Tài liệu So sánh trong truyện ngắn của nhà văn nguyễn công hoan

  • Số trang: 94 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 46 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27127 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HOÀNG THỊ TỐ QUYÊN SO SÁNH TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN CÔNG HOAN LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC Thái Nguyên - 2010 Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn So sánh trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công Hoan MỤC LỤC MỞ ĐẦU .................................................................................................................. 3 NỘI DUNG .............................................................................................................. 9 Chương I: CƠ SỞ LÍ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI............................. 9 I.1. Khái quát về truyện ngắn ............................................................................ 9 I.1.1.Khái niệm truyện ngắn .......................................................................... 9 I.1.2. Đặc trưng thẩm mĩ của ngôn ngữ truyện ngắn ................................. 10 I.2. Khái quát về phép so sánh ............................................................. 11 I.2.1. Khái niệm so sánh và cấu trúc cấu trúc của phép so sánh............... 11 I.2.2. Các kiểu quan hệ so sánh .................................................................... 22 I.2.3. Quan niệm của luận văn...................................................................... 24 Chương II: ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI – CẤU TRÚC CỦA PHÉP SO SÁNH VÀ CÁC KIỂU SO SÁNH TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN CÔNG HOAN ...................................................................................... 30 II.1. Đặc điểm hình thái – cấu trúc của phép so sánh .................................. 30 II.1.1. Đặc điểm hình thái – cấu trúc của vế cần được so sánh ................. 30 II.1.2. Đặc điểm hình thái – cấu trúc của yếu tố thể hiện quan hệ so sánh ........ 36 II.1.3. Đặc điểm hình thái – cấu trúc của vế được đem ra làm chuẩn để so sánh (B) ......... 41 II.2. Phân loại các kiểu so sánh ......................................................................... 46 II.2.1. Dựa vào cấu trúc ................................................................................ 46 II.2.2. Dựa vào quan hệ ngữ nghĩa giữa vế A và vế B ................................ 50 II.2.3. Dựa vào trường ngữ nghiã của yếu tố đưa ra làm chuẩn để so sánh .................... 53 II.2.4. Dựa vào mục đích so sánh ................................................................. 59 Chương III: GIÁ TRỊ CỦA PHÉP SO SÁNH TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN CÔNG HOAN ................................................................... 64 III.1. Phép so sánh với giá trị nhận thức ........................................................ 64 III.1.1. Nhận xét chung ................................................................................. 64 III.1.2. Vai trò của ngôn cảnh trong việc tạo dựng giá trị nhận thức ...... 65 Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên Hoàng Thị Tố Quyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 1 So sánh trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công Hoan III.1.3. Giá trị nhận thức trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công Hoan .......... 68 III.2. Phép so sánh với giá trị gợi cảm ............................................................. 71 III. 3. So sánh như là yếu tố tạo nên phong cách tác giả ............................. 73 KẾT LUẬN ............................................................................................................. 81 TÀI LIỆU TRÍCH DẪN ........................................................................................ 84 TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................................... 89 Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên Hoàng Thị Tố Quyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 2 So sánh trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công Hoan MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài 1.1. Ngôn ngữ có hai chức năng cơ bản đã được hầu hết các nhà ngôn ngữ học thừa nhận – đó là phương tiện để giao tiếp và là công cụ của tư duy. Tuy nhiên, ngôn ngữ còn có những chức năng khác mà một trong số đó tồn tại dưới nhiều hình thức diễn đạt của lời nói hàng ngày của nhân dân, đặc biệt cô đúc trong ngôn ngữ văn chương, thường được gọi là “chức năng thẩm mĩ”. Nhờ chức năng này ngôn ngữ đã trở thành yếu tố đầu tiên và là chất liệu duy nhất trong các tác phẩm văn chương. Đồng thời thông qua chức năng này, nhà văn đã xây dựng được các hình tượng nghệ thuật độc đáo và nhờ đó mà chuyển tải được những ý tình của mình tới các độc giả. Các nhà văn nổi tiếng - những nghệ sĩ bậc thầy về ngôn từ - luôn luôn có ý thức tạo dựng cho mình một phong cách ngôn ngữ riêng. Để có được điều này thì người nghệ sĩ (bên cạnh việc tích lũy một vốn sống phong phú, một trình độ văn hoá cao) họ còn phải luôn luôn đổi mới cách diễn đạt của mình thông qua những phương tiện và thủ pháp nghệ thuật - đặc biệt là thủ pháp so sánh. 1.2. So sánh là một thủ pháp nghệ thuật độc đáo, là một trong những phương thức chủ yếu để làm cho sự diễn đạt tư tưởng và tình cảm được tốt hơn, hay hơn. Nghiên cứu phép so sánh - nghĩa là một cách để chúng ta tìm hiểu nội dung bên trong của tác phẩm và những tư tưởng, tình cảm, những ngụ ý, tâm sự mà tác giả gửi gắm qua ngôn ngữ trong tác phẩm của mình. Hiện nay trong lời ăn tiếng nói hàng ngày hay trong các tác phẩm văn chương, thủ pháp so sánh được sử dụng rất nhiều và trở nên quen thuộc với mọi người. Chính vì nó đã trở nên quen thuộc như thế, nên các nhà văn, nhà Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên Hoàng Thị Tố Quyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 3 So sánh trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công Hoan thơ cũng sử dụng nhiều trong quá trình sáng tạo nghệ thuật của mình. Vì vậy, chúng ta rất cần nghiên cứu về phép so sánh một cách có hệ thống để làm nổi bật giá trị nhận thức và giá trị thẩm mĩ của phương tiện tu từ ngữ nghĩa này. 1.3. Nói đến Nguyễn Công Hoan trước hết là nói đến một bậc thầy truyện ngắn trong văn học Việt Nam hiện đại. Thế giới truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan đa dạng, phong phú như một “bách khoa thư”, một “tấn trò đời” mà đặc trưng là xã hội phong kiến của thực dân Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX. Truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan có nhiều nét gần với truyện cười dân gian, tiếp thu được truyền thống lạc quan của nhân dân muốn dùng tiếng cười như một “vũ khí của người mạnh” để tống tiễn cái lạc hậu, cái xấu xa vào dĩ vãng. Từ những truyện đầu tiên, ông đã tìm đề tài trong những người nghèo khổ, cùng khốn của xã hội. Đa số nhân vật phản diện của ông đều thuộc tầng lớp thượng lưu giàu có và quan lại, cường hào. Toàn những cảnh xấu xa, bỉ ổi, những chuyện bất công, ngang ngược, những con người ghê tởm, đáng khinh bỉ. Một trong những yếu tố làm nên thành công trong các sáng tác của ông là lối so sánh ví von. Các tác phẩm của Nguyễn Công Hoan được chọn lọc và giảng dạy trong trường phổ thông. Vì tất cả các lí do trên, chúng tôi đã lựa chọn Nguyễn Công Hoan và các truyện ngắn của ông, tiến hành luận văn với đề tài nghiên cứu: “Tìm hiểu phép so sánh trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công Hoan”. 2. Sơ lược lịch sử vấn đề: Nói đến lịch sử nghiên cứu phép so sánh, đầu tiên nhất phải nhắc đến tên tuổi của nhà triết học, nhà hùng biện lỗi lạc của Hi Lạp cổ đại Arisstotle Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên Hoàng Thị Tố Quyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 4 So sánh trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công Hoan (384- 322 TCN). Trong cuốn Thi học, khi trình bày những cách tu từ chủ yếu, phổ dụng, Arisstotle đã chú ý đến so sánh tu từ và coi đó là một trong những biện pháp được sử dụng rất phổ biến trong văn chương, đặc biệt là rất đắc dụng trong thơ ca nhằm tăng hiệu quả biểu cảm và thẩm mĩ. Ở Trung Hoa cổ đại, qua những lời bình giải về hai thể tỉ và hứng trong thơ ca dân gian Trung Quốc, người ta cũng nói tới, cùng với ẩn dụ, lí luận về so sánh. Các học giả Trung Hoa thường dùng khái niệm “tỉ” và “hứng” như một phương thức nghệ thuật để chỉ cách nói ví von, bóng gió. Ở Việt Nam, cho đến nay, đã có hàng loạt nghiên cứu về các phương thức tu từ - trong đó có so sánh tu từ, tiêu biểu là các tác giả sau: Đinh Trọng Lạc với Giáo trình Việt ngữ (Nxb GD, 1964), 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt (Nxb GD, 1996), Phong cách học tiếng Việt (Nxb GD,1998); Cù Đình Tú với cuốn Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt (Nxb ĐH ∞ THCN, 1983); Hữu Đạt với cuốn Phong cách học tiếng Việt hiện đại (Nxb ĐHQGHN, 2001). Trong các công trình nghiên cứu của các tác giả kể trên, đã hình thành khái niệm cũng như sự phân loại và xác định giá trị của các phương thức tu từ nói chung và so sánh tu từ nói riêng. Đây là cơ sở lí thuyết vô cùng quý báu giúp chúng tôi tham khảo trong quá trình nghiên cứu về phép so sánh trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công Hoan. 3. Phương pháp nghiên cứu 3.1. Phương pháp thống kê, phân loại Phương pháp này được sử dụng đầu tiên để khảo sát, thống kê tần số xuất hiện và phân loại các kiểu so sánh trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, từ đó có được tư liệu để phân tích, miêu tả, nhận xét, đánh giá những kiểu loại hình thức, đặc trưng về giá trị biểu đạt của đối tượng nghiên cứu. Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên Hoàng Thị Tố Quyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 5 So sánh trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công Hoan 3.2. Phương pháp phân tích, miêu tả Đây là phương pháp được sử dụng xuyên suốt trong luận văn. Phương pháp này đi sâu vào miêu tả để khái quát các kiểu cấu trúc so sánh, chỉ ra các đặc điểm ngữ nghĩa cùng các vai trò của chúng trong việc xây dựng hình tượng nghệ thuật của truyện ngắn đồng thời làm nổi bật giá trị nhận thức, giá trị gợi cảm mà phương pháp này đem lại cho người tiếp nhận văn bản nghệ thuật. 3.3. Phương pháp so sánh, đối chiếu Dựa trên các kết quả về kiểu loại so sánh, đặc điểm cấu trúc và đặc điểm ngữ nghĩa của cái được so sánh và cái đem ra làm chuẩn để so sánh, luận văn sẽ đi đến kết luận phong cách của nhà văn. 4. Mục đích của luận văn 4.1. Xác định cơ sở lí thuyết của phép so sánh, góp phần xác định giá trị của biện pháp tu từ ngữ nghĩa này trong văn chương; đưa ra những vấn đề lí thuyết về truyện ngắn, góp phần giúp cho có được cái nhìn toàn diện về ngôn từ truyện ngắn. 4.2. Khảo sát tần số xuất hiện và tiến hành thống kê, phân loại, phân tích các biểu hiện cụ thể về đặc điểm hình thái - cấu trúc của phép so sánh trong các truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công Hoan. 4.3. Từ những sự phân tích trên nêu bật giá trị của phép so sánh trong việc xây dựng hình tượng nghệ thuật, nâng cao năng lực thẩm mĩ, khả năng nhận thức và giá trị trong việc tạo dấu ấn phong cách tác giả. 5. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên Hoàng Thị Tố Quyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 6 So sánh trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công Hoan Trong luận văn này, phép so sánh sẽ được tìm hiểu với tư cách là một biện pháp tu từ ngữ nghĩa từ góc nhìn của ngôn ngữ học và phong cách học. Luận văn sẽ tiến hành phân tích các đặc điểm hình thái – cấu trúc, phân loại các kiểu so sánh để từ đó thấy được giá trị của phép so sánh trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công Hoan. * Luận văn giới hạn phạm vi tư liệu trong Nguyễn Công Hoan toàn tập, tập I, II – truyện ngắn, Nhà xuất bản Văn học, 2003. 6. Đóng góp của luận văn 6.1. Về mặt lí luận Luận văn là một cố gắng nhằm nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống, theo cách tiếp cận liên ngành ngôn ngữ học - văn học - phong cách học, về phép so sánh trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công Hoan. Những kết quả thu được sẽ góp phần vào việc nghiên cứu phương tiện tu từ ngữ nghĩa này sâu hơn ở những công trình khoa học tiếp sau. 6.2. Về mặt thực tiễn Luận văn sẽ góp thêm tư liệu cho việc nghiên cứu phong cách nhà văn Nguyễn Công Hoan từ nhiều phương diện khác nhau. Đồng thời luận văn cũng góp thêm vào hướng tiếp cận mới trong việc nghiên cứu các tác phẩm văn chương nghệ thuật: đó là con đường khảo sát đi từ thủ pháp nghệ thuật tới phân tích giá trị nội dung. Cách tiếp cận mới này cũng giúp ích cho các Thày Cô dạy bộ môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông. 7. Bố cục của luận văn Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm ba chương Chương I: Cơ sở lí thuyết liên quan đến đề tài Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên Hoàng Thị Tố Quyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 7 So sánh trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công Hoan Đây là chương có tính lí luận làm nhiệm vụ định hướng cho toàn bộ luận văn, làm tiền đề để khảo sát, thống kê, phân loại, miêu tả các kiểu so sánh ở chương tiếp theo. Chương này có nhiệm vụ xác định khái niệm truyện ngắn, đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuật của truyện ngắn. Đồng thời trong chương một luận văn đặc biệt chú trọng đến các quan niệm của giới nghiên cứu về so sánh và đưa ra quan niệm của luận văn về phép so sánh. Chương II: Đặc điểm – hình thái cấu trúc và các kiểu so sánh trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công Hoan Chương này có nhiệm vụ phân tích đặc điểm hình thái - cấu trúc của các yếu tố trong cấu trúc so sánh và tiến hành phân loại các kiểu so sánh dựa vào: cấu trúc so sánh, quan hệ ngữ nghĩa giữa cái cần so sánh và cái được dùng làm chuẩn để so sánh, mục đích của so sánh và đặc điểm ngữ nghĩa trong cái được dùng làm chuẩn để so sánh. Chương III: Giá trị của phép so sánh trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công Hoan Từ cơ sở lí thuyết của chương I, kết quả của chương II, chương III có nhiệm vụ làm nổi bật giá trị nhận thức, giá trị thẩm mĩ và phong cách của nhà văn Nguyễn Công Hoan. Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên Hoàng Thị Tố Quyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 8 So sánh trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công Hoan NỘI DUNG Chương I CƠ SỞ LÍ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI I.1. Khái quát về truyện ngắn I.1.1. Khái niệm truyện ngắn Tác giả Nguyễn Như Ý trong cuốn Từ điển tường giải và liên tưởng tiếng Việt (Nxb Văn hóa thông tin, 1995) đã quan niệm: “Truyện ngắn là tác phẩm văn học có ít nhân vật tập trung vào một sự kiện duy nhất qua đó thể hiện, không phải toàn diện, mà chỉ một mặt tâm lí của nhân vật chính trong một hoàn cảnh riêng biệt” Trong cuốn giáo trình Lí luận văn học, Phương Lựu (chủ biên) đã trình bày: Truyện ngắn là hình thức ngắn của tự sự. Khuôn khổ ngắn nhiều khi làm cho truyện ngắn có vẻ gần gũi với các hình thức truyện kể dân gian như truyện cổ, giai thoại, truyện cười, hoặc gần gũi với những bài kí ngắn. Nhưng thực ra không phải. Nó gần gũi với tiểu thuyết hơn cả bởi là hình thức tự sự tái hiện cuộc sống đương thời. Nội dung của truyện ngắn có thể rất khác nhau: đời tư, thế sự, hay sử thi nhưng cái độc đáo của nó lại là ngắn. Truyện ngắn có thể kể về một đoạn đời một sự kiện hay một “chốc lát” trong cuộc sống nhân vật, nhưng cái chính của truyện ngắn không phải ở hệ thống sự kiện, mà ở cái nhìn tự sự đối với cuộc đời. Truyện ngắn nói chung không phải vì “truyện” của nó “ngắn” mà vì cách nắm bắt cuộc sống của thể loại. Tác giả truyện ngắn thường hướng tới khắc hoạ một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn con người. Chính vì vậy trong truyện ngắn thường rất ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp. Nhân vật truyện ngắn thường là hiện thân cho một trạng thái quan hệ xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên Hoàng Thị Tố Quyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 9 So sánh trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công Hoan tồn tại của con. Cốt truyện của truyện ngắn có thể nổi bật hấp dẫn, nhưng chức năng của nó là gây một ấn tượng sâu đậm về cuộc đời và tình người. Bút pháp trần thuật thường là chấm phá. Yếu tố có ý nghĩa quan trọng bậc nhất của truyện ngắn là chi tiết có dung lượng lớn và hành văn mang ẩn ý, tạo cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết. Nghiên cứu các truyện ngắn xuất sắc của Nguyễn Công Hoan dưới góc độ ngôn ngữ học sẽ giúp cho việc cảm nhận cái tài của tác giả, cái hay, cái đặc sắc của tác phẩm. I.1.2. Đặc trưng thẩm mĩ của ngôn ngữ truyện ngắn Khi nghiên cứu đặc trưng thẩm mĩ của ngôn ngữ truyện ngắn chúng ta không thể tách rời ngôn ngữ nghệ thuật. Bởi vì những đặc trưng thẩm mĩ của ngôn ngữ nghệ thuật cũng là những đặc trưng thẩm mĩ của ngôn ngữ truyện ngắn. Ngôn ngữ nghệ thuật nó đi từ sự thông tin đến sự sáng tạo. Nó không chỉ nhằm mục đích thông báo một sự kiện mà còn phải tái tạo lại cuộc sống một cách toàn vẹn, cụ thể và sinh động trong những hình tượng nghệ thuật. Ngôn ngữ đó đông thời cũng mang dấu ấn cá tính và phong cách nghệ sĩ rất rõ. Sức mạnh của ngôn ngữ nghệ thuật thể hiện trong sự phối hợp giữa các từ sao cho mỗi từ ngoài biểu tượng trực tiếp của nó ra còn kéo theo cả một loại biểu tượng khác hiện lên trong tâm hồn người đọc. Để đạt được điều trên, các nhà văn đã vận dụng triệt để mọi phương tiện biểu hiện trong ngôn ngữ học trong đó không thể không kể đến phép so sánh. Phép so sánh góp phần mang lại cho ngôn ngữ nghệ thuật tính gãy gọn, rõ ràng, cụ thể và sinh động. Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên Hoàng Thị Tố Quyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 10 So sánh trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công Hoan Với mỗi độc giả để hiểu hết nhiều tầng ý nghĩa của ngôn ngữ nghệ thuật chúng ta phải phối hợp các kiến thức liên ngành. Trong truyện ngắn, các hình thức tổ chức ngôn ngữ bao gồm: Ngôn ngữ tác giả, ngôn ngữ nhân vật, ngôn ngữ xen kẽ “vừa tác giả vừa nhân vật”. Các yếu tố này đan cài nhau nhằm phản ánh một cách toàn vẹn nhất hiện thực của xã hội. Vì vậy ngôn ngữ nghệ thuật có nhiệm vụ miêu tả một cách chính xác những đối tượng được phản ánh, tác động trực tiếp đến người đọc và có ảnh hưởng kịp thời trong đời sống. I.2. Khái quát về phép so sánh I.2.1. Khái niệm so sánh và cấu trúc của phép so sánh So sánh là một thao tác của tư duy, đem sự vật này đối chiếu với sự vật khác, để thấy sự tương đồng và khác biệt giữa chúng. Không phải ngẫu nhiên mà người phương Tây có câu châm ngôn nổi tiếng: “Chân lý chỉ được nhận thức ra trong sự so sánh”! Về khái niệm phép so sánh, chúng ta có thể thấy rằng: Những trình bày của các tác giả bên cạnh những điểm chung cũng có những điểm khác nhau nhất định và điểm khác nhau chủ yếu là ở các mô hình so sánh được đưa ra. Các tác giả Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hoà trong cuốn giáo trình Phong cách học tiếng Việt đã định nghĩa về so sánh như sau: “So sánh là phương thức diễn đạt tu từ khi đem sự vật này đối chiếu với sự vật khác miễn là hai sự vật có một nét tương đồng nào đó để gợi ra những hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mĩ trong nhận thức của người đọc, người nghe” [9, tr189]. Theo các tác giả này, hình thức đầy đủ nhất của phép so sánh tu từ gồm 4 yếu tố sau: - Cái cần được so sánh, kí hiệu là (A) Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên Hoàng Thị Tố Quyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 11 So sánh trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công Hoan - Cơ sở so sánh, kí hiệu là (t) - Từ so sánh, kí hiệu là (tss) - Cái được dùng làm chuẩn so sánh, kí hiệu là (B) Ta có thể khái quát lên thành bảng sau: Cấu trúc Ví dụ 1.A 2.(t) 3. tss 4. B Hai cánh tay trơn như phết mỡ Ông ấy khoẻ như vâm Trận đánh này kịch liệt hơn trận trước Nghĩa là mô hình cấu trúc so sánh đầy đủ sẽ là: A (t) tss B Tuy nhiên, trên thực tế, tuỳ từng trường hợp người ta có thể đảo trật tự so sánh hoặc bớt một yếu tố trong mô hình; cụ thể là ta có 5 biến thể của mô hình cấu trúc so sánh trên: 1. Đảo trật tự so sánh: (t) A tss B Ví dụ: Chòng chành như nón không quai Như thuyền không lái như ai không chồng (Ca dao) 2. Bớt cơ sở so sánh: A tss B Ví dụ: Ai về ai ở mặc ai Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên Hoàng Thị Tố Quyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 12 So sánh trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công Hoan Ta như dầu đượm thắp hoài năm canh (Ca dao) 3. Bớt từ so sánh: A (t) B Ví dụ: Gái thương chồng đương đông buổi chợ Trai thương vợ nắng quái chiều hôm (Ca dao) 4. Thêm “bao nhiêu” “bấy nhiêu” Ví dụ: Qua đình ngả nón trông đình Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu (Ca dao) 5. Dùng “là” làm từ so sánh: A là B Ví dụ: Quê hương là chùm khế ngọt (Đỗ Trung Quân, Quê hương) Hay: Nhân dân là bể Văn nghệ là thuyền (Tố Hữu) Tác giả Nguyễn Thế Lịch trong bài viết “Các yếu tố và cấu trúc của so sánh nghệ thuật” (đăng trên Số phụ Tạp chí ngôn ngữ số 1, 1988) đã đưa ra Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên Hoàng Thị Tố Quyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 13 So sánh trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công Hoan định nghĩa như sau: “So sánh thường được hiểu là đưa một sự vật ra đối chiếu về một mặt nào đó với một sự vật khác khác loại nhưng lại có đặc điểm tương tự mà giác quan có thể nhận biết để hiểu sự vật đưa ra đó dễ dàng hơn”. Như vậy, theo Nguyễn Thế Lịch điều kiện để một so sánh tu từ tồn tại là hai sự vật đem ra đối chiếu phải khác loại. Tác giả cũng đưa ra một cấu trúc so sánh hoàn chỉnh gồm 4 yếu tố giống như Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hoà ở trên, cụ thể là: - Yếu tố cần so sánh hay yếu tố được/bị so sánh (YTĐ/BSS): (A) - Yếu tố biểu thị thuộc tính của sự vật, nêu rõ phương diện so sánh (YTPDSS): (t) - Yếu tố thể hiện quan hệ so sánh (YTQH): (tss) - Yếu tố được dùng làm chuẩn để so sánh (YTSS); (B) Do đó mô hình cấu trúc so sánh (CTSS) hoàn chỉnh sẽ là: 1. YTĐ/BSS Mặt 2.YTPD đẹp 3.YTQH 4. YTSS như hoa Đặc điểm của từng yếu tố trong mô hình trên được tác giả Nguyễn Thế Lịch trình bày cụ thể như sau: + Đối với yếu tố được so sánh, về nguyên tắc bất luận là sự vật, hiện tượng gì cũng có thể đem ra so sánh. Chẳng hạn: - So sánh người, sự vật: Em như cây quế giữa rừng Thơm tho ai biết, ngát lừng ai hay Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên Hoàng Thị Tố Quyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 14 So sánh trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công Hoan (Ca dao) - So sánh hành động: Thấy anh như thấy mặt trời Chói chang khó ngó, trao lời khó trao. (Ca dao) - So sánh thuộc tính: Trong như tiếng hạc bay qua Đục như tiếng suối mới sa nửa vời. (Nguyễn Du, Truyện Kiều) + Về yếu tố phương diện, Nguyễn Thế Lịch cho rằng: trong CTSS nó có vai trò xác định ý nghĩa của so sánh, thể hiện thuộc tính của sự vật mà yếu tố được so sánh biểu thị, thuộc tính này là thuộc tính tiêu biểu của sự vật mà yếu tố so sánh biểu thị. Đối với cấu trúc so sánh vắng YTPD phải dựa vào liên tưởng để tìm ra nét tương đồng giữa YTĐSS và YTSS, từ đó mới có thể xác định được là đã so sánh về phương diện nào. + Yếu tố quan hệ được xem như là đơn giản nhất trong CTSS. Nó bao gồm các từ so sánh, từ “là” và cặp từ hô ứng “bao nhiêu…bấy nhiêu”. Các từ so sánh được dùng phổ biến nhất là: như, tựa, như là, như thể, chừng như, tựa như, hồ như… Ví dụ: Cổ tay em trắng như ngà Con mắt em liếc như là dao cau. (Ca dao) Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên Hoàng Thị Tố Quyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 15 So sánh trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công Hoan Chú ý rằng: từ là trong CTSS có giá trị tương đương từ như, nhưng là đem đến cho cấu trúc này sắc thái khẳng định khác với như mang sắc thái giả định. Ví dụ: “Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè Toả nắng xuống lòng sông mát lấp loáng”. (Tế Hanh, Nhớ con sông quê hương) Các cặp từ có quan hệ hô ứng bao nhiêu…bấy nhiêu. Ví dụ: Ai ơi đừng bỏ ruộng hoang Bao nhiêu tấc đất, tấc vàng bấy nhiêu (Ca dao) + Yếu tố cuối cùng của CTSS là YTSS. Đây được xem là yếu tố quan trọng nhất của CTSS vì nó là chuẩn của so sánh (mà không có chuẩn thì không thành so sánh). Chính vì thế nó là yếu tố không thể thiếu trong CTSS. Sự xuất hiện của yếu tố này là kết quả của quá trình quan sát, liên tưởng, lựa chọn và thông qua quá trình đó nó có thể bộc lộ ra sắc thái tâm lí, tư duy, văn hóa của dân tộc. Tuy nhiên, trên thực tế không phải lúc nào một so sánh cũng hội tụ đủ cả 4 thành phần trên. Theo tác giả Nguyễn Thế Lịch, có 4 trường hợp CTSS không hoàn chỉnh. Cụ thể là: + Vắng yếu tố phương diện: Mẹ già như chuối ba hương Như xôi nếp một, như đường mía lau Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên Hoàng Thị Tố Quyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 16 So sánh trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công Hoan (Ca dao) + Vắng yếu tố phương diện và yếu tố quan hệ: Người giai nhân: bến đợi dưới cây già Tình du khách: thuyền qua không buộc chặt (Xuân Diệu, Lời kĩ nữ) + Vắng yếu tố bị/được so sánh: Có phải duyên nhau thì thắm lại Đừng xanh như lá, bạc như vôi (Hồ Xuân Hương, Mời trầu) Theo tác giả, thuộc vào kiểu cấu trúc này có vô vàn các thành ngữ so sánh như: cao như núi, mềm như bún, dai như đỉa, ngọt như mía lùi, đỏ như son…Kiểu cấu trúc so sánh này giúp cho việc tiếp nhận trở nên dễ dàng vì phương diện so sánh được nói ra thành lời rất hiển ngôn. Nói chung, những so sánh loại này rất chân phương. + Vắng yếu tố bị/được so sánh và yếu tố phương diện: Như diều gặp gió Như nước vỡ bờ (Thành ngữ) Với kiểu cấu trúc so sánh này, gánh nặng ngữ nghĩa dồn cả vào yếu tố đem ra làm chuẩn để so sánh. Vì thế, yếu tố này thường là phải do một ngữ (chứ không phải một từ) thể hiện. Tác giả Nguyễn Hữu Đạt trong giáo trình “Phong cách học tiếng Việt hiện đại” đã định nghĩa như sau về so sánh: “So sánh là đặt hai hay nhiều sự Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên Hoàng Thị Tố Quyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 17 So sánh trong truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Công Hoan vật, hiện tượng vào các mối quan hệ nhất định nhằm tìm ra các sự giống nhau và khác biệt giữa chúng” [19, tr294]. Theo tác giả, về thực chất, phép so sánh tu từ là dùng thuộc tính hay tình trạng của sự vật hay hiện tượng này giải thích cho thuộc tính, tình trạng của sự vật khác. Tác giả đưa ra mô hình khái quát của phép so sánh là: A-X-B trong đó: - A: Cái chưa biết được đem ra so sánh - B: Cái đã biết được đem ra để so sánh - X: Phương tiện so sánh được biểu thị bằng các từ: như, giống như, là, như là, tựa hồ, bằng, hơn, kém… Trong thực tế sử dụng ngôn ngữ, X có thể có mặt hoặc vắng mặt. Khi X vắng mặt người ta có thể nhận diện được A và B nhờ vào dấu phẩy ngăn cách hoặc nhờ vào độ ngắt nhịp, ngữ điệu của câu nói. Ví dụ: (a) Đẹp như tiên (Thành ngữ) (b) Rách như tổ đỉa (Thành ngữ) (c) Gái thương chồng đương đông buổi chợ Trai thương vợ nắng quái chiều hôm (Ca dao) Ở các ví dụ (a), (b) ta có phép so sánh có X, còn ví dụ (c) là phép so sánh không có X. Theo tác giả, đối với những trường hợp thiếu từ thể hiện Số hóa bởi Trung tâm Học Liệu – Đại học Thái Nguyên Hoàng Thị Tố Quyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 18
- Xem thêm -