Hoàn thiện quy trình xuất khẩu sản phẩm thủ công mỹ nghệ tại công ty cổ phần najimex

  • Số trang: 123 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 12 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 26946 tài liệu

Mô tả:

LỜI MỞ ĐẦU Trong bối cảnh mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động xuất nhập khẩu là một trong những thước đo đánh giá kết quả của quá trình hội nhập quốc tế và phát triển trong mối quan hệ tuỳ thuộc vào nhau giữa các quốc gia. Đây còn là yếu tố quan trọng nhằm phát huy mọi nguồn nội lực, tạo thêm vốn đầu tư để đổi mới công nghệ, tăng thêm việc làm, thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước. Để hội nhập thành công thì phải nâng cao được hiệu quả hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu mà cụ thể là nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp tham gia xuất nhập khẩu. Một trong những yếu tố góp phần đáng kể vào việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu là làm sao để có một quy trình xuất khẩu nhanh gọn, đơn giản và hợp lý. Doanh nghiệp có một quy trình xuất khẩu tốt và phù hợp với doanh nghiệp sẽ giúp doanh nghiệp cạnh tranh tốt hơn. Chính vì vậy, hoàn thiện quy trình xuất khẩu là điều mà các doanh nghiệp đang hướng tới. Trong cơ cấu các ngành hàng xuất khẩu cuat Việt Nam hiện nay, thủ công mỹ nghệ được đánh giá là ngành hàng có khá nhiều tiềm năng. Sản phẩm thủ công mỹ nghệ có hàm lượng văn hoá cao, đa dạng, phong phú về chủng loại; hiện đại về mẫu mã, bao bì; độc đáo về kiểu dáng, kỹ thuật, mỹ thuật;... đang là những yếu tố cơ bản để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường thế giới nhất là trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay. Công ty Cổ phần Najimex là một doanh nghiệp sản xuất xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đang khẳng định uy tín của mình trên thị trường. Tuy nhiên, công tác xuất khẩu của Công ty còn một số hạn chế và vì vậy hiệu quả của xuất khẩu chưa tương xứng với tiềm năng của Công ty. Do đó, vấn đề đặt ra là làm thế nào để công tác xuất khẩu của Công ty được tốt hơn trong thời gian tới. Đây cũng là lý do em chọn đề tài: “Hoàn thiện quy trình xuất khẩu sản phẩm thủ công mỹ nghệ tại Công ty Cổ phần Najimex”. Phạm vi đề tài: nghiên cứu hoạt động sản xuất kinh doanh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Công ty trong thời gian qua trong đó đi sâu phân tích, đánh giá các khâu của quy trình xuất khẩu của Công ty. Từ đó em xin đề xuất các biện pháp nhằm góp phần hoàn thiện quy trình xuất khẩu của Công ty trong thời gian tới. PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com Nội dung và kết cấu của đề tài gồm ba chương: - Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động xuất khẩu. - Chương 2: Phân tích thực trạng xuất khẩu tại Công ty cổ phần Najimex. - Chương 3: Một số biện pháp nhằm hoàn thiện quy trình xuất khẩu của Công ty trong thời gian tới. Phương pháp nghiên cứu: + Thu thập tài liệu. + Quan sát, thống kê, so sánh, đối chiếu. + Phỏng vấn. Do thời gian cũng như kiến thức còn hạn chế nên đề tài của em không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự nhận xét và góp ý của các thầy cô. Sinh viên thực hiện Đoàn Thị Minh Tâm PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com 1 CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com 2 I. KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU: 1. Khái niệm hoạt động xuất khẩu: Xuất khẩu là một hình thức kinh doanh mà doanh lợi thu được là từ việc bán hàng hoá và dịch vụ ra thị trường nước ngoài. Hàng hoá và dịch vụ đó phải được vận chuyển ra khỏi biên giới quốc gia. 2. Vai trò của xuất khẩu: 2.1. Vai trò của xuất khẩu đối với nền kinh tế: Xuất khẩu được thừa nhận là một hoạt động rất cơ bản của hoạt động kinh tế đối ngoại, là phương tiện thúc đẩy nền kinh tế phát triển.Vai trò của xuất khẩu được thể hiện trên các mặt sau: v Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp hoá đất nước. Đảng và nhà nước ta đã xác định công nghiệp hoá đất nước theo những bước đi thích hợp là con đường tất yếu để khắc phục tình trạng nghèo và chậm phát triển của nước ta. Để công nghiệp hoá đất nước trong một thời gian ngắn đòi hỏi phải có số vốn rất lớn để nhập khẩu máy móc, thiết bị, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến. Nguồn vốn đó có thể được hình thành từ các nguồn như: đầu tư nước ngoài, vay nợ viện trợ, thu từ hoạt động du lịch, dịch vụ thu ngoại tệ, xuất khẩu sức lao động,… Trong đó, nguồn vốn quan trọng nhất để nhập khẩu, công nghiệp hoá đất nước là xuất khẩu. Xuất khẩu quyết định quy mô và tốc độ tăng của nhập khẩu. v Xuất khẩu đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển. Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế như sau: § Một là, xuất khẩu chỉ là việc tiêu thụ những sản phẩm thừa do sản xuất vượt quá nhu cầu nội địa. Trong trường hợp nền kinh tế còn lạc hậu và chậm phát triển như nước ta, sản xuất về cơ bản vẫn chưa đủ tiêu dùng, nếu chỉ thụ động chờ ở sự “thừa ra” của sản xuất thì xuất khẩu sẽ vẫn cứ nhỏ bé và tăng trưởng chậm. Sản xuất và sự thay đổi cơ cấu kinh tế sẽ rất chậm chạp. § Hai là, coi thị trường và đặc biệt thị trường quốc tế là hướng quan trọng để tổ chức sản xuất. Điều này có tác động tích cực đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển, thể hiện ở: + Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác phát triển thuận lợi, như: Sự phát triển của ngành công nghiệp chế biến thực phẩm xuất khẩu (gạo, dầu thực vật, chè, …) có thể sẽ kéo theo sự phát triển của ngành công nghiệp chế tạo thiết bị phục vụ cho nó. PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com 3 + Xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ, góp phần cho sản xuất phát triển ổn định. + Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nước. + Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế, kỹ thuật nhằm cải tạo và nâng cao năng lực sản xuất trong nước. Như vậy, xuất khẩu là phương tiện quan trọng tạo ra vốn và kỹ thuật, công nghệ từ trên thế giới bên ngoài vào Việt Nam nhằm hiện đại hoá nền kinh tế của đất nước, tạo ra một năng lực sản xuất mới. + Xuất khẩu đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn luôn đổi mới và hoàn thiện công việc quản trị sản xuất – kinh doanh, thúc đẩy sản xuất, mở rộng thị trường. v Xuất khẩu có tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống của nhân dân. Sản xuất hàng xuất khẩu là nơi thu hút hàng triệu lao động vào làm việc và có thu nhập không thấp. Đồng thời, xuất khẩu còn tạo ra nguồn vốn để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng thiết yếu phục vụ đời sống và đáp ứng ngày một phong phú thêm nhu cầu tiêu dùng của nhân dân. v Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại của nước ta. Xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại có tác động qua lại phụ thuộc lẫn nhau. Có thể hoạt động xuất khẩu có sớm hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại khác và tạo điều kiện thúc đẩy các quan hệ này phát triển. Chẳng hạn, xuất khẩu và công nghệ sản xuất hàng xuất khẩu thúc đẩy quan hệ tín dụng, đầu tư, mở rộng vận tải quốc tế, … Đồng thời, chính quan hệ kinh tế đối ngoại trên lại tạo tiền đề cho mở rộng xuất khẩu. 2.2. Vai trò của xuất khẩu đối với các doanh nghiệp: § Xuất khẩu giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm: Khi doanh nghiệp tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu, thị trường tiêu thụ của doanh nghiệp có thể là cả thị trường trong nước và thị trường nước ngoài. Cũng chính vì thị trường tiêu thụ được đa dạng hoá mà rủi ro trong kinh doanh của doanh nghiệp được phân tán, doanh nghiệp không phải chịu áp lực rủi ro nhiều do chỉ phụ thuộc thị trường trong nước. Nói cách khác xuất khẩu giúp doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển. § Thông qua xuất khẩu doanh nghiệp tham gia vào cuộc cạnh tranh về giá và chất lượng. Chính vì vậy, doanh nghiệp phải tự hoàn thiện hơn về chất lượng sản phẩm để có thể cạnh tranh với các doanh nghiệp không chỉ trong nước mà cả các doanh nghiệp nước ngoài. Đồng thời, doanh nghiệp phải có các giải pháp để củng cố nâng cao hiệu quả trong sản xuất kinh doanh của mình. PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com 4 § Nhờ xuất khẩu mà doanh nghiệp có cơ hội mở rộng quan hệ buôn bán kinh doanh với nhiều đối tác bởi lúc này doanh nghiệp không chỉ quan hệ với các đối tác trong nước mà với cả các đối tác nước ngoài. § Khi tham gia hoạt động xuất khẩu doanh nghiệp thu hút một số lượng lớn lao động để sản xuất sản phẩm xuất khẩu. Điều này vừa có thể tăng được doanh thu, vừa có thể tăng được lợi nhuận cho doanh nghiệp đồng thời còn tạo ra thu nhập cho rất nhiều lao động làm tăng hiệu quả kinh tế, xã hội. § Xuất khẩu giúp doanh nghiệp nâng cao được vị thế và uy tín của doanh nghiệp mình. Sản phẩm của doanh nghiệp xuất khẩu được nghĩa là doanh nghiệp đã đáp ứng được các yêu cầu của khách hàng và thị trường nước ngoài đó. Vì vậy, uy tín của doanh nghiệp cũng nâng một mức cao hơn không chỉ ở thị trường trong nước mà còn ở thị trường nước ngoài. 3. Các hình thức xuất khẩu: 3.1. Xuất khẩu trực tiếp: (Xuất khẩu tự doanh) Là hình thức xuất khẩu trong đó bên bán và bên mua quan hệ mua bán trực tiếp với nhau để bàn bạc, thoả thuận về hàng hoá, giá cả và các điều kiện giao dịch khác nhằm đi đến ký kết hợp đồng ngoại thương. Mọi công việc liên quan đến việc thực hiện hợp đồng ngoại thương đều do bên nhập khẩu và bên xuất khẩu trực tiếp tiến hành. § Ưu điểm: - Xuất khẩu trực tiếp giúp doanh nghiệp tận dụng hết tiềm năng và lợi thế để sản xuất và xuất khẩu. - Giúp doanh nghiệp có thể chủ động trong sản xuất, kinh doanh: mọi thoả thuận giá cả, phương tiện, thời gian giao hàng, thanh toán,… do hai bên trực tiếp thoả thuận. - Nắm bắt được nhu cầu thị trường thế giới. - Xây dựng được chiến lược tiếp thị quốc tế phù hợp. - Lợi nhuận không bị chia sẻ. § Nhược điểm: - Chi phí tiếp thị thị trường nước ngoài cao. - Đòi hỏi nhà kinh doanh có nghiệp vụ xuất nhập khẩu giỏi, nhiều kinh nghiệm. - Đối với thị trường mới doanh nghiệp chưa từng giao dịch thì thường có nhiều bỡ ngỡ chính vì vậy doanh nghiệp dễ gặp sai lầm hay bị ép giá trong mua bán. Xuất khẩu trực tiếp thường áp dụng trong trường hợp khối lượng giao dịch lớn thì doanh nghiệp mới có thể bù đắp được các chi phí giao dịch như: chi phí đi lại, chi phí điều tra tìm hiểu thị trường. PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com 5 3.2. Xuất khẩu uỷ thác: Bên bán Bên mua Trung gian Sơ đồ 1: Mô hình xuất khẩu uỷ thác Xuất khẩu uỷ thác là hình thức xuất khẩu trong đó bên bán và bên mua không trực tiếp giao dịch với nhau mà thông qua trung gian. Trong xuất khẩu uỷ thác có hai quan hệ: Ø Quan hệ giữa bên bán và trung gian: bên bán sẽ uỷ thác cho bên trung gian thực hiện toàn bộ công việc của quá trình xuất khẩu: từ việc giao dịch, đàm phán cho đến khâu giao hàng theo đúng yêu cầu của bên bán thông qua hợp đồng uỷ thác xuất khẩu. Trong giao dịch này, trung gian sẽ nhận được khoản tiền thù lao gọi là phí uỷ thác xuất khẩu. Ø Quan hệ giữa trung gian và bên mua: trực tiếp giao dịch với nhau để ký kết hợp đồng ngoại thương theo đúng những điều kiện bên bán đã uỷ thác cho trung gian. § Ưu điểm: - Trung gian có hệ thống cửa hàng, kho tàng, trạm, bến bãi, … - Trung gian thực hiện các dịch vụ như: đóng gói, phân loại, chọn lọc theo đúng yêu cầu của thị trường. - Trung gian am hiểu thị trường, tập quán mua bán, luật pháp nước sở tại giúp việc tiêu thụ hàng hoá nhanh chóng và giảm được rất nhiều chi phí cho doanh nghiệp. - Thông qua trung gian hình thành mạng lưới tiêu thụ rộng khắp các sản phẩm của doanh nghiệp. § Nhược điểm: - Doanh nghiệp sẽ mất dần liên hệ trực tiếp với thị trường. - Ứ đọng vốn do bị đại lý chiếm dụng. - Bị khống chế, ràng buộc bởi đại lý. - Lợi nhuận bị chia sẻ. PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com 6 - Trong xuất khẩu uỷ thác, việc kinh doanh phụ thuộc nhiều vào năng lực của trung gian. Nếu trung gian có năng lực tốt và các điều kiện thuận lợi thì việc kinh doanh sẽ đem lại hiệu quả cao, ngược lại thì kết quả kinh doanh của doanh nghiệp có thể sẽ là không đáng kể và không đem lại hiệu quả cho doanh nghiệp. Xuất khẩu uỷ thác thường áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp có hàng hoá mới xuất khẩu mà doanh nghiệp không có điều kiện xuất khẩu trực tiếp hay khi doanh nghiệp xuất khẩu hàng hoá sang thị trường mới mà doanh nghiệp chưa có kinh nghiệm. 3.3. Tái xuất khẩu: Tái xuất là phương thức trong đó hàng hoá mua về (nhập khẩu) với mục đích để tái xuất chứ không phải với mục đích để tiêu dùng trong nước. Giao dịch tái xuất bao gồm nhập khẩu và xuất khẩu với mục đích thu về một số ngoại tệ lớn hơn số vốn bỏ ra ban đầu. Giao dịch này luôn luôn thu hút ba nước: nước xuất khẩu, nước tái xuất và nước nhập khẩu. Chính vì vậy mà người ta gọi giao dịch tái xuất là giao dịch ba bên hay giao dịch tam giác hàng tạm nhập tái xuất như hàng hoá đưa vào triển lãm, hội chợ quảng cáo sau đó đưa về. Tái xuất có thể được thực hiện bằng một trong hai hình thức sau: Ø Tạm nhập tái xuất: là việc mua hàng của một nước để bán lại cho một nước khác trên cơ sở hợp đồng xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá. Hàng có làm thủ tục nhập vào nước tái xuất rồi sau đó làm thủ tục sang nước thứ ba. Hàng hoá này không tính thuế xuất khẩu, nhập khẩu. Ø Chuyển khẩu: là mua hàng của một nước để bán lại cho một nước khác nhưng không làm thủ tục nhập vào nước tái xuất và xuất khỏi nước tái xuất. + Hàng hoá được vận chuyển thẳng từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu không qua nước tái xuất. + Hàng hoá được vận chuyển đến nước tái xuất nhưng không làm thủ tục nhập khẩu vào nước tái xuất mà đi luôn tới nước nhập khẩu. + Hàng hoá được vận chuyển đến nước tái xuất và tạm thời đưa vào kho ngoại quan rồi vận chuyển đến nước nhập khẩu, không làm thủ tục nhập vào nước tái xuất. § Ưu điểm: - Giải quyết được tình trạng cấm vận hàng hoá. - Giải quyết được việc mua bán những mặt hàng không được kinh doanh tại nước tái xuất. - Rút ngắn được khoảng cách vận chuyển và giảm thiểu được rủi ro. PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com 7 § Nhược điểm: - Phải nắm rõ luật pháp quy định, các chính sách đối với hàng tái xuất khẩu ở cả ba nước: nước tái xuất, nước tạm nhập, nước nhập khẩu. - Đòi hỏi người kinh doanh phải biết được đầu vào và đầu ra của hàng hoá và phải làm sao lưu lại ở nước tạm nhập càng ít càng tốt nếu không sẽ mất các cơ hội bán hàng hoá khi hàng không đến nước nhập khẩu sớm. 3.4. Gia công xuất khẩu: Hoạt động mà một bên - gọi là bên đặt hàng – giao nguyên vật liệu, có khi cả máy móc, thiết bị và chuyên gia cho bên kia gọi là bên nhận gia công - để sản xuất ra một mặt hàng mới theo yêu cầu của bên đặt hàng; sau khi sản xuất xong, bên đặt hàng nhận hàng hoá đó từ bên nhận gia công và trả tiền công cho bên làm hàng; đó gọi là hoạt động gia công. Khi hoạt động gia công vượt ra khỏi phạm vi biên giới quốc gia thì gọi là gia công xuất khẩu. Có hai loại quan hệ gia công quốc tế, đó là: Ø Một là, bên đặt gia công cung cấp nguyên liệu hoặc bán thành phẩm (không chịu thuế quan) cho người nhận gia công để chế biến sản phẩm và giao trở lại cho bên gia công. Ở đây chưa có sự chuyển giao quyền sở hữu đối với nguyên liệu và thực chất đây chỉ là hình thức “làm thuê” cho bên đặt gia công, còn bên nhận gia công không có quyền chi phối sản phẩm làm ra. Ø Hai là, nguyên liệu hoặc bán thành phẩm được xuất đi nhằm gia công chế biến và sau đó nhập thành phẩm trở lại. Ở đây, quyền sở hữu đối với nguyên liệu đã được chuyển giao. Vì vậy, khi nhập trở lại các bộ phận giá trị thực tế tăng thêm đều phải chịu thuế quan. Thực chất, đây là hình thức bên đặt gia công giao nguyên vật liệu, giúp đỡ kỹ thuật cho bên nhận gia công và bao tiêu sản phẩm. § Ưu điểm: - Bên đặt gia công không tốn lao động, không phải quản lý nhiều, có thể lựa chọn được nhiều đối tác để đặt gia công hàng hoá. - Bên nhận gia công tận dụng được các lợi thế của mình về: nhân công, cơ sở hạ tầng,… Việc nhận gia công không những giải quyết được công ăn việc làm cho nhiều lao động mà còn góp phần tăng thu nhập quốc dân và đặc biệt tăng nguồn thu ngoại tệ. - Bên nhận gia công có thể khắc phục những khó khăn do thiếu nguyên liệu để sản xuất các mặt hàng xuất khẩu, đặc biệt là trong ngành công nghiệp nhẹ, tranh thủ vốn và kỹ thuật nước ngoài. § Nhược điểm: - Khó tìm được những khách hàng có nhu cầu lớn, ổn định và lâu dài nên có thời gian lao động có việc, có thời gian không nên lao động dễ bỏ đi nơi khác. PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com 8 3.5. Mua bán đối lưu: Là hình thức mua bán trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, lượng hàng hoá trao đổi có giá trị tương đương. Có hai hình thức đối lưu: Ø Hàng đổi hàng: hai bên trao đổi với nhau những hàng hoá có giá trị tương đương, việc giao hàng diễn ra đồng thời. Ø Trao đổi bù trừ: hai bên trao đổi hàng hoá với nhau trên cơ sở ghi nhận giá trị hàng giao và đến cuối kỳ hạn hai bên mới so sánh, đối chiếu giữa giá trị hàng giao với giá trị hàng nhận. Số dư sẽ được chi trả theo yêu cầu của bên chủ nợ tại nước bị nợ. § Ưu điểm: - Cho phép những nước khó khăn về ngoại tệ hoặc đang mắc nợ có cơ hội thanh toán khi nhập khẩu. - Cho phép những mặt hàng xuất khẩu không phải là truyền thống vẫn có thể thâm nhập vào các thị trường mới. - Cung cấp công nghệ cho các nước đang phát triển. § Nhược điểm: - Hai bên đối tác phải thật sự tin tưởng nhau. - Khó tìm kiếm được những đối tác có những hàng hoá tương đương. 4. Mục tiêu và nhiệm vụ của xuất khẩu: v Mục tiêu: Mục tiêu của hoạt động xuất khẩu hiện nay là: tiếp tục đầu tư, nâng cao chất lượng để tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng chủ lực như: dầu thô, gạo, cà fê, cao su, hàng thuỷ sản, dệt may, da giày, hàng thủ công mỹ nghệ, điện tử và linh kiện điện tử, phần mềm máy tính, ... Đẩy mạnh xuất khẩu lao động. Trên thực tế, ở những thời điểm nhất định, mục tiêu xuất khẩu có khác nhau, nhưng mục tiêu chính của xuất khẩu là đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế quốc dân. Nhu cầu của nền kinh tế rất đa dạng, đó là: phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá, cho tiêu dùng, cho xuất khẩu và tạo công ăn việc làm. v Nhiệm vụ: Để thực hiện tốt mục tiêu trên, hoạt động xuất khẩu hướng vào các nhiệm vụ: Ra sức khai thác có hiệu quả mọi nguồn lực của đất nước, bao gồm: đất đai, nhân lực, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất,… Nâng cao năng lực sản xuất hàng xuất khẩu để tăng nhanh khối lượng và kim ngạch xuất khẩu. PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com 9 Tạo ra những mặt hàng, nhóm hàng xuất khẩu có khối lượng và giá trị lớn đáp ứng những đòi hỏi của thị trường thế giới và của khách hàng về chất lượng và số lượng, có sức hấp dẫn và có khả năng cạnh tranh cao. II. QUY TRÌNH THỰC HIỆN XUẤT KHẨU: 1. Điều tra nghiên cứu thị trường: Đây là công việc đầu tiên khi doanh nghiệp tiếp cận bất cứ một thị trường nào. Mục đích của việc nghiên cứu thị trường là khả năng tiêu thụ hay bán một sản phẩm, một nhóm sản phẩm nào đó của doanh nghiệp. Do vậy, doanh nghiệp cần phải làm các công việc sau: § Nhận biết sản phẩm xuất khẩu: Khi doanh nghiệp muốn xuất khẩu sản phẩm sang một thị trường nào đó thì doanh nghiệp cần biết nhu cầu chung hiện tại của thị trường này như thế nào? Dựa vào nhu cầu nắm bắt và hiểu rõ về công dụng, giá trị, đặc tính, quy cách, mẫu mã sản phẩm. § Nắm rõ thị trường nước ngoài: Doanh nghiệp cần tìm hiểu thị trường nước ngoài trên các phương diện: văn hoá, chính trị, kinh tế, chính trị, luật pháp,… Từ đó, doanh nghiệp cần ước lượng xem dung lượng của thị trường đó như thế nào? Và nếu có thể thâm nhập được thì doanh nghiệp phải qua các kênh tiêu thụ như thế nào? Doanh nghiệp có thể xuất khẩu được cho các đối tượng khách hàng nào? § Lựa chọn mặt hàng và khách hàng để xuất khẩu: Đây là bước khá quan trọng vì dựa trên dung lượng thị trường và những ước lượng đó, doanh nghiệp phải xem xét khả năng cung cấp, công nghệ sản xuất, trình độ tay nghề công nhân, điều kiện của doanh nghiệp,… để từ đó quyết định doanh nghiệp mình nên xuất khẩu sản phẩm nào và cho đối tượng khách hàng nào? 2. Lập phương án kinh doanh: Trên cơ sở những gì thu được trong quá trình nghiên cứu, tiếp cận thị trường, nhân viên phòng xuất nhập khẩu sẽ lập phương án kinh doanh, bao gồm các bước sau: - Đánh giá khái quát tình hình thị trường và đối tác trên cơ sở đó phân tích những thuận lợi và khó khăn của doanh nghiệp khi thâm nhập trên thị trường và quan hệ với các đối tác đó. - Doanh nghiệp sẽ lựa chọn mặt hàng, tìm thời cơ, lựa chọn phương thức kinh doanh trên cơ sở phân tích tình hình thực tế của doanh nghiệp mình. PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com 10 - Từ đó đề ra những mục tiêu cụ thể từng mặt hàng của doanh nghiệp như: xuất khẩu mặt hàng đó với khối lượng bao nhiêu, với giá cả như thế nào và doanh nghiệp sẽ thâm nhập bằng cách nào? - Vời từng mặt hàng cụ thể, doanh nghiệp phải đề ra các biện pháp để thực hiện các mục tiêu như: doanh nghiệp sẽ sản xuất mặt hàng đó như thế nào, với năng lực sản xuất bao nhiêu trong ngày, trong tuần, trong tháng? Doanh nghiệp sẽ ký kết hợp đồng như thế nào với từng đối tác trên các thị trường khác nhau? Ngoài ra, doanh nghiệp cần đề ra các biện pháp để quảng cáo, giới thiệu sản phẩm của mình như thế nào trên các thị trường để có thể thu hút được nhiều đối tác, để các đối tác lớn có thể biết đến sản phẩm và uy tín của doanh nghiệp mình. Như thế doanh nghiệp có điều kiện chọn lựa các đối tác phù hợp với khả năng của mình đồng thời có thể quảng bá được doanh nghiệp và sản phẩm của doanh nghiệp. - Với các đối tác khác nhau và dự toán số lượng khác nhau, doanh nghiệp có thể sơ bộ đánh giá hiệu quả kinh doanh với từng đối tác và từng hợp đồng nếu xuất khẩu. 3. Giao dịch, đàm phán ký kết hợp đồng: 3.1. Giao dịch - đàm phán: v Giao dịch - đàm phán là khâu quan trọng mang tính chất quyết định đến việc ký kết hợp đồng nhất là các hợp đồng xuất khẩu của một doanh nghiệp. Chính vì vậy mà các doanh nghiệp ngày càng quan tâm hơn đến công tác đàm phán – giao dịch để đem lại hiệu quả cao trong việc ký kết hợp đồng cho doanh nghiệp đó. Trong buôn bán quốc tế, giao dịch – đàm phán thường có những bước chủ yếu: - Hỏi giá. - Phát giá (chào hàng). - Đặt hàng. - Hoàn giá. - Chấp nhận. -Xác nhận. Trong những bước giao dịch trên thì chào hàng và đặt hàng là hai khâu được quan tâm hơn cả vì đó là cơ sở để dẫn đến hợp đồng. Như vậy, đàm phán là một quá trình trong đó hai hay nhiều bên tiến hành thương lượng, thảo luận về các mối quan tâm chung và những điểm còn bất đồng để đi tới thoả thuận mà các bên cùng có lợi. Tiến trình của đàm phán phải được thực hiện qua các bước: + Chuẩn bị. + Tiếp xúc. + Giai đoạn đàm phán. + Ký kết hợp đồng . + Đúc rút kinh nghiệm. PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com 11 v Các hình thức đàm phán: § Đàm phán bằng cách gặp mặt trực tiếp: Là một cuộc đối thoại giữa hai hay nhiều bên nhằm bàn bạc thảo luận để đi đến thống nhất những vấn đề mua bán hàng hoá. Kiểu đàm phán này thường áp dụng khi hai bên chưa biết nhau, hợp đồng lớn có nhiều chi tiết, các cuộc đàm phán bằng thư từ, điện thoại kéo dài quá lâu mà chưa đi đến thành công. */ Ưu điểm: - Khi gặp mặt trực tiếp hai bên có thể trực tiếp bàn bạc chính vì vậy mà hai bên dẽ hiểu nhau hơn để sau này có thể duy trì mối quan hệ lâu dài. - Bên cạnh đó, gặp mặt trực tiếp sẽ giúp cho tốc độ giải quyết vấn đề nhanh gọn. - Hiệu quả đem lại của hình thức này là cao nhất. */ Nhược điểm: -Chi phí đi lại rất tốn kém. - Dễ bị lộ bí mật nếu trong đàm phán không tự chủ được bản thân. § Đàm phán bằng điện thoại: Ở hình thức này hai bên sẽ tiến hành thoả thuận những điều khoản, những điều kiện của hợp đồng thông qua điện thoại. Chỉ sử dụng đàm phán qua điện thoại trong trường hợp cần thiết, khẩn trương, sợ lỡ thời cơ hay khi mọi điều kiện khác đã thông qua và chỉ còn chờ xác định một vài chi tiết hoặc sửa đổi một số chi tiết trong hợp đồng. Khi phải sử dụng điện thoại cần chuẩn bị thật chu đáo để có thể trả lời ngay mọi vấn đề được nêu lên một cách chính xác. Sau khi trao đổi bằng điện thoại cần có thư xác nhận nội dung đã đàm phán, thoả thuận. */ Ưu điểm: - Đàm phán bằng điện thoại rất nhanh gọn và đơn giản, giúp cho người giao dịch tiến hành đàm phán một cách khẩn trương đúng thời điểm cần thiết. */ Nhược điểm: - Do đàm phán qua điện thoại nên hai bên không diễn đạt được các ý của mình. - Phí tổn điện thoại cao, các cuộc điện thoại hạn chế về thời gian nên hai bên không thể trình bày chi tiết. - Bên cạnh đó hai bên không có gì làm bằng chứng cho những thoả thuận của mình trong trao đổi. § Đàm phán bằng thư tín thương mại: Đây là cách đàm phán đơn giản và đễ thực hiện nhất. Công việc được tiến hành thông qua các loại thư: Thư chào hàng, Thư hỏi hàng, Thư báo giá, Thư đặt hàng, Thư hoàn giá, Thư chấp nhận, … Hiện nay chủ yếu sử dụng loại thư điện tử để thoả thuận những điều khoản, điều kiện trong hợp đồng. PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com 12 */ Ưu điểm: - Đàm phán bằng thư là một hình thức tiết kiệm được nhiều chi phí, không tốn các chi phí như chi phí đi lai, chi phí gặp mặt, … - Bằng cách này cùng một lúc Công ty có thể giao dịch với nhiều khách hàng ở nhiều nơi với tốc độ giao dịch nhanh đồng thời có thể giữ bí mật kinh doanh rất tốt. Một nhà kinh doanh giỏi sẽ cố gắng mở rộng quan hệ với nhiều khách hàng. */ Nhược điểm: - Nếu sử dụng thư viết thông thường thì rất tốn thời gian chờ đợi và trong lúc đó có thể cơ hội mua bán trôi qua mất. Chính vì vậy ưu điểm của hình thức thư điện tử đang được phát huy. 3.2. Ký kết hợp đồng xuất khẩu: Sau khi các bên trải qua quá trình trao đổi, đàm phán, thoả thuận và đi đến thống nhất các điều khoản thì các bên sẽ ký vào hợp đồng để hợp thức hoá hợp đồng. Những nguyên tắc khi ký kết hợp đồng là: - Hợp đồng do một bên soạn thảo ra chính vì vậy bên còn lại phải đọc lại cẩn thận, xem xét kỹ lưỡng trước khi ký kết. - Tất cả những quy định, những điều khoản trong hợp đồng ngoại thương phải phù hợp với những điều đã thoả thuận trong đàm phán. - Người đứng ra ký kết hợp đồng phải là người đại diện hợp pháp của công ty, nếu người khác ký thì phải có giấy uỷ quyền của người đại diện đó. Nếu hai bên có ý định sửa đổi một số quy định trong hợp đồng đã được ký kết, cần phải liên lạc sớm với bên kia để thoả thuận lại. v Hợp đồng mua bán ngoại thương: 3.2.1. Khái niệm về hợp đồng mua bán ngoại thương: Hợp đồng mua bán ngoại thương hay còn gọi là hợp đồng mua bán quốc tế hoặc hơp đồng xuất nhập khẩu, là sự thoả thuận giữa các bên mua và bên bán ở các nước khác nhau; trong đó quy định bên bán phải cung cấp hàng hoá, chuyển giao các chứng từ có liên quan đến hàng hoá và quyền sở hữu hàng hoá, bên mua phải thanh toán tiền hàng và nhận hàng. Ø Theo Điều 1_ Công ước Lahaye 1964: “Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là hợp đồng mua bán hàng hoá trong đó các bên ký kết có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau và hàng hoá được chuyển từ nước này sang nước khác, hoặc là việc trao đổi ý chí ký kết hợp đồng giữa các bên ký kết được lập ở những nước khác nhau.” Ø Theo Điều 1_ Công ước Viên năm 1980 của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế chỉ đưa ra một tiêu chuẩn để khẳng định tính chất quốc tế của PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com 13 hợp đồng mua bán ngoại thương, đó là các bên ký kết hợp đồng có trụ sở thương mại đặt ở các nước khác nhau. Ø Điều 80_ Luật Thương mại Việt Nam: “Hợp đồng mua bán hàng hoá với thương nhân nước ngoài là hợp đồng mua bán hàng hoá được ký kết giữa một bên là thương nhân Việt Nam, một bên là thương nhân nước ngoài.” 3.2.2. Nội dung của hợp đồng mua bán ngoại thương: - Mở đầu: Tiêu đề của hợp đồng, số và ký hiệu hợp đồng, địa điểm và ngày tháng năm ký kết hợp đồng, cơ sở pháp lý để ký kết hợp đồng. - Thông tin về chủ thể hợp đồng: Ghi đầy đủ thông tin của mỗi bên: Tên, địa chỉ, số điện thoại, e_mail, fax, số tài khoản và tên ngân hàng mà đơn vị có tài khoản giao dịch thường xuyên; Người đại diện ký kết: tên, chức vụ, nếu là người uỷ quyền thì phải có giấy uỷ quyền hợp pháp. - Các nội dung liên quan đến giao dịch (nội dung hợp đồng). Đây chính là các điều khoản hai bên cam kết thực hiện. Một hợp đồng mua bán ngoại thương thông thường có những điều khoản cụ thể sau: Tên hàng; Số lượng; Quy cách, chất lượng; Giá cả; Điều kiện giao hàng; Thanh toán; Bao bì, ký mã hiệu hàng hoá; Bảo hành; bảo hiểm; Khiếu nại; Trọng tài; Bất khả kháng. Với những hợp đồng phức tạp, nhiều mặt hàng thì có thêm các phụ lục là các bộ phận gắn liền với hợp đồng. 3.2.3. Nội dung các điều khoản trong hợp đồng mua bán ngoại thương: <1> Điều khoản về tên hàng: (Commodity) Đây là điều khoản mô tả về đối tượng mua bán, phải diễn tả chính xác để bên bán giao đúng hàng hoá mà người mua cần và bên mua trả tiền đúng với hàng mà mình yêu cầu. Có nhiều cách ghi tên hàng: - Ghi tên hàng gồm tên thong thường, tên thương mại, tên khoa học; áp dụng cho các loại hoá chất, giống cây (vitamin C…), … - Ghi tên hàng kèm theo tên địa phương sản xuất ra nó, nếu nơi đó ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm (rượu vang Bordeaux…). - Ghi tên hàng kèm với tên nhà sản xuất ra nó; áp dụng cho những sản phẩm nổi tiếng của những hàng có uy tín (xe hơi Ford,…). - Ghi tên hàng kèm quy cách chính của hàng hoá đó (xe Toyota 12 chỗ ngồi, …). - Ghi tên hàng kèm công dụng, thường là công dụng chủ yếu của hàng hoá. PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com 14 <2> Điều khoản về phẩm chất (Quality): Điều khoản này mô tả chất lượng hàng hoá bao gồm tính năng, quy cách, kích thước, tác dụng, công suất, hiệu suất,… của hàng hoá. Đây cũng là điều khoản bổ sung và làm rõ điều khoản tên hàng, xác định rõ tên hàng và là cơ sở quan trọng để xác định đúng giá mua bán. Với điều khoản này, có nhiều phương pháp để mô tả tương ứng với đặc điểm, tính chất của mặt hàng mua bán. Xác định phẩm chất hàng hoá thường dựa vào: hàng mẫu; tiêu chuẩn hàng hoá có sẵn; nhãn hiệu hàng hoá; tài liệu kỹ thuật; cách mô tả hàm lượng các chất chủ yếu quyết định phẩm chất của hàng hoá; mô tả hàng hoá; hiện trạng hàng hoá, dung trọng của hàng hoá; chỉ tiêu đại khái quen dùng (FAQ: fair average quality _ phẩm chất trung bình khá và GMQ: good merchantable _ phẩm chất tiêu thụ tốt " là các chỉ tiêu thường được sử dụng trong tập quán mua bán). <3> Điều khoản về số lượng (Quantity): Điều khoản này quy định số lượng hoặc trọng lượng hàng hoá mua bán tuỳ theo đơn vị tính toán. § Đơn vị tính số lượng: Nên quy định thống nhất. § Phương pháp quy định số lượng: - Quy định dứt khoát: thường dùng trong mua bán hàng công nghiệp, hàng bách hoá. Ví dụ: 1.000 máy bơm, 2.000 xe máy, … - Quy định phỏng chừng: thường dùng khi mua bán hàng hoá có khối lượng lớn như: ngũ cốc, phân bón, quặng,… Các từ thường sử dụng như: khoảng (about), xấp xỉ (approximately), trên dưới (more or less), từ … đến (from…to), … § Phương pháp quy định trọng lượng: - Trọng lượng tịnh (Net weight): trọng lượng bản thân hàng hoá. - Trọng lượng cả bì (Gross weight): trọng lượng bản thân hàng hoá cộng trọng lượng mọi thứ bao bì. - Trọng lượng thương mại (Commercial weight): trọng lượng của hàng hoá có độ ẩm tiêu chuẩn. - Trọng lượng lý thuyết: xác định bằng cách tính toán theo công thức, dùng khi muốn tính thuế cho một mặt hàng mà không thể cân đo thực tế được (chỉ ước lượng dựa vào thể tích). <4> Điều khoản giá cả: ( Price): - Đồng tiền tính giá: Có thể là đồng tiền nước người bán hoặc nước người mua hoặc của nước thứ ba, thường là đồng ngoại tệ mạnh, ổn định, tự do chuyển đổi để đảm bảo quyền lợi cho cả hai bên. PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com 15 - Xác định mức giá: xuất khẩu, nhập khẩu đều phải dựa trên giá cả quốc tế. - Phương pháp quy định giá: thường dùng các phương pháp: giá cố định, giá quy định sau, giá có thể xét lại, giá di động và giảm giá. - Điều kiện cơ sở giao hàng : Trong việc xác định giá cả, người ta luôn định rõ điều kiện cơ sở giao hàng có liên quan đến giá đó. Vì vậy trong các hợp đồng mua bán ngoại thương, mức giá bao giờ cũng được ghi bên cạnh một điều kiện cơ sở giao hàng nhất định (ghi rõ được giải thích theo Incoterms năm nào). Vd : hợp đồng mua bán gạo cần ghi giá: Unitprice: USD 200/ MT FOB Saigon port Hochiminh city (Incoterm 2000) Total amount: 2.000 USD. <5> Điều khoản giao hàng (Delivery): - Thời hạn giao hàng: là thời hạn mà người bán buộc phải hoàn thành nghĩa vụ giao hàng. - Địa điểm giao hàng: Địa điểm giao hàng đi và địa điểm giao hàng đến phụ thuộc vào điều kiện cơ sở giao hàng do hai bên mua và bán lựa chọn. - Phương thức giao hàng: giao nhận sơ bộ, giao nhận cuối cùng. - Thông báo giao hàng : Các điều kiện cơ sở giao hàng có quy định về nghĩa vụ thông báo giao hàng. Bên cạnh đó, các bên mua và bán vẫn cần phải thoả thuận thêm về nghĩa vụ thông báo giao hàng bằng cách quy định rõ số lần thông báo giao hàng, nội dung cần được thông báo trước khi giao hàng và sau khi giao hàng. - Các quy định khác về giao hàng: Với hàng hoá có khối lượng, quy định giao hàng một lần hay cho phép từng đợt (giao hàng làm bao nhiêu đợt, mỗi đợt có khối lượng bao nhiêu? Mỗi đợt cách nhau bao nhiêu ngày ?). Quy định về vấn đề chuyển tải: có thể là cho phép chuyển tải, không cho phép chuyển tải hay cho phép chuyển tải nhưng bị hạn chế. Nếu hàng hoá đến trước giấy tờ thì quy định “vận đơn đến chậm được chấp nhận” <6> Thanh toán: (Setlement / Payment) § Đồng tiền thanh toán: Người xuất khẩu thường chọn đồng tiền thanh toán là đồng tiền có giá hoặc đồng tiền đang lên giá để dễ dàng chuyển đổi ra các đồng tiền khác. Đồng tiền thanh toán có thể là tiền của nước xuất khẩu, nước nhập khẩu hoặc nước thứ ba. § Thời hạn thanh toán: có thể là: trả ngay, trả trước, trả sau hay trả kết hợp. PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com 16 § Phương thức thanh toán: Trong ngoại thương, những phương thức thanh toán phổ biến thường dùng là: - Phương thức chuyển tiền:T/T; M/T. - Phương thức nhờ thu: D/P; D/A. - Phương thức đổi chứng từ trả tiền: CAD; COD. - Phương thức tín dụng chứng từ: L/C. § Bộ chứng từ thanh toán: bao gồm: 1. Hoá đơn thương mại(Commer cial Invoice). 2. Vận đơn đường biển (Bill of lading _B/L). 3. Phiếu đóng gói hàng hoá (Packing List). 4. Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá (Certificate of Orgin- C/O). 5. Giấy chứng nhận chất lượng, số lượng hàng hoá (Certificate of Quality/ .Quantity). 6. Giấy chứng nhận bảo hiểm (Certificate of Insurance Policy). 7. Các loại chứng từ khác như: Hối phiếu (Bill of Exchange- B/E)… <7> Điều khoản về bao bì & ký mã hiệu: (Packing & Marking) § Bao bì: Trong buôn bán quốc tế, đại bộ phận hàng hoá đòi hỏi phải được đóng gói vào bao bì trong quá trình vận chuyển. Khi quy định về bao bì cần làm rõ: Loại bao bì gì? chất lượng của bao bì, giá cả bao bì, phương thức cung cấp bao bì, trách nhiệm cung cấp bao bì thuộc về ai?,… § Ký mã hiệu: là những ký hiệu bằng chữ, số, hình vẽ được ghi trên các bao bì hàng hoá nhằm thông báo các chi tiết cần thiết cho việc giao nhận, bốc dỡ, bảo quản hàng hoá. <8> Điều khoản về bảo hành (Warranty): Bảo hành là sự bảo đảm cho người mua về chất lượng của hàng hoá trong một thời gian nhất định. Thời hạn này được gọi là thời hạn bảo hành. Khi đưa điều khoản này vào hợp đồng mua bán ngoại thương cần đề cập đến những vấn đề: - Trường hợp nào thì được bảo hành. - Thời hạn hoặc công suất máy móc được bảo hành. - Trách nhiệm của người bán trong thời hạn bảo hành. - Cách thức và địa điểm bảo hành. <9> Điều khoản về bảo hiểm: (Insurance) Trong điều khoản này cần thoả thuận ai là người mua bảo hiểm? Mua của công ty nào và mua ở mức nào? PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com 17 <10> Điều khoản về bất khả kháng: (Force Majeure) Bất khả kháng là sự kiện khi xảy ra làm cho hợp đồng trở thành không thể thực hiện được mà không ai bị coi là chịu trách nhiệm. Đó là các sự kiện như: không thể lường trước được, không thể vượt qua hoặc xảy ra từ bên ngoài…Hai bên có thể quy định các trường hợp có thể xem như là bất khả kháng và cách xử lý. <11> Điều khoản về phạt và bồi thường thiệt hại:(Penalty): Điều khoản này quy định những biện pháp khi hợp đồng không được thực hiện (toàn bộ hay 1 phần), nhằm hai mục tiêu: Làm cho đối tác nhụt ý định không thực hiện hay thực hiện không tốt hợp đồng. Đồng thời xác định số tiền phải trả nhằm bồi thường thiệt hại gây ra mà không phải yêu cầu toà xét xử. Như vậy, hai bên cần quy định rõ về trường hợp nào thì bị phạt? Mức phạt như thế nào? Trong trường hợp bên vi phạm phải bồi thường thiệt hại thì bên bị vi phạm phải chứng minh thiệt hại như thế nào ? <12> Điều khoản về khiếu nại: (Claim). Khiếu nại là các đề nghị do một bên đưa ra đối với bên kia do số lượng, chất lượng giao hàng hoặc một số vấn đề khác không phù hợp với các điều khoản đã được quy định trong hợp đồng. Hai bên cần quy định rõ về: trường hợp kiếu nại? Khiếu nại ai? Hồ sơ khiếu nại gồm những gì? Thời hạn khiếu nại? <13> Điều khoản về trọng tài:(Arbitration). Cần quy định các nội dung sau: ai là trọng tài? Luật áp dụng khi xét xử? Địa điểm trọng tài tiến hành phân xử? Cam kết chấp hành tài quyết? Phân định chi phí trọng tài? <14> Điều khoản khác: (Other terms): Các điều khoản khác hoặc điều kiện không có trong hợp đồng thì phải có văn bản đính kèm theo. 4. Tổ chức thực hiện hợp đồng: Sau khi hợp đồng ngoại thương được ký kết, các bên có tên trong hợp đồng tiến hành thực hiện nghĩa vụ của mình theo những thoả thuận trong hợp đồng đã ký. Tuỳ điều kiện đã ký kết trong hợp đồng, nhà xuất khẩu có thể phải thực hiện các công việc: PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com 18 Sơ đồ 2 : Quy trình thực hiện hợp đồng xuất khẩu Error! 1. Xin giấy phép xuất khẩu (nếu có) 2. Chuẩn bị đầu khâu thanh toán 3. Chuẩn bị hàng hoá 4. Kiểm tra, kiểm dịch 5. Làm thủ tục hải quan 6. Thuê tàu 7. Mua bảo hiểm cho hàng hoá 8. Giao hàng 9. Lập bộ chứng từ thanh toán 10. Thực hiện công việc thanh toán 11. Giải quyết khiếu nại (nếu có) 12. Thanh lý hợp đồng Bước 1: Xin giấy phép xuất khẩu: Nước nào cũng coi trọng việc xuất khẩu song không phải lúc nào nhà nước cũng khuyến khích xuất khẩu mà đôi khi vì quyền lợi quốc gia mà nhà nước phải kiểm soát một vài dạng xuất khẩu như: sản phẩm đặc biệt, nguyên liệu do nhu cầu trong nước còn thiếu, hoặc có ý nghĩa chiến lược đối với đất nước,… Vì vậy mà người xuất PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
- Xem thêm -