Tài liệu Tích hợp văn hóa trong dạy học văn học dân gian ở trường trung học phổ thông

  • Số trang: 117 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 149 |
  • Lượt tải: 1
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM --------------------- NÔNG THỊ THU BẰNG TÍCH HỢP VĂN HÓA TRONG DẠY HỌC VĂN HỌC DÂN GIAN Ở TRƢỜNG THPT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC Thái Nguyên - 2010 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM --------------------- NÔNG THỊ THU BẰNG TÍCH HỢP VĂN HÓA TRONG DẠY HỌC VĂN HỌC DÂN GIAN Ở TRƢỜNG THPT Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP DẠY - HỌC VĂN TIẾNG VIỆT Mã số: 60.14.10 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. Nguyễn Gia Cầu Thái Nguyên - 2010 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn Lời cảm ơn Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn Gia Cầu - người đã hướng dẫn em trong suốt quá trình làm luận văn. Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn, khoa Sau Đại học trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn. Tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn Sở Giáo dục đào tạo Cao Bằng; Ban giám hiệu Trường THPT Cách Linh, Phục Hòa, Cao Bằng; bạn bè; đồng nghiệp đã tạo điều kiện cho em trong suốt thời gian qua. Tác giả luận văn Nông Thị Thu Bằng QUY ƢỚC VIẾT TẮT GV : Giáo viên HS : Học sinh Nxb : Nhà xuất bản SGK : Sách giáo khoa SGV : Sách giáo viên THPT : Trung học phổ thông THCS : Trung học cơ sở Tr : Trang VHDG : Văn học dân gian MỤC LỤC MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1 1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................ 1 2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................... 3 3. Mục đích nghiên cứu ..................................................................................... 9 4. Đối tƣợng nghiên cứu .................................................................................... 9 5. Nhiệm vụ nghiên cứu..................................................................................... 9 6. Phƣơng pháp nghiên cứu ............................................................................... 10 7. Bố cục luận văn ............................................................................................. 10 NỘI DUNG ........................................................................................................ 11 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TÍCH HỢP VĂN HÓA TRONG DẠY HỌC VĂN HỌC DÂN GIAN ..................................... 11 1.1. Một số vấn đề lý luận về VHDG ................................................................ 11 1.1.1. Bản chất và đặc trƣng của VHDG ............................................................ 11 1.1.2. Hƣớng khai thác VHDG trong chƣơng trình THPT .................................. 15 1.1.3.Văn học dân gian trong chƣơng trình SGK Ngữ văn 10 tập 1 ................... 17 1.2. Văn hóa và văn hóa trong văn học dân gian ................................................ 19 1.2.1. Khái niệm văn hóa ................................................................................... 19 1.2.2. Văn hóa trong văn học dân gian ............................................................... 21 1.3. Lý thuyết tích hợp....................................................................................... 24 1.4. Tích hợp văn hóa ........................................................................................ 30 1.5. Khảo sát thực tế dạy học VHDG ở trƣờng THPT ........................................ 31 CHƢƠNG 2: ĐỊNH HƢỚNG TÍCH HỢP VĂN HÓA TRONG DẠY HỌC VĂN HỌC DÂN GIAN Ở TRƢỜNG THPT ................................................................ 36 2.1. Nguyên tắc của việc đề ra phƣơng hƣớng và biện pháp để thực hiện tích hợp văn hóa trong dạy học văn học dân gian ở trƣờng THPT ................................... 36 2.2.Một số phƣơng hƣớng và biện pháp để thực thi tích hợp văn hóa trong dạy học văn học dân gian ở trƣờng THPT ....................................................................... 38 2.2.1. Phƣơng hƣớng thực thi tích hợp văn hóa trong dạy học VHDG ở trƣờng THPT ................................................................................................................ 38 2.2.1.1. Nắm vững những mục tiêu cơ bản của chƣơng trình môn Ngữ văn THPT, trong đó có mục tiêu tích hợp văn hóa ............................................................... 38 2.2.1.2. Trang bị kiến thức về tích hợp và kiến thức về văn hóa cho giáo viên để có thể vận dụng linh hoạt trong giờ dạy học VHDG ............................................... 40 2.2.1.3. Nghiên cứu phần VHDG trong chƣơng trình Ngữ văn THPT nhằm phát hiện khả năng tích hợp văn hóa......................................................................... 41 2.2.1.4. Thiết kế dạy học VHDG mang tính tích hợp văn hóa ............................ 44 2.2.1.5. Không biến giờ dạy học VHDG thành giờ dạy văn hóa ......................... 45 2.2.1.6. Đánh giá hiệu quả giờ dạy chất lƣợng dạy............................................. 46 2.2.2. Một số biện pháp thực thi tích hợp văn hóa trong dạy học văn học dân gian ở trƣờng THPT ..................................................................................................... 49 2.2.2.1. Giáo viên và học sinh chuẩn bị cho giờ dạy học một cách chu đáo ........ 49 2.2.2.2. Dạy học tích hợp văn hóa ở mỗi văn bản VHDG .................................. 50 2.2.2.3. Không chỉ tích hợp ở nội dung mà tích hợp ở cả phƣơng pháp ..............55 2.2.2.4. Không chỉ tích hợp văn hóa khi dạy học mà khi ôn tập VHDG cũng tích hợp tri thức văn hóa ........................................................................................... 56 2.2.2.5. Tổ chức hoạt động ngoại khóa .............................................................. 56 CHƢƠNG 3: THIẾT KẾ THỰC NGHIỆM DẠY HỌC TÍCH HỢP VĂN HÓA TRONG DẠY HỌC VĂN HỌC DÂN GIAN Ở TRƢỜNG THPT ......................... 59 3.1. Nội dung của tích hợp văn hóa trong dạy học VHDG ................................ 59 3.2. Thiết kế thực nghiệm ................................................................................. 77 3.2.1. Mục đích thực nghiệm ............................................................................ 77 3.2.2. Đối tƣợng, địa bàn và thời gian thực nghiệm........................................... 77 3.2.3. Thiết kế dạy học ..................................................................................... 78 3.3. Giải thích ý đồ thiết kế dạy học.................................................................. 88 3.4. Kết quả thực nghiệm .................................................................................. 91 3.5. Đánh giá kết quả thực nghiệm.................................................................... 92 KẾT LUẬN ...................................................................................................... 93 TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................. 96 MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài 1.1. Văn học dân gian (VHDG) là một bộ phận đặc biệt của nền văn học Việt Nam. Dạy một tác phẩm VHDG cũng nhƣ dạy học một tác phẩm văn chƣơng, cần phải chú ý dạy theo đặc trƣng thi pháp thể loại. Tuy nhiên VHDG là một bộ phận văn học đặc biệt, có những đặc điểm riêng biệt so với văn học viết. Khi dạy, ta không chỉ chú ý đến những yếu tố ngoài văn bản nhƣ hoàn cảnh ra đời, các yếu tố lịch sử.v.v… mà cần chú ý nhiều hơn đến môi trƣờng sinh hoạt văn hóa đặc trƣng của từng vùng miền – nơi đã khai sinh ra tác phẩm đầu tiên và nơi xuất hiện thêm những dị bản. Những yếu tố đó có những ảnh hƣởng nhất định đến nội dung tƣ tƣởng của tác phẩm VHDG. Chúng ta biết rằng văn học dân gian vừa là văn học vừa là văn hóa, VHDG có nguồn gốc từ trong văn hóa dân gian mà biểu hiện của nó là ở nội dung phản ánh. VHDG đã phản ánh những vấn đề nằm trong nội dung của văn hóa truyền thống, thực hiện những chức năng của văn hóa truyền thống. Những gì SGK đƣa đến cho học sinh chỉ là những văn bản ngôn từ, mà VHDG thì không phải là những văn bản ngôn từ nhƣ văn học viết mà VHDG chỉ thật sự sống khi nó nằm trong môi trƣờng riêng của nó – môi trƣờng diễn xƣớng. Chúng ta đều biết VHDG không phải là văn hóa đọc mà là văn hóa diễn xƣớng. Nó là sự kết hợp của cả nói, kể, hát, múa.v.v… Vì thế, để hiểu một cách trọn vẹn về một tác phẩm VHDG, học sinh (HS) cần nắm vững đƣợc thế giới đã tạo nên tác phẩm. Về vấn đề này, tác giả Hồ Liên đã viết: “Văn hóa dân tộc quốc gia là nguồn sữa tinh thần nuôi dƣỡng và hình thành nhân cách của mỗi cá thể trong cộng đồng. Vốn hiểu biết cơ bản và có hệ thống về văn hóa Việt Nam là hết sức cần thiết và bổ ích trong sự nghiệp đào tạo thế hệ trẻ, hình thành nhân cách văn hóa, bản lĩnh chính trị và cả tiềm lực chuyên môn của họ. Văn hóa Việt Nam phải là môn học bắt buộc và hữu ích không chỉ trong chƣơng trình đại học, cao đẳng, dạy nghề, mà trƣớc hết trong các cấp học phổ thông.” [22] 1 Vấn đề dạy học văn hóa trong nhà trƣờng phổ thông hiện nay đang đƣợc chú ý đến. Văn học có trở thành một môn học trong trƣờng phổ thông nhƣ mong muốn của tác giả Hồ Liên hay không thì trƣớc mắt tích hợp văn hóa trong dạy học VHDG nói riêng và văn học nói chung là một trong những hƣớng đi để tích lũy, kế thừa và phát huy văn hóa và văn học dân tộc. Hơn thế nữa, giáo dục văn hóa cho học sinh góp phần hình thành nhân cách cho những chủ nhân tƣơng lai của đất nƣớc. 1.2. Hiện nay, nhằm nâng cao chất lƣợng dạy và học, nội dung chƣơng trình sách giáo khoa (SGK )cũng nhƣ phƣơng pháp dạy học càng đƣợc quan tâm nhiều hơn. Trong cuốn SGK Ngữ văn 10, tập 1(sách cơ bản), Nxb Giáo dục, 2006, phần VHDG đã có nhiều sự thay đổi so với chƣơng trình SGK chỉnh lý hợp nhất năm 2000. Trích đoạn “Đi bắt nữ thần Mặt trời”(Sử thi Đăm Săn) đƣợc thay bằng trích đoạn “Chiến thắng Mtao Mxây”(Sử thi Đăm Săn), gộp hai chùm bài cao dao Những câu hát than thân; Những câu hát nghĩa tình thành chùm Ca dao than thân yêu thương tình nghĩa và có thêm chùm Ca dao hài hước. Ngoài ra, chƣơng trình còn đƣa thêm thể loại truyện cƣời vào phần đọc văn và thể loại chèo (chƣơng trình nâng cao) vào phần đọc thêm. Sự thay đổi này làm phong phú thêm lƣợng tri thức VHDG cho học sinh. Tuy đã có những hƣớng dẫn cụ thể về việc thực hiện chƣơng trình mới nhƣng trong quá trình thực hiện, cả giáo viên và học sinh vẫn gặp phải một số khó khăn, lúng túng. Trên thực tế dạy học của bản thân và những lần dự giờ đồng nghiệp, ngƣời viết nhận thấy không phải giờ dạy học tác phẩm VHDG nào cũng giản dị, dễ hiểu nhƣ đặc trƣng vốn có của những tác phẩm VHDG, và đôi khi không đạt đƣợc hiệu quả nhƣ mong muốn. Trong những giờ dạy học đó, có những bài học giáo viên (GV) khai thác nhƣ bài học ở các thể thành văn, giáo viên chỉ phân tích một cách cô lập trên văn bản ngôn từ mà không đặt tác phẩm vào trong môi trƣờng diễn xƣớng, môi trƣờng văn hóa dân gian… để khai thác, hoặc là chỉ diễn nôm tác phẩm VHDG. Một trong những phƣơng pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học là phƣơng pháp tích hợp. Vấn đề dạy học theo hƣớng tích hợp đã đƣợc chú ý và thực thi không chỉ riêng bộ môn Văn mà bao gồm tất cả các môn học khác. Đối với môn Văn, hiện nay 2 dạy học theo hƣớng tích hợp chủ yếu là tích hợp các kiến thức của cả ba phân môn (đọc văn, tiếng Việt, làm văn) trong môn Ngữ Văn hoặc tích hợp kiến thức của các môn học khác nhƣ: Lịch sử, Địa lý… còn vấn đề tích hợp văn hóa trong dạy học văn tuy cũng đã đƣợc đề cập đến song chƣa nhiều. Tích hợp văn hóa trong dạy học VHDG sẽ giúp nâng cao năng lực cảm thụ văn học nói chung và VHDG nói riêng. Ngoài ra, trƣớc hiện thực hội nhập của cuộc sống hiện đại, văn hóa cũng đang đƣợc hòa nhập và có nguy cơ hòa tan thì giáo dục văn hóa cho học sinh thông qua các môn học trong nhà trƣờng cũng là một biện pháp để bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Trong khi còn đang băn khoăn không biết có nên đƣa văn hóa trở thành một môn học trong trƣờng phổ thông hay không thì tích hợp văn hóa trong dạy học VHDG là một biện pháp giúp học sinh hiểu rõ hơn về văn hóa truyền thống, từ đó nâng cao ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Chính Tổng bí thƣ Nông Đức Mạnh cũng đã nói: “Văn hóa là một trong những đặc trƣng của dân tộc; một dân tộc, nếu để mai một truyền thống văn hóa thì khó mà giữ đƣợc bản sắc văn hóa dân tộc. Văn hóa là những lĩnh vực cốt lõi của sự tồn tại mỗi dân tộc. Muốn xây dựng kinh tế phải có con ngƣời đƣợc đào tạo, rèn luyện trong một môi trƣờng văn hóa lành mạnh” [23] Hơn nữa, bản chất của VHDG vừa là văn học vừa là văn hóa, dạy học VHDG vừa để học sinh hiểu và cảm đƣợc những đời sống tinh thần của dân tộc Việt qua những tác phẩm VHDG, vừa biết gìn giữ những giá trị văn hóa lâu đời của ngƣời Việt để đến muôn đời sau. Vì vậy, ngƣời viết mạnh dạn chọn đề tài “Tích hợp văn hóa trong dạy học văn học dân gian ở trường THPT” với mong muốn có một chút đóng góp cho sự nghiệp giáo dục nói chung và việc dạy học Ngữ Văn nói riêng. 2. Lịch sử vấn đề 2.1. Về vấn đề nghiên cứu phƣơng pháp dạy học VHDG Về dạy học VHDG trong trƣờng trung học phổ thông (THPT), cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu, chủ yếu tập trung vào việc dạy học theo loại thể. 3 - “Mấy vấn đề về phương pháp giảng dạy - nghiên cứu văn học dân gian”, GS. Hoàng Tiến Tựu, Nxb GD, 1993. Trong cuốn sách này, GS đã khẳng định sự cần thiết xây dựng những quy phạm riêng cho việc dạy học VHDG ở trƣờng phổ thông. Tác giả đề cập đến các phƣơng pháp nghiên cứu VHDG, làm sáng tỏ vấn đề dạy học VHDG theo đặc trƣng loại thể nhƣ: Dạy truyện dân gian, tục ngữ, ca dao… Ở mỗi thể loại tác giả đƣa ra cách khai thác theo từng bƣớc, từng khâu; ở mỗi bƣớc, mỗi khâu từng lớp ý nghĩa tác phẩm đƣợc dần dần khám phá. - “Những đặc điểm thi pháp của các thể loại VHDG”, GS. Đỗ Bình Trị, Nxb GD, 1999, đề cập tới mục đích của việc nghiên cứu thi pháp thể loại: “Thể loại đƣợc gọi là đơn vị cơ sở của văn hóa dân gian và là điểm xuất phát tất yếu của công việc nghiên cứu văn học dân gian. Và mỗi thể loại văn học dân gian có cách nói riêng của nó. Thi pháp thể loại chính là cách nói riêng ấy. Có nắm đƣợc thi pháp thể loại mới có khả năng “giải mã” các tác phẩm thuộc thể loại”. Tác giả cũng chỉ rõ, trong nhà trƣờng “việc nghiên cứu thi pháp thể loại ngƣời giáo viên không những có khả năng tự hiểu mình đúng, hiểu sâu hơn các tác phẩm văn học dân gian trong chƣơng trình, mà còn có khả năng hoàn thiện hệ thống thao tác phân tích tác phẩm nhằm luyện tập cho học sinh cách đọc – hiểu tác phẩm ngay chính trong quá trình các em đƣợc hƣớng dẫn tìm hiểu tác phẩm”. Nhƣ vậy, tác giả một lần nữa nhấn mạnh tới vai trò của thi pháp thể loại, coi đó là chìa khóa giúp cho ngƣời giáo viên mở cánh cửa VHDG trong nhà trƣờng. - Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương (theo loại thể), Nguyễn Viết Chữ, Nxb Đại học sƣ phạm, 2004. Đây là một chuyên đề khoa học của ngành khoa học phƣơng pháp dạy học văn với tính chất đặt vấn đề và bƣớc đầu tìm đến, xác định những mấu chốt trong cơ chế: thầy, trò, tác phẩm, nhà văn… khi chủ quan, khi khách quan, khi ẩn, khi hiện. Trong cuốn sách này, về phần VHDG, tác giả đã phân VHDG thành hai loại hình tự sự dân gian và trữ tình dân gian. Trong đó, tự sự dân gian gồm thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cƣời, sử thi; trữ tình dân gian gồm có tục 4 ngữ và ca dao. Ở mỗi thể loại, tác giả nêu đặc trƣng thể loại, sau đó đƣa ra những phƣơng pháp dạy học cụ thể. - Phương pháp dạy học văn, tập 1, Phan Trọng Luận (chủ biên)- Trƣơng Dĩnh, Nxb Đại học sƣ phạm, 2004, tác giả cũng đã nhấn mạnh đến việc dạy học VHDG theo thể loại. Khi biên soạn phần phụ lục 1 GIẢNG DẠY VĂN HỌC DÂN GIAN THEO THỂ LOẠI, tác giả đã nêu một số vấn đề về thi pháp văn học dân gian, sau đó đƣa một số phƣơng pháp cụ thể ở mỗi thể loại văn học dân gian. Trong đó tác giả có nhấn mạnh việc dạy học VHDG theo quan điểm hệ thống bằng phƣơng pháp hệ thống. Đây cũng là quan điểm dạy học VHDG theo thi pháp VHDG. Tác giả cũng đã đƣa ra một mô hình tiếp cận VHDG theo phƣơng pháp hệ thống. Bên cạnh các công trình chúng tôi đã nêu trên còn rất nhiều công trình quý báu giúp ngƣời hoàn thành luận văn nhƣ cuốn “Giảng văn văn học dân gian Việt Nam”, Vũ Anh Tuấn, Nguyễn Xuân Lạc, NXB Giáo dục, 1993; “Văn học Việt Nam – Văn học dân gian, những công trình nghiên cứu”, của nhiều tác giả, do Bùi Mạnh Nhị chủ biên, NXB Giáo dục, tái bản 2000… Và những cuốn sách tham khảo đã đƣợc xuất bản. Sách tham khảo đƣợc chia thành hai loại: loại sách phân tích, bình giảng các tác phẩm trong chƣơng trình SGK; loại sách gợi ý về phƣơng pháo dạy học nhƣ cuốn Thiết kế bài giảng Ngữ văn 10 của TS. Hoàng Hữu Bội, Thiết kế bài học Ngữ văn 10 do GS Phan Trọng Luận chủ biên… 2.2. Vấn đề tích hợp trong môn Ngữ văn *) Về vấn đề tích hợp, cũng đã có nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. - “Đổi mới việc dạy và học môn Ngữ Văn ở THCS” và “Tìm hiểu chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn trung học phổ thông”, TS. Đỗ Ngọc Thống, Nxb GD, 2002, 2006, tác giả đã có một hệ thống bài viết về quan điểm tích cực và việc dạy học Văn theo hƣớng tích hợp, giúp ngƣời đọc hiểu rõ “việc lấy tên chung của cuốn sách là Ngữ Văn không chỉ đơn thuần là dồn ba phân môn lại thành một cuốn sách theo kiểu gộp lại mà chúng đƣợc xây dựng theo tinh thần tích hợp”. Trong bài viết “Dạy học môn Ngữ văn theo nguyên tắc tích hợp”, tác giả chỉ ra ba biểu hiện của tích hợp là “trong cuốn sách cả ba môn Văn, Tiếng Việt, làm Văn 5 cùng dựa trên một văn bản chung để khai thác, hình thành, rèn luyện các kiến thức và kĩ năng của mỗi phân môn”. Trên cơ sở đó, tác giả chỉ ra ƣu điểm của nguyên tắc dạy học tích hợp, tích hợp thể hiện trong việc xây dựng cấu trúc SGK, trong quá trình tổ chức giờ dạy học, thay đổi cách soạn giáo án, cách kiểm tra đánh giá chất lƣợng học sinh. - “Tích hợp trong dạy học Ngữ Văn”, GS. Nguyễn Thanh Hùng, Tạp chí Khoa học giáo dục số 6, tháng 3, năm 2006 đã chỉ ra bản chất của tích hợp và “phƣơng hƣớng phối hợp (Integrate) một cách tốt nhất của quá trình học tập của nhiều môn học cũng nhƣ các phân môn Văn, Tiếng Việt, Làm Văn trong một môn Ngữ Văn”. Trên cơ sở phân tích tƣ tƣởng tích hợp, tác giả chỉ ra ý nghĩa của tích hợp: “Tích hợp trong nhà trƣờng sẽ giúp học sinh học tập thông minh và vận dụng sáng tạo kiến thức, kĩ năng và phƣơng pháp của khối lƣợng tri thức toàn diện, hài hòa (Hamonie) và hợp lý (Algebra) trong tình huống khác nhau và mới mẻ của cuộc sống hiện đại”. Cũng bài viết này, tác giả chỉ ra “cái gốc của quan niệm tích hợp trong dạy học Ngữ văn” là “ Hiểu một cách đơn giản là dạy học ba phân môn hợp nhất, hòa trộn vào nhau, học cái này thông qua cái kia và ngƣợc lại”. Tác giả nêu rõ: “mục đích bao quát của nguyên tắc tích hợp trong chƣơng trình và SGK Ngữ văn là điều kiện giáo dục phù hợp, khả thi, phƣơng pháp dạy và học mới có hiệu quả và cơ sở lý luận tích hợp một cách khoa học cùng với cách thức và mô hình tích hợp đa dạng để hình thành và phát triển năng lực đọc hiểu tác phẩm văn chƣơng kết hợp với việc nâng cao dần kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, trong văn hóa giao tiếp cho học sinh”. -TS. Nguyễn Trọng Hoàn trong bài Tích hợp và liên hội hướng tới kết nối trong dạy học Ngữ văn (Tạp chí Giáo dục số 22, năm 2002) xác nhận: “Những tri thức riêng lẻ, tri thức bộ phận khi dạy học tích hợp sẽ đƣợc tiếp cận một cách có định hƣớng trong mối quan hệ đồng bộ của một bài học hoàn chỉnh và nhất quán theo đặc trƣng bộ môn. Nói cách khác, dạy học theo hƣớng tích hợp có thể giúp HS vừa nắm đƣợc kiến thức cơ bản, vừa hình thành đƣợc các thái độ, năng lực và kỹ năng thực tiễn mà môn học đặt ra. Đó cũng chính là rèn luyện cho HS tƣ duy tổng hợp”. 6 Cũng theo TS việc dạy học tích hợp “Đƣợc nhìn nhận nhƣ là quá trình GV tổ chức và hƣớng dẫn ngƣời học tiếp nhận và chuyển hoá kiến thức từ thể tiềm năng sang khả năng thực hiện”. Trên đây là một số cuốn sách bàn về tích hợp trong dạy học Ngữ văn mà ngƣời làm luận văn hệ thống đƣợc. Ngoài ra còn một số sách tham khảo, các bài báo, luận văn viết về tích hợp, tích cực trong dạy học. Rõ ràng là, đề cập tới vấn đề tích hợp, chúng ta có thể thấy rằng, ở mỗi công trình nghiên cứu có thể bàn đến một góc độ khác nhau của vấn đề. Nhƣng nhìn chung, các tác giả đều khẳng định vai trò quan trọng và tính tất yếu, khách quan của quan điểm dạy học này. 2.3. Vấn đề tích hợp văn hóa trong dạy học VHDG ở trƣờng phổ thông Vấn đề tích hợp trong dạy học văn nói chung và VHDG nói riêng đã đƣợc quan tâm chú ý, chủ yếu là tích hợp ba phân môn trong một môn Ngữ Văn, hay tích hợp giữa môn Ngữ Văn và các môn học khác. Còn việc tích hợp văn hóa trong dạy học môn Ngữ Văn cho đến hiện nay cũng đã đƣợc đề cập đến. - “Con đường giúp học sinh miền núi vượt qua khoảng cách lịch sử - văn hóa trong tiếp nhận văn chương”, Hoàng Hữu Bội, Báo văn nghệ Thái Nguyên, số 4, tháng 4 năm 1997. Trong bài viết này, tác giả đã chỉ ra cái khó khăn, lúng túng của học sinh miền núi khi tiếp nhận tác phẩm văn chƣơng với những yếu tố văn hóa lịch sử gắn với thời đại. Tác giả khẳng định “chính điều này tạo ra khoảng cách giữa tác phẩm với bạn đọc. Khoảng cách này càng rộng hơn đối với bạn đọc – học sinh miền núi”. Tác giả đã đƣa ra biện pháp để giải quyết tình trạng trên, điều quan trọng là trang bị vốn kiến thức văn hóa lịch sử, giúp các em làm quen với những phong tục tập quán khác quê hƣơng mình,với những thời đại ở xa thời đại mình… thông qua các phƣơng tiện nghe nhìn, truyền thông đại chúng… Điều này tuy “vụn vặt, mất thời gian” nhƣng lại gây đƣợc ấn tƣợng lớn với học sinh, giúp các em tạo đƣợc tâm thế để “hiểu tác phẩm… hình dung đƣợc diện mạo tình cảm của thời đại mà tác phẩm ấy ra đời”. 7 - “Tích hợp văn học với văn hóa trong dạy học tiếp nhận văn chương ở trường phổ thông”, Hoàng Thị Huyền Hƣơng, LV thạc sĩ, ĐHSP Huế, 2006. Luận văn đã phân tích, đánh giá thực trạng dạy học Ngữ văn của giáo viên cũng nhƣ học sinh đối với vấn đề tích hợp văn học với văn hóa trong dạy học tiếp nhận tác phẩm văn chƣơng, từ đó xây dựng lý luận thực tiễn nhằm đạt hiệu quả trong quá trình dạy học. - “Vận dụng tiếp cận văn hóa trong dạy học tác phẩm văn chương ở nhà trường phổ thông”, Bùi Thị Thu Hà, Tạp chí Giáo dục, số 167, 2007. Ở bài viết này, tác giả đƣa thêm một phƣơng diện tiếp cận tác phẩm văn chƣơng là vận dụng tiếp cận văn hóa. Mục đích là nâng cao chất lƣợng giờ học, hấp dẫn học sinh và tìm kiếm vẻ đẹp văn hóa, giá trị văn hóa của tác phẩm, tránh khuynh hƣớng tiếp nhận xã hội học dung tục. Vận dụng tiếp cận văn hóa trong dạy học tác phẩm văn chƣơng nên đi theo khuynh hƣớng tiếp cận văn bản, tiếp cận thi pháp, tiếp cận lịch sử phái sinh. - “Giảng dạy tục ngữ đạo đức lối sống (Ngữ văn 10 nâng cao) thông qua tìm hiểu tri thức tục ngữ về lối ứng xử trong sự giao thoa văn hóa”, Ngô Thị Thanh Quý, Tạp chí Giáo dục, số 174, 2007. Tác giả đã giới thiệu mở rộng thêm tri thức về tục ngữ về lối sống ứng xử trong sự giao thoa văn hóa của dân tộc Việt, Mƣờng, Tày – Nùng. Tác giả cũng đã chỉ ra nét tƣơng đồng giữa tục ngữ Tày – Nùng, Mƣờng và Việt là ngắn gọn, cô đọng, cặp đối tƣơng xứng, diễn đạt bằng thủ pháp nghệ thuật so sánh giàu hình tƣợng, tạo dấu ấn riêng cho mỗi dân tộc. Theo tác giả, nguyên nhân của sự giao thoa tri thức tục ngữ giữa các dân tộc là do vay mƣợn lẫn nhau trong quá trình giao lƣu văn hóa và do nguồn gốc chung trong lịch sử hình thành và phát triển. Chẳng hạn, dân tộc Mƣờng và Việt có chung nguồn gốc. - “Dạy học truyền thuyết theo hướng tiếp cận văn hóa”, Lỗ Bá Đạt, tạp chí Giáo dục, số 198, 2008. Ở bài viết này, tác giả đã chỉ ra một số khó khăn khi dạy học truyền thuyết và đƣa ra hƣớng dạy học truyền thuyết theo hƣớng tiếp cận văn hóa chủ yếu thông qua các biểu tƣợng văn hóa, gồm hai hoạt động chủ yếu là: Tự học tài liệu tham khảo và phân tích tác phẩm theo hƣớng tiếp cận văn hóa. Khi phân tích tác phẩm sẽ tiến hành theo ba bƣớc: Bƣớc 1: Tìm hiểu giá trị văn hóa dân tộc. 8 Bƣớc 2: Phân tích nhân vật qua hệ thống biểu tƣợng. Bƣớc 3: Tìm vẻ đẹp văn hóa của dân tộc trong cách ứng xử, thái độ, suy nghĩ, tình cảm, trí tuệ của nhân dân. Tác giả khẳng định: “Phƣơng pháp này vừa tôn trọng đặc trƣng của loại thể TT vừa đáp ứng đƣợc mục đích giáo dục văn hóa, phát triển giá trị nhân văn, hình thành nhân cách văn hóa cho học sinh; phù hợp yêu cầu đổi mới PPDH, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh” Các tài liệu trên đã đặt cơ sở lý luận cho việc dạy học VHDG theo hƣớng tích hợp với văn hóa. Đề tài này sẽ tiếp tục nghiên cứu, tổng hợp những vấn đề VHDG, về văn hóa, về hƣớng dạy học tích hợp để làm cơ sở cho việc khảo sát thực tế, tìm ra những thành công và hạn chế trong dạy học VHDG theo hƣớng tích hợp văn hóa. Trên cơ sở đó, đề xuất một số biện pháp phù hợp với lý luận và thực tế, đồng thời thiết kế một bài học VHDG theo hƣớng tích hợp văn hóa để dạy thực nghiệm và rút ra những kết luận khoa học cần thiết và hiệu quả sƣ phạm cho những thiết kế đó. 3. Mục đích nghiên cứu Tìm một phƣơng án dạy học để giúp học sinh không chỉ nhận thấy đƣợc vẻ đẹp văn hóa, giá trị văn hóa của tác phẩm VHDG, mà còn am hiểu về truyền thống văn hóa dân tộc hơn. Từ đó làm tăng thêm hứng thú của học sinh đối với môn học. 4. Đối tƣợng nghiên cứu Cách dạy học VHDG trong SGK Ngữ Văn 10 theo hƣớng tích hợp, cụ thể là tích hợp văn hóa với VHDG. 5. Nhiệm vụ nghiên cứu 5.1. Tìm hiểu khái niệm VHDG và các đặc trƣng của nó. Tìm hiểu lý thuyết về tích hợp và cách dạy VHDG theo hƣớng tích hợp. 5.2. Nghiên cứu thực trạng dạy học VHDG trong SGK Ngữ Văn 10. 5.3. Đề xuất một phƣơng án có tính khả thi nhằm nâng cao chất lƣợng dạy học theo hƣớng tích hợp văn hóa. (Thể hiện qua thiết kế dạy học và tổ chức thực nghiệm sƣ phạm). 9 6. Phƣơng pháp nghiên cứu - Phƣơng pháp nghiên cứu tổng hợp lý luận. - Phƣơng pháp khảo sát. - Thực nghiệm sƣ phạm. 7. Bố cục luận văn Chƣơng 1. Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc tích hợp văn hóa trong dạy học văn học dân gian ở trƣờng THPT Chƣơng 2. Thực trạng và định hƣớng dạy học văn học dân gian ở trƣờng THPT theo hƣớng tích hợp văn hóa Chƣơng 3. Thiết kế thực nghiệm dạy học văn học dân gian ở trƣờng THPT theo hƣớng tích hợp văn hóa 10 NỘI DUNG CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TÍCH HỢP VĂN HÓA TRONG DẠY HỌC VĂN HỌC DÂN GIAN 1.1. Một số vấn đề lý luận về VHDG 1.1.1. Bản chất và đặc trƣng của VHDG a. Bản chất của văn học dân gian vừa là văn học vừa là văn hóa Đây là một khái niệm có ý nghĩa khá rộng lớn, bởi vì VHDG là văn học chức năng đồng thời cũng là một nghệ thuật - nghệ thuật thực hành. Văn học chức năng là một loại của nghệ thuật ngôn từ. Nghệ thuật thực hành là một thành tố hợp thành chỉnh thể văn hóa dân gian có tính thẩm mĩ. Bản chất của văn học là nghệ thuật dùng ngôn từ. Văn học có khả năng phản ánh tất cả mọi phƣơng diện của đời sống, từ nếp sống bình thƣờng, giản dị cho đến cái vĩ đại lớn lao, cái bình yên hoặc giông tố hay bão táp có tính bản lề của lịch sử. Qua văn học, con ngƣời thấy đƣợc khả năng cải tạo và hoàn thiện cuộc sống trên nhiều phƣơng diện, nhiều khía cạnh; từ thiếu tự do cho đến thế giới tự do và hạnh phúc. Văn học cũng là phƣơng tiện biểu hiện và truyền thụ cái đẹp. Nhƣ vậy, văn học thực sự đạt đến chủ nghĩa nhân văn cao cả. Văn học khám phá đời sống nhƣng trƣớc hết là khám phá thế giới bên trong con ngƣời với mọi chiều kích nên nhiệm vụ của văn học là phải luôn phát hiện ra những bộ mặt mới của nhân vật thời đại… tất cả quan niệm về bản chất văn học đều cung cấp cho chúng ta cái nhìn tổng quát về sự tự ý thức của văn hóa qua văn học và tính đại diện cho văn hóa của văn học. Thuộc tính văn hóa của VHDG thể hiện ở tính nguyên hợp. Nguyên hợp về lao động xã hội, nguyên hợp về ý thức xã hội và nguyên hợp về cộng đồng xã hội. Trong xã hội thị tộc bộ lạc, lao động là quá trình sản xuất đa chức năng, sản xuất vật chất đồng thời sản xuất tinh thần; những câu ca, hò, vè… chính là những hoạt động tinh thần đƣợc “sản xuất” ra trong quá trình lao động. VHDG còn là cuốn bách khoa 11 toàn thƣ về đạo đức, chính trị, tín ngƣỡng, khoa học, tâm tƣ tình cảm của con ngƣời. Chẳng hạn nhƣ những câu tục ngữ đã thể hiện kinh nghiệm khoa học, bản chất văn hóa và những vấn đề thế sự. Tập hợp tất cả những yếu tố trên lại hiện lên mô hình cấu trúc văn hóa trong VHDG. Hệ thống chỉnh thể chức năng văn hóa trong VHDG, kèm theo đó là đặc trƣng văn hóa (tính hệ thống, tính chuẩn mực, tính nhân vi,tính lịch sử) tác động vào xã hội, điều tiết xã hội; tác động vào mặt giáo dục của xã hội, giúp con ngƣời ứng xử giao tiếp với nhau trong xã hội. VHDG là kết quả của vốn sống nhạy cảm đời thƣờng, cảm hứng và phƣơng tiện của VHDG đều dựa trên mối quan hệ cá nhân - tập thể, mà trong đó là quá trình sáng tác, thƣởng thức và trình diễn mà văn học viết gọi là hoạt động tiếp nhận. VHDG dựa vào truyền thống để ứng tác, đằng sau mỗi công thức sáng tác VHDG là tiềm ẩn những lớp nghĩa văn hóa trong truyền thống. Đối tƣợng và nhiệm vụ ngƣời nghiên cứu là phải giải mã, từ mã văn hóa dẫn đến mã ngôn ngữ và cuối cùng là mã thẩm mĩ. Nếu nhƣ văn học viết là văn hóa đọc, ra đời vì lí do nghệ thuật, là kết quả của hệ tƣ tƣởng, đƣợc tạo nên từ vốn chữ và vốn hiểu biết hàn lâm thì VHDG lại là văn hóa diễn xƣớng, ra đời vì lí do xã hội, là kết quả của hệ tâm lí xã hội, đƣợc tạo nên bằng vốn sống và sự nhạy cảm của ngƣời sáng tác. Vì vậy, khi dạy học VHDG, không thể đồng nhất văn bản VHDG với văn học viết, nghiên cứu VHDG nhƣ văn học viết mà phải nghiên cứu trong hệ thống văn hóa, thu hẹp khoảng cách văn hóa; nghĩa văn bản phải đƣợc chế định bởi môi trƣờng diễn xƣớng (yếu tố văn hóa phi vật thể), phụ thuộc vào nhiều yếu tố ngoài văn bản. Nhƣng cũng không thể coi tác phẩm VHDG là tác phẩm văn hóa, là một tác phẩm về phong tục tập quán mà phải coi tác phẩm VHDG nhƣ một chỉnh thể các giá trị tinh thần có tính nghệ thuật. Khi dạy học VHDG theo quan niệm trên thì đó chính là phƣơng pháp trên tinh thần tiếp cận một tác phẩm folklore (chính là văn hóa dân gian - một chỉnh thể bao gồm ba loại thành tố: ngữ văn dân gian, nghệ thuật trình diễn dân gian, nghệ thuật tạo hình dân gian). 12 Nếu nhƣ văn học là một bộ phận của văn hóa, đại diện cho văn hóa và có tác động tích cực trở lại đối với văn hóa thì VHDG là một bộ phận của văn hóa dân gian, đồng thời cũng là một bộ phận của văn hóa vì văn hóa dân gian là một bộ phận không thể thiếu của văn hóa. b. Đặc trưng cơ bản của VHDG Về đặc trƣng của VHDG, ngƣời viết cũng tham khảo ở ba cuốn giáo trình đã nói ở trên. *) GS Đỗ Bình Trị trong giáo trình “Văn học dân gian Việt Nam”, Nxb Giáo dục, 1991 quan niệm VHDG có các đặc trƣng cơ bản sau: Thứ nhất, VHDG là sáng tác của nhân dân. Ở phần này tác giả làm rõ khái niệm về tác giả của VHDG. Khi nhắc tới khái niệm “văn học dân gian là sáng tác của nhân dân”, tác giả muốn làm rõ nhân dân là ai, và tác giả cho rằng định nghĩa này “cần đƣợc tiếp tục làm sáng tỏ ở bản chất bên trong của nó”. Sau đó, GS Đỗ Bình Trị nói đặc điểm nội dung của VHDG chính là khát vọng tâm lí và lí tƣởng của nhân dân. Ngoài ra, tác giả còn nhắc tới tính dân tộc và tính quốc tế của VHDG, nhìn thấy nét “tƣơng đồng nhân loại” trong những tác phẩm VHDG. Thứ hai, VHDG đƣợc coi là một nghệ thuật tổng hợp, một loại của nghệ thuật ngôn từ. Vì trong VHDG có sự hòa lẫn các hình thức khác nhau của ý thức xã hội. Thứ ba, VHDG là một loại nghệ thuật gắn liền với sinh hoạt nhân dân. Ngoài ra, tác giả nói thêm rằng “còn có những đặc trƣng khác, chủ yếu có liên quan đến mĩ học đặc thù của nó.” *) Giáo trình Văn học dân gian Việt Nam (Lê Chí Quế chủ biên), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004) đƣa ra hai đặc điểm cơ bản của VHDG là tính nguyên hợp và tính đa chức năng của VHDG; tính tập thể và tính truyền miệng của VHDG. - Về tính nguyên hợp và tính đa chức năng của VHDG, tác giả Lê Chí Quế nhận định: Tính nguyên hợp là “có sự hòa lẫn, trộn lẫn nhau một cách tự nhiên vốn có của nhiều yếu tố khác nhau...”(PGS.Chu Xuân Diên). Tính nguyên hợp còn thể hiện ở sự chƣa tách rời các loại hình nghệ thuật trong tổng thể folklore, nghĩa là bộ phận nghệ thuật ngôn từ gắn bó chặt chẽ với các loại hình nghệ thuật khác nhƣ vũ đạo, 13 âm nhạc, tạo hình… Từ tính nguyên hợp dẫn đến tính đa chức năng của VHDG. Trong VHDG, chức năng nhận thức, chức năng giáo dục, chức năng thẩm mĩ và chức năng sinh hoạt hợp thành một thể thống nhất. Vì vậy mà VHDG trở thành đối tƣợng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau. - Về tính tập thể và tính truyền miệng của VHDG, GS cho rằng: Sự sáng tác tập thể không đối lập với vai trò cá nhân mà tác phẩm VHDG là kết quả của một quá trình sáng tạo tập thể trong đó mỗi ngƣời tham gia vào quá trình là một cá nhân sáng tạo. Mối quan hệ biện chứng giữa vai trò cá nhân với tập thể đã tạo nên tính tập thể của VHDG. Chính tính tập thể đã chi phối tính truyền miệng. Tính truyền miệng của VHDG đƣợc thể hiện khác nhau qua các giai đoạn lịch sử khác nhau. Trong quá trình truyền miệng, có hai yếu tố thƣờng đƣợc sử dụng là truyền thống và ứng tác. Từ đó nảy sinh một khái niệm mang tính chất nhƣ một thuật ngữ là tính dị bản hay biến thể. *) Chu Xuân Diên trong giáo trình “Văn học dân gian Việt Nam”, (Đinh Gia Khánh chủ biên) Nxb Giáo dục, tái bản lần thứ 12 - 2009 sau khi nghiên cứu, phân tích về đặc trƣng của VHDG đã “đƣa ra một công thức chung về những đặc trƣng thuộc loại hình nghệ thuật của VHDG nhƣ sau:” 1. Tính thống nhất hữu cơ của các thành phần ngôn ngữ nghệ thuật khác nhau: lời, nhạc, múa và động tác kịch, trong đó thành phần lời là quan trọng và ngày càng chiếm vai trò chủ yếu. 2. Tính tập thể của quá trình sáng tác biểu hiện thành tính thống nhất biện chứng giữa các nguyên tắc sáng tác cá nhân và sáng tác tập thể, truyền thống và ứng tác. 3. Sự tồn tại và hình thức sinh hoạt của nó gắn liền và làm thành một nhân tố, một bộ phận hữu cơ trong sinh hoạt lao động, sinh hoạt gia đình, sinh hoạt xã hội quần chúng nhân dân. Tác giả nói thêm rằng: Cần chú ý rằng tất cả các đặc trƣng trên đây phải đƣợc hình dung trong sự thống nhất hữu cơ của chúng, với ý nghĩa là đặc trƣng này là điều kiện đồng thời cũng là kết quả của đặc trƣng kia. Mặt khác những đặc trƣng trên đây chỉ có ý nghĩa là đặc trƣng của văn học dân gian khi loại hình nghệ thuật 14
- Xem thêm -