Hướng dẫn học sinh sử dụng tranh môn ngữ văn lớp 6, lớp 9 nhằm nâng cao kết quả học tập

  • Số trang: 32 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 12 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 24000 tài liệu

Mô tả:

BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI TÊN ĐỀ TÀI: HƯỚNG DẪN HỌC SINH SỬ DỤNG TRANH MÔN NGỮ VĂN LỚP 6, LỚP 9 NHẰM NÂNG CAO KẾT QUẢ HỌC TẬP Họ và tên tác giả: Võ Thị Kim Khoa, Phạm Thị Liên Chức vụ: Giáo viên dạy lớp Đơn vị công tác: Trường trung học cơ sở Bàu Năng - Dương Minh Châu. 1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Môn Ngữ văn giúp học sinh hình thành thế giới quan, nhân sinh quan phù hợp với sự phát triển của xã hội. Việc sử dụng tranh giúp học sinh cảm nhận được sâu sắc nội dung văn bản thông qua tranh minh họa. Vì thế, chúng tôi đã nghiên cứu đề tài: “Hướng dẫn học sinh” của học sinh. II. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU: Đối tượng nghiên cứu là “sử dụng tranh môn Ngữ văn lớp 6, lớp 9” nhằm nâng cao hứng thú học tập của lớp 6A4, lớp 9A4 trường trung học cơ sở Bàu Năng. III. PHẠM VI NGHIÊN CỨU: Xuất phát từ nhu cầu thực tế việc cảm nhận nội dung văn bản sâu sắc, thực trạng của trường về việc giảng dạy môn Ngữ văn cho học sinh trong các năm qua và do thời gian không cho phép, khả năng nghiên cứu của Chúng tôi có hạn nên phạm vi đề tài này chúng tôi chỉ nghiên cứu“Hướng dẫn học sinh sử dụng tranh môn Ngữ văn lớp 6, lớp 9 nhằm nâng cao kết quả học tập” môn Ngữ văn cho học sinh lớp 6A4, 9A4 trường trung học cơ sở Bàu Năng, huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh. Thời gian nghiên cứu: Năm học 2010- 2011. IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: Phương pháp đọc và nghiên cứu tài liệu; điều tra; khảo sát thực tế. V. ĐỀ TÀI ĐƯA RA VẦN ĐỀ MỚI: Các giải pháp hướng dẫn học sinh sử dụng tranh để nâng cao hứng thú học tập, cảm nhận sâu sắc nội dung văn bản môn Ngữ văn. VI. HIỆU QUẢ ÁP DỤNG: Học sinh có ý thức và hứng thú hơn trong việc học văn bản môn Ngữ văn. VII. PHẠM VI ÁP DỤNG: Đề tài có thể áp dụng trong môn Ngữ văn trường trung học cơ sở Bàu Năng và các trường Trung học cơ sở trong huyện Dương Minh Châu. Bàu Năng, ngày 15 tháng 3 năm 2011 Người thực hiện Võ Thị Kim Khoa Phạm Thị Liên I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lý do chọn đề tài: Giáo dục luôn là một lĩnh vực có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi xã hội bởi vì đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của giáo dục là con người. Cùng với các môn khoa học khác môn Ngữ văn giúp học sinh hình thành thế giới quan và nhân sinh quan phù hợp với sự phát triển của xã hội. Nghiên cứu văn học giúp học sinh phát triển năng lực nhận thức và tư duy. Mục đích của việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông là thay đổi lối dạy học truyền thụ một chiều chưa quan tâm nhiều đến việc rèn cho học sinh phong cách tự học để có thể học suốt đời sang dạy học theo phương pháp dạy học tích cực nhằm giúp học sinh phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tạo niềm tin, niềm vui, hứng thú trong học tập. Học để đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống hiện tại và tương lai phát triển của xã hội. Chương trình sách giáo khoa Ngữ văn trung học cơ sở đã nêu rõ: Môn Ngữ văn có vị trí đặc biệt trong việc thực hiện mục tiêu chung của trường trung học cơ sở góp phần hình thành những con người có trình độ học vấn phổ thông cơ sở, chuẩn bị cho học hoặc ra đời, hoặc tiếp tục học lên các bậc cao hơn. Đó là những con người có ý thức tự tu dưỡng, biết yêu thương, biết quý trọng gia đình, bạn bè; có lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, biết hướng tới những tư tưởng, tình cảm cao đẹp như lòng nhân ái, tinh thần tôn trọng lẽ phải, sự công bằng, lòng sáng tạo, bước đầu có năng lực thực hành và năng lực sử dụng tiếng Việt như một công cụ để tư duy và giao tiếp. Đó cũng là những con người có ham muốn đem tài trí của mình cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sử dụng phương tiện trực quan không chỉ là phương tiện của việc dạy mà còn là phương tiện của việc học. Sử dụng tranh ảnh không chỉ minh họa mà tạo điều kiện đẩy mạnh hoạt động nhận thức của học sinh trên cơ sở tự khám phá và khắc sâu kiến thức trong quá trình học tập. Việc sử dụng tranh của chúng tôi trong tiết học chỉ mới dừng lại ở việc quan sát tạo tâm thế hứng thú học tập ở học sinh. Qua các năm học, chúng tôi nhận thấy học sinh chưa cảm nhận được sâu sắc nội dung văn bản thông qua tranh minh họa mà chỉ cảm nhận chủ yếu qua ngôn từ. Hay nói cách khác, kênh hình chưa được khai thác triệt để. Xuất phát từ những vấn đề trên chúng tôi đã nghiên cứu đề tài “Hướng dẫn học sinh sử dụng tranh môn Ngữ văn lớp 6, lớp 9 nhằm nâng cao kết quả học tập.” 2. Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu việc sử dụng tranh ảnh giúp học sinh hứng thú học tập văn bản môn Ngữ văn, học sinh tiếp thu kiến thức nhanh hơn và nhớ lâu kiến thức đã học. Từ đó, học sinh rèn luyện được nhân cách thông qua việc cảm thụ văn học. 3. Đối tượng nghiên cứu: Sử dụng tranh Ngữ văn lớp 6, lớp 9 nhằm nâng cao hứng thú học tập của học sinh. Lớp nghiên cứu: Lớp 9A4, lớp 6A4 * Phạm vi nghiên cứu: . Khối 6: Phần văn học dân gian. . Khối 9: Phần văn học trung đại. 4. Phương pháp nghiên cứu: 3. 1. Đọc và nghiên cứu các tài liệu: Tìm đọc những tài liệu có liên quan đến chương trình Ngữ văn lớp 6, 9; sách giáo khoa; sách giáo viên; sách thiết kế bài giảng; sách nâng cao môn Ngữ văn, …. để có thể hướng dẫn học sinh sử dụng tranh trong mỗi văn bản. 3.2. Phương pháp điều tra: Thường xuyên dự giờ và trao đổi với đồng nghiệp trong tổ để có thể vận dụng phương pháp, cách hướng dẫn chuẩn bị bài phù hợp với mỗi văn bản. Điều tra, đối thoại, tìm hiểu thực trạng chuẩn bị bài, mức độ cảm nhận ý nghĩa văn bản học sinh để có hướng thiết kế bài giảng phù hợp.. Kiểm tra đối chiếu, so sánh, điều chỉnh bổ sung. 3.3. Khảo sát thực tế: Qua giảng dạy thực tế trên lớp để nắm bắt những tồn tại trong việc chuẩn bị bài của học sinh nhằm có hướng vận dụng phương pháp hướng dẫn phù hợp. 5. Giả thuyết khoa học: Trong việc giảng dạy môn Ngữ văn, giáo viên đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả giờ dạy Ngữ văn. Quá trình dạy học văn bản trong môn Ngữ văn sẽ trở nên tẻ nhạt, nhàm chán, khi giáo viên chỉ sử dụng phương pháp dùng lời, đàm thoại, vấn đáp. Nhưng nếu đề tài nghiên cứu thành công, những giải pháp đưa ra giúp giáo viên sử dụng tranh ảnh hướng dẫn học sinh khai thác tìm tòi phát hiện thế giới quan, nhân sinh quan mà tác giả gởi gấm trong văn bản thì tiết học sẽ trở nên sinh động, tạo được niềm say mê hứng thú học tập cho học sinh, giúp các em lĩnh hội kiến thức và rèn luyện nhân cách một cách nhanh chóng, hiệu quả. Học sinh sẵn sàng tiếp nhận kiến thức một cách chủ động và nhẹ nhàng, sâu sắc. II. NỘI DUNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN: 1. Các văn bản chỉ đạo: Nghị quyết số 40/2000/QH X ngày 9/12/2000 của Quốc Hội khóa X về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đã khẳng định mục tiêu của việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông là: “Xây dựng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đại hóa đại nước, phù hợp thực tiễn và truyền thống Việt nam, tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới.” Luật giáo dục 2005 chỉ rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học nang lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”. Với mục tiêu giáo dục là “giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động, sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. 2. Các quan niệm khác về giáo dục: Theo từ điển thì hứng thú là là hình thức biểu hiện tình cảm và nhu cầu nhận thức của con người, hứng thú có tính ổn định phản ánh thái độ quan tâm đặc biệt của chủ thể với đối tượng. Khi được làm việc phù hợp với hứng thú, dù phải vượt qua khó khăn, con người vẫn cảm thấy thoải mái và đạt hiệu quả cao. Cần giáo dục hứng thú cho thế hệ trẻ theo hướng lành mạnh, văn minh, đạo đức. Minh hoạ là làm rõ thêm, sinh động thêm nội dung của tác phẩm văn học hoặc văn bản trình bày, bằng hình vẽ hoặc bằng những hình thức dễ thấy, dễ hiểu và dễ cảm nhận. Để học sinh lĩnh hội được tri thức một cách tốt nhất cần hướng học sinh vào hoạt động tích cực. Tức là học sinh phải được trực tiếp tìm hiểu, khám phá vấn đề. Dạy học theo phương pháp đổi mới phải thực sự lấy học sinh làm trung tâm, coi hoạt động của học sinh là một hoạt động có ý nghĩa thiết thực nhất trong việc dạy và học. Học sinh được hoạt động dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Bên cạnh đó, học sinh được mở rộng, khắc sâu kiến thức bằng các phương tiện dạy học như máy chiếu, phiếu học tập, tranh ảnh, …. Giữa văn bản, phương tiện dạy học và học sinh có tác động qua lại lẫn nhau tạo mối liên hệ chặt chẽ, thống nhất. Trong đó, học sinh là người khám phá, tìm hiểu; văn bản là cánh cửa tri thức; phương tiện dạy học là chìa khóa để mở cánh cửa tri thức. Nâng cao hứng thú học tập là điều đầu tiên mà giáo viên cần đem đến cho học sinh trước khi dẫn dắt học sinh tìm hiểu những kiến thức bổ ích. Có như thế học sinh mới tích cực chủ động tìm hiểu khám phá những kiến thức mới, đúng như tinh thần của đổi mới phương pháp hiện nay. Trong giảng dạy Ngữ văn nhất là trong phân môn Văn, học sinh nhận thức được các thông điệp mà tác giả gởi gấm vào qua ngôn ngữ và giáo viên có thể kích thích hứng thú học tập của học sinh qua việc cụ thể hóa các thông điệp trong văn bản bằng tranh ảnh. Tất cả những gì có thể được lĩnh hội (tri giác) nhờ sự hỗ trợ của hệ thống tín hiệu được gọi là phương tiện trực quan. II. CƠ SỞ THỰC TIỄN: 1. Thực tiễn vấn đề nghiên cứu: Qua việc giảng dạy môn Ngữ văn nhiều năm, chúng tôi nhận thấy thái độ học tập của học sinh đối với môn Ngữ văn còn mang cảm giác giáo điều, nặng nề. Giờ học văn bản chưa thực sự hấp dẫn được học sinh, đa số học sinh cho rằng đây là môn học nhạt nhẽo, chỉ có lí thuyết mà không thể áp dụng vào thực tế một cách cụ thể, rõ ràng. Học sinh nổ lực học tập không vì yêu thích văn chương mà vì để hoàn thành nhiệm vụ học tập. Giáo viên dù có tích cực đến đâu mà học sinh không nổ lực thì việc dạy học cũng không có kết quả tốt. Việc chuẩn bị qua loa sẽ dẫn đến tình trạng vào lớp học sinh không đủ thời gian để tìm hiểu kiến thức theo gợi ý của giáo viên. Từ đó, học sinh chỉ thụ động ghi chép theo lời giảng của giáo viên Bên cạnh đó, thực trạng của việc dạy học sử dụng tranh ảnh trong văn bản trong môn Ngữ văn của trường THCS Bàu Năng qua trực tiếp giảng dạy và dự giờ các đồng nghiệp, chúng tôi nhận thấy những vấn đề sau: . Học sinh chưa hiểu hết những nội dung hàm chứa trong tranh ảnh. Chưa xem kiến thức bài học và phương tiện trực quan có mối quan hệ mật thiết nhau. Một số em không chú ý quan sát tranh ảnh để rút ra nội dung bài học ... mà chỉ nhận xét về hình thức là xấu hoặc đẹp của những tranh ảnh đó. Kết quả là học sinh thuộc được ghi nhớ nhưng chưa hiểu về những bài học sâu sắc mà các tranh ảnh hàm chứa. Một số em không thích học văn bản do không hứng thú học tập. . Giáo viên có sử dụng tranh ảnh nhưng hiệu quả chưa cao. Giáo viên còn làm việc nhiều, còn trả lời thay học sinh do sợ mất thời gian thay vì học sinh phải nhìn vào tranh ảnh để tìm tòi phát hiện nội dung sâu sắc hàm chứa bên trong. Chính vì vậy, chúng tôi đã cố gắng tìm ra giải pháp giúp học sinh hứng thú hơn trong học văn. Tùy điều kiện của mỗi văn bản, chúng tôi cố gắng tìm tranh ảnh minh họa để học sinh có hứng thú học tập đạt kết quả cao hơn. 2. Sự cần thiết của đề tài: Việc sử dụng đồ dùng dạy học có vai trò quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả nhận thức của học sinh trong việc học văn bản. Nếu không sử dụng đồ dùng dạy học là đã bỏ qua rất nhiều điều thuận lợi cho người giáo viên và lao động sư phạm. Trong thực tế, có nhiều giáo viên ngại sử dụng tranh ảnh mất thời gian lại nặng tính hình thức, đối phó nên hiệu quả giảng dạy không cao. Sử dụng tranh ảnh góp phần bồi dưỡng hứng thú học tập cho học sinh, nâng cao nhận thức của học sinh vào văn chương, phát triển tư duy và năng lực nhận thức, giúp giáo viên không phải thuyết trình hoặc diễn giải một sự vật, hiện tượng nào đó mà học sinh phải lắng nghe, tưởng tượng, giáo viên không phải mất thời gian nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Sử dụng phương tiện tranh ảnh giúp học sinh dễ tiếp thu kiến thức, nhớ lâu nội dung bài học. Sự tiếp thu kiến thức ở học sinh cùng một lúc huy động nhiều giác quan tham gia, do đó các thông tin tiếp thu sẽ trở nên vững chắc hơn, chẳng những dễ nhớ mà còn nhớ lâu hơn và học sinh cũng dễ rèn luyện tình cảm, nhân cách hơn. Để tiết học thật sự có hiệu quả thì phần quan trọng không thể thiếu, quyết định sự thành công của tiết học hay không chính là khâu chuẩn bị. Giáo viên phải chuẩn bị chu đáo về kiến thức, tranh ảnh và phương pháp sư phạm; bên cạnh đó học sinh cũng phải chuẩn bị bài tốt để có thể nắm được những kiến thức cơ bản, trọng tâm. Những kiến thức này phải được đầu tư, tìm hiểu kỹ từ ở nhà để vào lớp học sinh sẳn sàng tham gia xây dựng bài mới, chiếm lĩnh kiến thức một cách cơ bản nhất, sâu sắc nhất. III. NỘI DUNG VẤN ĐỀ: 1. Nâng cao hứng thú học tập văn bản môn Ngữ văn cho học sinh thông qua việc sử dụng phương tiện tranh ảnh. Trong môn Ngữ văn, nhất là văn bản, học sinh cảm nhận nội dung văn bản chủ yếu bằng ngôn từ. Tranh minh họa chỉ là một trong những phương tiện hỗ trợ cho qua trình tiếp nhận văn bản của học sinh. Tuy nhiên, tranh minh họa cũng cần thiết đối với việc giảng dạy. Nó góp phần nâng cao hứng thú học tập văn bản ở học sinh và giúp cho học sinh tiếp thu tri thức một cách nhẹ nhàng hơn. Bởi một không khí học tập đầy hứng khởi sẽ kích thích sự say mê, giúp học sinh tập trung tốt hơn vào bài học và có niềm tin vào những gì mà các em tiếp thu được, như thế hiệu quả giáo dục sẽ được nâng cao. Có yêu thích bộ môn và tìm được hứng thú trong học tập thì học sinh sẽ tự giác tích cực và tự chủ động trong các hoạt động học tập. Như vậy, tìm biện pháp để có thể gây hứng thú cho các hoạt động học tập là nhiệm vụ của người thầy. Muốn hướng dẫn học sinh sử dụng tranh đạt được hiệu quả cao, giáo viên cần: . Chủ động trong mọi hoạt động trên lớp. . Tạo không khí lớp học thân thiện. . Tạo tình huống có vấn đề, có hệ thống qua tranh ảnh minh họa. . Tranh ảnh minh họa phải phong phú, phù hợp nội dung, rõ, đẹp. . Nêu mục đích và phương pháp quan sát tranh ảnh. . Nêu yêu cầu giải thích, nhận xét nội dung tranh ảnh. Bên cạnh đó, không khí lớp học cũng góp phần rất lớn cho hoạt động học tập được tiến hành một cách nhẹ nhàng, sinh động, thoải mái. Tập thể học sinh có những hoạt động đồng bộ, thống nhất theo sự điều khiển của giáo viên, tránh các tình huống căng thẳng không cần thiết. Vui tươi mà nghiêm túc. Hoạt động tương ứng của học sinh gồm: . Nắm được mục đích yêu cầu giải thích, nhận xét nội dung tranh ảnh. . Quan sát tranh ảnh, tìm ra những kiến thức cần tiếp thu. . Rút ra nhận xét, kết luận về những kiến thức cần lĩnh hội qua tranh ảnh. 2. Giải pháp: 2.1. Đối với giáo viên: Khi thiết kế bài giảng, giáo viên cần phải nghiên cứu kỹ nội dung, tìm hiểu xem việc sử dụng tranh ảnh có thực sự cần thiết minh họa cho nội dung bài học hay không. Tranh ảnh minh họa phải gắn liền với nội dung, phương pháp và ý đồ sư phạm của giáo viên chứ không phải chỉ để phô trương. Ngoài việc hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài ở nhà theo các câu hỏi đọc- hiểu văn bản trong sách giáo khoa, giáo viên cần gợi ý cho học sinh quan sát tranh trong sách giáo khoa, sưu tầm tranh theo nội dung văn bản để khi vào lớp việc tìm hiểu văn bản sẽ dễ dàng, thuận lợi hơn. Học sinh sẽ hiểu được mình sẽ làm gì, chuẩn bị như thế nào cho bài mới. Giáo viên không nên dặn dò học sinh một cách chung chung. Giáo viên phải phân loại được các đối tượng học sinh để có thể yêu cầu mức chuẩn bị bài cũ, bài mới cho phù hợp với khả năng từng em. Cơ bản là phải khuyến khích, phải kiểm tra việc chuẩn bị ở nhà một cách khoa học và cụ thể. a. Sử dụng tranh ảnh đúng lúc, đúng chỗ không phân tán sự chú ý của học sinh. Đối với việc sử dụng tranh minh họa cho nội dung văn bản, giáo viên phải cân nhắc xem bức tranh có thể đưa ra giới thiệu cho học sinh ở nội dung nào, chi tiết nào. Trong trường hợp có những bức tranh có thể minh họa cho nhiều đoạn, nhiều chi tiết trong văn bản thì giáo viên phải lựa chọn, cân nhắc làm sao cho việc minh họa đạt hiệu quả cao nhất. Tránh tình trạng học sinh sau khi xem và bình tranh ở chi tiết này rồi lại xem và bình tranh ở chi tiết khác trong cùng một văn bản. Ngoài ra, nếu sử dụng tranh cho mục đích thứ nhất xong mà giáo viên không gỡ tranh xuống để đến một chi tiết nào đó sử dụng minh họa luôn sẽ khiến cho học sinh cứ nhìn tranh không thể tập trung vào bài học được. Như thế, việc sử dụng tranh của giáo viên sẽ không có hiệu quả. Ví dụ khi dạy bài Con Rồng, cháu Tiên ở lớp 6, giáo viên treo tranh Lạc Long Quân và Âu Cơ cùng với các con làm nền để gợi ý cho học sinh nhận xét các nhân vật trong tranh để giới thiệu bài học mới. Giáo viên hướng cho học sinh quan sát về cách ăn mặc, bối cảnh chung của bức tranh xác định về giai đoạn sống của người Việt trong tranh. Từ đó, giáo viên cho học sinh dựa vào tranh tự giới thiệu bài học mới. Như vậy sẽ kích thích được hứng thú tìm hiểu về nguồn gốc người Việt của học sinh. Tranh này cũng minh họa cho chi tiết cuối cùng của câu chuyện, Lạc Long Quân và Âu Cơ chia 50 con lên núi và 50 con xuống biển để từ đó giáo viên gợi cho học sinh cảm nhận về ý nghĩa của câu truyền thuyết về sự mở mang bờ cõi, về các dân tộc trên đất nước Việt Nam là anh em một nhà phải đoàn kết với nhau trong dựng nước và giữ nước. Nếu giới thiệu bài xong, giáo viên không gỡ tranh xuống mà để luôn đến khi rút ra bài học từ nội dung câu chuyện thì sẽ phân tán ngay sự tập trung chú ý của học sinh trong suốt quá trình tìm hiểu nội dung văn bản. Hoặc khi dạy bài Truyện Kiều của Nguyễn Du ở lớp 9, đây là bài giảng mang tính giới thiệu tác phẩm Truyện Kiều cho học sinh nắm được giá trị nội dung và nghệ thuật mà thôi, giáo viên có thể dùng tranh các bản Truyện Kiều bằng chữ Nôm và được dịch ra tiếng nước ngoài để giới thiệu bài. Như vậy sẽ tạo sự lôi cuốn mạnh mẽ, cho học sinh cảm giác muốn tìm hiểu về giá trị một nhà thơ, một tác phẩm thơ như thế nào mà được nhiều nước trên thế giới biết đến và ngưỡng mộ. Nhưng nếu tranh giáo viên để tranh treo suốt thời gian tìm hiểu Truyện Kiều thì học sinh không thể tập trung vào việc nắm nội dung truyện được. Tình huống xảy ra là học sinh có thể không chú ý bài học mà chỉ lo nhìn và so sánh bản truyện bằng chữ Nôm và bản truyện bằng tiếng nước ngoài đẹp xấu mà thôi. Điều đó làm giảm đi hiệu quả của tiết học. b. Sử dụng triệt để kênh hình trong sách giáo khoa. Một số văn bản trong sách giáo khoa có kênh hình minh họa cho nội dung văn bản như ở lớp 6 có bài Con Rồng cháu Tiên; Bánh chưng, bánh giầy; Thánh Gióng hay ở lớp 9 có bài Chuyện người con gái Nam Xương; Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga. Một số giáo viên đã phóng to tranh trong sách giáo khoa và treo lên bảng cho cả lớp nhìn và phân tích, bình tranh. Theo chúng tôi, điều đó là không cần thiết. Khi hướng dẫn học sinh tự học ở nhà, chúng tôi đã có thao tác là hướng dẫn học sinh nghiên cứu tìm hiểu các chi tiết trong tranh ở sách giáo khoa, xác định tranh đó phục vụ cho chi tiết nào trong văn bản và ý nghĩa của tranh là gì, các chi tiết trong tranh có phù hợp với nội dung văn bản, có thể rút ra được bài học gì, …. để học sinh có thể bước đầu cảm nhận được thông điệp mà tác giả gởi gấm trong nội dung văn bản. Vào lớp, với sự gợi ý của giáo viên, học sinh có thể nêu được nhận xét, cảm nhận của mình về bức tranh và nội dung văn bản. Như vậy học sinh sẽ cảm thấy mình có đủ năng lực để hiểu và chiếm lĩnh kiến thức trong văn bản và cảm thấy hứng thú hơn trong việc bình tranh. Ví dụ, khi quan sát tranh minh họa cuộc chiến giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh (sgk.32 tập I) bài Sơn Tinh, Thủy Tinh ở lớp 6, giáo viên gợi ý cho học sinh xác định nhân vật Sơn Tinh và nhân vật Thủy Tinh, quan sát chi tiết thể hiện trận đánh khốc liệt giữa hai vị thần, chi tiết nước dâng lên bao nhiêu thì núi dâng lên bấy nhiêu, hình ảnh Sơn Tinh dũng mãnh trong trận chiến, …. Giáo viên nêu vấn đề để học sinh tự tái hiện lại cuộc chiến của hai vị thần và tự so sánh được trận chiến này với hiện tượng lũ lụt thường xảy ra ở lưu vực sông Hồng. Có như vậy học sinh mới cảm thấy thích thú hơn trong việc tìm ra ý nghĩa văn bản và nghệ thuật tưởng tượng với nhiều chi tiết kì ảo, hấp dẫn mà tác giả dân gian đã xây dựng trong truyện. Cũng từ đó, gợi cho học sinh cảm nhận hình ảnh người Việt cổ có những ước mơ gì, đồng thời học sinh nêu lên được cảm nghĩ, niềm tự hào về hình ảnh ông cha xưa đã chiến thắng thiên tai như thế nào. Hoặc tranh Lục Vân Tiên đánh cướp cứu dân làng và Kiều Nguyệt Nga (sgk.110 tập I) bài Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga của Nguyễn Đình Chiểu, giáo viên gợi ý cho học sinh quan sát tranh, nhận xét về hình tượng Lục Vân Tiên khi đánh bọn cướp Phong Lai, hình ảnh lửa cháy khắp nơi, nhân dân chạy loạn và hình ảnh Kiều Nguyệt Nga cùng nàng tì tất Kim Liên đang run rẩy ngồi trên xe ngựa ….. từ các chi tiết trong thơ đến hình ảnh trực quan trong sách giáo khoa học sinh thích thú hơn trong việc tái hiện hình ảnh người anh hùng ngày xưa như thế nào theo quan niệm đạo đức mà nhà thơ ca ngợi. Từ đó, học sinh rút ra được bài học giúp người với tinh thần làm ơn há dễ trông người trả ơn và nêu lên sự rèn luyện đạo đức bản thân như thế nào. c. Khi sử dụng tranh minh họa do Bộ Giáo dục cấp, giáo viên cần nghiên cứu và định hướng cho học sinh quan sát để cảm nhận ý nghĩa văn bản một cách có hiệu quả nhất. Tuy bộ tranh do Bộ Giáo dục cấp không đầy đủ cho tất cả các văn bản trong sách giáo khoa nhưng ở những bài có tranh minh họa thì nội dung bài học thể hiện qua các bức tranh rõ nét và khá đầy đủ. Hình ảnh trong tranh rõ đẹp cũng góp phần tạo hứng thú học tập cho học sinh. Sử dụng tranh minh họa không nên tùy tiện mà cũng có những nguyên tắc nhất định: . Tranh được sử dụng không nên cho học sinh xem trước nhằm tạo bất ngờ hứng thú khi tìm hiểu văn bản. . Sử dụng tranh có hiệu quả và hợp lý giữa các khâu, các phần. Khi đưa tranh vào sử dụng phải đặt câu hỏi để đưa học sinh vài tình huống có vấn đề nhằm phát huy tác dụng của việc dùng tranh minh hoạ. Đối với các tranh minh họa cho tác phẩm dân gian ở lớp 6, học sinh không được quan sát trước ở nhà, giáo viên phải gợi ý vừa giúp học sinh quan sát tranh nhanh vừa định hướng cho học sinh phát hiện tranh minh họa cho phần nào, chi tiết nào, nhân vật nào của truyện; tranh có làm rõ tính cách nhân vật không?, …. Khi đã nắm rõ nội dung tranh, học sinh sẽ thích thú hơn khi có cảm giác tự mình tìm ra được kiến thức trong văn bản. Ví dụ trong câu chuyện Ông lão đánh cá và con cá vàng ở lớp 6 có bức tranh bà lão ngồi bên túp lều cũ nát với cái máng lợn sứt mẻ. Trong phần tìm hiểu nghệ thuật xây dựng câu chuyện, giáo viên có thể cho học sinh quan sát tranh và xác định bối cảnh nhân vật bà lão bên túp lều cũ nát, cái máng sứt mẻ, lưới đánh cá, thuyền và biển lặng sóng để học sinh xác định vị trí bức tranh. Có học sinh xác định đây là bức tranh miêu tả hoàn cảnh sống của ông bà lão ở đầu câu chuyện lúc ông lão chưa gặp cá vàng. Họ sống trong cảnh nghèo nhưng vui vẻ. Nhưng cũng có học sinh sẽ xác định đây là kết cục của bà lão do sự tham lam, mất cả tình người ở cuối câu chuyện. Từ đây, giáo viên kích thích học sinh khám phá về nghệ thuật xây dựng truyện hoàn cảnh sống của vợ chồng ông lão là đầu cuối giống nhau thông qua bức tranh của tác giả, thích thú hơn về việc nhận xét và bình tranh khi tự rút ra kết luận về nghệ thuật xây dựng kết cấu vòng của truyện, kết cấu này thường xuất hiện trong truyện cổ tích. Ví dụ, trong văn bản Cây bút thần, khi dạy đến nội dung Mã Lương vẽ cho người nghèo, giáo viên cho học sinh quan sát tranh thứ nhất, nhận xét chi tiết trong tranh như nét mặc của người dân, những vật dụng Mã Lương đã vẻ và đặt vấn đề: Tại sao Mã Lương không vẽ những vật quý như vàng, bạc, đá quý, … mà chỉ vẽ cuốc, cày, … cho người nghèo? để học sinh tự tìm ra được ý nghĩa Mã Lương giúp nhân dân công cụ lao động tạo ra của cải, vật chất là giúp họ có được cuộc sống ấm no lâu dài. Từ chi tiết này, giáo viên nhấn mạnh thêm ý nghĩa của sự lao động đối với cuộc sống con người để giáo dục học sinh. Khi dạy đến nội dung Mã Lương vẽ cho tên vua, giáo viên cho học sinh quan sát tranh thứ hai, gợi ý cho học sinh xác định vị trí và hành động của Mã Lương, vị trí và hoàn cảnh của tên vua độc ác. Từ đó, giáo viên đặt vấn đề thảo luận: Qua bức tranh thứ nhất và bức tranh thứ hai, em hãy so sánh và cho biết thái độ của Mã Lương đối với người nghèo và bọn thống trị như thế nào? Qua đó, ta biết gì về phẩm chất của Mã Lương? Học sinh quan sát hai tranh và có thể rút ra nhận xét: . Bức tranh thứ nhất: Mã Lương rất vui, hạnh phúc khi vẽ cho người nghèo. . Bức tranh thứ hai: Mã Lương căm giận, đang ra tay trừng trị bọn thống trị. Từ đó, học sinh xác định được phẩm chất của Mã Lương là thông minh, yêu quý người nghèo; căm ghét bọn thống trị tham lam, độc ác. Cuối cùng, giáo viên gợi ý cho học sinh bộc lộ tình cảm và rút ra bài học cho bản thân. Ở thao tác này, giáo viên đã tạo điều kiện cho học sinh phát huy được khả năng quan sát và so sánh tranh để rút ra kết luận. Đối với tranh minh họa truyện trung đại lớp 9, Bộ giáo dục cung cấp quá ít. Chỉ có một số tranh chân dung tác giả như Nguyễn Đình Chiểu, tranh giới thiệu tác phẩm như tác phẩm Truyện Kiều, Lục Vân Tiên. Khi sử dụng loại tranh này, giáo viên định hướng cho học sinh tìm hiểu về thân thế và sự nghiệp của tác giả qua các tranh chân dung để từ đó gợi cho học sinh về sự nghiệp sáng tác gắn với cuộc đời tác giả. Ngoài ra, ở chùm tranh minh họa các nhân vật trong truyện, giáo viên gợi ý cho học sinh nhận xét tính cách nhân vật thể hiện qua đường nét, màu sắc của tranh so với sự diễn tả trong thơ và từ đó học sinh có thể cảm nhận được số phận cũng như bản chất của nhân vật để từ đó giúp học sinh xác định cách sống ở đời có nghĩa, có nhân, rèn luyện bản thân trở thành người tốt, giúp ích cho xã hội. Ví dụ, với tranh minh họa các nhân vật trong Truyện Kiều, có thể sử dụng khi giới thiệu Truyện Kiều. Sau phần tóm tắt truyện, giáo viên gợi cho học sinh quan sát cách thể hiện hình dáng, nét mặt, cử chỉ của nhân vật ... trong tranh. Giáo viên nêu vấn đề để học sinh xác định được các nhân vật đúng với các đặc điểm mà học sinh vừa biết được qua sự giới thiệu tác phẩm của giáo viên. Ở đây, giáo viên có thể phát huy được kỹ năng nhận xét, phân tích của học sinh. Đồng thời học sinh cũng bày tỏ được thái độ, tình cảm đối với các số phận trong truyện. Ngoài ra, qua quan sát học sinh cảm nhận được tài hoa miêu tả của Nguyễn Du qua ảnh minh họa về con người và cảnh sắc thiên nhiên. Với cách giới thiệu này, giáo viên tạo hứng thú tìm hiểu số phận cũng như tài miêu tả của Nguyễn Du trong các đoạn trích sẽ học tiếp theo. Ngoài việc sử dụng tranh minh họa do Bộ Giáo dục cấp, giáo viên có thể tự tìm thêm nguồn tranh để phục vụ cho giảng dạy như sưu tầm, tự vẽ. Đối với nguồn tranh này phải đáp ứng được yêu cầu về thẩm mĩ, nội dung phù hợp và có ý nghĩa giáo dục cao. Tránh tình trạng tranh không đúng với chủ đề, nội dung sẽ gây sự khó hiểu cho học sinh khi giáo viên minh họa. Như vậy, sự chuẩn bị tranh ảnh của giáo viên là rất cần thiết cho giáo viên trước khi lên lớp. Ví dụ, trong bài Cậu bé thông minh ở lớp 6, học sinh đã vẽ bốn bức tranh minh họa cho bốn lần thể hiện trí thông minh của mình. Khi gợi ý cho học sinh vẽ tranh, giáo viên đã phát huy được sự tưởng tượng, sáng tạo của học sinh. Bên cạnh đó, thông qua việc vẽ tranh, học sinh cũng đã tự nắm bắt kiến thức cần thiết trong văn bản. Điều này giúp học sinh hào hứng hơn khi phát huy tính tích cực của bản thân. Hoặc trong bài Chị em Thúy Kiều của Nguyễn Du ở lớp 9, giáo viên đã sưu tầm hai bức tranh miêu tả sắc đẹp của Thúy Kiều, Thúy Vân và tài năng của Thúy Kiều. Khi dạy đoạn miêu tả sắc đẹp của chị em Kiều thì giáo viên treo tranh thứ nhất. Khi quan sát tranh, với sự thể hiện về con người và cảnh sắc thiên nhiên trong tranh, học sinh dễ cảm nhận và hứng thú trong việc miêu tả nét đẹp của Vân và Kiều. Trong bức tranh thứ hai, hình ảnh Kiều đang đánh đàn, học sinh dễ liên tưởng đến tài năng của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Từ đó, học sinh cảm thấy muốn tìm hiểu về số phận của nhân vật Thúy Kiều. Hoặc khi dạy bài Chị em Thúy Kiều của Nguyễn Du ở lớp 9, giáo viên cũng có thể cho học sinh tưởng tượng, vẽ chân dung Thúy Kiều, Thúy Vân và gợi ý cho học sinh so sánh với các tranh chị em Thúy Kiều do giáo viên sưu tầm từ đó học sinh cảm nhận được vẻ đẹp của phụ nữ Việt Nam trong xã hội phong kiến. Khi học sinh xem tranh, giáo viên cũng có thể yêu cầu học sinh: Nếu cần minh họa cho truyện, các em có thể có cách chọn cảnh và nhân vật khác để minh họa hay không? Hãy dùng lời để mô tả bức tranh mà em định vẽ theo ý tưởng của em? …. Điều này giúp học sinh khắc sâu kiến thức và phát huy được sự sáng tạo. d. Việc sử dụng tranh cần kết hợp linh hoạt với hệ thống câu hỏi. Trong quá trình phân tích văn bản, giáo viên cần đưa tranh minh họa để bổ sung, khắc sâu kiến thức. Khi treo tranh xong, giáo viên có thể đưa câu hỏi ngay ra lúc ban đầu để tạo tâm thế hứng thú ở học sinh. Điều giáo viên cần lưu ý là nếu đưa tranh liên tục làm cho học sinh không còn chú ý đến nội dung bài học mà chỉ bình phẩm tranh đẹp xấu mà thôi. Khi học sinh đã khai thác hết nội dung tranh, giáo viên cần phải cất tranh ngay. Cũng có thể đưa tranh minh họa sau khi đã phân tích đầy đủ nội dung, ý nghĩa của văn bản để học sinh mở rộng, củng cố kiến thức. Ví dụ, khi đã phân tích văn bản Chân, Tay, Tai, Mắt, miệng ở lớp 6, giáo viên có thể đưa ra bức tranh minh họa các chi tiết trong truyện gồm bốn tranh nhỏ. Học sinh quan sát, dựa vào tranh để kể tóm tắt lại câu chuyện. Giáo viên đưa ra hệ thống câu hỏi gợi ý cho học sinh tìm hiểu vấn đề như: 1. Em suy nghĩ gì về việc so bì của cô Mắt, bác Tai, cậu chân, cậu Tai? 2. Câu nói của bác Tai: “Chúng ta lầm rồi các cháu ạ.” Có ý nghĩa như thế nào? 3. Trong câu chuyện, lão Miệng đã rơi vào hoàn cảnh như thế nào? 4. Việc cô Mắt, bác Tai, cậu chân, cậu Tai đã đi tìm thức ăn cho lão Miệng có ý nghĩa gì? 5. Qua câu chuyện, em hiểu gì về cuộc sống của các nhân vật trong truyện? 6. Từ câu chuyện, em rút ra cho bản thân bài học gì? Sau khi quan sát tranh và trả lời những câu hỏi của giáo viên, học sinh đã tự rút ra được bài học từ nội dung truyện như trong một tập thể thì mỗi thành viên không thể sống tách rời nhau mà phải biết nương tựa vào nhau, gắn bó với nhau để tồn tại. Giáo viên cho nhiều học sinh học sinh đưa ra cách thể hiện tinh thần tập thể
- Xem thêm -