Tài liệu Tìm hiểu quy trình kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo cua xanh (scylla paramamosainestampador, 1949) tại khu sản xuất giống thủy sản bình kiến thuộc sở nông nghiệp và ptnt phú yên

  • Số trang: 59 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 71 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

i LỜI CẢM ƠN Trong quá trình thực tập ngoài sự nỗ lực bản thân tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các cá nhân và cơ quan đoàn thể. Qua đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới: Ths.Trương Thị Bích Hồng và Th.s Nguyễn Minh Phát đã giúp tôi định hướng nghiên cứu và hướng dẫn tôi trong quá trình thực tập. Cảm ơn K.s Nguyễn Thanh Tùng, người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ để tôi thực hiện đề tài và hoàn thành bài luận văn này. Xin gửi lời biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo trong khoa Nuôi trồng thủy sản, trường Đại Học Nha Trang đã dạy dỗ và giúp đỡ tôi trong những năm học vừa qua. Xin cảm ơn thư viện trường Đại Học Nha Trang đã tạo điều kiện cho tôi mượn tài liệu tham khảo. Tôi xin cảm ơn đến bạn bè, các anh chị, những người đã luôn bên cạnh tôi, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn tốt nghiệp nay. Cuối cùng, tôi xin dành sự biết ơn đặc biệt đến gia đình và người thân đã luôn động viên cổ vũ cho tôi vượt qua mọi khó khăn trong suốt quá trình học tập. Nha trang, tháng 6 năm 2012 Sinh viên: Trần Thị Lưu ii GIẢI THÍCH CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT CW: Chiều rộng giáp đầu ngực Wtb: Trọng lượng trung bình toàn thân Z1, Z2, Z3, Z5, Z5: Ấu trùng cua giai đoạn zoea 1, zoea 2, zoea 3, zoea 4, zoea 5. C1: Cua 1. SSSTT: Sức sinh sản thực tế. AT: Ấu trùng. TB: Trung bình 1 MỞ ĐẦU Nuôi trồng thủy sản đã và đang được xem là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn để phát triển nền kinh tế đất nước. Với tiềm năng lớn về đất đai, diện tích mặt nước và lao động, Việt Nam có điều kiện thuận lợi để phát triển nuôi trồng thủy sản đặc biệt là hải sản. Trong những năm gần đây do nguồn lợi thủy sản ngày càng cạn kiệt do đánh bắt. Do đó việc mở rộng phát triển nuôi trồng thủy sản là một trong những hướng phát triển để nâng cao chất lượng thực phẩm cho con người. Với chiều dài bờ biển 189 km và nhiều đầm, vịnh, vùng cửa sông nên nuôi trồng thuỷ sản tỉnh Phú Yên đã xác định một trong những ngành kinh tế mũi nhọn, mang lại thu nhập đáng kể cho nông - ngư dân vùng ven biển, góp phần xoá được đói, giảm được nghèo và nhiều hộ vươn lên làm giàu. Để duy trì sự phát triển một cách bền vững, bên cạnh những chính sách phát triển nhằm đa dạng hoá đối tượng nuôi, trong đó có sản xuất cua giống với mục đích nhằm làm giảm gánh nặng về sản xuất giống và nuôi tôm sú nhiều năm thua lỗ. Cua biển là loại hải sản có kích thước lớn, hàm lượng đạm rất cao, nhu cầu xuất khẩu và tiêu thụ nội địa ngày càng nhiều. Chúng sống ở vùng cửa sông, rừng ngập mặn và phân bố ở biển Ấn Độ - Thái Bình Dương là đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao ở nhiều nước. Ở Việt Nam trong những năm qua nghề nuôi cua thương phẩm phát triển rất mạnh nhưng chủ yếu các tỉnh Nam bộ. Khó khăn của nghề nuôi cua hiện nay là vấn đề giải quyết con giống. Nguồn cua giống cung cấp cho các mô hình nuôi cua từ trước đến nay chủ yếu khai thác từ tự nhiên. Tuy nhiên, nguồn giống từ tự nhiên biến động theo mùa vụ, kích thước không đồng đều, trộn lẫn nhiều loại với nhau nên khó đáp ứng được yêu về chất lượng cho các mô hình nuôi cua thương phẩm. Mặt khác do bị khai thác quá mức nên nguồn lợi cua tự nhiên đang có chiều hướng suy giảm. Để giải quyết vấn đề cua giống cung cấp cho nghề nuôi, năm 1998 Trung tâm Nghiên cứu Thủy sản III (nay là Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III) và một 2 số Trường Đại học đã cho sinh sản nhân tạo giống cua xanh thành công nhưng hầu hết tỉ lệ sống ở các cơ sở sản xuất giống từ giai đoạn Zoea 1 đến Cua bột 1 dưới 10% và vẫn còn tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện qui trình. Năm 2004 Trung tâm Giống và Kỹ thuật Thuỷ sản Phú Yên tiếp nhận công nghệ sản xuất giống cua xanh từ Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản III Nha Trang và bước đầu cho sinh sản thành công nhưng tỉ lệ sống ở các giai đoạn ấu trùng còn thấp. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của nghề nuôi nhằm vận dụng kiến thức đã học vào thực tế sản xuất và hoàn thành khóa học khoa nuôi trồng thủy sản – trường Đại học Nha Trang đã giao cho tôi đề tài: “Tìm hiểu quy trình kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo cua xanh (Scylla paramamosain Estampador, 1949) tại Khu sản xuất giống thủy sản Bình Kiến thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT Phú Yên” với các nội dung sau: 1. Tìm hiểu điều kiện tự nhiên và hệ thống công trình phục vụ sản xuất giống nhân tạo cua xanh. 2. Tìm hiểu quy trình sản xuất giống nhân tạo cua xanh. 3. Tìm hiểu kỹ thuật ương ấu trùng. Mục tiêu: 1. Làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học, áp dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn. 2. Tìm hiểu kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo cua xanh. 3. Hoàn thành đợt thực tập tốt nghiệp và nộp báo cáo đúng hạn. 3 PHẦN 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1. Đặc điểm sinh học cua xanh 1.1.1. Đặc điểm phân loại Theo Bowman và Abele, 1982, cua xanh (Scylla) có 4 loài: S. serrata, S. tranquebarica, S. olivacea, S. paramamosain có hệ thống phân loại như sau: Ngành: Athropoda (Chân khớp) Phụ ngành: Crustacea (Giáp xác) Lớp: Malacostraca Bộ: Decapoda Latreille 1803 Họ cua bơi: Portunidae Rafinesque 1815 Giống: Scylla de Haan 1833 Loài: S. paramamosain (Estampador 1949) Các loài cua Scylla còn được gọi là cua bùn, cua xanh và cua sú, đây là các loài giáp xác sống ở vùng cửa sông hoặc vùng biển. Cua xanh phân bố ở các vùng biển nhiệt đới, cận nhiệt đới và ôn đới như: Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore, Philippin, Nam Phi, Ấn Độ [2],[4],[13]. 1.1.2. Đặc điểm hình thái cấu tạo Hình 1.1: Hình thái cua biển (scylla paramamosain) 4 Loài cua biển Scylla paramamosain có kích thước tương đối lớn có thể đạt được trọng lượng 2kg. Cua có màu xanh lục hoặc màu vàng sẫm, mặt bụng thường có màu sáng hơn mặt lưng, cơ thể cua dẹp theo hướng lưng bụng và chia làm 2 phần, phần đầu ngực lớn nằm trong giáp đầu ngực (mai cua), phần bụng nhỏ và gập lại dưới giáp đầu ngực (yếm cua) [6]. Phần đầu và phần ngực ở cua dính liền với nhau, ranh giới giữa các đốt không rõ ràng, căn cứ vào phần phụ mà biết được số đốt tạo thành. Đầu gồm 5 đốt có mắt, anten và các phần phụ miệng. Ngực gồm 8 đốt, có mang, chân hàm và các chân bò, phía trước của giáp đầu ngực có hai hố mắt, mang hai mắt nằm trên cuống mắt. Giữa hai hố mắt, mỗi bên mép trước của giáp đầu ngực có 9 gai nằm liên tiếp nhau. Mặt trên của giáp đầu ngực phân chia thành từng vùng nhỏ ngăn cách bỡi rãnh và gờ rõ rệt. Phía trước là vùng trán, kế tiếp là vùng dạ dày ngăn cách với nhau bởi hai gờ, kế là vùng tim và sau vùng tim đến vùng ruột. Hai bên vùng dạ dày là vùng gan và ngoài cùng là vùng mang. Mặt bụng của phần đầu ngực có các tấm bụng, các tấm bụng làm thành vùng lõm ở giữa chứa phần bụng gập vào. Ở con cái có đôi lỗ sinh dục nằm ở tấm bụng thứ ba được phần bụng gập lại che lấp [2],[6]. Phần bụng gồm 7 đốt với các phần phụ bị tiêu giảm nằm gấp lại dưới phần đầu ngực làm cho cua thu ngắn chiều dài và gọn lại giúp cua bò được dễ dàng. Ở con cái các đốt bụng I, II và III khớp động với nhau, các đốt khác bất động, các chân bụng chẻ đôi biến thành các chùm lông yếm để trứng đẻ ra và bám vào đấy để phát triển, ở con đực các đốt bụng I, II, IV và VI khớp động với các đốt bên. Các chân bụng thoái hoá biến thành đôi gai giao cấu, lỗ hậu môn nằm ở cuối cùng [6]. 5 1.1.3. Tập tính và môi trường sống Hình 1.2 : Vòng đời cua biển Vòng đời cua xanh trải qua nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn có tập tính sống khác nhau. Giai đoạn phôi được cua mẹ mang trứng, phôi phát triển ở vùng ven bờ. Ấu trùng Zoea và Megalop sống trôi nổi nhờ dòng nước đưa vào ven bờ, ấu trùng Zoea nở ra là bơi lội và có tính hướng quang mạnh, ấu trùng Megalope bơi lội nhanh nhẹn, trước khi biến thái thành cua bột (khoảng 2 ngày) thường sống bám trên những giá thể hoặc những chất nền như tảo ở đáy biển. Cua con bắt đầu sống bò trên đáy và lớn dần có tập tính đào hang hay chui rúc vào các gốc cây, bụi rậm đồng thời với việc chuyển từ đời sống ở môi trường nước mặn sang nước lợ, thường ở các rừng ngập mặn, vùng cửa sông hay tập trung ở các bãi trung triều [2],[3],[8],[13]. Với tập tính sống như vậy là một trong những điều kiện để nghiên cứu về giá thể bám cho ấu trùng trong điều kiện sản xuất nhân tạo. Cua sắp trưởng thành di cư vào vùng trung triều để kiếm mồi lúc triều cao và trở lại vùng hạ triều khi triều thấp, tuy nhiên cua trưởng thành hầu như chỉ thấy ở vùng hạ triều [4],[8],[11]. Đến giai đoạn thành thục sinh dục cua di cư ra vùng gần bờ để sinh sản rồi tiếp tục lặp lại vòng đời. 6 Ấu trùng Zoea thích hợp với nồng độ muối từ 25 - 30‰, cua con và cua trưởng thành thích nghi và phát triển tốt trong phạm vi 2 - 38‰, tuy nhiên trong thời kỳ đẻ trứng đòi hỏi độ mặn từ 22 - 32‰ [2],[3],[5],[8]. Những đặc tính sinh học cua xanh rất phù hợp với điều kiện lý tưởng ở khu vực miền Trung. Cua sống ở vùng nước lợ có độ pH trong khoảng 7,5 - 9,2, thích hợp nhất là từ 7,5 - 8,8, tuy nhiên cua có thể chịu đựng được trong nước có độ pH thấp hơn 6,5. Cua có khả năng thích ứng cao với sự thay đổi độ mặn trong môi trường nước, cũng có thể sống trong vùng gần như ngọt cho đến độ mặn trên 33‰ [6], [8]. Ở Việt Nam cua biển Scylla paramamosain phân bố rất rộng và ở những vùng vĩ tuyến cao, cua chịu đựng nhiệt độ nước thấp rất tốt. Ở vùng biển phía Nam nước ta cua biển thích nghi với nhiệt độ nước từ 25 - 290C. Nhiệt độ cao thường ảnh hưởng xấu đến các hoạt động sinh lý của cua, là một trong những nguyên nhân gây chết hàng loạt khi nuôi thương phẩm [6]. 1.1.4. Tính ăn Cua biển là loài ăn tạp, tập tính bắt mồi và thành phần thức ăn thay đổi tùy theo giai đoạn phát triển. Giai đoạn ấu trùng cua thích ăn thực vật và động vật phù du (Branchionus plicatilis, Nauplius của Artemia, Artemia sinh khối…). Khác với cua có kích thước lớn hoạt động về đêm, ấu trùng cua có tính hướng quang mạnh, có thể dùng ánh sáng để kích thích chúng bắt mồi. Cua con chuyển sang ăn tạp và kiếm ăn vào ban đêm, thức ăn tự nhiên của chúng chứa 50% nhuyễn thể, 21% giáp xác, phần còn lại là cá. Tập tính kiếm ăn của chúng cũng thay đổi theo tuổi, cua con 2-7cm chủ yếu ăn giáp xác, cua từ 7-13cm thích ăn nhuyễn thể, cua lớn hơn thường ăn cua nhỏ, ghẹ, cá…Cua là loài bắt mồi tích cực thời gian bắt mồi thường nhiều hơn thời gian vùi mình trong đáy hoặc trong hang. Cua thường trú ẩn vào ban ngày và bắt mồi vào ban đêm. Cua thường ăn rất nhiều nhưng cũng có thể nhịn đói vài ngày trong những điều kiện bất lợi [2], [13]. 1.1.5. Lột xác và sinh trưởng Ấu trùng Zoea 1 đến cua trưởng thành trải qua nhiều lần lột xác, mỗi lần lột xác vừa để sinh trưởng, biến thái thay đổi kích thước và hình thái cấu tạo nhằm đạt 7 được hình dạng cấu tạo thực thụ của cua. Ở giai đoạn ấu trùng và cua bột thời gian giữa các lần lột xác thường ngắn 2 - 3 ngày hoặc 3 - 5 ngày, ở cua giống và cua trưởng thành thời gian giữa hai lần lột xác dài hơn [2], [11]. Trước khi lột xác, cua tiết ra rất nhiều dịch tố để tách vỏ mềm ở bên trong ra khỏi vỏ cứng, phần đầu ngực và phần bụng xuất hiện một vết nứt, hai bên cửa miệng cũng lần lượt xuất hiện một vết nứt. Lúc đầu bộ phận đầu ngực nâng lên, vết nứt lớn ra, khối đầu ngực lộ ra ngoài, bụng co lại phía sau, các chân cử động co về giữa, đôi chân bơi thoát ra ngoài, sau đến phần bụng và chân càng được lột ra sau cùng. Cua không chỉ lột vỏ ngoài mà vỏ cũ của dạ dày, mang, ruột…cũng được lột đi [11]. Sự lột xác diễn ra trong khoảng 30 - 60 phút, lớp vỏ trong biến thành lớp vỏ ngoài còn nhăn nheo sau đó mới dần dần căng ra. Cua mới lột xác yếu không ăn, không có khả năng tự vệ, nằm ở đáy 2 - 3 giờ mới trở lại bình thường và sau 1 - 2 ngày vỏ mới cứng lại. Trong thời gian lột xác, cua thường bị kẻ thù tấn công rất dễ tử vong, sau mỗi lần lột xác cua tăng trọng lượng từ 40 - 80% [3],[11]. 1.1.6. Đặc điểm sinh sản 1.1.6.1. Di cư sinh sản và mùa vụ sinh sản  Di cư sinh sản Cua sống và sinh trưởng ở các vùng rừng ngập nước lợ, trước mùa sinh sản di cư ra vùng biển ven bờ, lột xác tiền giao vĩ. Cua cái tiến hành giao vĩ sau đó tuyến sinh dục tiếp tục phát triển cho đến lúc trứng chín, đẻ trứng, ấp phôi, ấu trùng nở ra khỏi vỏ trứng rời cua mẹ kết thúc quá trình sinh sản. Ở những vùng khác nhau có điều kiện môi trường khác nhau thì mùa di cư khác nhau. Vùng biển phía Bắc thì gặp cua ôm trứng nhiều vào tháng 4, 5, 6, 7, các tỉnh duyên hải Nam Trung bộ thường bắt gặp cua ôm trứng từ tháng 4 đến tháng 10. Ở vùng biển phía Nam nước ta cua thường bắt đầu di cư vào tháng 7, 8 và mùa sinh sản thường bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 1, 2 năm sau. Tuy vậy, cũng có thể bắt gặp cua ôm trứng sớm hơn [6]. 8  Mùa vụ sinh sản Tại Việt Nam, thời gian sinh sản khác nhau tùy vào từng vùng khác nhau. Ở vùng biển phía Bắc Việt Nam, mùa đẻ trứng của cua xanh tập trung từ tháng 4 đến tháng 7. Khu vực các tỉnh Nam Trung Bộ Việt Nam, nhiệt độ trung bình hằng năm cao vì thế cua xanh đẻ trứng quanh năm. Tuy vậy, chúng vẫn thể hiện tính mùa vụ rất rõ nét, mùa vụ sinh sản chính tập trung từ tháng 2 đến tháng 3 và từ tháng 7 đến tháng 8 trong năm. Theo kết quả nghiên cứu của G.S. Hoàng Đức Đạt thì ở vùng biển phía Nam Việt Nam cua xanh bắt đầu di cư vào tháng 7 - 8 và mùa sinh sản chính bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau. Nhìn chung mùa vụ sinh sản chính chi phối bởi yếu tố nhiệt độ, vì vậy có thể nói ở những vùng địa lý khác nhau thì mùa vụ sinh sản chính xuất hiện theo thời gian khác nhau trong năm [6], [11]. 1.1.6.2. Kích thước thành thục và sức sinh sản Theo nghiên cứu thì toàn bộ cá thể loài S. Paramamosain có CW ≥ 10cm (chiều rộng giáp đầu ngực) tương ứng với trọng lượng trung bình toàn thân Wtb ≥ 267g đều thành thục và có khả năng tham gia sinh sản. Tuy nhiên kích thước thành thục thay đổi theo loài và trong cùng một loài thay đổi do ảnh hưởng của các điều kiện khí hậu theo từng vùng địa lý. Cua cái S. Serrata thành thục lần đầu tiên khoảng 12cm và CW đạt tối đa là 24cm, trong khi đó loài S. Paramamosain lột xác thành thục ở cỡ 8 -9 cm và có thể đạt CW tối đa là 14 – 15cm [11]. Cua biển (S.paramosain) ở khu vực miền Trung Việt Nam có kích thước thành thục CW ≥ 10cm. So sánh với kích thước thành thục của cua xanh ở một số nước, chúng ta thấy kích thước thành thục cua xanh ở khu vực miền trung Việt Nam ở mức độ trung bình. 9 Bảng 1.1: Kích thước thành thục tối thiểu của loài cua xanh ở một số vùng địa lý Quốc gia CW (cm) Vĩ độ Tác giả Malaysia 9,2 5oN Ong (1996) Papua New Guinea 9,0 6o S Norman J.Kojis (1987) Philippine 8,5 8oN Escitor (1970) o Thái Lan 9,3 12 N Varikul et al. (1972) Việt Nam 10,0 22oN – 8oS Thạch N.C India 9,7 13oN Raja Bai naidu (1955) South Africa 13,7 24oS Hill (1975) Nghiên cứu về mối tương quan giữa kích thước cơ thể và sức sinh sản cho thấy chúng có sự tương quan tỷ lệ thuận. Nhóm có kích thước CW = 10 – 11cm có sức sinh sản thực tế khoảng 1.200.000 trứng/lần đẻ, trong khi đó nhóm có kích thước CW = 12.1 – 13cm thì sức sinh sản thực tế khoảng 1.800.000 trứng/một lần đẻ [3]. 1.1.6.3. Động dục và giao phối Trước lúc lột xác khoảng 2 - 10 ngày cua đực và cua cái sẽ ghép đôi với nhau. Cua đực dùng chân bò và càng ôm chặt lấy cua cái trên mặt bụng. Đến khi con cái sắp lột xác, con đực mới rời con cái ra nhưng vẫn ở bên cạnh, con cái vừa lột xác xong con đực liền ôm con cái, cua đực và cái áp sát mặt bụng vào nhau và cua đực gỡ yếm con cái ra để giao túi tinh vào túi nhận tinh của con cái. Thời gian giao phối có thể kéo dài từ 5 giờ đến cả ngày. Kết thúc quá trình giao phối con đực buông cua cái ra nhưng vẫn đi cạnh để bảo vệ cua cái. Túi tinh được giữ ở bộ phận nhận tinh của cua cái suốt mùa sinh sản. Trong mùa sinh sản, một cua cái có thể đẻ trứng 1 - 3 lần và thụ tinh nhờ tinh trùng nhận được vào đầu mùa sinh sản [6],[13]. Ngược lại với cua cái con đực khi lột xác thì cua cái sẽ ăn thịt do vậy trong tự nhiên khi đến mùa sinh sản thường bắt gặp cua cái nhiều hơn cua đực. 1.1.6.4. Sự đẻ trứng, thụ tinh và phát triển cua phôi Cua cái sau khi nhận túi tinh, tế bào trứng tiếp tục sinh trưởng khi chín muồi tuyến sinh dục, bắt đầu đẻ trứng và thụ tinh. Khi đẻ trứng cua cái nằm ở đáy, trứng đẻ 10 ra được chứa trong phần bụng con cái, trứng có 2 lớp màng: Màng ngoài hút nước trương lên, giữa 2 lớp màng có niêm dịch, nhờ cử động của phần bụng, trứng bám trên lông tơ của chân bụng, kéo dài ra thành “cuống trứng”, làm cho trứng tuy dính vào lông tơ của chân bụng nhưng vẫn “tự do” mà trứng không dính lại với nhau [5],[13]. Số lượng trứng của cua cái đẻ rất lớn, một con cái có trọng lượng 300 gram có thể đẻ và mang trên 1 triệu trứng. Trứng được cua mẹ ôm và ấp cho đến lúc thành ấu trùng Zoea. Trứng mới đẻ ra có màu vàng tươi, sau khi đẻ 1 giờ tất cả trứng được thụ tinh sẽ bắt đầu phân cắt. Ở điều kiện nhiệt độ nước 28 – 30oC, độ mặn 28 – 33 ppt, pH từ 7 – 8,5 thì quá trình phát triển diễn ra bình thường. Sự phân cắt diễn ra như sau: Sự phân cắt và phôi vị hoá đều xảy ra trong 5 ngày đầu, khi trứng ngã sang màu xám thì bắt đầu xuất hiện mầm chân mắt. Lúc đầu mắt có dạng mảnh dài, màu sáng, đối xứng hai bên, xung quanh xuất hiện các đốm hình sao và cuối cùng hình thành đôi mắt kép màu đen [7],[8]. Ấu trùng phá màng vỏ chui ra ngoài bước vào thời kỳ ấu trùng Zoea, gặp điều kiện thuận lợi cua ấp trứng tốt, phôi phát triển đồng đều ấu trùng nở ra đồng loạt và thường từ 3 - 6 giờ ấu trùng nở xong thì kết thúc quá trình sinh sản. Bảng 1.2 : Tóm tắt quá trình phát triển phôi cua biển [1],[3] Quá trình phát triển Màu sắc – kích thước Sau 1 giờ trứng bắt đầu phân cắt Quá trình phôi vị sau 5 – 7 ngày Xuất hiện điểm mắt sau 7 ngày Xuất hiện nhịp tim sau 10 ngày Xuất hiện đày đủ các phần phụ, nhịp tim đập nhanh, mạnh đến khi vỏ trứng nở ra xuất hiện ấu trùng sau 13 – 14 ngày (kể từ khi đẻ) Vàng da cam (270µm ) Vàng xám (320µm) Xám vàng nâu (390µm) Xám đen (480µm) Đen 1.1.6.5. Phát triển của các giai đoạn ấu trùng Ấu trùng khi mới nở ra khỏi cua mẹ thì bước ngay vào thời kỳ ấu trùng Zoea. Các giai đoạn ấu trùng cua biển (Scylla sp) có thể phân biệt bằng những đặc điểm cơ bản sau [2]. 11 Bảng 1.3 : các giai đoạn ấu trùng cua biển Giai đoạn Thời gian Kích cỡ sau khi (mm) Đặc điểm phân biệt quan trọng nở (ngày) Zoea 1 0–3 1,65 Mắt chưa có cuống, chân hàm I và II đều mang 4 lông tơ trên nhánh ngoài, có 5 đốt bụng. Zoea 2 3–6 2,18 Mắt có cuống, nhánh ngoài của chân hàm I và II mang 6 lông tơ, có 5 đốt bụng. Zoea 3 6–8 2,70 Nhánh ngoài của chân hàm I mang 8 lông tơ, chân hàm II mang 9 lông tơ, có 6 đốt bụng, gai bên của đốt bụng 3 - 5 dài hơn. Zoea 4 8 – 11 3,54 Nhánh ngoài của chân hàm I mang 10 lông tơ, chân hàm II mang 10 lông dài, 1 - 2 lông ngắn, mầm chân bụng xuất hiện trên các đốt bụng 2 - 6. Zoea 5 10 – 16 4,50 Nhánh ngoài của chân hàm I mang 11 lông dài, 1 - 4 lông ngắn, nhánh ngoài của chân hàm II mang 12 lông dài và 2 - 3 lông ngắn, chân bụng trên đốt bụng 2 - 6 rất phát triển, nhánh ngoài của chân bụng có thể mang 1 - 2 lông tơ. Megalop 15 – 23 4,01 Mất gai lưng, gai trán rất ngắn, mắt to Telson không còn chẻ 2 mà dạng bầu dục và có nhiều lông trên chân đuôi, chân bụng rất phát triển và có nhiều lông trên các nhánh, ấu trùng mang 2 càng. Cua con (Cua 1) 23 – 30 2-3 CW Cua có hình dạng như cua trưởng thành mặc dù carapace hơi tròn. 12 1.2. Hiện trạng nghề sản xuất giống cua xanh 1.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Cua biển là đối tượng nuôi mang lại hiệu quả kinh tế cao ở nhiều nước trên thế giới. Vì vậy đã có nhiều công trình nghiên cứu về đối tượng này. Ong (1964) lần đầu tiên đã mô tả các giai đoạn của ấu trùng cua. Ấu trùng cua sau khi nở là Zoea 1, trải qua 4 lần lột xác trở thành Zoea 5, trong khoảng 17 20 ngày. Zoea 5 biến thái thành Megalop và giai đoạn này kéo dài 8 - 11 ngày, sau đó ấu trùng trở thành cua con. Cua con trải qua 16 - 18 lần lột xác nữa trước khi thành thục, thời gian này ít nhất khoảng 338 - 523 ngày, nhìn chung chu kỳ sống của cua được chia làm 4 giai đoạn chính: Giai đoạn ấu trùng, cua con, tiền trưởng thành và trưởng thành. Trong quá trình phát triển cùng với sự lột xác các loài cua nói chung có khả năng tái sinh những phần đã bị mất của cơ thể [2]. Năm 1983, Heasman, MP & Fielder, D.R đã thử nghiệm cho cua đẻ ở phòng thí nghiệm và nuôi đại trà cua biển từ giai đoạn zoea đến cua bột. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Cần duy trì chất lượng nước bằng hệ thống lọc nước tuần hoàn, với các điều kiện môi trường, nhiệt độ nước 27oC, độ mặn 28 – 32‰, mật độ thức ăn nauplius Artemia 5 – 30 con/L được coi là điều kiện thích hợp cho quá trình ương nuôi ấu trùng. Với điều kiện này tỷ lệ sống đạt 1 – 4% [12]. Trong suốt quá trình thành thục, cua di cư ra ngoài cửa biển. Qua phân tích tỉ lệ giới tính của cua ở vùng nước lợ và nước ngọt, Prasad (1987) thấy rằng tỉ lệ phần trăm con đực và con cái tương đương nhau ở hai vùng nước. Theo Ong cũng nêu lên rằng, tỉ lệ con cái, đặc biệt là con cái trưởng thành giảm đáng kể ở vùng nước lợ tại thời điểm đỉnh cao của mùa sinh sản và tăng lên trong các quần thể cua ở nước mặn và cua có trứng chỉ tìm thấy ở vùng biển của Ấn Độ . Nghiên cứu ảnh hưởng các yếu tố môi trường như nhiệt độ, độ mặn lên tỷ lệ sống và phát triển của ấu trùng một số giống loài cua được nhiều tác giả nghiên cứu ở những môi trường khác nhau và đã được báo cáo. Chandran (1968) và Prasad 13 (1989) giả thuyết rằng độ mặn, nhiệt độ và khả năng cung cấp thức ăn là những nhân tố quan trọng kích thích cơ thể đẻ trứng [8]. Nghiên cứu của Prasad (1989) chỉ ra độ mặn và nhiệt độ không cao cũng không thấp vào mùa sinh sản rộ là điều kiện rất lý tưởng cho quá trình ấp trứng và phát triển của ấu trùng [8]. Trong thí nghiệm đánh giá về ảnh hưởng của nhiệt độ và độ mặn đến ấu trùng Zoea đầu tiên, Hill (1974) thấy rằng ấu trùng Zoea sống trong điều kiện nhiệt độ 25oC hoặc độ mặn dưới 17,5 ppt bị tử vong đáng kể và ông cho rằng ấu trùng Zoea không thích hợp với điều kiện môi trường vùng cửa sông. Cũng theo ông, ấu trùng có thể chịu đựng được nhiệt độ dưới 15oC, nhưng chúng sẽ trở nên bất động ở dưới 10oC. Ông còn cho rằng cua cái sẽ không di cư ra vùng biển có nhiệt độ dưới 12oC để đẻ trứng. Tuy nhiên, Heasman và ctv (1983) lại nhận thấy tần số bắt mồi của ấu trùng cua tăng lên khi nhiệt độ tăng trên khoảng 20 – 27oC và chậm lại khi nhiệt độ thấp dưới 20oC. Một số thí nghiệm khác cũng cho thấy ương ấu trùng cua đạt kết quả tốt hơn ở nhiệt độ 27 – 30oC và độ mặn khoảng 35 ppt so với các điều kiện nhiệt độ và độ mặn khác (Marichamy và Rajackiam, 1991) [6]. Ong (1964) nhận thấy rằng giai đoạn Megalop lớn nhanh hơn khi độ mặn giảm xuống còn 21 - 27 ppt và chúng có khuynh hướng di chuyển vào vùng nước lợ. Mặc dù kỹ thuật sinh sản nhân tạo cua biển luôn được cải tiến nhằm hoàn thiện nhưng đến nay kết quả vẫn chưa được như mong muốn, còn gặp nhiều trở ngại, tỷ lệ sống ấu trùng còn thấp và không ổn định. 1.2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước Việt Nam có nguồn lợi cua biển rất phong phú, điều kiện tự nhiên thuận lợi cho nghề nuôi cua biển phát triển. Vì vậy ở nước ta có rất nhiều tác giả nghiên cứu về đối tượng này. Nghiên cứu của Hải (1997) khi nuôi vỗ cua cắt mắt trong bể 1m3, cua có thể đẻ trong vòng 5 ngày sau khi cắt mắt và thả nuôi. Tuy nhiên, cũng có trường hợp kéo dài đến 111 ngày mới đẻ và một số con không đẻ. Cua đẻ trứng không luôn 14 luôn xảy ra vào những ngày trăng kém hay trăng rằm mà bất kỳ ngày nào trong tháng. Cua thường đẻ trứng vào ban đêm, song cũng có lúc đẻ trứng vào buổi sáng hay chiều. Cua cái tham gia đẻ trứng thường có kích cỡ 200 - 300 gram, cua có thể đẻ lại sau 20 - 30 ngày. Để giải quyết vấn đề con giống, Bộ Khoa học & Công nghệ và Bộ Thủy sản (nay là Bộ Nông nghiệp và PTNT) đã quan tâm, giao nhiệm vụ cho các Viện Nghiên cứu triển khai thực hiện từ những năm 1980, nhưng tại thời điểm đó các tác giả chủ yếu tập trung nghiên cứu về định loài và nghiên cứu đặc điểm sinh học làm cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo sau này. Trong những năm đầu của thập kỷ chín mươi, các tác giả như Hoàng Đức Đạt, Đoàn Văn Đẩu, Nguyễn Cơ Thạch nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản và sản xuất giống, với mong muốn tìm ra quy trình sản xuất giống nhân tạo, kết quả đạt được vẫn còn hạn chế. Trung tâm Nghiên cứu Thủy sản III (nay là Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III) thực hiện đề tài “Nghiên cứu sinh sản nhân tạo và xây dựng quy trình kỹ thuật sản xuất giống cua xanh loài Scylla paramamosain”. Qua 3 năm thực hiện, đến cuối năm 2000, Nguyễn Cơ Thạch và cộng tác viên đã nghiên cứu sản xuất giống thành công, viết báo cáo khoa học và đề tài đã được nghiệm thu [10]. Viện Nghiên cứu NTTS III (2004) bắt đầu chuyển giao công nghệ sản xuất giống cua xanh nhân tạo cho một số Trung tâm Khuyến ngư, Trung tâm Giống các tỉnh: Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Thừa Thiên Huế, Bến Tre, Phú Yên, Sóc Trăng, Bình Định và Quảng Bình. Tuy nhiên do tỉ lệ sống các giai đoạn ấu trùng từ giai đoạn Zoea 1 đến cua bột 1 đạt khoảng 5%, lượng cua giống nhân tạo được sản xuất ra còn ít, chưa trở thành hàng hoá phục vụ cho nuôi cua thương phẩm. Năm 2006 – 2007, Viện Nghên Cứu Nuôi Trồng Thủy Sản III đã thực hiện dự án chuyển giao công nghệ sản xuất giống cua biển loài scylla paramamosain cho Trung tâm Khuyến ngư của 2 tỉnh là Bà Rịa – Vũng Tàu và Thái Bình, do Nguyễn Diễu làm chủ nhiệm dự án. Kết quả đạt được qua các đợt sản xuất tại hai tỉnh với tỷ lệ sống từ 13 – 15% [4]. 15 PHẦN 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. 1. Thời gian, địa điểm và đối tượng nghiên cứu 2.1.1. Thời gian nghiên cứu: Từ ngày 22/2/2012 đến ngày 5/5/2012 2.1.2. Địa điểm nghiên cứu: Khu sản xuất giống thủy sản Bình Kiến – Tp. Tuy Hòa thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Phú Yên. 2.1.3. Đối tượng nghiên cứu: Cua xanh, loài Scylla paramamosain Estampador, 1949 2.2. Phương pháp nghiên cứu 2.2.1. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 16 Tìm hiểu kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo Cua Xanh (Scylla paramamosain Estampador, 1949) Kỹ thuật cho sinh sản nhân tạo cua xanh Tìm hiểu điều kiện tự nhiên và hệ thống công trình phục vụ Điều kiện tự nhiên tỉnh Phú Yên Hệ thống công trình phục vụ sản xuất Kỹ thuật tuyển chọn cua mẹ Kỹ thuật nuôi vỗ và cho đẻ Kỹ thuật ương ấu trùng lên cua bột Kỹ thuật ấp trứng và thu ấu trùng Kỹ thuật ương từ Z1 đến Z5 Kết luận và đề xuất ý kiến Hình 2.1. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu Kỹ thuật ương từ Z5 đến cua bột 17 2.2.2. Phương pháp thu thập số liệu a. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp - Thu thập số liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên, đặc điểm sinh học, sinh sản, dinh dưỡng, tình hình sản xuất giống ... thông qua các tài liệu, sách báo, tạp chí, luận văn của các khóa trước, kết quả nghiên cứu và báo cáo của các cơ quan chức năng. b. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp Điều tra phỏng vấn qua cán bộ kỹ thuật tại cơ sở và trực tiếp tham gia sản xuất thu thập số liệu về các nội dung sau:  Xác định các yếu tố môi trường: Hàng ngày theo dõi các yếu tố môi trường trong bể ương 2 lần, vào lúc 6 giờ và 14 giờ. Bảng 2.1: Dụng cụ đo yếu tố môi trường và chỉ tiêu trong sản xuất  STT Yếu tố cần đo Dụng cụ Sai số 1 pH Test pH 0.1 2 Nhiệt độ Nhiệt kế 1oC 3 Độ mặn Tỷ trọng kế 1ppt 4 Kích thước bể Đo bằng thước dây 1 cm 5 Trọng lượng cua mẹ Cân bằng cân đĩa 6 Kích thước cua mẹ Đo bằng thước dây 1cm Phương pháp định lượng ấu trùng Ấu trùng Zoea1 lúc mới nở: Sau khi ấu trùng zoae vừa mới nở ta thu toàn bộ ấu trùng vào thùng nhựa, dùng ống đong 100 mL lấy đầy mẫu nước có ấu trùng vào ống đong. Đếm số lượng ấu trùng trong ống đong, làm như vậy 3 lần và lấy số trung bình của 3 lần đếm. Biết được thể tích nước chứa ấu trùng trong thùng nhựa suy ra số ấu trùng thu được. Ấu trùng ở giai đoạn sống trôi nổi: Dùng cốc đong 1L nước và lấy 4 điểm trong bể ương ấu trùng sau đó cho vào xô rồi đếm số lượng ấu trùng trong xô. 18  Cách tính tỷ lệ thụ tinh Lấy 100 trứng ở những điểm khác nhau trên buồng trứng. Sau đó đếm số lượng trứng thụ tinh và không thụ tinh. c. Một số công thức tính toán các thông số kỹ thuật - Tỷ lệ thụ tinh : TLTT = a/b * 100% TLTT : tỷ lệ thụ tinh a: số trứng phân cắt trong mẫu kiểm tra b: tổng số trứng kiểm tra - Tỷ lệ sống của ấu trùng: TLS = x/y * 100 % TLS: tỷ lệ sống X: tổng số ấu trùng giai đoạn sau Y: tổng số ấu trùng giai đoạn trước - Thời gian biến thái ấu trùng : T = T1 – T2 T: Thời gian biến thái T1: Thời điểm xuất hiện đắc điểm ấu trùng giai đoạn trước T2: Thời điểm xuất hiện đặc điểm ấu trùng giai đoạn sau - Mật độ ương nuôi ấu trùng: MĐ = X/Y MĐ: Mật độ ương X : Tổng số ấu trùng trong bể
- Xem thêm -