phải làm gì để học giỏi môn hóa học một cách thông minh Chất lƣợng dạy học phụ thuộc vào cả ngƣời dạy và ngƣời học. Tuy nhiên, muốn học giỏi môn hóa cũng nhƣ bất cứ môn học nào trƣớc hết học sinh phải nổ lực và tự rèn luyện bản thân mình. - Học sinh phải chăm chỉ học tập, trong lớp chú ý nghe giảng bài, không nói chuyện, làm việc riêng để tiết kiệm thời gian phải học lại kiến thức ở nhà, đồng thời có chỗ nào chƣa hiểu thì có thể kịp thời phát hiện và trao đổi với giáo viên. - Học sinh phải thƣờng xuyên làm bài tập và làm nhiều bài tập, giải các bài tập trong sách giáo khoa, sách tham khảo từ những bài tập đơn giản đòi hỏi trình độ biết, hiểu và vận dụng kiến thức đến những bài tập đòi hỏi phải biết tƣ duy, dần dần nâng lên mức độ khó hơn. - Phải tích cực, tự giác và nổ lực hết mình giải bài tập. nếu không giải đƣợc thì mới nhờ đến sự hƣớng dẫn của sách tham khảo hay của giáo viên. Học sinh phải luôn có thắc mắc, luôn tự đặt câu hỏi “tại sao”, giải đáp đƣợc các câu hỏi đó sẽ giúp học sinh hiểu kĩ và sâu rộng vấn đề. - Khi giải quyết một bài tập, trƣớc hết phải đọc kĩ đề, tóm tắt và tìm ra những điểm mấu chốt, từ đó tƣ duy phƣơng pháp giải. Phải biết tìm tòi tối đa các cách giải, từ đó kết luận phƣơng pháp giải nhanh gọn, đạt hiệu quả cao nhất. - Học sinh phải tích cực nghiên cứu sách giáo khoa, sách tham khảo để mở rộng thêm kiến thức. Chủ động nghiên cứu các vấn đề liên quan đến đời sống, sản xuất, các vấn đề mang tính toàn cầu. Điều đó không chỉ giúp mở rộng kiến thức thực tế mà còn giúp học sinh nâng cao hứng thú, say mê khoa học hóa học. - Luôn tích cực, chú ý, nhận xét những câu trả lời, cách giải của các bạn trong lớp, qua đó rèn luyện khả năng tƣ duy, học hỏi từ bạn bè và củng cố lại kiến thức của bản thân. - “Học bài nào xào bài ấy”, không để đến khi kiểm tra mới tích cực học tập. 20
- Xem thêm -