Tài liệu Quản lý rủi ro tín dụng

  • Số trang: 44 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 45 |
  • Lượt tải: 0
tranbon

Đã đăng 976 tài liệu

Mô tả:

PHẦN MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài: Hoạt động tín dụng là nghiệp vụ chủ yếu của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam, mang lại 80-90% thu nhập của mỗi ngân hàng, tuy nhiên rủi ro của nó cũng không nhỏ. Rủi ro tín dụng cao quá mức sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh ngân hàng. Đứng trước những thời cơ và thách thức của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, vấn đề nâng cao khả năng cạnh tranh của các ngân hàng thương mại trong nước với các ngân hàng thương mại nước ngoài, mà cụ thể là nâng cao chất lượng tín dụng, giảm thiểu rủi ro đã trở nên cấp thiết. Bên cạnh đó, tình hình kinh tế thế giới đang diễn biến phức tạp và nguy cơ khủng hoảng tín dụng tăng cao. Việt Nam là một nước có nền kinh tế mở nên không tránh khỏi những ảnh hưởng của nền kinh tế thế giới. Đứng trước tình hình đó, đòi hỏi các ngân hàng thương mại Việt Nam phải nâng cao công tác quản lý rủi ro tín dụng, hạn chế đến mức thấp nhất có thể những nguy cơ tiềm ẩn gây nên rủi ro. Trước tính cấp thiết đó, đề tài “Quản lý rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam” được tiến hành nghiên cứu những nguy cơ tiềm ẩn, tình hình kinh doanh tín dụng thực tế tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam để từ đó nhận diện dấu hiệu, tìm ra nguyên nhân, đề ra giải pháp hữu ích cho việc quản lý rủi ro tín dụng trong hệ thống ngân hàng thương mại. 2.Tình hình nghiên cứu đề tài: Từ trước đến nay đã có nhiều đề tài nghiên cứu về hiệu quả hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại nhà nước mà chưa có đề tài nào nghiên cứu riêng có về rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần. Cụ thể như: Luận án tiến sĩ kinh tế: “Hoạt động tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại nhà nước ở nước ta hiện nay”, tác giả Lê Đức Thọ (2005) đã đề cập đến thực trạng hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại nhà nước và những tác động tới quá trình phát triển kinh tế xã hội Việt Nam. Tác giả đề xuất các giải pháp đổi mới hoạt động tín dụng của hệ thống các ngân hàng thương mại nhà nước Việt Nam. Hay các luận văn khác, nghiên cứu về hiệu quả hoạt động tín dụng tại một ngân hàng thương mại nhà nước cụ thể, hoặc của hệ thống ngân hàng thương mại nhà nước mà chưa phân tích riêng lẻ về rủi ro tín dụng và giải pháp cho việc quản lý rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam. 3.Mục đích nghiên cứu đề tài: -Đề tài nghiên cứu về những vấn đề lý thuyết cơ bản của tín dụng, quản lý rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại. -Đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong giai đoạn 2005 đến 2007. -Nêu ra các dấu hiệu nhận biết sớm nguy cơ tiềm ẩn, làm rõ các nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam. -Đề xuất một số giải pháp quản lý rủi ro tín dụng có hiệu quả, hạn chế đến mức thấp nhất có thể những tác hại xấu do nó gây ra, góp phần phục vụ cho các mục tiêu phát triển của ngành ngân hàng trước quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và trong khu vực. 4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: -Đối tượng nghiên cứu là hoạt động tín dụng, quản lý rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam. -Phạm vi nghiên cứu tập trung vào 8 ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam bao gồm Ngân hàng TMCP Á Châu, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương tín, Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam, Ngân hàng TMCP Đông Á, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam, Ngân hàng Phát triển nhà Đồng bằng sông Cửu Long, Ngân hàng TMCP Phương Nam và Ngân hàng TMCP An Bình, thời gian nghiên cứu từ năm 2005 đến 2007. 5.Phương pháp nghiên cứu: Để phù hợp với nội dung, yêu cầu, mục đích của đề tài đề ra, phương pháp được thực hiện trong quá trình nghiên cứu gồm phương pháp so sánh, phân tích kết hợp với phương pháp điều tra chọn mẫu và hệ thống hoá. Bên cạnh đó, đề tài cũng vận dụng kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học liên quan để làm phong phú và sâu sắc hơn các cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài. 6.Những đóng góp mới của đề tài: Đề tài làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về tín dụng, rủi ro tín dụng, kinh nghiệm thực tế của các nước như Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản về nhận diện, nguyên nhân và quản lý rủi ro tín dụng. Trên cơ sở phân tích tình hình hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam, đề tài nêu ra những dấu hiệu nhận biết sớm các khoản nợ có vấn đề, tìm ra các nguyên nhân để từ đó kiến nghị các giải pháp có hiệu quả và khả thi. Trong đó, điểm nổi bật nhất của đề tài là nghiên cứu chi tiết về rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam, rút kinh nghiệm từ các nước trên thế giới mà các đề tài đã có trước đây chưa phân tích. 7.Bố cục của đề tài: Đề tài gồm lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung đề tài được trình bày trong 3 chương: -Chương 1: Tổng quan rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại. -Chương 2: Tình hình thực tế về quản lý rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam. -Chương 3: Kiến nghị những giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1.KHÁI QUÁT VỀ TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI: 1.1.1.Khái niệm tín dụng: Có rất nhiều khái niệm về tín dụng nhưng tập trung lại tín dụng có nghĩa là sự chuyển nhượng quyền sử dụng một lượng giá trị nhất định dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ trong một thời hạn nhất định từ người sở hữu sang người sử dụng, và khi đến hạn người sử dụng phải hoàn trả lại cho người sở hữu với một lượng giá trị lớn hơn, khoản giá trị dôi ra này được gọi là lợi tức tín dụng. Tín dụng là hoạt động quan trọng nhất của các ngân hàng thương mại, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản, tạo thu nhập từ lãi lớn nhất và cũng là hoạt động mang lại rủi ro cao nhất. Tín dụng là hoạt động tài trợ của ngân hàng cho khách hàng. 1.1.2.Phân loại tín dụng ngân hàng: Việc phân loại tín dụng dựa trên một số tiêu thức nhất định tùy theo yêu cầu của khách hàng và mục tiêu quản lý của ngân hàng. Sau đây là một số cách phân loại: 1.1.2.1.Căn cứ vào thời hạn tín dụng: Phân chia theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì thời gian liên quan mật thiết đến tính an toàn, sinh lợi của tín dụng và khả năng hoàn trả của khách hàng. Có 3 loại: -Tín dụng ngắn hạn: có thời hạn từ 12 tháng trở xuống, được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. -Tín dụng trung hạn: từ 12 tháng đến 60 tháng, được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh. -Tín dụng dài hạn: trên 60 tháng, được sử dụng để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, đầu tư xây dựng các xí nghiệp mới, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn. 1.1.2.2.Căn cứ vào hình thức tín dụng: Dựa vào tiêu chí này tín dụng bao gồm chiết khấu, cho vay, bảo lãnh và cho thuê, trong đó: -Chiếu khấu: là việc ngân hàng ứng trước tiền cho khách hàng tương ứng với giá trị của một giấy nợ trừ đi phần thu nhập của ngân hàng để sở hữu một giấy nợ chưa đến hạn. -Cho vay: là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định. Cho vay bao gồm các loại sau: Thấu chi: là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép người vay được chi vượt trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định và trong khoảng thời gian xác định. Giới hạn này được gọi là hạn mức thấu chi. Thấu chi là hình thức tín dụng ngắn hạn, linh hoạt, thủ tục đơn giản, phần lớn là không có đảm bảo. Do đó chỉ sử dụng đối với khách hàng có độ tin cậy cao, thu nhập đều đặn và ổn định. Cho vay trực tiếp từng lần: là hình thức cho vay của ngân hàng đối với các khách hàng có nhu cầu thời vụ hay mở rộng sản xuất đặc biệt mà không có nhu cầu vay thường xuyên, không có điều kiện để được cấp hạn mức thấu chi. Cho vay theo hạn mức: là nghiệp vụ tín dụng theo đó ngân hàng thỏa thuận cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng. Hạn mức tín dụng được cấp trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của khách hàng. Cho vay luân chuyển: là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của hàng hoá. Ngân hàng cho doanh nghiệp vay để mua hàng và sẽ thu nợ khi bán hàng. Cho vay trả góp: là hình thức tín dụng mà khách hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thoả thuận. Cho vay trả góp thường được áp dụng đối với các khoản vay trung và dài hạn, tài trợ cho tài sản cố định hoặc hàng lâu bền. Cho vay gián tiếp: đây là hình thức cho vay thông qua các tổ chức trung gian. Cho vay gián tiếp thường được áp dụng đối với thị trường có nhiều món vay nhỏ, người vay phân tán, cách xa ngân hàng, nhằm giảm bớt chi phí và rủi ro. -Bảo lãnh: là việc ngân hàng cam kết dưới hình thức thư bảo lãnh về việc thực hiện các nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng của ngân hàng khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ như cam kết. Phân theo mục tiêu có các loại bảo lãnh như sau: Bảo lãnh dự thầu: là cam kết của ngân hàng với chủ đầu tư (hay chủ thầu) về việc trả tiền phạt thay cho bên dự thầu nếu bên dự thầu vi phạm các quy định trong hợp đồng dự thầu. Bảo lãnh thực hiện hợp đồng: là cam kết của ngân hàng về việc chi trả tổn thất thay khách hàng nếu khách hàng không thực hiện đầy đủ hợp đồng như cam kết, gây tổn thất cho bên thứ ba. Bảo lãnh tiền ứng trước: là cam kết của ngân hàng về việc sẽ hoàn trả tiền ứng trước cho bên thụ hưởng bảo lãnh nếu bên được bảo lãnh không trả. Bảo lãnh vay vốn: là cam kết của ngân hàng đối với người cho vay (tổ chức tín dụng, các cá nhân…) về việc sẽ trả gốc lãi đúng hạn nếu khách hàng (người đi vay) không trả được. Bảo lãnh thanh toán: là cam kết của ngân hàng về việc sẽ thanh toán tiền theo đúng hợp đồng thanh toán cho người thụ hưởng nếu khách hàng của ngân hàng không thanh toán đủ. -Cho thuê: là việc ngân hàng mua tài sản cho khách hàng thuê với thời hạn sao cho ngân hàng phải thu gần đủ (hoặc thu đủ) giá trị của tài sản cho thuê cộng lãi (thời hạn khoảng 80-90% đời sống kinh tế của tài sản). Hết hạn thuê, khách hàng có thể mua lại tài sản đó. 1.1.2.3.Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng: có 2 loại: -Tín dụng có bảo đảm: là loại tín dụng dựa trên cơ sở các bảo đảm như thế chấp, cầm cố, bảo lãnh của bên thứ ba bằng tài sản. Sự đảm bảo này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có được nguồn thu nợ thứ hai khi nguồn thu nợ thứ nhất không có hoặc không đủ. -Tín dụng không bảo đảm: là loại tín dụng không có tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh của bên thứ ba. Loại tín dụng này có thể được cấp cho các khách hàng có uy tín, kinh doanh thường xuyên có lãi, tình hình tài chính hiệu quả, vững mạnh. 1.1.2.4. Phân loại theo rủi ro: Cách phân loại này giúp ngân hàng thường xuyên đánh giá lại tính an toàn của các khoản tín dụng, trích lập dự phòng tổn thất kịp thời hiệu quả. Có 2 loại như sau: -Tín dụng lành mạnh: là các khoản tín dụng có khả năng thu hồi cao. -Tín dụng có vấn đề: là các khoản tín dụng có dấu hiệu không lành mạnh như khách hàng chậm tiêu thụ, gặp thiên tai, tiến độ thực hiện kế hoạch bị chậm, trì hoãn nộp báo cáo tài chính… Tín dụng có vấn đề được chia làm 2 loại, đó là: Nợ quá hạn có khả năng thu hồi: là các khoản nợ đã quá hạn với thời hạn ngắn và khách hàng có kế hoạch khắc phục tốt, tài sản đảm bảo có giá trị lớn, thanh khoản cao… Nợ quá hạn khó đòi: là các khoản nợ quá hạn khá lâu, khả năng trả nợ kém, tài sản thế chấp nhỏ hoặc bị giảm giá, khách hàng chây ì… 1.1.2.5.Phân loại khác: -Theo đối tượng tín dụng thì có tín dụng vốn lưu động và tín dụng vốn cố định. -Theo mục đích có tín dụng sản xuất, tín dụng tiêu dùng… Các cách phân loại này cho thấy tính đa dạng hoặc chuyên môn hoá trong cấp tín dụng của ngân hàng. Với xu hướng đa dạng, các ngân hàng sẽ mở rộng phạm vi tài trợ nhưng vẫn có thể duy trì những lĩnh vực mà ngân hàng có lợi thế. Ngoài ra các cách phân loại này cho phép ngân hàng theo dõi rủi ro và sinh lợi gắn liền với những lĩnh vực tài trợ để có chính sách lãi suất, bảo đảm, hạn mức, chính sách mở rộng phù hợp. 1.1.3.Vai trò của tín dụng: 1.1.3.1.Đáp ứng nhu cầu vốn để duy trì quá trình sản xuất liên tục đồng thời góp phần đầu tư phát triển kinh tế. Thừa thiếu vốn tạm thời thường xuyên xảy ra ở các doanh nghiệp, việc phân phối vốn tín dụng đã góp phần điều hòa vốn trong toàn bộ nền kinh tế, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất được liên tục. Ngoài ra tín dụng còn là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, là động lực kích thích tiết kiệm đồng thời là phương tiện đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển. Thông qua hoạt động tín dụng giúp các doanh nghiệp sử dụng nguồn lao động và nguyên liệu hợp lý thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội. 1.1.3.2.Thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Hoạt động của các ngân hàng là tập trung vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi mà vốn này nằm phân tán khắp mọi nơi, trong tay các doanh nghiệp, các cơ quan Nhà nước và cá nhân, trên cơ sở đó cho vay các đơn vị kinh tế, những người có nhu cầu về vốn và từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển. 1.1.3.3.Tín dụng là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển và ngành mũi nhọn. Trong điều kiện nước ta, Nhà nước tập trung tín dụng để tài trợ cho các ngành kinh tế mũi nhọn, mà phát triển các ngành này sẽ tạo cơ sở lôi cuốn các ngành kinh tế khác phát triển như sản xuất hàng xuất khẩu, khai thác dầu khí… 1.1.3.4.Góp phần tác động đến việc tăng cường chế độ hạch toán kinh tế của các doanh nghiệp. Đặc trưng cơ bản của tín dụng là sự vận động trên cơ sở hoàn trả và có lợi tức. Nhờ vậy mà hoạt động tín dụng đã kích thích sử dụng vốn và sử dụng có hiệu quả. Khi sử dụng vốn vay ngân hàng, doanh nghiệp phải tôn trọng hợp đồng tín dụng, tức phải hoàn trả nợ gốc và lãi đúng hạn, tôn trọng các điều kiện khác đã ghi trong hợp đồng tín dụng, bằng các tác động như vậy đòi hỏi doanh nghiệp phải quan tâm đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giảm chi phí sản xuất, tăng vòng quay của vốn tạo điều kiện nâng cao doanh lợi cho doanh nghiệp. 1.1.3.5.Tạo điều kiện phát triển các quan hệ kinh tế với các doanh nghiệp nước ngoài. Trong điều kiện ngày nay, phát triển kinh tế của một quốc gia gắn liền với kinh tế thế giới, tín dụng ngân hàng đã trở thành một trong những phương tiện nối liền kinh tế các nước với nhau. Đối với các nước đang phát triển nói chung và nước ta nói riêng, tín dụng đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng xuất khẩu hàng hoá, đồng thời nhờ nguồn tín dụng bên ngoài để công nghiệp hoá và hiện đại hoá nền kinh tế. 1.1.4.Bảo đảm tín dụng: 1.1.4.1.Khái niệm về bảo đảm tín dụng: Bảo đảm tín dụng là sự bảo đảm cho ngân hàng rằng có một nguồn vốn khác để hoàn trả hoặc bảo chi khi không thu hồi được nợ. 1.1.4.2.Vai trò của việc bảo đảm tín dụng: -Bảo đảm tín dụng là một hình thức đảm bảo trong trường hợp khách hàng không trả nợ hoặc trong các tình huống bất ngờ khác. -Bảo đảm tín dụng để đảm bảo trong trường hợp khách hàng đi chệch khỏi phương hướng đã vạch ra trong kế hoạch sản xuất kinh doanh, ngăn ngừa gian lận. -Các ngân hàng coi bảo đảm tín dụng là nguồn thu nợ thứ hai khi nguồn thu thứ nhất không thanh toán được. -Trong hoạt động kinh doanh có muôn ngàn lý do dẫn đến nguồn thu nợ thứ nhất không thực hiện được, nếu không có một nguồn bổ sung thì tất yếu ngân hàng sẽ bị tổn thất. Vì vậy để bảo vệ lợi ích của mình, ngân hàng yêu cầu người đi vay phải có các bảo đảm cần thiết, ngoại trừ những khách hàng có uy tín, có quan hệ tín dụng thường xuyên… 1.1.4.3.Những thuộc tính của bảo đảm tín dụng: -Giá trị của vật bảo đảm hoàn toàn được xác định và ổn định trong thời gian dài nhằm tránh mất giá. -Vật bảo đảm tín dụng phải có tính chuyển nhượng. -Có sẵn thị trường tiêu thụ. -Có giấy tờ, chứng từ chứng minh nguồn gốc sở hữu hợp pháp. 1.1.4.4.Các hình thức bảo đảm tín dụng: Bảo đảm tín dụng có các hình thức sau: -Thế chấp: là việc bên đi vay phải chuyển các giấy tờ chứng nhận sở hữu hoặc sử dụng các tài sản đảm bảo sang cho ngân hàng nắm giữ trong thời gian cam kết. Đảm bảo bằng thế chấp cho phép bên đi vay sử dụng tài sản đảm bảo phục vụ cho hoạt động kinh doanh. Các tài sản thế chấp bao gồm máy móc, trang thiết bị, nhà cửa đất đai… thường cồng kềnh và việc bán, chuyển nhượng không đơn giản. -Cầm cố: là việc bên đi vay phải chuyển quyền kiểm soát tài sản đảm bảo sang cho ngân hàng trong thời gian cam kết. Cầm cố thích hợp với những tài sản ngân hàng có thể kiểm soát và bảo quản tương đối chắc chắn, đồng thời việc ngân hàng nắm giữ không ảnh hưởng đến quá trình hoạt động của bên đi vay, như các chứng khoán, hợp đồng tiền gửi, sổ tiết kiệm… 1.1.4.5.Quan hệ giữa rủi ro và bảo đảm tín dụng: Thời gian qua, các ngân hàng thương mại Việt Nam chỉ áp dụng một vài loại tài sản đảm bảo, trong đó chủ yếu là quyền sử dụng đất và sở hữu nhà. Trong nền kinh tế thị trường, tính chất hoạt động của các doanh nghiệp rất đa dạng, để mở rộng tín dụng gắn với hạn chế rủi ro đòi hỏi ngân hàng phải sử dụng đồng thời nhiều loại tài sản đảm bảo và hình thức đảm bảo, vận dụng thích ứng với điều kiện của mỗi khách hàng. Trong kinh doanh cũng như ở chiến trường, ở đâu là điểm nóng thì ở đó phải có những tuyến phòng thủ chắc chắn, dàn trải đều cho tất cả các mặt trận không phải là chiến lược tối ưu. Tương tự, đối với khách hàng và loại cho vay có rủi ro cao thì nên áp dụng loại bảo đảm có rủi ro thấp và ngược lại. 1.2. RỦI RO TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI: 1.2.1.Tìm hiểu chung về rủi ro: 1.2.1.1.Khái niệm về rủi ro: Rủi ro là những biến cố không mong đợi khi xảy ra dẫn đến sự tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định. -Rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng của ngân hàng là hai đại lượng đồng biến với nhau trong một phạm vi nhất định. -Khi đề cập đến rủi ro người ta thường đề cập đến hai yếu tố mang tính đặc trưng, đó là: biên độ rủi ro và tần suất xuất hiện rủi ro. +Biên độ rủi ro: thể hiện mức độ thiệt hại do rủi ro gây ra. +Tần suất xuất hiện rủi ro = KP/P KP: số trường hợp thuận lợi để rủi ro xuất hiện P: số trường hợp đồng khả năng -Rủi ro là một yếu tố khách quan cho nên người ta không thể nào loại trừ được hẳn mà chỉ có thể hạn chế sự xuất hiện của chúng cũng như những tác hại do chúng gây nên. 1.2.1.2.Quản trị rủi ro: Quản trị rủi ro là việc nhận diện và đề ra các biện pháp nhằm hạn chế sự xuất hiện của rủi ro và những thiệt hại khi chúng phát sinh, đồng thời xác định tương quan hợp lý giữa vốn tự có của ngân hàng với mức độ mạo hiểm có thể trong sử dụng vốn ngân hàng. 1.2.1.3.Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro: Có 3 nhóm nguyên nhân dẫn đến rủi ro -Các nguyên nhân thuộc về năng lực quản trị của ngân hàng: +Do không quản lý chặt chẽ thanh khoản dẫn đến thiếu khả năng chi trả. +Cho vay và đầu tư quá liều lĩnh, trong cho vay ngân hàng tập trung nguồn vốn quá nhiều vào một doanh nghiệp hoặc một ngành kinh tế nào đó, trong đầu tư ngân hàng chú trọng đầu tư vào một loại chứng khoán có rủi ro cao. +Do thiếu am hiểu thị trường, thiếu thông tin hoặc phân tích thông tin không đầy đủ dẫn đến cho vay hoặc đầu tư không hợp lý. +Do hoạt động kinh doanh trái pháp luật, tham ô, tham nhũng… +Do cán bộ ngân hàng thiếu đạo đức nghề nghiệp, yếu kém về trình độ nghiệp vụ. -Các nguyên nhân thuộc về phía khách hàng: +Do khách hàng vay vốn thiếu năng lực pháp lý. +Sử dụng vốn vay sai mục đích, kém hiệu quả. +Do kinh doanh thua lỗ liên tục, hàng hóa không tiêu thụ được. +Quản lý vốn không hợp lý dẫn đến thiếu thanh khoản. +Chủ doanh nghiệp, công ty vay vốn thiếu năng lực điều hành, tham ô, lừa đảo… +Do mất đoàn kết trong nội bộ Hội đồng quản trị, Ban giám đốc. -Các nguyên nhân khách quan có liên quan đến môi trường hoạt động kinh doanh: +Do thiên tai, hỏa hoạn, sự kiện bất ngờ xảy đến. +Tình hình an ninh, chính trị trong nước, cũng như trong khu vực không ổn định. +Do khủng hoảng hoặc suy thoái kinh tế, lạm phát, mất thăng bằng cán cân thanh toán quốc tế dẫn đến tỷ giá hối đoái biến động bất thường. +Môi trường pháp lý không thuận lợi, lỏng lẻo trong quản lý vĩ mô. 1.2.2.Các loại rủi ro trong lĩnh vực ngân hàng thương mại: Trong lĩnh vực hoạt động ngân hàng, nhận biết mỗi loại rủi ro khác nhau giúp ngân hàng có thể kiểm soát, hạn chế được phần nào những tác hại do rủi ro mang lại. Thực tế có rất nhiều loại rủi ro khác nhau, sau đây là một trong số các loại rủi ro: -Rủi ro tín dụng: là khả năng tiềm tàng khi người vay hay đối tác không thể thực hiện được một số cam kết hay vỡ nợ. -Rủi ro thị trường: là sự không chắc chắn bắt nguồn từ những thay đổi về giá cả trên thị trường như lãi suất, tỷ giá hối đoái, định giá. -Rủi ro thanh khoản: là khả năng ngân hàng không đáp ứng được các cam kết khi đến hạn bởi thiếu tiền (tài sản nợ) để tài trợ cho các hoạt động sử dụng vốn (tài sản có) do lạm phát, mức lãi suất thực không hấp dẫn hoặc người gửi tiền rút tiền ồ ạt…; hay bởi quản lý chênh lệch kỳ hạn giữa tài sản có và tài sản nợ yếu kém, đầu tư vào các tài sản có tính thanh khoản kém như trái phiếu của các công ty phát hành… -Rủi ro hoạt động: các nguồn khởi phát rủi ro hoạt động gồm có: Công nghệ: sập hệ thống, lỗi phần mềm chương trình… Nhân viên: các nhân sự chủ chốt và mức độ thay thế, lỗi sơ suất, lừa đảo, rửa tiền, vi phạm bảo mật… Quan hệ khách hàng: sự không hài lòng với hoạt động của ngân hàng, bất đồng trong thoả thuận hợp đồng… Tài sản: an toàn, an ninh, các tình huống nằm ngoài khả năng kiểm soát (force majors)… Bên ngoài: lừa đảo, thị trường suy sụp, chiến tranh… -Các loại rủi ro khác mà ngân hàng phải đối mặt như: rủi ro tuân thủ luật định, rủi ro pháp lý, rủi ro uy tín, rủi ro do kiểm soát/điều tiết, rủi ro khác… [IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/hung/IMPOST%7E1/Temp/msohtml1/01/clip_image00 3.gif[/IMG] Trong các loại rủi ro thì theo nghiên cứu của McKinsey rủi ro tín dụng chiếm khoảng 60% và là rủi ro chính đối với các ngân hàng Châu Á. 1.2.3.Rủi ro tín dụng trong ngân hàng thương mại: 1.2.3.1.Khái niệm rủi ro tín dụng: Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cho vay của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng. Rủi ro tín dụng còn gọi là rủi ro mất khả năng chi trả và rủi ro sai hẹn. 1.2.3.2.Đánh giá rủi ro tín dụng: Để đánh giá rủi ro tín dụng, ngân hàng dựa vào các thông số sau đây:  Hệ số nợ quá hạn: là tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ cho vay. Theo quy định hiện nay của ngân hàng Nhà nước cho phép hệ số nợ quá hạn của các ngân hàng thương mại không được vượt quá 5%.  Hệ số rủi ro tín dụng: là tỷ lệ tổng nợ cho vay trên tổng tài sản có. Hệ số này cho thấy tỷ trọng của khoản mục tín dụng trong tài sản có, khoản mục tín dụng trong tổng tài sản càng lớn thì lợi nhuận sẽ lớn nhưng đồng thời rủi ro tín dụng cũng rất cao.  Phân loại nợ quá hạn, nợ xấu tại Việt Nam: Nợ xấu (Bad debt): Nợ xấu là một trong những vấn đề luôn làm đau đầu các nhà quản trị Ngân hàng. Theo tiêu chuẩn quốc tế, “nợ xấu” là những khoản nợ quá hạn 90 ngày mà không đòi được và không được tái cơ cấu. Tại Việt Nam, nợ xấu bao gồm những khoản nợ quá hạn có hoặc không thể thu hồi, nợ liên quan đến các vụ án chờ xử lý và những khoản nợ quá hạn không được Chính phủ xử lý rủi ro. Nợ xấu là khoản nợ có các đặc trưng cơ bản sau đây: -Khách hàng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng khi các cam kết đã hết hạn. -Tình hình tài chính của khách hàng đang và có chiều hướng xấu dẫn đến có khả năng ngân hàng không thu hồi được cả gốc lẫn lãi. -Thông thường về thời gian là các khoản nợ quá hạn ít nhất 90 ngày. Nợ xấu được phân chia thành nhiều nhóm mục đích giúp các nhà quản trị ngân hàng dễ quản lý, kiểm soát và đề ra phương pháp xử lý khác nhau cho từng nhóm tương ứng. Theo quyết định 149/QĐ-TTg ngày 05/01/2001 thì nợ xấu có thể chia thành 3 nhóm: Nhóm 1: Nợ xấu có tài sản đảm bảo, gồm có: nợ tồn đọng ngân hàng đã thu giữ tài sản dưới hình thức gán, xiết nợ; nợ tồn đọng ngân hàng chưa thu giữ tài sản như nợ có tài sản liên quan đến vụ án chờ xét xử, nợ có tài sản đảm bảo đã quá hạn trên 360 ngày. Nhóm 2: Nợ xấu không có tài sản đảm bảo và không có đối tượng để thu, gồm có: nợ xóa thiên tai chưa có nguồn và còn hạch toán nội bảng; nợ khoanh doanh nghiệp đã giải thể, phá sản; nợ khoanh doanh nghiệp thuộc các vụ án; nợ khoanh do thiên tai của hộ sản xuất… Nhóm 3: Nợ xấu không có tài sản đảm bảo nhưng con nợ vẫn còn tồn tại, đang hoạt động, gồm có: nợ khoanh doanh nghiệp khó thu hồi; nợ tín dụng chính sách còn khả năng thu hồi; nợ quá hạn trên 360 ngày. Ngoài ra còn có nhóm nợ phát sinh sau ngày 31/12/2000, là những khoản nợ không thu được nhưng không đủ điều kiện để khoanh, xoá. Nợ quá hạn (non-performing loan): Nợ quá hạn là những khoản tín dụng không hoàn trả đúng hạn, không được phép và không đủ điều kiện để được gia hạn nợ. Các khoản nợ quá hạn trong hệ thống NHTM Việt Nam được phân loại thành 5 nhóm theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005: Nhóm 1: nợ đủ tiêu chuẩn, bao gồm nợ trong hạn được đánh giá có khả năng thu hồi đủ gốc và lãi đúng hạn và các khoản nợ có thể phát sinh trong tương lai như các khoản bảo lãnh, cam kết cho vay, chấp nhận thanh toán; Nhóm 2: nợ cần chú ý, bao gồm nợ quá hạn dưới 90 ngày và nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ; Nhóm 3: nợ dưới tiêu chuẩn, bao gồm nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày và nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày; Nhóm 4: nợ nghi ngờ, bao gồm nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày và nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày; Nhóm 5: nợ có khả năng mất vốn, gồm nợ quá hạn trên 360 ngày, nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trên 180 ngày và nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý. Từng nhóm nợ được quy định chi tiết và rất cụ thể, không những giúp các nhà quản trị ngân hàng quản lý chặt chẽ chất lượng và rủi ro tín dụng mà còn chủ động có biện pháp xử lý kịp thời những khoản nợ có “vấn đề” góp phần hạn chế tổn thất có thể xảy ra. 1.2.3.3.Phương pháp quản lý: -Phân tán rủi ro trong cho vay bằng cách không dồn vốn cho vay quá nhiều đối với một khách hàng hoặc không tập trung cho vay quá nhiều vào một ngành, lĩnh vực kinh tế có rủi ro cao. -Thực hiện tốt việc thẩm định khách hàng và khả năng trả nợ trước khi quyết định tài trợ. -Bảo hiểm tiền vay, nghĩa là ngân hàng chuyển toàn bộ rủi ro cho cơ quan bảo hiểm chuyên nghiệp. -Phải có chính sách tín dụng hợp lý và duy trì các khoản dự phòng để đối phó với rủi ro. -Trước khi quyết định cho vay đối với một khách hàng, ngân hàng phải xem xét các điều kiện sau: +Khả năng trả nợ của khách hàng phải lớn hơn hoặc bằng với mức cho vay. +Mức cho vay không được vượt quá 70% tài sản đảm bảo. +Tổng dư nợ cho vay một khách hàng không được phép vượt quá 15% vốn tự có của ngân hàng. 1.3.KINH NGHIỆM QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI T c ộc kh h à ch h â hà hờ kỳ 1997-1998, khở đầ à âm đ ểm à kh ực châ Á, đã có ấ h ề â hà kh ực à ê hế ớ bị phá s , kể c hữ â hà có bề ày h ạ độ hà m m. N ày ay, sự kệ hề â hà ê hế ớ cô bố các kh ợ xấ à h a ỗ đa được cộ hưở ớ ì h ạ ề kh h à cầ , mà bắ đầ à ừ hữ á h ặ ợ khó đò c a hệ hố ê a đế hị ườ bấ độ s phá s h c a Mỹ m 2007. T ước ì h hì h đó, các â hà ớ , có ầm h hưở à cầ đa ế hà h h ề b ệ pháp để sẵ sà đố phó ớ kh h hế ớ . Sa đây à mộ số các k h h ệm ở à ước ê hế ớ : 1.3.1.Kinh nghiệm của Trung Quốc: Qua nghiên cứu thị trường tín dụng tại Trung Quốc cho thấy nguyên nhân các khoản nợ xấu xuất phát từ: + Dư nợ tín dụng tăng quá nhanh trong khi trình độ chuyên môn của cán bộ tín dụng chưa đạt tiêu chuẩn. + Cho vay những lĩnh vực ngoài thị trường truyền thống và dựa vào thế chấp, người bảo lãnh, danh tiếng – là những nguồn trả nợ thứ yếu mà không đánh giá nguồn trả nợ chính. + Cho vay với kỳ vọng tài sản hình thành từ vốn vay sẽ có giá trị cao, tuy nhiên tình trạng sốt và giảm giá nhà đất nghiêm trọng ở Thượng Hải gần đây đã làm cho sự kỳ vọng vô nghĩa, giá bất động sản sụt giảm, trị giá thế chấp không đủ bù đắp khoản vay, thanh khoản kém, nguy cơ không trả được nợ là rất lớn. + Tỷ lệ cho vay trên giá trị tài sản thế chấp quá cao. + Cho vay đảm bảo bằng chính cổ phiếu ngân hàng mình. + Cơ cấu khoản vay kém hiệu quả, cho vay quá khả năng chi trả. + Giám sát sau giải ngân kém; không giám sát thoả đáng các khoản cho vay xây dựng như đi thực địa, tiến độ rút vốn vay, thanh tra,... + Không văn bản hoá thoả thuận cụ thể về mục đích và cách sử dụng khoản vay, kế hoạch nguồn trả nợ. + Không có chứng từ địa chỉ giao dịch với khách hàng vay, hồ sơ pháp lý không đầy đủ. + Không thu thập, xác minh và phân tích các báo cáo trong suốt kỳ hạn hiệu lực khoản vay. + Không nhận biết được các dấu hiệu cảnh báo như chu kỳ luân chuyển tồn kho và khoản phải thu chậm lại, chu kỳ các khoản phải trả dài ra và phát sinh lỗ ròng trong kinh doanh. Từ một số nguyên nhân trên trong vô vàn các nguyên nhân gây ra các khoản nợ xấu tại Trung Quốc, là một nước gần gũi và có các điều kiện tương tự - Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm để hạn chế được những nguy cơ tiềm ẩn gây ra rủi ro tín dụng. 1.3.2.Kinh nghiệm của Nhật Bản: Bài học quan trọng có thể rút ra từ kinh nghiệm của các ngân hàng Nhật cụ thể như sau: Việc cho vay không chặt chẽ cùng với chính sách mở rộng quá tham vọng càng được kích thích thêm do cạnh tranh trên thị trường là kết quả gây ra lỗ lãi ngân hàng. Mặt khác, do không có kinh nghiệm với những khoản vay bị thất thoát nghiêm trọng trước đây nên các ngân hàng Nhật không biết cách quản lý khi có phát sinh lãi lỗ tín dụng. Các ngân hàng không hiểu rõ hậu quả nghiêm trọng của việc trì hoãn những biện pháp dứt khoát đối với các khách hàng vay có rủi ro, do đó mức lỗ lãi của ngân hàng không thể được giải quyết nhanh chóng và với phí tổn thấp hơn. Ngân hàng nên chủ động trong việc đánh giá một khách hàng có tiềm năng rủi ro trong tương lai gần và xa, từ đó có biện pháp xử lý càng sớm càng tốt. Nếu mức lãi lỗ của ngân hàng vượt quá khả năng của các ngân hàng thương mại, Nhà nước sẽ dùng các nguồn quỹ quốc gia để can thiệp và tất yếu ban điều hành các ngân hàng cũng được thay thế. Khi nền kinh tế có vấn đề thì ngành kinh doanh ngân hàng cũng không thể hoạt động tốt được. Cho dù ngân hàng đóng vai trò hỗ trợ đối với các ngành công nghiệp sản xuất và dịch vụ, nhưng hệ thống ngân hàng cũng có thể làm tình hình xấu hơn và trì trệ sự ổn định của nền kinh tế nếu bản thân ngân hàng cũng gặp khó khăn. Nếu như phần lớn các khoản cho vay của ngân hàng cấp cho các doanh nghiệp không khỏe mạnh, thì không chỉ ngân hàng hoạt động không hiệu quả mà nền kinh tế cũng sẽ bị ảnh hưởng. Hiện nay các ngân hàng Nhật đã xử lý thành công các vấn đề liên quan đến tài sản không thu hồi được. Tổ chức dịch vụ tài chính (The Financial Service Agency) đóng vai trò quan trọng trong việc thúc ép các ngân hàng thực hiện công tác dự phòng cần thiết cũng như xử lý những khoản nợ xấu mà trước đây đã từng gây ra các khoản lỗ lãi lớn kéo dài trong nhiều năm đối với hầu hết các ngân hàng. 1.3.3.Kinh nghiệm của Mỹ: Dựa à các h ê cứ ề 9 đơ ị ch ay hà h cô ở Mỹ, ú kế a được hữ k h h ệm ệc k ểm s á hệ hư sa : Các đơn vị cho vay hiệu quả thường nuôi dưỡng một mối quan hệ lâu dài và tổng hợp với bên đi vay. Đa số những đơn vị cho vay đều cố gắng để thiết lập một mối quan hệ lâu dài với khách hàng của họ và phục vụ mọi nhu cầu về tài chính của họ. Kết quả là những người cho vay sẽ hiểu nhiều hơn về tình hình tài chính của khách hàng và có được lợi nhuận khi bán các sản phẩm tài chính đa dạng, trong khi đó bên vay sẽ có được một nguồn hỗ trợ lâu dài cùng với dịch vụ tín dụng. Các đơn vị cho vay hiệu quả thường căn cứ nhiều hơn vào việc đánh giá tình trạng của từng bên vay hơn là vào các phương pháp và công thức tự động ví dụ như chấm điểm tín dụng. Chấm điểm tín dụng, căn cứ vào công thức có sẵn để đo lường và tiên đoán về mức độ rủi ro của các khách hàng tiềm năng, được thiết kế để cải tạo quy trình thẩm định khoản vay. Mặc dù chấm điểm tín dụng theo cách truyền thống thường được sử dụng cho vay tiêu dùng, khi dựa vào đó để duyệt khoản tín dụng thẻ hoặc tín dụng để mua ô tô, họ là khách hàng tiềm năng trong một chuỗi khách hàng. Tám trong số chín đơn vị cho vay được nghiên cứu, tuy nhiên, lại không sử dụng chấm điểm tín dụng cho khách hàng nhỏ, chủ yếu vì họ cho rằng không có nhiều tương quan giữa quá khứ tín dụng của bên vay, như được đo lường trong hệ số tín nhiệm, với hoạt động của khách hàng này trong tương lai. Mặc dù có một số đơn vị cho vay sử dụng chấm điểm tín dụng cho tín dụng tiêu dùng, họ tin rằng cho vay doanh nghiệp nhỏ có quá nhiều những đặc tính riêng rất khó được phân tích thông qua một hệ thống tự động. Hơn thế nữa, các đơn vị cho vay thấy rằng chấm điểm tín dụng có thể loại trừ mất các khách hàng tiềm năng tốt, những khách hàng không có đủ số lượng năm có lãi, số năm có lãi tối thiểu là một tiêu chí để xác định dự án khả thi trong tương lai. Các đơn vị cho vay hiệu quả tránh sử dụng những đơn vị môi giới, vì các đơn vị môi giới không có động cơ để đem lại các khoản vay có chất lượng cao hơn do họ được trả không căn cứ vào chất lượng khoản vay. Các đơn vị cho vay hiệu quả thường yêu cầu bên vay phải chứng tỏ được kinh nghiệm của mình trong kinh doanh. Các đơn vị cho vay hiệu quả thường yêu cầu bên vay cung cấp thế chấp cả tài sản cá nhân và tài sản doanh nghiệp cho dù là tài sản đảm bảo có cần thiết hay không để tạo ra động lực về tâm lý cho bên vay đối với khoản vay. Các đơn vị cho vay hiệu quả thường tập trung quyết định cho vay để bảo đảm tính thống nhất và kiểm soát. Mặc dù các bên cho vay nhỏ hoặc lớn có thể khác nhau về phương pháp xem xét khoản vay, cả 2 đều yêu cầu có ít nhất một cán bộ, không phải là cán bộ thẩm định khoản vay, để xem xét lại khoản vay và đưa ra quyết định phê duyệt cuối cùng. Kết cấu này loại bỏ việc ra quyết định phê duyệt cuối cùng từ nhiều cán bộ rải rác mà tập trung việc phê duyệt vào một cán bộ hoặc một nhóm để đảm bảo tính thống nhất, kiểm soát và hiệu quả trong thẩm định khoản vay. Các đơn vị cho vay hiệu quả yêu cầu cán bộ cho vay phải có trách nhiệm với khoản vay họ cho vay. Bởi vì quyết định tín dụng chỉ tốt khi thông tin trình bày, việc phân tích phải đầy đủ, đa số các đơn vị cho vay đều tin vào trách nhiệm của cán bộ cho vay. Mặc dù không có đơn vị nào nhấn mạnh về việc phạt các cán bộ khi có nợ khó đòi, trong đa số trường hợp các cán bộ cho vay phải hỗ trợ việc thu hồi các khoản vay khó đòi. Các đơn vị cho vay hiệu quả đều nhấn mạnh việc thẩm định khoản vay hơn là việc kiểm soát khoản vay. Họ tin rằng việc cắt giảm hoặc làm tắt trong quá trình thẩm định sẽ dẫn đến khoản nợ xấu. Thêm vào đó, cho vay các khoản nợ có rủi ro sẽ không đáng nếu tính đến khối lượng công việc phải thực hiện để khoản vay không bị quá hạn. Các đơn vị cho vay hiệu quả áp dụng hệ số tín nhiệm cho các khoản vay mới và thẩm định lại hệ số này theo định kỳ trong suốt thời hạn của khoản vay. Tất cả các đơn vị cho vay đều hoặc đã có một hệ thống chấm hệ số tín nhiệm hoặc có kế hoạch để tạo ra một chương trình chấm điểm. Trong một chương trình điển hình, một khoản vay mới sẽ được áp dụng một giá trị bằng số thể hiện mức rủi ro vào thời điểm thẩm định khoản vay. Trong suốt thời gian vay vốn, con số này có thể được duyệt lại căn cứ vào lịch sử trả nợ của bên vay và các yếu tố khác. Khi có trục trặc được tìm ra, tất cả các đơn vị đều có cách để nhận ra và theo dõi các khoản nợ xấu. Hệ thống này khác với chấm điểm tín dụng, được sử dụng trước đó để ra quyết định vay vốn. Các đơn vị cho vay hiệu quả luôn theo dõi để xác định sớm những dấu hiệu của khoản vay xấu trong tương lai. Cách tốt nhất để xác định sớm các dấu hiệu là luôn giữ mối liên hệ với khách hàng, không đợi cho đến khi khoản vay trở nên quá hạn. Các đơn vị cho vay thành công xác định nợ xấu sớm và bắt đầu các nỗ lực thu hồi nợ rất mạnh mẽ. Một trong những công việc thường xuyên của các bên cho vay là sự tích cực khi họ xác định và tìm kiếm khả năng thu hồi các khoản nợ chỉ trong vài ngày kể từ khi khoản vay bị trễ. Những hành động nhanh này có thể làm giảm thời gian cần có tiêu tốn vào các động tác thu hồi nợ và cho phép các bên cho vay điều chỉnh thời hạn trả nợ hoặc giải quyết các vấn đề khác của bên vay sớm. Các đơn vị cho vay hiệu quả nhấn mạnh vào lối ra cho các khoản nợ xấu và tránh việc thu hồi nợ. Việc tất toán khoản nợ xấu chỉ nên xem xét khi đó là cách cuối cùng để thu hồi khoản vay có vấn đề, vì thu hồi có thể hiệu quả hơn thông qua việc tiếp tục trả nợ của một doanh nghiệp vẫn đang hoạt động hơn là phải tất toán tài sản. Ngày nay, khủng hoảng tín dụng tại Mỹ rất nghiêm trọng và lan sang các nước khác, nó ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế Mỹ, nguyên nhân xuất phát phần lớn từ những khoản thua lỗ liên quan đến địa ốc và chứng khoán. Kể từ tháng 8 năm 2007 đến nay, những công ty tài chính từng một thời hùng mạnh của Mỹ như Bear Stearns, Countrywide Financial và IndyMac đã vỡ nợ hoặc bị mua lại; hàng loạt tập đoàn khác như Fannie Mae, Freddie Mac, Washington Mutual, Citigroup và Wachovia hiện đang trong hoàn cảnh khó khăn. Cụ thể khởi đầu là hai quỹ phòng hộ của Bear Stearns, và tài sản của một quỹ khác của Bear Stearns bị đóng băng vì những khoản thua lỗ liên quan đến cho vay địa ốc và chứng khoán. Đây là những quỹ đầu tư mạnh vào các loại trái phiếu phát hành dựa trên các khoản vay cầm cố bất động sản. Ngày 08/08/2007, một trong những ngân hàng tư nhân lớn nhất của Châu Âu là Sal.Oppenheim có trụ sở tại Luxembourg (Bỉ) tuyên bố tạm thời đóng cửa một quỹ đầu tư chứng khoán địa ốc trị giá 750 triệu USD. Một ngày sau đó, ngân hàng lớn nhất nước Pháp là BNP Paribas cũng hành động tương tự khi đóng băng khối tài sản 2,2 tỷ USD và ngân hàng NIBC của Đức công bố khoản lỗ gần 200 triệu USD do liên quan đến chứng khoán, bất động sản Mỹ. Theo Moody’s Economy.com, từ tháng 8 năm ngoái tới nay, các định chế tài chính toàn cầu đã thua lỗ tổng số tiền khoảng 925 tỷ USD vì khủng hoảng tín dụng, tương đương 3% tổng tài sản của họ. Trong số này, trầm trọng nhất là khoản thua lỗ lên đến 525 tỷ USD liên quan đến các khoản cho vay địa ốc. Cuộc khủng hoảng tín dụng Mỹ lan nhanh sang các nước khác trên thế giới, do có mức độ liên quan rất cao, ước tính có khoảng 50% các loại chứng khoán phát hành từ các khoản nợ cho vay cầm cố ở Mỹ hiện nằm trong tay các nhà đầu tư nước ngoài. Ngân hàng Thụy Sỹ UBS và ngân hàng IKB Deutsche Industriebank của Đức phải gánh những khoản thâm hụt tài sản do nợ xấu. Tại Norway, tám thành phố đã công bố thua lỗ ít nhất 125 triệu USD vì đầu tư vào các loại chứng khoán bất động sản Mỹ. Khủng hoảng tín dụng Mỹ đã làm thị trường địa ốc ngày càng suy yếu và trở thành thảm hoạ thực sự. Giá nhà đất ở Mỹ liên tục giảm xuống, số vụ tịch biên nhà không ngừng tăng lên. Những tiêu chuẩn cho vay mua nhà ngày càng thắt chặt và không đơn giản như trước, mục đích giảm thiểu các khoản vay đầu tư địa ốc. Đối với thị trường chứng khoán Mỹ, lượng chứng khoán phát hành trước đây đã bị định giá cao, không đúng với giá trị thực vốn có. Không những chỉ có lĩnh vực địa ốc và tài chính bị ảnh hưởng, mà cuộc khủng hoảng tín dụng còn “tàn phá” cả ngành công nghiệp ô tô, hàng không, du lịch và bán lẻ. Thể hiện ở chỗ các hãng ô tô như GM, Ford, Chrysler thua lỗ do tình hình kinh doanh khó khăn, doanh số thị trường ô tô Mỹ được dự báo chỉ đạt mức 14,5 triệu chiếc, thấp nhất trong vòng một thập kỷ trở lại đây. Giá dầu ngày càng leo thang, kinh tế ngày càng khó khăn, số lượng người đi lại bằng đường hàng không giảm đáng kể buộc hàng loạt hãng hàng không đóng cửa. Đồng USD mất giá khiến nhiều người Mỹ phải từ bỏ thói quen đi du lịch và mua sắm ở nước ngoài, xu hướng cắt giảm chi tiêu, thắt lưng buộc bụng làm cho doanh số bán lẻ trong nước giảm sút, nền kinh tế Mỹ gặp nhiều khó khăn. Đến nay đã có tới 117 ngân hàng Mỹ thuộc diện “có vấn đề” (theo công bố của Federal Deposit Insurance Corporation - Cô y B h ểm ề ử L ê ba Mỹ FDIC) à hơ 10 â hà Mỹ bị phá s . N yê hâ à các â hà mấ kh ha h kh a h sách các kh ợ khó h hồ ca , ù h y độ ề ử ch ay bấ độ s đồ hĩa ớ ệc ấy ắ ô à , khô hẩm đị h ồ ợ, ch ay ướ ch ẩ , đế kh á bấ độ s ốc khô pha h, các kh ợ khô h hồ được, â hà mấ kh ch các kh ế k ệm đế hạ , ì h hì h k h ế kh h , các a h h ệp Mỹ ơ à ì h c h khó kh phá s , các kh đầ ư c a â hà cũ ừ đó h a ỗ,… Từ cuộc khủng hoảng tín dụng Mỹ, cho thấy nguyên nhân xuất phát phần lớn từ việc quản lý kiểm soát khoản vay kinh doanh bất động sản và chứng khoán còn yếu kém, chất lượng tín dụng không được coi trọng, có nhiều khoản cho vay dưới chuẩn, không thẩm định kỹ trước khi cho vay, sử dụng nguồn huy động ngắn hạn để đầu tư vào những khoản dài hạn như bất động sản nên không tránh khỏi rủi ro mất khả năng thanh toán và không thu hồi được nợ. Đó cũng là bài học kinh nghiệm quý báu cho Việt Nam khi rơi vào tình trạng tương tự. Trong chương 1, tác giả đã tập trung nghiên cứu và làm rõ một số vấn đề cơ bản sau: Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về tín dụng và rủi ro tín dụng: khái quát về tín dụng, vai trò tín dụng đối với nền kinh tế, cũng như thế nào là rủi ro, rủi ro tín dụng, các nguyên nhân và phương pháp quản lý rủi ro. Đồng thời, trong chương 1 cũng nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước trên thế giới như Trung Quốc, Nhật Bản và Mỹ về quản lý rủi ro tín dụng. Đối với Trung Quốc cho ta thấy được nguyên nhân của các khoản nợ xấu xuất phát từ đâu để có thể học hỏi phòng tránh và giảm thiểu nó. Đối với Nhật Bản, việc quản lý rủi ro tín dụng được đặt lên trên hết và tiến hành ngay khi mới bắt đầu, công tác quản lý rủi ro tín dụng của Nhật Bản khá thành công, đặc biệt trong các khâu xử lý tài sản thu hồi các khoản nợ xấu đã gây ra những khoản lỗ kéo dài hàng năm qua. Riêng đối với Mỹ, nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tín dụng và hàng loạt các ngân hàng lớn, danh tiếng của Mỹ bị phá sản, là bài học kinh nghiệm vô cùng quý giá cho việc quản lý rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam. CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH THỰC TẾ VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 2.1.ĐẶC ĐIỂM NỀN KINH TẾ VIỆT NAM TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG Việt Nam đang bị lạm phát nặng, mức lạm phát hai con số là nguy cơ cao đe doạ sự ổn định vĩ mô nền kinh tế. Lương thực và dầu mỏ tiếp tục thổi mạnh vật giá và gây hậu quả bất lợi cho các thành phần kinh tế. Thị trường chứng khoán gặp nhiều bất trắc, sức nóng của vấn đề nhà đất vơi đi làm cho tính thanh khoản của cổ phiếu, bất động sản sụt giảm trầm trọng. Thêm nữa, quá trình tự do hoá tài chính và hội nhập quốc tế tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt, khiến cho hầu hết các doanh nghiệp, khách hàng của ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ và quy luật chọn lọc khắc nghiệt của thị trường làm cho nợ xấu gia tăng vì không có nguồn để trả. Thờ a a, ư ợ á ha h sự ưở ó c a hị ườ chứ kh á à bấ độ s , kh chấ ượ khô đ m b . T ước ì h hì h k h ế hế ớ kh h , V ệ Nam khô khỏ bị h hưở , ừ đó ình hình kinh tế ngày một khó khăn, lạm phát tăng cao, Chính phủ thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ, ban hành thêm một số quy định mới, làm cho tình hình cho vay trở nên xấu đi, các doanh nghiệp không có nguồn tiền để thanh toán, kinh doanh, dẫn đến khả năng phá sản, ngân hàng khó thu hồi được nợ… hàng loạt các vấn đề phát sinh đã tác động đến hoạt động tín dụng ngân hàng. Cụ thể như Ngân hàng Nhà nước tăng dự trữ bắt buộc, mỗi ngân hàng thương mại phải mua số lượng tín phiếu nhất định và chỉ cho vay trên số tiền huy động, dẫn đến các ngân hàng phải tham gia vào cuộc đua lãi suất để làm sao có thể huy động được càng nhiều đủ bù đắp và có thể cho vay. Trước tình hình đó, ngân hàng tạm ngưng giải ngân cho các doanh nghiệp, những khách hàng của ngân hàng, kéo theo đình trệ dây chuyền sản xuất, hệ thống kinh doanh của các doanh nghiệp: không có tiền thanh toán cho đối tác, đầu tư sản xuất, đối tác không thanh toán được tiền cho khách hàng, hay thanh toán tiền mua bất động sản trả góp… nguy cơ khách hàng sẽ không trả được nợ vì không có nguồn thu. Hay khi Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tăng lãi suất cơ bản và quy định trần lãi suất cho vay, thì các Ngân hàng thương mại tiếp tục cuộc cạnh tranh mới vừa có thể huy động được tiền gửi vừa có thể cho vay đủ bù đắp chi phí. Giải pháp đấy là tăng thu các loại phí liên quan đến tín dụng, đẩy lãi suất thực khách hàng vay cao hơn nhiều so với trần lãi suất Nhà nước quy định, làm cho khách hàng phải bỏ ra chi phí nhiều hơn để trả lãi, như thế nguy cơ không trả được nợ là khá cao. Do vậy, tình hình kinh tế của một quốc gia có ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động tín dụng của Ngân hàng. 2.2.TÌNH HÌNH TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG THỜI GIAN QUA 2.2.1.Tổng quát tình hình hoạt động của các ngân hàng thương mại: 2.2.1.1.Tình hình tăng trưởng huy động: NHTM là một doanh nghiệp thực hiện hoạt động kinh doanh về tiền tệ và tín dụng. Hoạt động kinh doanh cơ bản của các NHTM là các hoạt động đem lại lợi nhuận cho NHTM bao gồm: hoạt động huy động vốn, hoạt động cho vay và hoạt động kinh doanh dịch vụ khác. Như vậy huy động vốn là một trong các hoạt động đem lại lợi nhuận cho ngân hàng. Qua nghiên cứu, các ngân hàng thương mại có tỷ lệ tăng trưởng huy động khá cao. Năm 2007, ngân hàng An Bình có tốc độ tăng trưởng huy động tăng cao 337%, kế đến là ngân hàng Kỹ thương 156%, ngân hàng Á Châu tuy tốc độ tăng trưởng kém hơn nhưng lại có tổng huy động cao hơn cả, hơn 55 ngàn tỷ đồng. [IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/hung/IMPOST%7E1/Temp/msohtml1/01/clip_image00 5.gif[/IMG] 2.2.1.2.Tình hình tăng trưởng tín dụng: Nếu như năm 2007, ngân hàng Á Châu có tổng huy động cao hơn hẳn, thì trong tăng trưởng tín dụng, ngân hàng Sài Gòn Thương tín lại có dư nợ tín dụng nhiều hơn, khoảng 35 ngàn tỷ đồng với tốc độ tăng trưởng 136%, cùng tốc độ tăng trưởng đó là ngân hàng Kỹ thương với dư nợ tín dụng hơn 20 ngàn tỷ đồng. Tốc độ tăng trưởng tín dụng cao nhất vẫn là ngân hàng An Bình, 506%. [IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/hung/IMPOST%7E1/Temp/msohtml1/01/clip_image00 7.gif[/IMG] 2.2.1.3.Hiệu quả hoạt động: Hiệu quả hoạt động của ngân hàng thể hiện qua nhiều chỉ số, trong đó lợi nhuận trước thuế là một trong những chỉ số quan trọng. Trong 8 ngân hàng nghiên cứu, lợi nhuận trước thuế của các ngân hàng tăng đều đặn qua các năm, trong đó ngân hàng Phát triển Nhà Đồng bằng sông Cửu Long có lợi nhuận trước thuế là thấp nhất khoảng 195 tỷ đồng và ngân hàng Á Châu là cao nhất hơn 2000 tỷ đồng. Nhìn chung, qua các năm, các ngân hàng đều có tăng trưởng về huy động cũng như tín dụng, đặc biệt là lợi nhuận cũng tăng hàng năm. Đây là dấu hiệu khả quan cho hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam. [IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/hung/IMPOST%7E1/Temp/msohtml1/01/clip_image00 9.gif[/IMG] 2.2.2.Tỷ lệ an toàn vốn: Xét tỷ lệ dư nợ cho vay trên nguồn vốn huy động của các ngân hàng thương mại cổ phần trong thời gian 3 năm gần nhất cho thấy Á Châu có tỷ lệ dư nợ cho vay trên nguồn vốn huy động là thấp nhất và đều đặn qua các năm, kế đến là ngân hàng Phương Nam. Bên cạnh đó, MHB và Đông Á có tỷ lệ dư nợ cho vay trên nguồn vốn huy động còn khá cao, điều này chứng minh việc sử dụng nguồn tiền cho vay vượt quá nguồn vốn huy động, làm tăng mức độ rủi ro thanh khoản cho ngân hàng. [IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/hung/IMPOST%7E1/Temp/msohtml1/01/clip_image01 1.gif[/IMG][IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/hung/IMPOST%7E1/Temp/msohtml1/01/cli p_image013.gif[/IMG] [IMG]file:///C:/DOCUME%7E1/hung/IMPOST%7E1/Temp/msohtml1/01/clip_image01 5.gif[/IMG] (Nguồn: tổng hợp từ báo cáo tài chính các ngân hàng) 2.2.3.Hệ số nợ quá hạn: Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ của ngân hàng Á Châu giảm dần qua các năm và thấp nhất trong 8 ngân hàng đang nghiên cứu, cụ thể là từ 1.66% năm 2005 xuống còn 0.31% năm 2007, điều này cho thấy ngân hàng kiểm soát rủi ro tín dụng tốt, quản lý nợ quá hạn có hiệu quả. B 2.1: Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ của các ngân hàng 2005 2006 2007 ACB 1.66% 1.11% 0.31% SACOM 0.88% 0.95% 0.39% ĐÔNG Á 1.26% 1.00% 0.64% AN BÌNH 4.34% 5.15% 2.36% TCB 1.85% 1.43% 1.41% EXIMBANK 1.98% 1.56% 1.51% MHB 3.93% 4.37% 3.36% PHƯƠNG NAM 4.35% 10.82% 8.48% (Nguồn: tổng hợp từ báo cáo tài chính các ngân hàng) Tuy nhiên tỷ lệ này ở ngân hàng Phương Nam vẫn còn khá cao, mặc dù có tăng giảm qua các năm nhưng vẫn còn cao nhất trong 8 ngân hàng đang nghiên cứu. Con số 8.48% không nói lên tất cả nhưng cũng đủ cho thấy ngân hàng vẫn chưa đẩy mạnh vai trò kiểm soát rủi ro tín dụng. Ngân hàng Phương Nam ngày nay, do sự sáp nhập của ngân hàng Đại Nam và ngân hàng Phương Nam xưa, sau một thời gian hoạt động và khắc phục hậu quả của sự thua lỗ mà ngân hàng Đại Nam để lại vẫn chưa thật sự hiệu quả, công tác quản lý rủi ro tín dụng vẫn chưa được chú trọng và còn yếu kém, đây là dấu hiệu cảnh báo đòi hỏi cần phải được thúc đẩy tăng cường kiểm soát rủi ro hơn nữa đối với bản thân ngân hàng Phương Nam và cả hệ thống các ngân hàng ở Việt Nam. 2.2.4.Hệ số rủi ro tín dụng: Dư nợ cho vay trên tổng tài sản của ngân hàng Đông Á tuy giảm dần qua các năm nhưng vẫn khá cao, từ gần 70% năm 2005 còn khoảng 65% năm 2007. Hệ số rủi ro tín dụng Đông Á càng cao thì rủi ro tín dụng càng lớn, kế đến là Eximbank, Á Châu có hệ số rủi ro tín dụng tương đối thấp chứng tỏ khả năng quản lý tín dụng của Á Châu là khá tốt. B 2.2: Tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tài sản của các ngân hàng 2005 2006 2007 ACB 38.65% 38.11% 37.25% SACOM 58.00% 59.00% 54.00% ĐÔNG Á 69.99% 66.20% 64.94% AN BÌNH 59.79% 36.32% 39.93% TCB 49.63% 50.19% 51.81% EXIMBANK 56.59% 55.71% 54.74% MHB 66.80% 53.98% 50.58% PHƯƠNG NAM 74.47% 51.18% 50.29% (Nguồn: tổng hợp từ báo cáo tài chính các ngân hàng) 2.2.5.Tỷ lệ nợ xấu: 2.2.5.1.Cơ cấu nợ các nhóm: Từ bảng số liệu bên dưới cho thấy các ngân hàng thương mại cổ phần đang nghiên cứu có tỷ lệ nợ đủ tiêu chuẩn chiếm gần tuyệt đối, điều này cho thấy các ngân hàng kinh doanh, cho vay nhưng vẫn thực hiện đầy đủ việc giám sát, quản lý rủi ro tín dụng, hạn chế tình trạng nợ xấu, nợ bất ổn xảy ra. Tuy nhiên, bên cạnh điều đáng phấn khởi, thì tỷ lệ nợ có khả năng mất vốn của ngân hàng Phương Nam là khá cao và tăng dần qua các năm trong số các ngân hàng nghiên cứu, kế đến là ngân hàng An Bình. Ngân hàng MHB có tỷ lệ nợ dưới tiêu chuẩn hơn 1%, cao nhất trong các ngân hàng đang nghiên cứu. Đây là những con số cho thấy tình hình nợ xấu của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong thời gian qua vẫn cần phải được chú ý. Do vậy, dù có cố gắng nhưng vẫn không thể nào tránh khỏi không có rủi ro, đòi hỏi các ngân hàng vẫn phải cần thiết tăng cường công tác quản lý rủi ro tín dụng sao cho rủi ro có thể hạn chế đến mức tối đa. B 2.3: Cơ cấu nợ các nhóm của các ngân hàng Nhóm ợ Ngân hàng 2005 2006 2007 Nợ đ ê ch ẩ ACB 98.34% 98.89% 99.69% SACOM 99.12% 99.04% 99.62% ĐÔNG Á 98.74% 99.00% 99.36% AN BÌNH 95.66% 94.85% 97.64% TCB 98.15% 98.57% 98.59% EXIMBANK 98.02% 98.44% 98.49% MHB 96.07% 95.63% 96.64% PHƯƠNG NAM 95.65% 89.18% 91.83% Nợ cầ chú ACB 1.36% 0.91% 0.22% SACOM 0.33% 0.23% 0.15% ĐÔNG Á 0.27% 0.23% 0.19% AN BÌNH 3.12% 2.44% 0.85% TCB 0.84% 0.70% 0.59% EXIMBANK 0.86% 0.72% 0.64% MHB 1.47% 1.49% 1.16% PHƯƠNG NAM 2.29% 7.70% 4.38% Nợ ướ ê ch ẩ ACB 0.04% 0.08% 0.03% SACOM 0.07% 0.31%
- Xem thêm -