Biện pháp tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong môn lịch sử ở trường trung học cơ sở bàu năng

  • Số trang: 34 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 20 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 24000 tài liệu

Mô tả:

BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI TÊN ĐỀ TÀI : “Biện pháp tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong môn Lịch sử ở Trường Trung học cơ sở Bàu Năng”. Giáo viên: Trần Thị Thanh Bình Trường: Trung học cơ sở Bàu Năng I. Lý do chọn đề tài: - Vai trò của môi trường đối với đời sống của con người hiện nay. - Hưởng ứng phong trào thi đua của Sở Giáo dục và Đào tạo về việc “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. - Trang bị cho học sinh một số kiến thức cơ bản về môi trường. II. Đối tượng -Phương pháp nghiên cứu: * Đối tượng : Nghiên cứu về tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong tiết dạy Lịch sử cho học sinh lớp 9 Trường Trung học cơ sở Bàu Năng. * Phương pháp : - Tham khảo tài liệu. - Dự giờ, trao đổi kinh nghiệm với giáo viên và học sinh. - Kiểm tra quá trình thực hiện: đối chiếu kết quả, so sánh. III. Đề tài đưa ra giải pháp mới : Vận dụng các phương pháp dạy học linh hoạt sáng tạo trong tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong môn Lịch sử thông qua một số bài dạy trên lớp. IV. Hiệu quả áp dụng : * Giáo viên : - Có phương pháp dạy học một cách linh động sáng tạo trong việc lồng ghép giáo dục bảo vệ môi trường gây hứng thú, hấp dẫn đối với học sinh. 0 - Biện pháp làm cho học sinh tích cực hơn trong giờ học, và biết vận dụng vào thực tế bảo vệ môi trường sống xung quanh. * Học sinh : - Hiểu biết và quan tâm hơn những vấn đề về môi trường hiện nay. - Tích cực trong giờ học và có ý thức hơn trong bảo vệ môi trường. V. Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ giới hạn theo chương trình sách giáo khoa bậc trung học cơ sở. Bàu Năng, ngày 15 tháng 3 năm 2011 Người thực hiện Trần Thị Thanh Bình 1 I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lý do chọn đề tài: - Môi trường là không gian sinh sống của con người và sinh vật, là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống và sản xuất, là nơi chứa đựng và phân hủy các chất thải do con người tạo ra trong cuốc sống và hoạt động sản xuất;...Môi trường có vai trò cực kì quan trọng đối với cuộc sống con người. Đó không chỉ là nơi tồn tại, sinh trưởng và phát triển mà còn là nơi lao động và nghỉ ngơi, hưởng thụ và trau dồi những nét đẹp văn hóa, thẩm mĩ,..... - Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật. Môi trường nhà trường bao gồm không gian trường, cơ sở vật chất trong trường như: lớp học, phòng thí nghiệm, sân chơi, vườn trường... môi trường có 4 chức năng cơ bản: môi trường là không gian sinh sống cho con người và thế giới sinh vật, môi trường là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống và sản xuất của con người, môi trường là nơi chứa đựng các chất thải của đời sống và sản xuất, môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người. Do sự phát triển nhanh chóng về kinh tế - xã hội, môi trường trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đã xuống cấp, nhiều nơi môi trường bị ô nhiễm trầm trọng. Vì vậy bảo vệ môi trường hiện là một trong nhiều mối quan tâm mang tính toàn cầu. 2. Mục đích nghiên cứu : - Hưởng ứng phong trào thi đua của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Tây Ninh về việc “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, trong đó có nội dung “Xây dựng trường, lớp xanh - sạch - đẹp” nhằm đảm bảo các yêu cầu: Trường sạch sẽ, có cây xanh thoáng mát và ngày càng đẹp hơn. Tổ chức để học sinh THCS và học sinh THPT trồng cây vào dịp đầu xuân và chăm sóc cây thường xuyên. Học sinh tích cực tham gia giữ gìn vệ sinh sạch sẽ, không ảnh hưởng xấu đến lớp học và cảnh quan môi trường. 2 -Vì vậy "Biện pháp tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong môn Lịch sử ở Trường Trung học cơ sở Bàu Năng" nhằm trang bị cho học sinh kiến thức, kĩ năng về bảo vệ môi trường bằng hình thức phù hợp để xây dựng mô hình nhà trường “xanh – sạch – đẹp”. 3. Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường. Lớp nghiên cứu: 9A5. Lớp đối chứng: 9A4. 4. Phương pháp nghiên cứu : a. Tham khảo tài liệu : Đọc các tài liệu có liên quan, giúp tôi có cơ sở lý luận để phân tích các tài liệu, các dữ kiện có liên quan đến việc giúp học sinh tích hợp trong giáo dục bảo vệ môi trường. b. Điều tra : - Dự giờ: Cùng tổ bộ môn dự giờ, rút kinh nghiệm trong hướng dẫn học sinh bảo vệ môi trường một cách có ý thức và đạt hiệu quả cao. Để từ đó rút kinh nghiệm cho bản thân. - Thực nghiệm: Thông qua quá trình giảng dạy và kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh ở các thời điểm trong năm học, đã giúp cho tôi có nhận xét phù hợp khi thực hiện đề tài. - Kiểm tra đối chiếu so sánh: + Kiểm tra điều chỉnh, bổ sung. + Kiểm tra đánh giá việc thực hiện, so sánh kết quả khi chưa áp dụng giải pháp và khi áp dụng giải pháp. 5. Giả thiết khoa học : Có nhiều quan niệm cho rằng đối với việc dạy học lịch sử, học sinh chỉ cần nghe giáo viên truyền thụ kiến thức, sau đó về nhà học thuộc bài là đạt. Nhưng theo tôi nếu như thế thì chắc rằng học sinh có thể tiếp thu bài học 3 tốt không? Có khắc sâu được khái niệm lịch sử hay chưa? Học sinh có nắm vững kiến thức hay không? Học sinh nắm được kĩ năng sống hay chưa? Nếu như không tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong môn lịch sử thì theo tôi chắc chắn hiệu quả học tập của học sinh sẽ không cao. Trong các phương pháp giảng dạy tôi nhận thấy “phương pháp giáo dục bảo vệ môi trường” có nhiều thuận lợi và ưu thế bởi vì môn lịch sử trang bị cho học sinh những kiến thức về sự phát triển của xã hội loài người. Quá trình phát triển của xã hội loài người là quá trình con người đã tác động vào thế giới tự nhiên tạo nên những sự thay đổi từ thời nguyên thủy đến nay. Vì vậy, môn lịch sử có khả năng góp phần thực hiện việc giáo dục môi trường và tìm kiếm các giải pháp bảo vệ môi trường cho phù hợp với hôm nay và mai sau...... Chính vì vậy, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài khoa học “tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong môn Lịch sử ở trường Trung học cơ sở”. 4 5 II. NỘI DUNG 1. Cơ sở lý luận : 1.1 Các văn bản chỉ đạo của cấp trên : - Luật bảo vệ môi trường năm 2005 được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI kì họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005, được Chủ tịch nước kí Lệnh số 29/2005/LCTN và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2006 thay thế Luật Bảo vệ môi trường năm 1993. - Nghị quyết 41/NQ/TƯ ngày 15 tháng 11 năm 2004 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. - Ngày 17 tháng 10 năm 2001, Thủ tướng Chính phủ kí Quyết định 1363/QĐ-TTg về việc phê duyệt đề án “Đưa các nội dung bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân”. - Ngày 2 tháng 12 năm 2003, Thủ tướng chính phủ ra quyết định 256/2003/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược bảo vệ môi trường Quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, xác định BVMT là bộ phận cấu thành không thể tách rời của chiến lược kinh tế- xã hội, là cơ sở quan trọng đảm bảo phát triển bền vững đất nước. - Ngày 31 tháng 01 năm 2005, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra Chỉ thị về việc tăng cường công tác giáo dục bảo vệ môi trường. - Công văn số 889/KH-PGD&ĐT-THCS, ngày 22 tháng 9 năm 2009 về kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm học 2009-2010 bậc trung học cơ sở, mục 1.8 chỉ đạo về việc tích hợp bảo vệ môi trường và giáo dục tiết kiệm năng lượng điện. 1.2. Các quan niệm khác về giáo dục: a. Đặc trưng của môn Lịch sử : - Nội dung học tập môn Lịch sử chứa đựng cả một kho tàng kiến thức đời sống, môi trường, quan hệ giữa người với người, giáo dục đạo đức học 6 sinh,... dễ dàng kích thích tính tò mò, ham hiểu biết của học sinh. Qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành động cơ, nhu cầu nhận thức, ý thức bảo vệ môi trường sống, bảo vệ động vật quí hiếm,… b. Mục tiêu của dạy học môn Lịch sử : - Mục tiêu của dạy học môn Lịch sử giúp học sinh có “Những kiến thức cơ bản, cần thiết về lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới, góp phần hình thành ở học sinh thế giới quan khoa học, giáo dục lòng yêu nước, yêu quê hương, đất nước, truyền thống dân tộc, cách mạng, bồi dưỡng các năng lực tư duy, hành động, thái độ ứng xử đúng đắn trong đời sống xã hội”. - Các thông tin trong nội dung sách giáo khoa môn Lịch sử các khối 6, 7, 8,9 được viết theo cách hướng dẫn học sinh hoạt động chiếm lĩnh kiến thức.Các câu hỏi trong sách giáo khoa ở mức độ nhận thức cao và thấp. Như vậy giáo viên sẽ xem xét cách đặt câu hỏi gợi mở nhằm tạo điều kiện cho học sinh động não, đưa tình huống gây tích cực tham gia vào quá trình học tập. Từ đó các em sẽ được tìm hiểu lĩnh vực mới về môi trường, về đời sống xã hội,… Như vậy, việc giáo dục môi trường trong môn lịch sử để nâng cao chất lượng giáo dục môn học, làm cho học sinh hiểu rõ hơn, sâu hơn quá trình phát triển của xã hội loài người, giáo dục ý thức về bảo vệ môi trường để phát triển bền vững, toàn diện. 2. Cơ sở thực tiễn: 2.1. Thực trạng của việc tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong môn Lịch sử: - Qua quá trình trực tiếp giảng dạy, hoạt động ngoài giờ lên lớp và dự giờ các đồng nghiệp, bản thân tôi nhận thấy những vấn đề sau: * Học sinh: + Tình trạng chung hiện nay là học sinh thụ động trong tìm hiểu vấn đề môi trường nên hiểu biết của các em còn rất hạn chế, do đó các em ý thức chưa cao về việc bảo vệ môi trường. 7 + Một số ít học sinh chưa mạnh dạn phát biểu xây dựng bạn trong bảo vệ môi trường. + Chưa biết cách khai thác và vận dụng các thông tin trong sách giáo khoa và các thông tin trong cuộc sống về bảo vệ môi trường xung quanh như thế nào cho hợp lý. + Lười nghiên cứu các thông tin trong các bài tập của bài học nên chưa thật sự mang lại hiệu quả cao trong việc bảo vệ môi trường sống thông qua các hoạt động ngoài giờ. * Giáo viên: + Lồng ghép chưa triệt để, nội dung lồng ghép chưa sâu, chưa gây hấp dẫn đối với học sinh. + Cách chọn nội dung bài để tích hợp và vận dụng phương pháp kích thích tư duy học sinh có ý thức bảo vệ môi trường chưa hiệu quả cao. 2.2. Sự cần thiết phải giáo dục bảo vệ môi trường trong trường học: - Sự phát triển nhanh chóng về kinh tế - xã hội trong những năm qua đã làm đổi mới xã hội Việt Nam. Chỉ số tăng trưởng kinh tế không ngừng nâng cao. Tuy nhiên, sự phát triển đó chưa cân bằng với việc bảo vệ môi trường. Vì vậy, môi trường Việt Nam đã xuống cấp, nhiều nơi môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng. Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương, biện pháp nhằm giải quyết các vấn đề về môi trường. Hoạt động bảo vệ môi trường được các cấp, các ngành và đông đảo các tầng lớp nhân dân quan tâm và bước đầu thu được một số kết quả khích lệ. Tuy vậy, việc bảo vệ môi trường ở nước ta vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới. Nhìn chung, môi trường nước ta vẫn tiếp tục bị xuống cấp nhanh, có lúc, có nơi đã đến mức báo động. Những hiểm họa suy thoái môi trường đang ngày càng đe doạ cuộc sống của con người. Chính vì vậy, bảo vệ môi trường là vấn đề sống còn của nhân loại và của mỗi quốc gia. - Các nhà khoa học và quản lý đã xác định một trong những nguyên nhân cơ bản gây suy thoái môi trường là do sự thiếu hiểu biết, thiếu ý thức của con người. 8 - Nước ta có khoảng 23 triệu học sinh, sinh viên các cấp và gần một triệu giáo viên, cán bộ quản lí và cán bộ giảng dạy. Đây là một lực lượng khá hùng hậu. Việc trang bị các kiến thức về môi trường, kĩ năng bảo vệ môi trường cho số đối tượng này là cách nhanh nhất làm cho gần một phần ba dân số hiểu biết về môi trường. Đây cũng chính là lực lượng xung kích, hùng hậu nhất trong công tác tuyên truyền bảo vệ môi trường cho gia đình và cộng đồng dân cư của khắp các địa phương cả nước. - Trong những năm học phổ thông, học sinh không những được tiếp xúc với thầy cô giáo, bạn bè mà còn được tiếp xúc với khung cảnh trường lớp, bãi cỏ, vườn cây,... Việc hình thành cho học sinh tình yêu thiên nhiên, sống hoà đồng với thiên nhiên, quan tâm đến thế giới xung quanh, có thói quen sống ngăn nắp, vệ sinh phụ thuộc rất nhiều vào nội dung và cách thức giáo dục của chúng ta. Giáo dục bảo vệ môi trường phải được đưa vào chương trình giáo dục phổ thông nhằm bồi dưỡng tình yêu thiên nhiên, bồi dưỡng những xúc cảm, xây dựng cái thiện trong mỗi con người, hình thành thói quen, kĩ năng bảo vệ môi trường. 3. Nội dung vấn đề: 3.1. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường môn Lịch sử ở trường Trung học cơ sở: Qua các buổi dự giờ, các lần tổng kết rút kinh nghiệm ở tổ chuyên môn, ở các buổi hội thảo chung toàn trường, toàn huyện, việc giáo dục bảo vệ môi trường đối với học sinh vẫn chưa đạt hiệu quả cao như mong muốn. Do đó vấn đề đặt ra đối với giáo viên môn Lịch sử làm thế nào để việc tích hợp giáo dục và bảo vệ môi trường cho học sinh một cách có hiệu quả cao nhất. Để thành công hơn trong việc dạy học lồng ghép trong tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường môn lịch sử theo tinh thần hiện nay của ngành đặt ra, giáo viên cần thiết lựa chọn nội dung tích hợp theo từng khối lớp. Đặc biệt giáo viên hướng dẫn học sinh biết khai thác thông tin trong các tiết học như thế nào cho hiệu quả cao và các thông tin về môi trường được cập nhật thường niên trong môn lịch sử. Điều đó được cụ thể hoá như sau: 9 - Giáo viên vận dụng các bài theo chỉ đạo để tích hợp giáo dục và bảo vệ môi trường theo từng khối lớp, từng đối tượng học sinh một cách linh hoạt, sáng tạo. - Vận dụng hiệu quả, đa dạng phương pháp và hình thức dạy học tích hợp, phù hợp nội dung , tính chất bài học, trình độ nhận thức của học sinh, hoàn cảnh của lớp, của trường. 3.2. Giải quyết vấn đề đặt ra: a. Chương trình tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường qua môn Lịch sử cấp THCS : * Lớp 9, Tích hợp vào các bài: - Bài 1:Liên Xô và các nước Đông Âu từ 1945 đến giữa những năm 1970. - Bài 3: Quá trình phát triển của phong trào giải phóng dân tộc....... - Bài 5: Các nước Đông Nam Á. - Bài 6: Các nước châu Phi. - Bài 7: Các nước Mĩ la tinh. - Bài 8: Nước Mĩ. - Bài 9: Nhật Bản. - Bài 10: Các nước Tây Âu. - Bài 11: Trật tự thế giới mới sau chiến tranh. - Bài 12: Những thành tựu chủ yếu và ý nghĩa lịch sử của CMKH-KT. - Bài 14: Việt Nam sau chiến tranh thế giới thứ nhất. - Bài 16: Những hoạt động của Nguyễn Ái Quốc... (1919-1925). - Bài 17: Cách mạng Việt Nam trước khi Đảng Cộng sản ra đời. - Bài 19: Phong trào cách mạng trong những năm 1930-1935. - Bài 20: Cuộc vận động dân chủ 1936-1939. - Bài 21: Việt Nam trong những năm 1931-1945. - Bài 22: Cao trào cách mạng tiến tới Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945,... 10 b. Phương pháp tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong môn Lịch sử : Phương pháp và hình thức dạy học tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong môn lịch sử rất phong phú, đa dạng, mỗi phương pháp đều có mặt tích cực và hạn chế riêng. Vì vậy, giáo viên cần lựa chọn và sử dụng kết hợp các phương pháp cho phù hợp với nội dung, tính chất từng bài, trình độ nhận thức của học sinh, năng lực sở trường của giáo viên và điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của lớp, của trường. Trong khi tiến hành đồng bộ, kết hợp các phương pháp dạy học, có một phương pháp là chủ đạo, phù hợp với sự kiện, nhân vật, vấn đề lịch sử đang học: giáo viên hướng dẫn học sinh nắm vững kiến thức lịch sử đang học. Ở chỗ nào có liên quan đến môi trường sinh thái, đến tự nhiên thì giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu, liên hệ kiến thức lịch sử với các loại kiến thức khác có liên quan để giáo dục môi trường, chủ yếu là những kiến thức về địa lí, về khoa học – kĩ thuật. b.1. Phương pháp tìm tòi, nghiên cứu: * Khái niệm: Phương pháp tìm tòi nghiên cứu, học lịch sử không phải học thuộc lòng mà phải tìm hiểu, suy nghĩ. Vì vậy, ở những mức độ nhất định, phù hợp với yêu cầu, trình độ học sinh phải tiến hành việc tìm tòi, nghiên cứu vừa sức, thông qua các loại bài tập, quan sát, điều tra, tổng kết lí luận và thực tế. Điều này đòi hỏi học sinh khi học tập lịch sử phải chủ động, tích cực suy nghĩ chứ không phải bị động, chăm chú nghe giảng và ghi chép; cần phát huy tính tích cực của học sinh khi học tập. * Cách thực hiện: Phương pháp tìm tòi, nghiên cứu có thể tiến hành các biện pháp chủ yếu sau: 11 Tạo biểu tượng về điều kiện tự nhiên liên quan đến một sự kiện, nhân vật lịch sử như: hướng dẫn học sinh sưu tầm tài liệu, các đồ dùng trực quan rồi miêu tả điều kiện tự nhiên lúc bấy giờ. Phân tích tác động, ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đối với sự phát triển lịch sử: miêu tả, tạo biểu tượng cho học sinh Hướng dẫn học sinh suy nghĩ, đặt và giải quyết vấn đề một cách tích cực, sáng tạo. * Ví dụ minh họa: Bài 4: Các nước Đông Nam Á. III. Từ ASEAN 6 phát triển thành ASEAN 10: Giáo viên miêu tả, giới thiệu vị trí địa lí của khu vực Đông Nam Á trên lược đồ. Học sinh quan sát lược đồ. Nêu khái quát về vị trí địa lí của Đông Nam Á? Nêu những nét nổi bật của Đông Nam Á trước và sau chiến tranh thế giới thứ hai? Học sinh trình bày trên lược đồ. Giáo viên tạo biểu tượng về điều kiện tự nhiên Khu vực Đông Nam Á rộng 4,5 triệu km2 gồm 11 nước, dân số 536 triệu người (năm 2002). Trước chến tranh thế giới thứ hai, hầu hết các nước Đông Nam Á (trừ Thái Lan) là thuộc địa của các nước thực dân phương Tây. 12 Từ giữa những năm 50 của thế kỉ XX, các nước lần lượt giành được độc lập. Cũng từ giữa những năm 50 của thế kỉ XX, trong bối cảnh chiến tranh lạnh, Đông Nam Á có sự phân hóa trong đường lối đối ngoại... Trình bày hoàn cảnh ra đời, mục tiêu và nguyên tắc hoạt động của tổ chức ASEAN? Tại sao có thể nói: Từ đầu những năm 90 của thế kỉ XX “một chương mới đã mở ra trong lịch sử khu vực Đông Nam Á”? Học sinh suy nghĩ, giải quyết vấn đề một cách tích cực, sáng tạo. Giáo viên bổ sung, chốt ý. b.2 Phương pháp thảo luận nhóm: * Khái niệm: Phương pháp thảo luận nhóm được sử dụng nhằm giúp cho mọi học sinh tham gia một cách chủ động vào quá trình học tập, tạo cơ hội cho các em có thể chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm, ý kiến để giải quyết các vấn đề có liên quan đến bài học, tạo cơ hội cho các em được giao lưu, học hỏi lẫn nhau, cùng hợp tác giải quyết những nhiệm vụ chung. * Cách thực hiện: Phương pháp thảo luận nhóm có thể tiến hành theo các bước sau: - Giáo viên giới thiệu chủ đề thảo luận kèm theo một vài hình ảnh trực quan kích thích thị giác, tạo sự hấp dẫn trong tiết học. - Chia nhóm, giao nhiệm vụ hoạt động cho mỗi nhóm, quy định thời gian và phân công vị trí làm việc cho các nhóm. - Các nhóm thảo luận giải quyết nhiệm vụ được giao. - Đại diện từng nhóm trình bày kết quả thảo luận của nhóm. Các nhóm khác quan sát, lắng nghe, bình luận và bổ sung ý kiến. - Giáo viên tổng kết và nhận xét. * Ví dụ minh họa: Dạy bài 33: Việt Nam trên đường đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội (từ năm 1986 đến năm 2000) II. Việt Nam trong 15 năm thực hiện đường lối đổi mới (1986-2000) 13 Giáo viên chia lớp thành 3 nhóm thảo luận: Nhóm 1: Tìm hiểu những thành tựu của công cuộc đổi mới trong việc thực hiện kế hoạch 5 năm 1986 - 1990? Nhóm 2: Tìm hiểu những thành tựu của công cuộc đổi mới trong việc thực hiện kế hoạch 5 năm 1991 - 1995? Nhóm 3: Tìm hiểu những thành tựu của công cuộc đổi mới trong việc thực hiện kế hoạch 5 năm 1996 - 2000? Học sinh dựa vào sách giáo khoa thảo luận và cử đại diện nhóm trình bày kết quả của mình. Học sinh nhóm khác khác bổ sung. Giáo viên nhận xét, bổ sung và chốt ýĐồng thời giới thiệu một số hình ảnh về những thành tựu trong quá trình thực hiện đổi mới của nhân dân ta. Giáo viên nhấn mạnh: những thành tựu trong công cuộc đổi mới đã làm thay đổi bộ mặt của đất nước, làm cơ sở cho sự nghiệp công nghiệp hóa, 14 hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên, cần đảm bảo sự phát triển bền vững, đảm bảo sự cân đối, toàn diện, lợi ích lâu dài. Khắc phục việc ô nhiễm môi trường, phòng chống các thiên tai gây nhiều thiệt hại lớn cho nhân dân. Qua đó giáo dục các em ý thức bảo vệ môi trường sinh thái, tham gia tích cực vào những công việc làm sạch môi trường, trồng cây, gây rừng. b.3. Phương pháp sử dụng tranh ảnh lịch sử: * Khái niệm: Phương pháp sử dụng tranh ảnh lịch sử là tìm hiểu nội dung tranh ảnh dưới sự hướng dẫn, tổ chức của giáo viên, học sinh tìm hiểu, hoàn thiện nội dung khai thác tranh ảnh. * Cách thực hiện: Giáo viên nghiên cứu tranh, lựa chọn tranh cần phải có để phục vụ cho bài dạy đạt hiệu quả nhất. Khai thác triệt để các chi tiết trên tranh, ảnh để gợi ý cho học sinh nắm kiến thức mới và ôn kiến thức cũ. Cho học sinh quan sát tranh, ảnh để cac em xác định một cách khái quát nội dung cần khai thác. Giáo viên đưa ra câu hỏi nêu vấn đề và tổ chức hướng dẫn cho học sinh tìm hiểu nội dung tranh, ảnh. Học sinh trình bày kết quả và tìm hiểu nội dung bài học. Giáo viên nhận xét, bổ sung ý kiến trả lời của học sinh, hoàn thiện nội dung khai thác tranh, ảnh cho học sinh. * Ví dụ minh họa: Bài 12: Những thành tựu chủ yếu và ý nghĩa lịch sử của cách mạng khoa học- kĩ thuật sau chiến tranh thế giới thứ hai. I. Những thành tựu chủ yếu của cách mạng khoa học- kĩ thuật 15 Năng lượng xanh ở Nhật Bản Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát tranh. Bức tranh mô tả điều gì? Vì sao con ngưới đã tìm ra những nguồn năng lượng mới? Em hãy cho biết những nguồn năng lượng mới con người đã tạo ra trong cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật lần thứ hai? Học sinh quan sát tranh nêu nhận xét và suy nghĩ của mình, sau đó giáo viên chốt ý: Đây là nguồn năng lượng xanh (điện mặt trời) đang được sử dụng rất phổ biến ở Nhật Bản. Do nguồn năng lượng thiên nhiên ngày càng cạn kiệt, con người đã tìm ra những nguồn năng lượng mới rất phong phú: năng lượng mặt trời, năng lượng gió, năng lượng thủy triều, năng lượng nguyên tử. Qua đó giáo dục học sinh có ý thức bảo vệ môi trường, sử dụng điện tiết kiệm,... b.4. Phương pháp giải quyết vấn đề: * Khái niệm: Dạy học nêu vấn đề là một chuỗi những tình huống vấn đề và điều kiện hoạt động của học sinh nhằm tự lực giải quyết những vấn đề được đặt ra. Đặc trưng của phương pháp dạy học nêu vấn đề: 16 + Nêu vấn đề (tạo tình huống có vấn đề) được tạo giữa điều kiện học sinh đã biết với những điều chưa biết, từ đó kích thích tò mò, khao khát giải quyết vấn đề đặt ra. + Phát biểu vấn đề. +Giải quyết vấn đề. + Kết luận: khẳng định hay bác bỏ giả thuyết đã nêu. Phương pháp giải quyết vấn đề là xem xét, phân tích những vấn đề, tình huống cụ thể thường gặp phải trong đời sống hàng ngày và xác định cách giải quyết, xử lí vấn đề, tình huống đó một cách tích cực, sáng tạo có hiệu quả. * Cách thực hiện: Phương pháp giải quyết vấn đề có thể thực hiện như sau: - Xác định, nhận dạng vấn đề/ tình huống. - Thu thập thông tin có liên quan đến vấn đề/ tình huống đặt ra. - Liệt kê những cách giải quyết có thể có. - Phân tích, đánh giá kết quả mỗi cách giải quyết. - So sánh kết quả các cách giải quyết. - Lựa chọn cách giải quyết tối ưu nhất. - Thực hiện theo cách giải quyết đã lựa chọn. - Rút kinh nghiệm việc giải quyết những vấn đề, tình huống khác. * Ví dụ minh họa: Dạy bài 12: Những thành tựu chủ yếu và ý nghĩa lịch sử của cách mạng khoa học – kĩ thuật sau chiến tranh thế giới thứ hai. II. Ý nghĩa và tác động của cách mạng khoa học – kĩ thuật: 17 Học sinh quan sát tranh, giáo viên đặt vấn đề: - Cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật có tác động gì đến đời sống con người và sản xuất? - Nêu tác động tích cực và tác động tiêu cực? Học sinh quan sát tranh và trình bày suy nghĩ của mình. Giáo viên nhận xét, bổ sung và chốt ý: 18 + Tác động tích cực: năng suất lao động tăng, thay đổi cơ cấu dân cư lao động, nâng cao mức sống và chất lượng cuộc sống của con người. + Tác động tiêu cực: ô nhiễm môi trường, những tai nạn lao động, tai nạn giao thông, nhiễm phóng xạ nguyên tử, các loại dịch bệnh mới,... Từ đó cho học sinh nêu lên những suy nghĩ của mình về tình trạng ô nhiễm môi trường, liên hệ với tình hình địa phương. Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường, khi mà công nghiệp phát triển, không xử lí tốt việc ô nhiễm môi trường do sản xuất công nghiệp gây ra. Tóm lại: Giáo dục bảo vệ môi trường là một lĩnh vực giáo dục liên ngành. Vì vậy giáo dục môi trường cần sử dụng nhiều phương pháp dạy học của các bộ môn, chịu sự chi phối của các phương pháp đặc trưng bộ môn, nhưng nó cũng có những phương pháp mang tính đặc thù. Vì vậy ngoài các phương pháp được nêu, giáo dục bảo vệ môi trường còn có thể vận dụng nhiều phương pháp khác như: Phương pháp tham quan, điều tra, khảo sát, nghiên cứu thực địa; Phương pháp thí nghiệm; Phương pháp hoạt động thực tiễn; Phương pháp nêu gương… 4. Kết quả đề tài: Qua quá trình giảng dạy và nghiên cứu đề tài "Biện pháp tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong môn Lịch sử ở Trường Trung học cơ sở Bàu Năng " đã thu được kết quả như sau: - Học sinh đã hiểu được bản chất của môi trường: tính phức tạp, quan hệ nhiều mặt, nhiều chiều, tính hữu hạn của tài nguyên thiên nhiên và khả năng chịu tải của môi trường. - Học sinh nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của các vấn đề môi trường như một nguồn lực để sinh sống, lao động và phát triển của mỗi cá nhân, cộng đồng, quốc gia và quốc tế. Từ đó có thái độ, tình cảm yêu quý, tôn trọng môi 19
- Xem thêm -