Tài liệu Thu hút fdi vào ngành công nghiệp nước cộng hoà dân chủ nhân dân lào

  • Số trang: 90 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 84 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 20010 tài liệu

Mô tả:

Thu hút FDI vào ngành công nghiệp nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào
LỜI MỞ ĐẦU Thực tế đã cho biết đối với mỗi quốc gia, sự phát triển kinh tế- xã hội gắn liền với đàu tư. Tuy nhiên, đối với nước chậm phát triển như Lào là rất cần thiết lượng vốn để đầu tư phả triển kinh tế- xã hội. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là một nguồn lực quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Lào. Bắt đầu từ năm 1994, Luật về khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài được ban hành, Lào đã thu hút được lượng vốn FDI ngày một tăng lên, góp phần đáng kể vào việc phát triển kinh tế xã hội của Lào, góp phần tăng thu nhập của nhân dân, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, góp phần thúc đẩy nền kinh tế đất nước đi theo xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đa dạng hóa cac ngành nghề kinh doanh, góp phần giải quyết việc làm cho lao động, giảm thất nghiệp… Công nghiệp là một trong lĩnh vực sản xuất vật chất trong quá trình kinh doanh lớn và quan trọng trong nền kinh tế quốc gia. Vậy, thu hút vốn FDI vào phát triển ngành Công nghiệp là một vấn đề cấp bách. Trong thời gian qua việc thu hút vốn FDI vào phát triển công nghiệp lào vẫn còn nhiều hạn chế và chưa đạt yêu cầu. Số lượng dự án, lượng vốn đầu tư vào ngành công nghiệp hạn chế. Để nghiên cứu và khắc phục những hạn chế trong việc thu hút vốn FDI vào phát triển ngành công nghiệp, cho nên tác giả chọn đề tài: “Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào ngành công nghiệp nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào” làm đề tài luận vaen thạc sỹ của mình. 1 Chương I: Những vấn đề chung về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và sự cần thiết phải thu hút FDI vào ngành công nghiệp nước CHDCND Lào. 1.1.1. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài Chúng ta có thể thấy rằng có nhiềi khái niệm khác nhau về đầu tư trực tiếp nước ngoài . Mỗi khái niệm đều cố gắng khái quát hoá bản chất và nhấn mạnh đến một khía cạnh nào đó của đầu tư trực tiếp nước ngoài. Có thể thấy rõ qua các khái niệm sau: Trên thế giới có nhiều cách diễn giải khái niệm về FDI, tuỳ theo góc độ tiếp cận của nhà kinh tế. Tuy nhiên, cách định nghĩa được sử dụng rrộng rãi nhất là do quỹ tiền tệ quốc tế đựa ra. Theo IMF: “FDI là số vốn đầu tư được thực hiện để thu được lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động ở một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư ”. Ngoài mục đích lợi nhuận, nhà đầu tư mong muốn tìm được chỗ đứng trong việc quản lý doanh nghiệp và mở rộng thị trường Synthia Day Wallace đưa ra khái niệm: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể định nghĩa theo nghĩa rộng là việc thiết lập hay giành được quyền sở hữu đáng kể trong một loại công ty ở nước ngoài hay sụ gia tăng khối lượng của một khoản đầu tư nước ngoài nhằm đạt được quyền sở hữu đánh kể”. Khái niệm này nhấn mạnh đến quyền sở hữu Theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ngày 12-11-1996: “FDI là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vài Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất cứ tài sản để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của luật đầu tư nước ngoài”. Khái niệm nàu nhấn mạnh chủ đầu tư là người nước ngoài, nhằm xác 2 định được tư bản, được chuyển dịch trong FDI nhất thiết phải vượt ra khỏi phạm vi một quốc gia. Theo luật khuyến khích đầu tư nước ngoài tại nước CHDCND Lào sửa đổi năm 2004, số 11/QH Thủ đô Viêng Chăn ngày 22/10/2004, ĐTNN tại CHDCND Lào được quy định như sau: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài có nghĩa là thu hút vốn gồm có tài sản, công nghệ và nhân lực của nước ngoài vào CHDCND Lào với mục đích kinh doanh”. Các quan điểm và định nghĩa về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được đưa ra tuỳ theo góc độ nhìn nhận của các nhà kinh tế, rát phong phú và đa dạng. Qua đó, chúng ta có thể rút ra một địng nghĩa chung nhất như sau: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một hình thức mà nhà đầu tư bỏ vốn để tạo lập cơ sở sản xuất kinh doanh ở nước nhận đầu tư. Trong đó nhà ĐTNN có thể thiết lập quyền sở hữu từng phần hay toàn bộ vốn đầu tư và giữ quyền quản lý, điều hành trực tiếp đối tượng mà họ bỏ vốn nhằm mục đích thu được lợi nhuận từ các hoạt động đầu tư đó trên cơ sở tuân theo quy định của Luật ĐTNN của nước đó. Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được hình thành từ mọi thành phần kinh tế: chính phủ, doanh nghiệp và tư nhân. Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có đặc điểm cơ bản khác với các nguồn vốn nước ngoài khác là việc tiếp nhận nguồn vốn này không phát sinh nợ cho nước tiếp nhận vốn, nguồn vốn đầu tư này mang khoa học, kỹ thuật, bí quyết công nghệ hiện đại và kinh nghiệm quản lý cho nước tiếp nhận đầu tư. Nhà đầu tư trực tiếp sở hữu, sử dụng và quản lý vốn của mình, vì thế không có quan hệ vay mượn giữa nhà đầu tư và nước tiếp nhận đàu tư. Nhà đầu tư sẽ nhận được phần lợi nhuận thích đáng khi dự án đầu tư hoạt động có hiệu quả. 3 Đầu tư trực tiếp nước ngoài mang theo toàn bộ tài nguyên kinh doanh vào nước tiếp nhận đầu tư do vậy nó có thể thúc đẩy phát triển ngành nghề mới, đặc biệt là ngành đòi hỏi cao về kỹ thuật, công nghệ hay cần nhiều vốn. Do vậy, nguồn vốn này có tác dụng cực kỳ quan trọng đối với quá trình công nghiệp hoá, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tốc độ tăng trưởng nhanh ở nước nhận vốn. 1.1.2. Đặc điểm đầu tư trực tiếp nước ngoài. - Chủ đầu tư phải thực hiện nghiêm ngắt nhưng quy định của pháp luật mà nước sở tại đề ra đối với hoạt động đầu tư của mình. - FDI không để lại gánh nặng nợ nần cho chính phủ nước tiếp nhận đầu tư như hỗ trợ phát triển chính thức hoặc các hình thức đầu tư nước ngoài khác như vay thương mại, phát hành cổe phiếu ra nước ngoài… - FDI là hình thức đầu tư mà nhà đầu tư không dễ dàng rút vốn ra khỏi nước tiếp nhận đầu tư. - FDI không đơn thuần chỉ là vốn mà kèm theo đó là công nghệ, kỹ thuật, phương thức quản lý tiên tiến, cho phép tạo ra những sản phẩm mới, thị trường mới…cho nước tiếp nhận đầu tư. - FDI thường tập trung vào những lĩnh vực có tỷ suất lợi nhuận cao vì mục tiêu của nhà đầu tư là kiếm lợi nhuận. 1.3. Hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài. Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài rất đa dạng như: doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, hình thức lien doanh, công ty cổ phần, công ty quản lý vốn, chi nhánh công ty nước ngoài…Ở Vịet Nam, theo quy định Luật đầu tư nước ngoài các hình thức cơ bản của đầu tư trực tiếp nước ngoài bao gồm: 1.3.1Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh: 4 Đây là một loại hình đầu tư, trong đó các bên tham gia hợp đồng ký kết thoả thuận để tiến hành một hoặc nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước nhận đầu tư trên cơ sở quy định rõ đối tượng, nội dung kinh doanh, nghĩa vụ, trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho các bên tham gia. Theo Luật khuyến khích đầu tư nước ngoài tại nước CHDCND Lào, hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh là hợp tác kinh doanh giữa pháp nhân trong nước với pháp nhân nước ngoài mà không thành lập một pháp nhân mới tại nước CHCDND Lào Mục đích, hình thức hợp tác, điều khoản kinh doanh, quyền , nghĩa vụ, trách nhiệm và lợi ích của mỗi bên phải được quy định trong hợp đồng. Ưu điểm: - Đây là hình thức phổ biến trong đầu tư nước ngoài. - Trên cơ sở cùng sở hữu về vốn góp, cùng quản lý, cùng phân phối lợi nhuận, cùng gánh chịu rủi ro. Do đó các bên tận dụng được lợi thế của nhau. Nước tiếp nhận đầu tư có điều kiện tiếp thu các công nghệ tiên tiếnhiện đại, học gỏi kinh nghiệm quản lý, trình độ quản lý kinh tế, kỹ thuật của nước ngoài để nâng cao trình độ cho đọi ngũ cán bộ quản lý, công nhân kỹ thuật của nước mình nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và hạ giá thành sản phẩm, từ đó góp phàn thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước, hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới. - Đối với nước nhận đầu tư hình thức này đảmbảo được vai trò kinh tế của nhà nước đó là quản lý, kiểm soát đối với hoạt động đầu tư. Nhược điểm: - Thông thường thì đối tác nước ngoài có công nghệ hiện đại, kỹ thuật tiên tiến và kinh nghiệm quản lý hơn nước sở tại mặt khác quá trình hoạt động được tiến hành giữa các bên có sự bất đồng về ngôn ngữ, khác nhau về văn hoá, về chế độ chính trị, về hệ thống luật pháp….Nên nếu không có sự thống 5 nhất sẽ dễ xảy ra mâu thuẫn trong quá trình điều hành sản xuất kinh doanh, tranh chấp quyền lợi và nước sở tại dễ bị thua thiệt do trình độ cán bộ tham gia liên doanh, năng lục cán bộ quản lý. 1.3.2 Doanh nghiệp có vốn hỗn hợp (công ty cổ phần, công ty liên doanh): Đây là hình thức doanh nghiệp có các bên nước ngoài và nước chủ nhà cùng góp vốn, cùng kinh doanh, cùng thưởng lợi và chia sẻ rủi ro theo tỷ lệ vốn góp. Thông thường nhà đầu tư không được góp ít hơn một tỷ lệ đã được trong luật của nước nhận đầu tư. Theo Luật khuyến khích đầu tư nước ngoài tại CHDCND Lào, doanh nghiệp có vốn hỗn hợp là liên doanh đã thành lập và lập biên bản đăng ký theo luật của nước CHDCND Lào có sự hoạt động kinh doanh và uỷ quyền chung giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà đàu tư trong nước. Tổ chức, quản lý, hoạt động và hợp tác giữa nhà đầu tư trong liên doanh có giới hạn hợp đồng giữa hai bên và nội quy của liên doanh đó. Riêng nhà đầu tư nước ngoài đầu tư trong liên doanh cần góp vốn tối thiểu 30% của tổng vốn đăng ký. Góp vốn ngoại tệ phải thanh toán bằng tiền Kíp theo tỷ giá ngân hàng CHDCND Lào trong ngày góp vốn. Ưu điểm: - Vì đây là hình thức liên kết kinh doanh giữa đối tác trong nước với nhà đầu tư nước ngoài, trong đó các bên giữ nguyên tư cách pháp nhân nên hình thức này có tính khả năng độc lập cao giữa các bên, phát huy thế mạnh của mỗi bên, các bên không phải chịu trách nhiệm liên đới, nâng cao trình độ chuyên môn và trình độ quản lý cho cán bộ, tạo them việc làm cho người lao động. Nhược điểm: 6 - Do có tính độc lập giữa các bên nên khó quản lý, điều phối công việc, máy móc thường được đầu tư ở mức lạc hậu. 1.3.3 Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: Đây là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài (tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài) do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại nước chủ nhà, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh. Theo luật về khuyến khích ĐTNN tại CHDCND Lào doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp của người nước ngoài đầu tư tại CHDCND Lào. Sự thành lập doanh nghiệp có thể thành lập pháp nhân mới hoặc thành lập chi nhánh của doanh nghiệp nước ngoài. Vốn đăng ký của doanh nghiệp ĐTNN tối thiểu phải bằng 30% tổng vốn hoạt động. Trong toàn bộ thời gian hoạt động, giá trị tài sản của doanh nghiệp không được nhỏ hơn vốn đăng ký. Ưu điểm: - Hình thức này đảm bảo tính độc lập tự chủ của nhà đầu tư. Họ không bị lệ thuộc, chia sẻ quyền lợi với một bên nào khác, do đó dự án được triển khai nhanh, hoạt động có hiệu quả, nhanh thu hồi vốn và có lãi. - Đây là hình thức mà nhà đầu tư nước ngoài bỏ 100% vốn, nước sở tại không pgải bỏ vốn, không tham gia trực tiếp quản lý mà NSNN vẫn có được nguồn thu từ hoạt động của doanh nghiệp này đồng thời giải quyết được việc làm cho người lao động. Nhược điểm: - Đối với nước đầu tư thì lĩnh vực kinh doanh bị hạn chế hơn do nước sở tại không cho phép và nếu nhà đầu tư không hiểu rõ về chính sách – pháp luật, văn hoá, chính trị, nguồn lao động, thị trường của nước sở tại thì rất dễ bị thiệt hại, gặp nhiều trắc trở trong kinh doanh. 7 - Đối với nước nhận đầu tư: Sẽ phải đối phó với một những hiện tượng tiêu cực do nhà đầu tư nước ngoài mang lại, một số ngành nghề, lĩnh vực bị chi phối vì mục tiêu của nhà đầu tư là lợi nhuận tối đa. Do nước sở tại không được tham gia hoạt động kinh doanh nên các nhà quản lý rất khó kiểm tra, kiểm soát mọi hoạt động của doanh nghiệp này. Nếu hình thức này được thực hiện tràn lan nó sẽ kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp trong nước vì các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài có tiềm lực vốn lớn, có nhiều kinh nghiệm trong chiến lược kinh doanh. 1.4. Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò hết sức quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia, nó tác động trực tiếp đến mọi mặt của đời sống, kinh tế - xã hội và chính trị của nước tiếp nhận đầu tư. Về mặt kinh tế, vốn FDI tác động đến tốc độ tăng của GDP, cán cân thanh toán, phúc lợi xã hội, thu nhập người lao động và các chỉ tiêu kinh tế khác. Về mặt xã hội, vốn FDI có tác động đến văn hoá, đạo đức của nước nhận vốn. 1.4.1. Đối với nước đi đầu tư - Thông qua FDI, chủ đầu tư có thể khai thác lợi thế so sánh của nước tiếp nhận đầu tư, nhờ việc giảm giá nhân công, chi phí vận chuyển, chi phí sản xuất khác và thuế… chủ đầu tư có thể giảm được giá thành sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh quốc tế, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng như lợi nhuận của vốn đầu tư, đồng thời giảm bớt rủi ro đã đầu tư so với chỉ tập trung vào sản xuất trong nước. - Thông qua FDI, chủ đầu tư có thể kéo dài chu kỳ sống của máy móc, thiết bị trong nước, bằng cách di chuyển những máy móc thiết bị đã lạc hậu, đã khấi hao sang các quốc gia khác để tiếp tuck sử dụng. - FDI giúp bên đầu tư tạo lập nguồn nguyên liệu dồi dào, ổn định, đáp ứng nhu cầu đầu vào của sản xuất và giá giả phải chăng. 8 - FDI giúp các nước chủ đầu tư tăng them sức mạnh vè kinh tế và nâng cao uy tín chính trị trên trường quốc tế. Thông qua xây dựng nhà máy sản xuất vào thị trường tiêu thụ ở nước ngoài, thâm nhập vào các quốc gia tiếp nhận đầu tư, tránh được hàng rào thuế quan và phi thuế quan. Tuy nhiên, nhà đầu tư cần phải nắm vững chính sách- luật pháp, điều kiện kinh tế - xã hội, nhạy bén với tình hình chính trị và văn hoá của nước nhận vốn nếu không muốn gặp trắc trở trong hoạt động đầu tư và để có thể thu được lợi ích tối đa trong kinh doanh.. 1.4.2. Đối với nước nhận đầu tư - Xét về nhu cầu vốn, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được coi là một nguồn vốn bổ sung quan trọng cho vốn đầu tư trong nước, nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư cho phát triển. Tình trạng thiếu hụt vốn đầu tư là phổ biến và ở nhiều lĩnh vực, là một vấn đề nan giải trong quá trình phát triển kinh tế của mỗi quốc gia nghèo và đang phát triển. Trong khi đó, vốn là cơ sở để tạo ra việc làm trong nước, đổi mới công nghệ, kỹ thuật, tăng năng suất lao động…từ đó tiền đề tăng thu nhập, tăng tích luỹ cho sự phát triển của xã hội. Bên cạnh việc bổ sung vốn, đầu tư trực tiếp nước ngoài còn tác động tích cực đến thi trường tài chính của nước nhận đầu tư, thúc đẩy sự hình thành các thể chế tài chính mới như ngân hàng, thị trường chứng khoán…để tạo nguồn cho hoạt động đầu tư. - Việc tiếp nhận vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài mang lại một lợi ích lâu dài cho nước sở tại như các công nghệ kỹ thuật hiện đại, kỹ xảo chuyên môn và học tập kinh nghiệm quản lý tiên tiến. Các nước đang phát triển do điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, khoa học, kỹ thuật và công nghệ vẫn chưa phát triển dẫn đến năng suất lao động thấp, chất lượng sản phẩm kém. Phần lớn công nghệ mới, hiện đại có được ở 9 các nước này đều bắt nguồn từ nước ngoài bằng các con đường khác nhau. Trong đó đầu tư trực tiếp nước ngoài được coi là một kênh quan trọng để có được công nghệ cao từ bên ngoài. Nhà đầu tư nước ngoài còn đưa chuyên gia hoặc đào tạo cán bộ bản xứ về các lĩnh vực cần thiết phục vụ cho hoạt động của dự án. Điều đó giúp nước nhận vốn vừa nhận được vốn bằng tiền vừa nhận được cả máy móc, công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến của nước ngoài. Điều đó sẽ giúp cho người lao động bản địa học tập được kỹ năng, tích luỹ được kinh nghiệm, nâng cao kiến thức thực hành trong quá trình sản xuất, vận hành công nghệ và các hoạt động quản lý, tiếp cận thị trường. Thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia sẽ giúp một nước có cơ hội tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý kinh doanh mà các công ty này đã tích lũy và phát triển qua nhiều năm và bằng những khoản chi phí lớn. Tuy nhiên, việc phổ biến các công nghệ và bí quyết quản lý đó ra cả nước thu hút đầu tư còn phụ thuộc rất nhiều vào năng lực tiếp thu của đất nước. - Đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần không ít vào việc thúc đẩy quá trình tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư, đặc biệt là đối với nước đang phát triển: tăng năng lực sản xuất, thúc đẩy xuất khẩu, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, tránh được nợ nước ngoài so với các loại hình đầu tư từ các nguồn vốn khác như tín dụng quốc tế, hỗ trợ chính thức(ODA)…, nhiều ngành nghề mới được xuất hiện, tỷ trọng vốn đầu tư vào tài sản cố định ngày càng tăng - FDI tạo cơ hội cho các doanh nghiệp và người tiêu dùng trong nước có thể tiếp cận được với thị trường quốc tế thông qua các liên doanh với nước ngoài và thị trường rộng lớn của họ. - Đầu tư trực tiếp nước ngoài tác động đến lĩnh vực giáo dục, đào tạo của đội ngũ lao động, góp phần tạo công ăn việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, tăng thu nhập cho người lao động, qua đó nâng cao đời sống nhân dân. Vì một 10 trong những mục đích của FDI là khai thác các điều kiện để đạt được chi phí sản xuất thấp, nên xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ thuê mướn nhiều lao động địa phương. Thu nhập của một bộ phận dân cư địa phương được cải thiện sẽ đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế của địa phương. Trong quá trình thuê mướn đó, đào tạo các kỹ năng nghề nghiệp, mà trong nhiều trường hợp là mới mẻ và tiến bộ ở các nước đang phát triển thu hút FDI, sẽ được xí nghiệp cung cấp. Điều này tạo ra một đội ngũ lao động có kỹ năng cho nước thu hút FDI. Không chỉ có lao động thông thường, mà cả các nhà chuyên môn địa phương cũng có cơ hội làm việc và được bồi dưỡng nghiệp vụ ở các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, ngoài những vai trò tích cực mà FDI mang lại, nước tiếp nhận đầu tư cũng gặp phải không ít khó khăn, đó là: - Chi phí của việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài thường cao hơn so với các nguồn vốn đầu tư khác từ nước ngoài. - Nếu không có quy hoạch cụ thể và khoa học, sẽ có thể dẫn tới đầu tư tràn lan, khai thác không có hiệu quả nguồn tài nguyên, gây ô nhiễm môi trường. - Với mong muốn thu hút được nhiều vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hơn, nước tiếp nhận đầu tư thường áp dụng nhũng ưu đãi với các nhà đầu tư như giảm hoặc miễn một số loại thuế, phí trong nước. Điều này dẫn tới lợi ích của nước tiếp nhận đầu tư đôi khi bị thất thoát, lợi ích của nhà đầu tư đôi khi vượt quá lợi ích của nước tiếp nhận đầu tư. - Nhà đầu tư, với xu hướng đưa công nghệ lạc hậu vào các nước tiếp nhận đầu tư với đơn giá cao là một trong những nguyên nhân chi phí sản xuất cao, chất lượng sản phẩm không đạt tiêu chuẩn mục tiêu, làm mất đi khả năng cạnh tranh, giảm hiệu quả sản xuất, kìm hãm phát triển nền kinh tế và nguy cơ biến nước tiếp nhận đầu tư trở thành bãi thải công nghệ của quốc gia khác. 11 - Nước tiếp nhận đầu tư còn thiếu đội ngũ cán bộ có kinh nghiệm quản lý dẫn đến thua thiệt trong dự án liên doanh, hợp tác. Điều đó có thể gây sức ép về kinh tế thậm chí về chính trị cho nước tiếp nhận đầu tư. 1.5 Các yếu tố tác động đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài 1.5.1. Sự ổn định về chính trị Yếu tố hấp dẫn hàng đầu đối với các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài là yếu tố môi trường chính trị ổn định. Bởi đây là điều kiện ảnh hưởng đến mức độ rủi ro của đồng vốn mà nhà đầu tư nước ngoài bỏ ra, những bất đồng về chính trị - xã hội sẽ ảnh hưởng lớn đến khả năng sản xuất và tiêu thụ trên thị trường trong nước, gây tác động không nhỏ đến các nhà đầu tư, thậm chí có thể dẫn cho nhà đầu tư bị phá sản. Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hoạt động kinh doanh trong môi trường xa lạ, vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn dài nên các nhà đầu tư nước ngoài rất sợ tài sản của họ bị nước chủ nhà tịch thu quốc hữu hoá. Vậy, chính trị ổn định sẽ dẫn đến nền kinh tế- xã hội ổn định có nghĩa là vốn đầu tư cũng được đảm bảo an toàn, giảm được khả năng rủi ro đầu tư…điều đó sẽ khuyến khích được các nhà đầu tư nước ngoài đến đầu tư ở nước nhận đầu tư hơn. 1.5.2. Chính sách – pháp luật Mỗi một quốc gia muốn xây dựng được môi trường đầu tư lành mạnh thì bộ phận quan trọng mà không thể thiếu được là hệ thống luật pháp, bao gồm các văn bản luật, các quy định liên quan đến hoạt động đầu tư, thương mại, chính sách xuất nhập khẩu, thuế xuất, lao động…tất cả phải đảm bảo sự nhất quán, không mâu thuẫn, chồng chéo nhau, có hiệu lực trong thực tiễn và đảm bảo tính bình đẳng giữa doanh nghiệp trong nước và nước ngoài, phù hợp với thong lệ quốc tế…nếu không thì sẽ dẫn đến hiện tượng gây trắc trở trong quá trình hoạt động đầu tư, làm các nhà đầu tư cảm thấy lung túng dễ 12 rơi vào cảnh vi phạm pháp luật và làm ăn thua lỗ. Vì thế họ sẽ không yên tâm làm ăn lâu dài ở nước nhận đầu tư. Ngoài hệ thống các văn bản pháp luật, mỗi quốc gia còn phải ban hành các chính sách ưu đãi về thương mại, thuế xuất, tiền tệ…để tăng cường thu hút đầu tư. Các chính sách phải rõ ràng, dễ hiểu và dễ áp dụng và đảm bảo tính bình đẳng. 1.5.3. Hệ thống cơ sở hạ tầng Hệ thống cơ sở hạ tầng luôn được đề ra như một yêu cầu hàng đầu của thu hút vosn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Hệ thống cơ sở hạ tầng bao gồm hệ thống giao thông vận tải, hệ thống thông tin liên lạc, bưu chính, viễn thông, hệ thống điện, nước đáp ứng được nhu cầu sản xuất và hệ thống mạng lưới y tế, giáo dục...Hệ thống cơ sở hạ tầng phát triển sẽ giúp các hoạt động sản, xuất kinh doanh được diễn ra thuận lợi hơn, có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình triển khai và thực hiên dự án của nhà đầu tư. Một nước sẽ không thể thu hút được nhiều vốn đầu tư nước ngoài nếu không có kết cấu cơ sở hạ tầng đủ tốt và dảm bảo chất lượng dịch vụ cho nhà đầu tư (như nước Lào). 1.5.4. Trình độ phát trển kinh tế Các nhà đâu tư nước ngoài thường mong muốn được bỏ vốn đầu tư của mình vào nước có trình độ quản lý kinh tế tốt vì những nước có trình độ quản lý tốt sẽ không có tình trạng lạm phát cao, nợ nước ngoài lớn, tốc độ tăng trưởng thấp, thủ tục hành chính rườm rà, tham ô tham nhũng, nguy cơ tụt hậu…vì đây là những nguy cơ dẫn đến khủng hoảng kinh tế, không an toàn cho vốn đầu tư của họ. 1.5.5 Đặc điểm văn hoá – xã hội Đặc điểm văn hoá xã hội có ảnh hưởng không nhỏ đến các hoạt động đầu tư nước ngoài. Nó bao gồm các yếu tố chủ yếu là ngôn ngữ, tôn giáo, giá trị đạo đức và tinh thần dân tộc phong tục tâkp quán, thị hiếu thẩm mỹ và giáo 13 dục. Các yếu tố này có thể gây trắc trở,khó khăn hoặc đẩy nhanh quá trình đầu tư trực tiếp nước ngoài. Tôn giáo phản ánh tín ngưỡng của con người vào một đắng siêu nhiên, có tác động mạnh đến các quan niệm sống của con người về các giá trị cá nhân và xã hội, làm ảnh hưởng đến thái độ đối với các nhà kinh doanh, tập quán tiêu dung và thuần phong mỹ tục. Giá trị đạo đức và tin thần dân tộc của nước sở tại cũng ảnh hưởng tương đối lớn đến việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Nếu một xã hội không phân biệt đối xử, coi trọng long tin, yêu thương lẫn nhau thì sẽ giảm được tình trạng tệ nạn xã hội. Nói đến thị hiếu thẩm mỹ thì mỗi nước mỗi nền văn hoá đều có các nhìn nhận riêng biệt, có cách nhìn riêng về cái đẹp trong màu sắc, hình khối, âm nhạc…Các đặc điểm này có ảnh hưởng tới thiết kế nhãn hiệu, quảng cáo và kiểu dáng của sản phẩm, ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh doanh của nhà đầu tư. Trình độ phát triển giáo dục tốt và các cơ cấu đào tạo hợp lý đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động đầu tư nước ngoài, là cơ sở quan trọng để cung cấp cho các nhà đầu tư nước ngoài đội ngũ lao động có tay nghề cao. Nhờ đó giảm được chi phí đào tạo nhân lực và đáp ứng yêu cầu sản xuất của nhà đầu tư. 1.6. Vai trò của vốn FDI trong ngành công nghiệp Lào Đâu tư trực tiếp nước ngoài là một trong dòng vốn chảy vào công nghiệp Lào và ngày càng thể hiện rõ vai trò quan trọng trong tiến trình CNH, HĐH. Trong điều kiện của Lào hiện nay, những công trình lớn và quan trọng cho tiến trình CNH, HĐH như nhà máy thuỷ điện, nhà máy sản xuất xi măng, nhà máy khai thác khoáng sản…nếu không có FDI thì chúng tôi không thể làm được. 14 Thu hút FDI vào phát triển ngành công nghiệp là biện pháp tạo vốn nhanh và có hiệu quả, vì phần lớn vốn FDI luôn mang lại hiệu quả cao hơn vốn ODA và ít dẫn đến nợ nước ngoài và đó là bản chất của FDI là người chủ của vốn tài sản được trực tiếp tham gia vào quản lý và điều hành cơ sở sản xuất kinh doanh mà họ bỏ vốn đầu tư. Do vậy, họ luôn tìm cách để nguồn vốn của họ có hiệu quả nhất. Mặt khac, FDI luôn gắn liền với công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý tiên tiến và thị trường mở rộng. Do đó, mà FDI luôn có khả năng đạt hiệu quả cao. Còn vốn ODA thuộc loại hình đầu tư gián tiếp, nó phụ thuộc vào quan hệ chính trị giữa các chính phủ. Nhận nhận vốn FDI được toàn quyền quản lý và sử dụng vốn đó, nên thường hiệu quả không cao và dẫn tới nợ nước ngoài. Chính nhược đỉem này của ODA lại được FDI khắc phục. Vì vốn đầu tư nước ngoài của tư nhân người nước ngoài, nên họ luôn tính toán thận trọng và cân nhắc xem đầu tư vào đâu, dưới hình thức nào, quy mô nào và quản lý như thế nào để đạt hiệu quả cao. - Thu hút vốn FDI cho phép khai thác nhanh và có hiệu quả các nguồn lực của công nghiệp và lợi thế so sánh quốc gia, các nguồn lực để phát triển công nghiệp là vốn, công nghệ, nhân lực và tài nguyên. Chúng ta có thể khai thác các nguyồn lục đó nếu chúng ta có đủ lượng vốn. Hiện nay, xu thế kinh tế thời kỳ mở cửa đã cho phép các quốc gia có thể khai thác các nguồn lực trên ở khắp thế giới chứ không chỉ bó hẹp ở trong nước. Thu hút vốn FDI đã trở thành giải pháp quan trọng để khai thác các nguồn lực của công nghiệp và lợi thế so sánh ở nhiều quốc gia (kể cả nước đi đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư). Thông qua đó, tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm và kích thích tăng trưởng kinh tế xã hội npso chung và công nghiêệ nói riêng. 15 - Thu hút vốn FDI là biện pháp hữu hiệu nhất để vượt qua hang rào thế quan và phi thuế quan của nước bảo hộ sản xuất chặt chẽ nhằm thâm nhập các thi trường mới mở rộng thị trường công nghiệp. - Thông qua thu hút vốn FDI mà các công ty trong nước có thể mở rộng các hoạt động lien kết theo chiều dọc và chiều ngang với các công ty khác để phát triển sản xuất các mặt hang mới, nội địa hoá các sản phẩm, đa dạng hoá các mặt hàng, phát triển xuất khẩu, cải thiện cán cân thanh toán, tạo điều kiện và cơ hội cho công nghiệp Lào chúng tôi tham gia vào phân công lao động quốc tế, hội nhập vào nền công nghiệp trong và ngoài khu vực. Thông qua việc thực hiện chiến lược công nghiệp hoá hướng vào xuất khẩu tạo điềi kiện thuận lợi thúc đẩy các cơ sở công nghiệp sản xuất các mặt hàng phục vụ xuất khẩu và phát triển thành các ngành ông nghiệp xuất khẩu. Đó là những sản phẩm, những ngành có lợi thế và có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài khu vực. Như vậy, FDI đóng vai trò hết sức đặc biệt quan trọng trong việc phát triển công nghiệp theo hướng hiện đại hoá một cách có hiệu quả. Thu hút vốn FDI không chỉ có ý nghĩa đối với quốc gia tiếp nhận đầu tư mà còn có ý nghĩa đối với cả quốc gia chủ đầu tư trong vịec khai thác các nguồn lực của công nghiệp và lợi thế so sánh của các quốc gia. Thông qua đó giải quyết tình trạng thất nghiệp, tăng thu nhâp, mở rộng thị trường và kích thích tăng trưởng, từng bước hội nhập vào nền kinh tế trong và ngoài khu vực. Thu hút vốn FDI vào phát triển ngành công nghiệp có ý nghĩa hết sức to lớn và là xu hướng có tính quy luật của nền kinh tế thế giới. Mặt khác, nhu cầu về vốn đối với công nghiệp Lào là rất lớn. Vì thế, thu hút FDI vào ngành công nghiệp Lào là đòi hỏi rất bức thiết. 1.7. Những bài học kinh nghiệm thu hút FDI của Việt Nam và bài học đối với Lào. 16 1.7.1. Kinh Nghiệm thu hút FDI của Việt Nam: 1.7.1.1 Thực trạng thu hút FDI của Việt Nam Một bộ phận quan trọng không thể thiếu đươc của nền kinh tế Việt Nam là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong hoạt động kinh doanh các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được đối xử bình đẳng không khác với các doanh nghiệp Việt Nam. Tạo điều kiện cho đầu tư nước ngoài tham gia nhiều hơn vào phát triển các ngành, các vùng lãnh thổ phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam. Để thu hút mạnh nguồn lực của các nhà đầu tư nước ngoài Việt Nam đã đa dạng hoá hình thức đầu tư và cơ chế đầu tư thông thoáng, tác động đến thu hút đầu tư trực tiếp và gián tiếp vào các ngành, các lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế, nhất là các lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ nguồn, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội. Bảo đảm tính thống nhất, ổn định, minh bạch và ngày càng hấp dẫn trong chính sách ĐTNN. Đổi mới phương thức quản lý nhà nước và cải tiến mạnh mẽ thủ tục đầu tư, thực hiện đúng theo các quy định của Luật Đầu tư và phù hợp với lộ trình thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam. * Thực trạng thu hút FDI vào Việt Nam trải qua giai đoạn từ năm 1988 đến nay: - Giai đoạn 1988-1990: là giai đoạn khởi đầu, FDI chưa có tác động rõ rệt đến tình hình kinh tế - xã hội của Việt Nam. Vào thời gian này, ngoài việc có được một bộ luật ĐTNN khá hấp dẫn, các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương chưa có nhiều kiến thức và kinh nghiệm trong việc thu hút và quản lý FDI; mặt khác, các nhà ĐTNN coi Việt Nam như “một vùng đất mới” hứa hẹn sự hấp dẫn, nhưng lại rất thận trọng trong việc quyết định tiến hành đầu tư vào Việt Nam. Vì vậy, trong suốt giai đoạn này, chỉ có 214 dự án được cấp phép với vốn đăng ký là 1,58 tỷ USD; vốn thực hiện không 17 đáng kể, bởi vì các doanh nghiệp FDI sau khi được cấp giấy phép còn phải làm nhiều thủ tục cần thiết mới có thể đưa dự án vào hoạt động. - Giai đoạn 1991-1997: là thời kỳ FDI tăng trưởng nhanh và góp phần quan trọng vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước. Trong đó, thời kỳ 1991-1995 thu hút được 16,2 tỷ USD vốn đăng ký; mức tăng trưởng hàng năm rất ngoạn mục: nếu như năm 1991 thu hút được 1,275 tỷ USD thì năm 1995 là 6,6 tỷ USD, bằng 5,3 lần năm 1991. Vốn thực hiện trong cả 5 năm là 7,153 tỷ USD, trong đó vốn của nước ngoài là 6,086 tỷ USD, bằng 32% tổng số vốn đầu tư của cả nước. Hai năm tiếp theo (năm 1996 và 1997), FDI tiếp tục tăng trưởng, thêm 13,289 tỷ USD vốn đăng ký và 6,129 tỷ USD vốn thực hiện, trong đó vốn của nước ngoài là 5,382 tỷ USD. Có thể khẳng định, đây là thời kỳ hoạt động FDI rất sôi động, hàng nghìn đoàn khách tìm kiếm cơ hội đầu tư, hàng trăm dự án mới chờ thẩm định, hàng chục nhà máy được khởi công cùng một lúc; bản đồ FDI thay đổi từng ngày trên đất nước Việt Nam. Trong thời kỳ này, môi trường đầu tư ở Việt Nam còn hấp dẫn, chi phí đầu tư và kinh doanh còn thấp, nhà đầu tư đặt hy vọng vào tiềm năng to lớn, nhất là chính sách, luật pháp của Nhà nước, tay nghề và trí tuệ của người Việt Nam. Trên thực tế, cuối thời kỳ kế hoạch 5 năm 1991-1995 đã bắt đầu xuất hiện nhiều trở lực, trước hết là quan điểm, nhận thức đối với FDI và thủ tục hành chính trở nên phiền hà, mà trong thời kỳ tiếp theo ngày càng nghiêm trọng. - Giai đoạn 1997-2000: là thời kỳ suy thoái của FDI, vốn đăng ký bắt đầu giảm từ năm 1998 và giảm mạnh trong hai năm tiếp theo. Năm 1998, vốn đăng ký là 3,89 tỷ USD thì năm 1999 chỉ bằng 40,2% (1,568 tỷ USD) và năm 2000 là 2,018 tỷ USD. Sau khi đã đạt được kỷ lục về vốn thực hiện vào năm 18 1997 là 3,215 tỷ USD thì ba năm tiếp theo đã giảm sút rõ rệt, năm 1998 là 2,369 tỷ USD, năm 1999 là 2,535 tỷ USD và năm 2000 là 2,413 tỷ USD. - Giai đoạn từ năm 2001-2005: là thời kỳ phục hồi chậm chạp của hoạt động FDI. Vốn đăng ký năm 2001 là 2,592 tỷ USD, bằng 128% của năm 2000. Hai năm tiếp theo vốn đăng ký lại có sự giảm sút, năm 2002 là 1,621 tỷ USD, chỉ bằng 62,5% năm 2001; năm 2003 là 1,914 tỷ USD, xấp xỉ năm 2000; ước tính vốn đăng ký năm 2004 là 2,1 tỷ USD, tăng 10,5% so với năm trước. Đặc biệt năm 2005, lượng vốn vào Việt Nam tăng mạnh, đạt khoảng 3,5 tỷ USD. Vốn thực hiện hàng năm của thời kỳ này khoảng 2,5 tỷ USD. Tình trạng giảm sút vốn đăng ký trong nhiều năm gần đây sẽ có tác động tiêu cực đến vốn thực hiện trong những năm sắp tới. Trong những năm gần đây, tuy số lượng vốn cấp mới còn khá khiêm tốn, nhưng nét mới đáng ghi nhận của hoạt động FDI là nhiều dự án triển khai có hiệu quả, do đó đã mở rộng quy mô sản xuất; đến cuối năm 2004 đã có 2.634 lượt dự án, tăng thêm 10,84 tỷ USD vốn đầu tư; đặc biệt trong hai năm 2002 và 2003, vốn tăng thêm bằng 60-70% vốn dăng ký mới. Quy mô vốn bình quân của các dự án tăng thêm cũng cao hơn nhiều so với quy mô bình quân của các dự án mới. - Giai đoạn năm 2006 đến nay: Năm 2006 đánh dấu sự tăng trưởng ngoạn mục của đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam. Cả nước có 833 dự án FDI mới, với tổng vốn đăng ký 7,838 tỷ USD và 486 dự án tăng vốn đầu tư 2,362 triệu USD; gộp lại là 10.2 tỷ USD tăng 67% so với năm trước. Năm 2007 là năm thu hút vốn đàu tư nước ngoài vượt xa mọi kỳ vọng, đạt 20,3 tỷ USD vốn đầu tư, tăng gấp đôi so với năm 2006, là một con số tăng cao đột biến. Đây là năm có vốn FDI cao nhất trong gần hai thập kỷ vừa qua. * Thực trạng thu hút FDI của Việt Nam thông qua tình hình cấp phép đầu tư: 19 Tính đến hết tháng 12 năm 2007, cả nước có hơn 9.500 dự án ĐTNN được cấp phép đầu tư với tổng vốn đăng ký khoảng 98 tỷ USD (Kể cả vốn tăng them). Trừ các dự án đã hết thời hạn hoạt động và giải thể trước thời hạn, hiện có 8.590 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 83,1 tỷ USD. Cùng với việc thu hút các dự án đầu tư mới, nhiềi dự án sau khi hoạt động có hiệu quả đã mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, tăng them vốn đầu tư, nhất là từ năm 2001 trở lại đây. Tính đến hết năm 2007 có gần 4.100 lượt dự án tăng vốn đầu tư với tổng vốn tăng thêm hơn 18.9 tỷ USD, bằng 23,8% tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới. Thời kỳ 1988-1990 việc tăng vốn đầu tư hầu như chưa có do số lượng doanh nghiệp ĐTNN còn ít. Từ số vốn đầu tư tăng them đạt 2,13 tỷ USD trong 5 năm 1991-1995 thì ở giai đoạn 1996-2000 đã tăng gần gấp đôi so với 5 năm trước. Trong đó, lượng vốn đầu tư tăng thêm vượt con số 1 tỷ USD bắt đầu từ năm 2002 và từ năm 2004 đến 2007 vốn tăng thêm mỗi năm đạt trên 2 tỷ USD, mỗi năm trung bình tăng 35%. Vốn tăng thêm chủ yếu tập trung vào các dự án thuộc lĩnh vực sản xuất công nghiệp và xây dựng, đạt khoảng 40,6% trong giai đoạn 1991-1995; 65,7% trong giai đoạn 1996-2000, khoảng 77,3% trong thời kỳ 2001-2005. Trong hai năm 2006 và 2007 tỷ lệ tương ứng là 80,17% và 79,1% tổng vốn tăng thêm. Do vốn đầu tư chủ yếu từ các nhà đầu tư Châu Á (59%) nên trong số vốn tăng thêm, vốn mở rộng của các nhà đầu tư Châu Á cũng chiếm tỷ trọng cao nhất 66,8% trong giai đọan 1991-1995, đạt 67% trong giai đoạn 1996-2000, đạt 70.3% trong thời kỳ 2001-2005. Trog hai năm 2007 và 2008 tỷ lệ tương ứng là 72,1% và 80%. Việc tăng vốn đầu tư mở rộng sản xuất thực hiện chủ yếu tại các vùng kinh tế trọng điểm nơi tập trung nhiều dự án có vốn ĐTNN: Vùng trọng điểm 20
- Xem thêm -