Tài liệu Xuất khẩu hàng dệt may của việt nam sau khi gia nhập wto

  • Số trang: 124 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 125 |
  • Lượt tải: 0
nguyetha

Đã đăng 8490 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ --------------------------TẠ THU HƢƠNG XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY CỦA VIỆT NAM SAU KHI GIA NHẬP WTO LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI Hà nội – 2010 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ --------------------------TẠ THU HƢƠNG XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY CỦA VIỆT NAM SAU KHI GIA NHẬP WTO Chuyên ngành: KTTG và QHKTQT Mã số: 60 31 07 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS.Nguyễn Thiế t Sơn Hà nội - 2010 MỤC LỤC Danh mục từ viết tắt Danh mục bảng biểu Các thuật ngữ trong báo cáo Mở đầu i ii iii 1 Chương 1: Những vấn đề chung liên quan đến xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam 1.1. Vai trò và vị trí của xuất khẩu hàng dệt may với nền kinh tế Việt Nam 1.1.1. Xuất khẩu hàng dệt may, vai trò và vị trí của nó trong nền kinh tế 8 8 8 1.1.2. Xuất khẩu hàng dệt may và công nghiệp hóa 1.1.3. Xuất khẩu hàng dệt may với việc tạo công ăn việc làm và xóa đói 8 giảm nghèo 1.1.4. Xuất khẩu hàng dệt may và nguồn thu ngoại tệ 1.2. Những vấn đề về chính sách liên quan đến xuất khẩu hàng dệt may sau khi gia nhập WTO 1.2.1. Quy định của WTO liên quan đến ngành dệt may và xuất khẩu hàng 10 12 dệt may 1.2.2. Môi trƣờng chính sách trên các thị trƣờng xuất khẩu: Rào cản thuế quan và phi thuế quan 1.2.3. Chính sách xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam khi gia nhập WTO 1.3. Kinh nghiệm của một số nƣớc trong việc xuất khẩu hàng dệt may sau khi gia nhập WTO 1.3.1. Kinh nghiệm của Trung quốc 1.3.2. Kinh nghiệm của một số nƣớc khác 1.3.3. Bài học chính sách 13 13 17 28 39 39 43 46 Chương 2: Thực trạng xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sau khi gia nhập WTO 2.1. Sản xuất và xuất khẩu dệt may của Việt nam trƣớc khi gia nhập WTO 49 49 2.1.1. Tổng quan về ngành dệt may Việt nam 49 2.1.2. Xuất khẩu dệt may trƣớc khi gia nhập WTO 2.2. Xuất khẩu hàng dệt may của Việt nam sau khi gia nhập WTO 2.2.1. Tăng trƣởng xuất khẩu dệt may sau khi gia nhập WTO 2.2.2. Cơ cấu thị trƣờng và mặt hàng xuất khẩu 50 55 55 57 2.3. Xuất khẩu hàng dệt may trên một số thị trƣờng chủ yếu 63 2.3.1. Xuất khẩu hàng dệt may sang thị trƣờng Mỹ 63 2.3.2. Xuất khẩu hàng dệt may sang thị trƣờng EU 2.3.3. Xuất khẩu hàng dệt may sang thị trƣờng Nhật bản 67 71 2.4. Đánh giá sự phát triển xuất khẩu hàng dệt may sau khi gia nhập WTO 74 2.4.1. Những thành công và hạn chế trong xuất khẩu hàng dệt may 74 2.4.2. Những tồn tại và nguyên nhân 80 Chương 3: Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sau khi gia nhập WTO 3.1. Triển vọng xuất khẩu hàng dệt may 3.1.1. Tiềm năng và cơ hội xuất khẩu hàng dệt may 3.1.2. Những thách thức đối với xuất khẩu hang dệt may 91 3.2. Phƣơng hƣớng phát triển xuất khẩu hàng dệt may 3.2.1. Các mục tiêu phát triển ngành dệt may và xuất khẩu dệt may 93 93 3.2.2. Định hƣớng thị trƣờng xuất khẩu 3.2.3. Định hƣớng về cơ cấu mặt hàng xuất khẩu 3.3. Giải pháp thúc đẩy phát triển xuất khẩu hàng dệt may 88 88 88 95 98 100 3.3.1. Giải pháp phát triển công nghiệp phụ trợ 3.3.2. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 3.3.3. Tăng cƣờng công tác tiếp thị, thông tin và xúc tiến thƣơng mại 3.3.4. Phát triển khả năng thiết kế sản phẩm và thƣơng hiệu 101 106 108 112 3.3.5. Đổi mới và hiện đại hóa công nghệ 3.3.6. Xây dựng môi trƣờng kinh doanh thuận lợi 116 117 Kết luận 119 Tài liệu tham khảo 122 Danh mục từ viết tắt Từ viết tắt Nghĩa tiếng Anh ASEAN Nghĩa tiếng Việt Association of South East Asian Countries Hiệp hội các quốc gia Đông nam á ATC Agreement on Textile and Clothing Hiệp định dệt may ICTB International Clothing and Textile Berau Cơ quan dệt may quốc tế MFA Multi-fibre Aggreement Hiệp đinh đa sợi PNTR Permanent Normal Trade Relation Quy chế thƣơng mại bình thƣờng vĩnh viễn SCM Agreement on Subsidies and Counterveiling Meassures Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng UNCTAD United Nation Conference on Trade and Development Hội nghị liên hợp quốc về thƣơng mại và phát triển UNIDO United Nation Industrial Organization Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hợp quốc WTO World Trade Organization Tổ chức thƣơng mại thế giới Danh mục bảng biểu Số hiệu bảng Tên bảng Bảng 1.1 Cam kết cắt giảm thuế quan đối với hàng dệt may của Việt nam Trang 30 Bảng 1.2 Tóm tắt quá trình điều chỉnh chính sách trợ cấp sau khi gia nhập WTO 34 Bảng 2.1 Sản xuất và xuất khẩu dệt may Việt nam 1995-2008 43 Bảng 2.2 Cơ cấu thị trƣờng xuất khẩu hàng dệt may 2002-2006 53 Bảng 2.3 Cơ cấu thị trƣờng xuất khẩu hàng dệt may 2007-2008 58 Bảng 2.4 Cơ cấu mặt hàng dệt may xuất khẩu 2007-2009 60 Bảng 2.5 Cơ cấu mặt hàng xuất dệt may khẩu 2006-2007 61 Bảng 2.6 Thị trƣờng nhập khẩu hàng dệt may của Mỹ 2000-2008 65 Bảng 2.7 Thị trƣờng nhập khẩu hàng dệt may của EU 2000-2008 69 Bảng 2.8 Thị trƣờng nhập khẩu hàng dệt may của Nhật bản 2000-2008 73 Bảng 3.1 Các mục tiêu phát triển ngành dệt may đến năm 2020 94 Bảng 3.2 Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may 103 Các thuật ngữ trong báo cáo Tên tiếng Việt Tên tiếng Anh Biện pháp đối kháng Biện pháp chống bán phá giá Biện pháp tự vệ Công nghiệp phụ trợ Hạn ngạch xuất khẩu dệt may Rào cản kỹ thuật Rào cản phi thuế quan Tiêu chuẩn kỹ thuật/môi trƣờng Tín dụng xuất khẩu Tính đặc thù Tính kinh tế theo quy mô Thuế chống bán phá giá Thuế đối kháng Thuế quan Thuế quan trần Thƣơng hiệu Trợ cấp Trợ cấp bị cấm Trợ cấp đặc thù Trợ cấp có thể bị kiện Trợ cấp không thể bị kiện Trợ cấp không đặc thù Trợ cấp xuất khẩu Counterveilling measures Anti-dumping measures Safeguard (meassures) Supporting Industry Export quota on textile and clothing Technical barriers Non-tariff bariers Technical/Environmental Standard Export credit Specificity Economies of Scale Anti-dumping duties Counterveilling duties Tariff Bound tariff rates Brand Subsidies Prohibited subsidies Specific subsidies Actionable subsidies Non-actionable subsidies Non-specific subsidies Export subsidies MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài luận văn Hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam đã có sự phát triển nhanh chóng trong hai thập kỷ vừa qua nhờ chính sách đổi mới và mở cửa cũng nhƣ dựa trên lợi thế của nguồn nhân lực giá rẻ. Hiện nay, với kim ngạch xuất khẩu đạt bình quân trên 9 tỷ USD và đóng góp gần 20% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam hàng năm, sản phẩm dệt may đã vƣợt qua dầu thô và nhiều mặt hàng nông sản khác trở thành ngành hàng xuất khẩu lớn nhất và nguồn thu ngoại tệ lớn nhất. Xuất khẩu dệt may đã tạo ra hàng trăm nghìn việc làm trực tiếp trong những năm vừa qua và đã đóng góp quan trọng vào sự phát triển chung của nền kinh tế. Việc gia nhập WTO vào tháng 1/2007 mang lại cả những thuận lợi và không ít khó khăn đối với hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam. Một mặt, quy chế thành viên của WTO giúp Việt Nam mở rộng hơn nữa thị trƣờng xuất khẩu. Việc thực hiện các cam kết khi gia nhập WTO và các quy định của tổ chức này cũng giúp Việt Nam cải thiện môi trƣờng pháp lý và tăng cƣờng thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài, bao gồm cả đầu tƣ vào lĩnh vực dệt may. Quy chế thành viên WTO cũng mang lại cho Việt Nam vị trí và những công cụ pháp lý nhất định để bảo vệ những lợi ích của mình trong thƣơng mại quốc tế. Bên cạnh những thuận lợi nêu trên, có không ít vấn đề đặt ra đối với xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sau khi gia nhập WTO, xuất phát từ những ràng buộc và những nghĩa vụ của Việt Nam trong WTO, các rào cản thƣơng mại trên các thị trƣờng xuất khẩu chính cũng nhƣ sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trên các thị trƣờng xuất khẩu. Trong quá trình gia nhập WTO, Việt Nam đã cam kết cắt giảm mạnh thuế quan đánh vào các sản phẩm dệt may cũng nhƣ xóa bỏ hoàn toàn trợ cấp cho ngành dệt may. Việc thực hiện các cam kết này hạn chế đáng kể khả năng của Việt Nam trong việc hỗ trợ sản xuất và xuất khẩu dệt may Trên các thị trƣờng xuất khẩu, sự có mặt của các rào cản phi thƣơng mại là một trở ngại quan trọng đối với hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam. Cùng với việc xóa bỏ hạn ngạch xuất khẩu đối với các sản phẩm dệt may xuất khẩu của Việt nam, những rào cản thƣơng mại mới đã đƣợc dựng lên mà điển hình là Cơ chế giám sát hàng dệt may xuất khẩu Việt nam vào thị trƣờng Mỹ. Các rào can kỹ thuật nhƣ các tiêu chuẩn về sức khỏe và môi trƣờng cũng đƣợc sử dụng ngày càng nhiều trên các thị trƣờng xuất khẩu làm tăng chi phí và tác động tiêu cực đến hàng dệt may xuất khẩu của Việt nam. Bên cạnh đó, việc Việt Nam chƣa đƣợc công nhận là nền kinh tế thị trƣờng từ những đối tác thƣơng mại lớn nhƣ Mỹ có thể dẫn đến việc áp đặt những biện pháp thƣơng mại không công bằng đối với hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam. Phân tích trên đây cho thấy rằng việc gia nhập WTO đó tạo ra một môi trƣờng mới với cả những cơ hội và thách thức đối với hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam. Việc nghiên cứu hiện trạng phát triển cũng nhƣ những vấn đề đặt ra đối với hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam sau khi gia nhập WTO là hoàn toàn cần thiết. Với những lý do nêu trên, tôi lựa chọn đề tài “Xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sau khi gia nhập WTO” làm luận văn thạc sĩ. 2. Tình hình nghiên cứu Xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam là chủ đề của rất nhiều nghiên cứu khác nhau đƣợc thực hiện trong các chƣơng trình nghiên cứu các cấp, các đề tài nghiên cứu khoa học và đƣợc đăng tải rộng rãi trên các tạp chí chuyên ngành. Các nghiên cứu cho đến nay đã đề cập đến nhiều vấn đề khác nhau liên quan đến hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam, từ sự tăng trƣởng và cơ cấu hàng dệt may xuất khẩu, tính cạnh tranh của hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam, các thị trƣờng xuất khẩu cũng nhƣ những vấn đề chính sách và triển vọng xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam. Tuy nhiên hầu hết các nghiên cứu về xuất khẩu dệt may của Việt nam đều đƣợc thực hiện trong giai đoạn trƣớc khi gia nhập WTO. Cũng có một số nghiên cứu về ngành dệt may của và xuất khẩu dệt may của Việt nam đƣợc thực hiện trong một vài năm trở lại đây. Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây chỉ phân tích một số vấn đề nhất định trong sản xuất và xuất khẩu hàng dệt may mà không phân tích một cách toàn diện những khó khăn và thuận lợi cũng nhƣ những vấn đề chính sách đặt ra đối với việc xuất khẩu của Việt Nam nói chung và xuất khẩu hàng dệt may nói riêng sau khi gia nhập WTO. Một số nghiên cứu chính đƣợc liệt kê dƣới đây:  Viện kinh tế học (2001a), Textile and Garment Indusstry in Vietnam: an Overview. Đây là một nghiên cứu khá toàn diện về ngành dệt may và xuất khẩu dệt may của Việt nam đƣợc thực hiện tại Viện kinh tế học vào năm 2001 với sự hỗ trợ kỹ thuật từ Cơ quan phát triển quốc tế của Canada (IDRC). Nghiên cứu này phân tích sự phát triển của sản xuất và xuất khẩu hàng dệt may trong những năm 1990 cũng nhƣ đánh giá trình độ công nghệ và nhân lực của các doanh nghiệp Việt nam. Nghiên cứu này cũng phân tích môi trƣờng chính sách và kinh tế liên quan đến các doanh nghiệp xuất khẩu dệt may của Việt nam.  Nguyễn Thị Tú (2008), “Thực trạng sức cạnh tranh hàng dệt may Việt nam trên thị trƣờng Hoa kỳ”. Nghiên cứu này phân tích hiện trạng xuất khẩu dệt may sang thị trƣờng Hoa kỳ trong giai đoạn sau khi ký kết Hiệp định thƣơng mại Việt nam- Hoa kỳ cho đến khi Việt nam gia nhập WTO. Bên cạnh việc phân tích tốc độ tăng trƣởng và cơ cấu xuất khẩu dệt may sang thị trƣờng Mỹ, nghiên cứu này cũng đánh giá những thay đổi trong thị phần và tính cạnh tranh của hàng dệt may xuất khẩu của Việt nam trong tƣơng quan với các nƣớc đang phát triển khác nhƣ Trung quốc.  Vũ Đức Minh và Doãn Công Khánh (2009), “Thƣơng hiệu cho ngành dệt may: Thực tiễn và những vấn đề đặt ra”. Nghiên cứu này phân tích hiện trạng và những vấn đề đặt ra trong việc thiết kế mẫu mã và phát triển thƣơng hiệu trong các doanh nghiệp dệt may của Việt nam. Nghiên cứu này cũng phân tích sự phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ ở Việt nam và những hạn chế của các doanh nghiệp Việt nam trong việc tham gia vào chuỗi giá trị ngành dệt may.  Bộ thƣơng mại (2007), Các cam kết gia nhập tổ chức thƣơng mại thế giới của Việt nam. Tài liệu này trình bầy tóm tắt các quy định của WTO và các cam kết của Việt nam khi gia nhập WTO, bao gồm các cam kết về mở cửa thị trƣờng hàng hóa và dịch vụ, chính sách trợ cấp sở hữu trí tuệ cũng nhƣ các quy định của WTO về thuế đối kháng và thuế chống bán phá giá. Tuy nhiên, các vấn đề này đƣợc phân tích trên phƣơng diện chung cho tất cả các ngành kinh tế và không đề cập một cách cụ thể đến ngành dệt may.  Nguyễn Tiến Dũng (2010), Phân tích các khía cạnh pháp lý và thực tiễn để vận dụng các quy định về trợ cấp công nghiệp trong khuôn khổ WTO. Phân tích các quy định của WTO về trợ cấp và quá trình điều chỉnh chính sách trợ cấp ở Việt nam trong giai đoạn sau khi gia nhập WTO. Nghiên cứu này phân tích rất nhiều chính sách hỗ trợ của nhà nƣớc trong ngành công nghiệp. Tuy nhiên, nghiên cứu này cũng không đề cập một cách cụ thể đến các cam kết của Việt nam cũng nhƣ việc điều chỉnh chính sách trong ngành dệt may. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích nghiên cứu: Mục đích của luận văn là đánh giá thực trạng, những thuận lợi và khó khăn đối với hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam sau khi gia nhập WTO và đƣa ra một số phƣơng hƣớng và giải pháp chính sách thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam. Nhiệm vụ nghiên cứu: Từ mục tiêu này, luận văn sẽ giải quyết những nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:  Phân tích môi trƣờng chính sách ở trong nƣớc và nƣớc ngoài liên quan đến sản xuất và xuất khẩu dệt may sau khi Việt nam gia nhập WTO;  Phân tích thực trạng phát triển của hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam, những thành công và hạn chế trong xuất khẩu dệt may trong giai đoạn sau khi gia nhập WTO;  Phân tích những cơ hội và thách thức đối với hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam trên cơ sở đó xây dựng các định hƣớng và giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu dệt may trong những năm tới. 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu: Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam và những vấn đề chính sách đặt ra đối với việc xuất khẩu hàng dệt may sau khi gia nhập WTO. Phạm vi nghiên cứu: Luận văn có những giới hạn nghiên cứu nhƣ sau  Về thời gian: tập trung phân tích những thay đổi trong môi trƣờng chính sách và sự phát triển của hàng dệt may xuất khẩu sau khi gia nhập WTO;  Về không gian: tập trung vào việc phân tích những thay đổi chính sách trong nƣớc cũng nhƣ trên các thị trƣờng xuất khẩu hàng dệt may chủ yếu của Việt Nam nhƣ Mỹ và EU. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu Luận văn đƣợc nghiên cứu dƣới giác độ kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế. Luận văn sử dụng phƣơng pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm cơ sở cho việc nghiên cứu, phân tích, đánh giá hiện trạng, cũng nhƣ đề xuất giải pháp chính sách. Trên cơ sở phƣơng pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, luận văn sử dụng các phƣơng pháp định tính nhƣ phân tích và tổng hợp để nghiên cứu thực trạng xuất khẩu dệt may của Việt nam sau khi gia nhập WTO, cũng nhƣ tiềm năng và triển vọng xuất khẩu hàng dệt may trong những năm tới. 6. Đóng góp mới của luận văn: Luận văn có một số đóng góp dƣới đây: i) Phân tích một cách toàn diện những thay đổi trong môi trƣờng chính sách ở trong nƣớc cũng nhƣ ở nƣớc ngoài đối với xuất khẩu dệt may của Việt Nam, làm rõ những thuận lợi và khó khăn đối với hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam sau khi gia nhập WTO; ii) Luận văn cũng đánh giá một cách toàn diện thực trạng xuất khẩu hàng dệt may của Việt nam nói chung cũng nhƣ xuất khẩu dệt may tới các thị trƣờng chủ chốt trong giai đoạn sau khi gia nhập WTO; iii) Luận văn cũng phân tích các cơ hội và thách thức đối với hàng dệt may xuất khẩu của Việt nam trong những năm tới và đề xuất định hƣớng và giải pháp để đẩy mạnh xuất khẩu dệt may Việt nam. 7. Nội dung và kết cấu của luận văn: Ngoài phần Lời mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc chia thành ba chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Những vấn đề chung liên quan đến xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam. Chƣơng 1 tập trung phân tích những thay đổi trong môi trƣờng chính sách liên quan đến xuất khẩu dệt may của Việt nam sau khi gia nhập WTO, phân tích chi tiết các cam kết và quá trình điều chỉnh chính sách của Việt nam sau khi gia nhập WTO cũng nhƣ phân tích các hàng rào thuế quan và phi thuế quan trên các thị trƣờng xuất khẩu. Ngoài ra, chƣơng 1 cũng tóm tắt kinh nghiệm của một số nƣớc đang phát triển trong việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may. Chƣơng 2: Thực trạng xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sau khi gia nhập WTO. Chƣơng này đánh giá thực trạng xuất khẩu hàng dệt may trong giai đoạn sau khi gia nhập WTO, về tăng trƣờng xuất khẩu cũng nhƣ cơ cấu mặt hàng và thị trƣờng xuất khẩu. Bên cạnh việc đánh giá hiện trạng xuất khẩu dệt may nói chung, chƣơng này cũng đi sâu phân tích hiện trạng xuất khẩu dệt may tới một số thị trƣờng xuất khẩu chủ yếu nhƣ Mỹ, EU và Nhật bản. Trên cơ sở đó, chƣơng 2 đã phân tích những kết quả đạt đƣợc cũng nhƣ những khó khăn và tồn tại của xuất khẩu dệt may Việt nam trong giai đoạn sau khi gia nhập WTO. Chƣơng 3: Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sau khi gia nhập WTO. Trên cơ sở phân tích môi trƣờng chính sách trong và ngoài nƣớc cũng nhƣ hiện trạng xuất khẩu dệt may trong những năm gần đây, chƣơng này phân tích và đánh giá các cơ hội và thách thức đối với xuất khẩu dệt may trong những năm tới. Trên cơ sở đó, chƣơng 3 cũng phân tích các định hƣớng về thị trƣờng và cơ cấu xuất khẩu hàng dệt may và đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may trong những năm tới. CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY CỦA VIỆT NAM 1.1. Vai trò và vị trí của xuất khẩu hàng dệt may với nền kinh tế Việt Nam 1.1.1. Xuất khẩu hàng dệt may, vai trò và vị trí của nó trong nền kinh tế Dệt may là một ngành có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, đặc biệt là trong các nƣớc đang phát triển có thu nhập thấp nhƣ ở Việt nam. Ngành dệt may nói chung và xuất khẩu dệt may nói riêng có những đóng góp quan trọng đến quá trình công nghiệp hóa và phát triển kinh tế. Hầu hết các nƣớc, bao gồm cả các nƣớc công nghiệp phát triển và các nƣớc đang phát triển, đều đã bắt đầu quá trình công nghiệp hóa từ ngành dệt may. Sản xuất dệt may có vai trò đặc biệt trong gia đoạn đầu của quá trình phát triển kinh tế. Sau đó, vai trò của sản xuất dệt may giảm dần khi quá trình công nghiệp hóa chuyển sang các ngành công nghiệp đòi hỏi vốn, kỹ năng và công nghệ cao hơn. Bên cạnh đó, dệt may cũng có những đóng góp quan trọng tới việc tạo công ăn việc làm và xóa đói giảm nghèo. Cuối cùng, cũng tƣơng tự nhƣ nhiều nƣớc đang phát triển khác, với tƣ cách là một ngành xuất khẩu quan trọng của nền kinh tế quốc dân, dệt may cũng là một nguồn thu ngoại tệ quan trọng. 1.1.2. Xuất khẩu hàng dệt may và công nghiệp hóa Dệt may luôn là một ngành kinh tế quan trọng đối với quá trình công nghiệp hóa. Hầu hết các nƣớc trên thế giới đã khởi động quá trình công nghiệp hóa bằng cách phát triển ngành dệt may. Cách mạng công nghiệp đã bắt đầu ở nƣớc Anh vào thế kỷ 18 trong các xƣởng dệt. Nhật bản cũng khởi đầu quá trình công nghiệp hóa vào cuối thế ký 19 với ngành dệt may và vẫn tiếp tục là một nƣớc xuất khẩu dệt may trong nhiều thập kỷ sau đó. Gần đây hơn, các nền kinh tế mới công nghiệp hóa (NIC) ở Đông Á nhƣ Hàn quốc và Đài loan cũng đã bắt đầu quá trình công nghiệp hóa trong những năm 1950 và 1960 với ngành công nghiệp dệt may và các ngành sản xuất sử dụng nhiều lao động khác. Dệt may cùng với da giầy là hàng hóa xuất khẩu sử dụng nhiều lao động của các nƣớc đang phát triển. Tầm quan trọng của xuất khẩu dệt may thay đổi tùy theo điều kiện cụ thể của từng nƣớc cũng nhƣ của từng giai đoạn phát triển. Các nƣớc giầu tài nguyên có thể phụ thuộc ít hơn vào việc xuất khẩu các sản phẩm sử dụng nhiều lao động. Trong khi đó, dệt may có vai trò quan trọng hơn trong những nƣớc có nguồn nhân lực dồi dào. Trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển, khi tiềm lực vốn và công nghệ còn ít, các nƣớc có khuynh hƣớng dựa nhiều vào việc sản xuất các sản phẩm sử dụng nhiều lao động, bên cạnh nông sản và khoáng sản. Trong quá trình phát triển kinh tế, thu nhập gia tăng lợi thế so sánh từ nguồn nhân công giá rẻ mất đi, các nƣớc chuyển dần lên các ngành sản xuất có hàm lƣợng vốn và công nghệ cao hơn. Trung quốc là một ví dụ cho thấy tầm quan trọng của sản xuất và xuất khẩu dệt may. Kể từ cuối những năm 1990, Trung quốc đã trở thành một nƣớc xuất khẩu dệt may lớn nhất thế giới và vẫn tiếp tục giữ vị trí đó cho đến nay. Cho đến nay, dệt may vẫn là ngành sản xuất quan trọng trong nền kinh tế Việt nam. Sản lƣợng của ngành dệt may đạt hơn 50 nghìn tỷ đồng tính theo giá so sánh 1994, và chiếm trên 9% tổng giá trị sản lƣợng công nghiệp. Sản lƣợng của ngành công nghiệp dệt may tƣơng đƣơng với sản lƣợng của ngành luyện kim, cao hơn giá trị sản lƣợng của ngành điện tử và ô tô. Trong những năm vừa qua sản xuất dệt may cũng có sự tăng trƣởng nhanh chóng đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của của cả ngành công nghiệp và nền kinh tế. Xuất khẩu dệt may có một vai trò quan trọng đối với sản xuất dệt may Việt nam. Có tới 80% sản phẩm may mặc sản xuất trong nƣớc đƣợc xuất khẩu. Do mức thu nhập thấp và quy mô thị trƣờng nội địa nhỏ bé, xuất khẩu giúp khắc phục những hạn chế của thị trƣờng nội địa, tạo ra nhu cầu và giúp sản xuất phát triển. Xuất khẩu các sản phẩm dệt may cũng đã tăng trƣởng rất nhanh với tốc độ bình quân gần 20% hàng năm, và đóng góp vào sự phát triển của ngành đệt may trong nƣớc. Vai trò của sản xuất và xuất khẩu dệt may không chỉ thể hiện ở sự đóng góp trực tiếp của nó với tăng trƣởng kinh tế. Sản xuất và xuất khẩu dệt may còn có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy các ngành sản xuất khác cùng phát triển. Sản xuất dệt may tạo ra nhu cầu đối với nguồn nguyên liệu bông và quá đó giúp thúc đẩy sự phát triển của sản xuất nông nghiệp. Sản xuất dệt may cũng tạo ra nhu cầu về thuốc nhuộm và các loại sợi tổng hợp, qua đó thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp hóa chất. Sản xuất dệt may cũng giúp phát triển ngành cơ khí dệt may, sản xuất máy móc và thiết bị cho ngành dệt may. Sự liên kết giữa sản xuất và xuất khẩu dệt may càng chặt chẽ, sản xuất dệt may sẽ càng có tác động tích cực, cả trực tiếp và gián tiếp, đối với nền kinh tế. Ngƣợc lại, sự phát triển của các ngành công nghiệp phụ trợ và liên quan cũng có ý nghĩa quan trọng trong việc tăng cƣờng tính hiệu quả và tính cạnh tranh của ngành dệt may. 1.1.3. Xuất khẩu hàng dệt may với việc tạo công ăn việc làm và xóa đói giảm nghèo Vì dệt may là một ngành sản xuất sử dụng nhiều lao động, sản xuất dệt may nói chung và xuất khẩu dệt may nói riêng có vai trò rất quan trọng trong việc tạo công ăn việc làm trong nền kinh tế. Điều này càng có ý nghĩa quan trọng trong các nƣớc đang phát triển nơi thất nghiệp và thiếu việc làm là phổ biến cả ở thành thị cũng nhƣ nông thôn. Tầm quan trọng của xuất khẩu dệt may đối với việc tạo công ăn việc làm trong các nƣớc đang phát triển còn thể hiện ở chỗ sản xuất dệt may có thể nhanh chóng tạo công ăn việc làm trong thời gian ngắn với chi phí tƣơng đối thấp. Mức đầu tƣ trong ngành dệt may, đặc biệt là ngành may mặc tƣơng đối thấp. Bên cạnh đó, sản xuất dệt may sử dụng rất nhiều lao động phổ thông, thông thƣờng chỉ cần đƣợc đào tạo các kỹ năng cắt may cơ bản. Chi phí đào tạo vì vậy thƣờng là không quá lớn đối với các doanh nghiệp cũng nhƣ đối với ngƣời lao động. Ngành dệt may Việt nam hiện sử dụng gần 800 nghìn lao động, trong đó ngành dệt sử dụng trên 200 nghìn lao động và ngành may mặc sử dụng gần 600 nghìn lao động. Lao động trong ngành dệt may chiếm trên 20% tổng số lao động trong các ngành công nghiệp chế biến. Con số này mới chỉ cho thấy số lao động trực tiếp trong ngành dệt may. Sản xuất dệt may còn tạo ra rất nhiều công ăn việc làm gián tiếp trong nền kinh tế. Dệt may tạo nhu cầu về nguyên liệu bông, và qua đó đóng góp vào việc đa dạng hóa việc làm trong nông thôn. Dệt may cũng tạo ra công ăn việc làm trong nhiều ngành kinh tế khác nhƣ hóa chất, cơ khí cũng nhƣ công ăn việc làm trong hệ thống bán lẻ. Bằng cách tạo ra công ăn việc làm cho lao động phổ thông, sản xuất dệt may đóng góp trực tiếp vào việc giảm tình trạng thất nghiệp và gia tăng thu nhập cho các tầng lớp dân cƣ có thu nhập thấp. Sản xuất dệt may không chỉ đóng vai trò quan trọng đối với việc tạo công ăn việc làm và xóa đói giảm nghèo trong các vùng đô thị, nó cũng có vai trò trực tiếp đối với việc phát triển nông thôn. Ngành sản xuất dệt may giúp thúc đẩy sản xuất nguyên liệu và qua đó góp phần đa dạng hóa cơ cấu sản xuất nông nghiệp, tạo công ăn việc làm và xóa đói giảm nghèo. Bên cạnh đó, sản xuất dệt may cũng giúp tạo việc làm cho rất nhiều lao động phổ thông di cƣ từ nông thôn lên thành thị. Vai trò của sản xuất dệt may đối với việc phát triển nông nghiệp, nông thôn và xóa đói giảm nghèo ở Việt nam còn xuất phát từ thực tế là phần lớn các vùng có điều kiện tự nhiên phù hợp với việc trồng bông ở Việt nam là những vùng tƣơng đối nghèo và chậm phát triển, ví dụ nhƣ Tây nguyên, Đông nam bộ và Tây bắc. Phát triển các vùng sản xuất nguyên liệu bông cho ngành dệt may có thể đóng góp trực tiếp vào việc phát triển vùng, gia tăng thu nhập và xóa đói giảm nghèo ở các vùng này. 1.1.4. Xuất khẩu hàng dệt may và nguồn thu ngoại tệ Dệt may luôn là một ngành xuất khẩu quan trọng trong nhiều nƣớc đang phát triển và do đó là một nguồn thu ngoại tệ quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế đặc biệt là trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển. Lý thuyết về thƣơng mại quốc tế nói rằng, các nƣớc đang phát triển với nguồn nhân lực dồi dào sẽ có lợi thế so sánh trong những ngành sản xuất sử dụng nhiều lao động. Nguồn nhân lực dồi dào với giá nhân công thấp cho phép các nƣớc đang phát triển sản xuất và xuất khẩu hàng dệt may. Trong khí đó các nƣớc công nghiệp phát triển, với tiềm lực về tài chính và công nghệ, có lợi thế so sánh trong việc phát triển các ngành công nghiệp sử dụng nhiều vốn và công nghệ. Tầm quan trọng của dệt may với tƣ cách là một ngành xuất khẩu và một nguồn thu ngoại tệ quan trọng cũng đƣợc thể hiện ở chỗ xuất khẩu dệt may không bị giới hạn bởi nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có. Trong khi đó, xuất khẩu khoáng sản và các loại nông sản bị hạn chế bởi nguồn tài nguyên và không thể gia tăng xuất khẩu về lâu dài. Trên phƣơng diện này, việc tăng cƣờng xuất khẩu các sản phẩm sử dụng nhiều lao động trong đó có dệt may có ý nghĩa quan trọng đối với việc đa dạng hóa cơ cấu xuất cũng nhƣ đối với việc duy trì sự tăng trƣởng nhanh và bền vững của xuất khẩu. Ở Việt nam, ngay từ đầu những năm 1990, trong quá trình thực hiện chính sách cải cách và mở cửa, dệt may đã luôn là một ngành sản xuất quan trọng bên cạnh nông sản và dầu thô. Vào năm 1995, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may chỉ đạt chƣa đầy 800 triệu USD, thấp hơn nhiều so với nguồn thu từ dầu thô và nông sản. Tuy nhiên xuất khẩu dệt may tăng trƣởng nhanh hơn so với dầu thô và nông sản, và tầm quan trọng của dệt may trong cơ cấu xuất khẩu cũng gia tăng. Vào năm 2008, xuất khẩu dệt may đã vƣợt qua dầu thô và trở thành mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất, với mức xuất khẩu trên 9 tỷ USD và đóng góp khoảng 15% tổng kim ngạch xuất khẩu. Bên cạnh đó, xuất khẩu các sản phẩm sử dụng nhiều lao động nhƣ dệt may cũng không bị ảnh hƣởng nhiều bởi các điều kiện tự nhiên và việc đa dạng hóa cơ cấu xuất khẩu tới các sản phẩm sử dụng nhiều lao động cũng làm cho các nguồn thu xuất khẩu trở nên ổn định hơn. Trong cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay, sự giảm sút nhu cầu trên các thị trƣờng xuất khẩu cũng nhƣ sự sụt giảm mạnh giá nông sản và dầu thô trên thị trƣờng thế giới đã tác động tiêu cực đến xuất khẩu nông sản và dầu thô của Việt nam. Ví dụ, nguồn thu từ xuất khẩu dầu thô đã giảm tới 40% trong nửa đầu năm 2009. Nguồn thu từ xuất khẩu nhiều loại nông sản nhƣ cafe và hải sản cũng sụt giảm mạnh. Tuy nhiên, đã không có sự suy giảm nào trong xuất khẩu các sản phẩm dệt may. 1.2. Những vấn đề về chính sách liên quan đến xuất khẩu hàng dệt may sau khi gia nhập WTO 1.2.1. Quy định của WTO liên quan đến ngành dệt may và xuất khẩu hàng dệt may Hệ thống thƣơng mại thế giới có rất nhiều quy định liên quan đến thƣơng mại trong các sản phẩm công nghiệp nói chung cũng nhƣ thƣơng mại trong các sản phẩm dệt may nói riêng. Các quy định này liên quan đến nhiều lĩnh vực chính sách và luật pháp khác nhau nhƣ các tiêu chuẩn kỹ thuật và môi trƣờng, các quy định về thuế quan, quy định về quyền sở hữu trí tuệ, các biện pháp đối kháng và chống bán phá giá cũng nhƣ các quy định về trợ cấp. Trong đoạn này, chúng tôi đề cập đến ba vấn đề trực tiếp liên quan đến sản xuất và xuất khẩu dệt may của Việt nam sau khi gia nhập WTO, đó là Hiệp định dệt may của WTO, Nghĩa vụ cắt giảm thuế quan cũng nhƣ các quy định và nghĩa vụ của các nƣớc thành viên liên quan đến chính sách trợ cấp 1.2.1.1. Hiệp định dệt may của WTO (ATC) Tƣơng tự nhƣ trƣờng hợp của nông sản, tự do hóa thƣơng mại dệt may là một lĩnh vực nhạy cảm trong WTO và thƣờng phải chịu quota và các biện pháp hạn chế khác không phù hợp với các nguyên tắc của WTO. Các biện pháp hạn chế về lƣợng này thƣờng đƣợc các nƣớc công nghiệp phát triển, cụ thể là Mỹ, EU, Na uy và Canada, sử dụng đối với hàng dệt may nhập khẩu từ các nƣớc đang pháp triển. Các quota này đƣợc xác định bởi nƣớc nhập khẩu cho từng sản phẩm cụ thể và cho từng nƣớc xuất khẩu, theo đó mỗi nƣớc sẽ không đƣợc phép xuất khẩu nhiều hơn số lƣợng đã đƣợc quy định.
- Xem thêm -