Tài liệu Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn tỉnh bắc ninh từ năm 1986 đến nay

  • Số trang: 193 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 254 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Tham gia: 27/02/2015

Mô tả:

Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn tỉnh Bắc Ninh từ năm 1986 đến nay
MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN MỤC LỤC DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ, MÔ HÌNH MỞ ĐẦU 1 Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CNH, HĐH NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN VÀ KINH NGHIỆM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC …………….. 6 1.1. Một số vấn đề lý luận về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn …… 6 1.2. Mô hình và bài học kinh nghiệm trong và ngoài nước…………………. 45 Chương 2: THỰC TRẠNG CNH, HĐH NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN TỈNH BẮC NINH TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY ………………………………….. 66 2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Bắc Ninh tác động đến quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn …………………… 66 2.2. Chủ trương chính sách của trung ương và của tỉnh Bắc Ninh về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn …………………………………………… 70 2.3. Kết quả thực hiện chủ trương chính sách về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở tỉnh Bắc Ninh …………………………………………….. 77 2.4. Một số kinh nghiệm rút ra từ quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn tỉnh Bắc Ninh …………………………………………………….. 126 Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY NHANH CNH, HĐH NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN TỈNH BẮC NINH ĐẾN NĂM 2015 …………. 132 3.1 Những thuận lợi, khó khăn và thách thức đối với quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn tỉnh Bắc Ninh …………………… 132 3.2. Những quan điểm đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn tới ………………………………… 136 3.3. Phương hướng đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Bắc Ninh đến năm 2015 …………………………………………………….. 139 3.4. Những giải pháp chủ yếu nhằm đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn tỉnh Bắc Ninh đến năm 2015 ..................................... 148 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .................................................................................. 184 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ . ................. 186 DANH MỤC TÀI LIỆU KHAM KHẢO ................................................................. 187 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Công nghiệp hoá nói chung và công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn nói riêng là một quá trình tất yếu để chuyển một nền nông nghiệp lạc hậu thành một nền công nghiệp hiện đại. Ở nhiều quốc gia trên thế giới quá trình này diễn ra và một số nước thành công. Mấy thập kỷ gần đây, công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn ở những nước công nghiệp mới (NICs) đã tiến hành cũng được luận bàn, khái quát thành kinh nghiệm và mô hình công nghiệp hoá khác nhau. Ở Việt Nam, vấn đề công nghiệp hoá, trong đó có việc đưa nông nghiệp lên sản xuất lớn đã được Đảng và Nhà nước ta đề ra từ những năm 60 của thế kỷ trước, tuy đã đạt một số thành tựu đáng kể nhất là những năm đổi mới vừa qua, nhưng đến nay nông nghiệp, nông thôn vẫn là khu vực còn nhiều khó khăn, trở ngại. Bước vào thời kỳ đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là một trong những nhiệm vụ hàng đầu, giữ vị trí quan trọng trong toàn bộ tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phấn đấu đạt mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Vì vậy, nhiệm vụ đặt ra là cần phải phân tích sâu sắc thực trạng kinh tế nông nghiệp, nông thôn và từ đó đề ra các giải pháp để đẩy nhanh quá trình này trong giai đoạn tới. Bắc Ninh là tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Hồng, liền kề với thủ đô Hà Nội, là một trong tám tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Những năm đổi mới vừa qua, cùng với những chính sách của Đảng và Nhà nước về nông nghiệp và nông thôn, tỉnh Bắc Ninh đã có những chủ trương, chính sách và biện pháp tác động thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn và mang lại những thành tựu quan trọng về kinh tế, chính trị, xã hội. Tuy nhiên, xét động thái công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn tỉnh Bắc Ninh vẫn bộc lộ không ít những hạn chế và bất cập về cơ chế chính sách và những giải pháp hữu hiệu cần phải được quan tâm giải quyết. 2 Để góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc đề ra chủ trương, chính sách và những giải pháp cho quá trình đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, nghiên cứu sinh chọn đề tài luận án tiến sĩ: “Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn tỉnh Bắc Ninh từ năm 1986 đến nay: thực trạng, kinh nghiệm và giải pháp” làm nội dung nghiên cứu của luận án. 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu Những năm qua vấn đề nông nghiệp, nông thôn đã được nhiều nhà khoa học, tập thể quan tâm nghiên cứu. Đã có khá nhiều công trình thuộc nhiều chuyên ngành, nhiều lĩnh vực khác nhau đề xuất phương hướng và đưa ra những giải pháp tích cực nhằm đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn như: - Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khoá IX tháng 3 năm 2002 về: “Đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, thời kỳ 2001 - 2010”. - Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: “Con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Việt Nam”. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội năm 2002. - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam: “Một số vấn đề về công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn thời kỳ 2001 – 2020”. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội năm 2001. - GS.TS Đỗ Hoài Nam: “Một số vấn đề công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam”. Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội năm 2004. - GS.TS Nguyễn Kế Tuấn: “Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam, con đường và bước đi”. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội năm 2006. - TS Mai Thị Thanh Xuân: “Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn ở Bắc Trung Bộ”. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Hội năm 2004. - GS.TS Nguyễn Đình Phan: “Những biện pháp chủ yếu thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng”. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội năm 2002 3 - TS Đặng Kim Sơn: “Công nghiệp hoá từ nông nghiệp, lý luận thực tiễn và triển vọng áp dụng ở Việt Nam”. Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội năm 2001. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đều tập trung vào phân tích các khía cạnh từ những vấn đề về lý luận cơ bản, vai trò, yếu tố tác động, sự cần thiết và nội dung của công nghiệp hoá nói chung và công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn nói riêng. Một số công trình đề cập định hướng chiến lược phát triển công nghiệp nông thôn; có công trình khoa học đi sâu nghiên cứu cơ sở khoa học để xây dựng tiêu chí bước đi, cơ chế chính sách của công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn. Có công trình nghiêu cứu và đặt vấn đề khá cụ thể về phương hướng, nội dung và giải pháp thực hiện chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn hoặc vấn đề phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp, nông thôn. Các công trình đã nghiên cứu và được công bố chủ yếu là phân tích, đánh giá tình hình hiện nay trên phạm vi cả nước hoặc một vùng kinh tế của đất nước và đề xuất các giải pháp cho những năm tới. Song có lẽ cho tới nay chưa có một luận án, công trình nào nghiên cứu, đánh giá về công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn ở tỉnh Bắc Ninh theo một quá trình lịch sử từ năm 1986 đến nay một cách tương đối đầy đủ và có hệ thống. Trong quá trình nghiên cứu và qua thực tiễn công tác của mình, tác giả luận án mong muốn được góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề về lý luận, đề xuất các quan điểm, phương hướng và giải pháp để thúc đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh đến năm 2015. 3. Mục đích nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của luận án là trên cơ sở hệ thống hoá và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. Luận án phân tích thực trạng và đề ra phương hướng, mục tiêu và những giải pháp chủ yếu để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Bắc Ninh trong giai đoạn tới: Phấn đấu đến năm 2010 Bắc Ninh là một tỉnh phát triển khá trong cả nước, đến năm 2015 cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại. 4 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Luận án lấy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn tỉnh Bắc Ninh làm đối tượng nghiên cứu. - Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là vấn đề rất rộng lớn và phức tạp, phạm vi nghiên cứu của luận án tập trung vào những nội dung cơ bản về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn; phát triển các làng nghề truyền thống, làng nghề mới, phát triển các khu, cụm công nghiệp làng nghề; xây dựng kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn; phát triển nguồn nhân lực…thời gian từ năm 1986, mà chủ yếu từ năm 1997 đến nay (sau khi tỉnh Bắc Ninh được tái lập). 5. Phương pháp nghiên cứu Luận án sử dụng các phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; phương pháp lịch sử và lôgíc; phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp thống kê, mô hình hoá và tiếp cận hệ thống; phương pháp khảo sát, điều tra thực tế. 6. Những đóng góp khoa học của luận án - Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận cơ bản về công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn và kinh nghiệm một số nước, một số tỉnh . - Phân tích, đánh giá thực trạng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn và tác động của nó đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Bắc Ninh từ năm 1986, mà chủ yếu từ khi tái lập tỉnh (1997) đến nay, trên cơ sở đó rút ra những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn địa phương. - Xây dựng được quan điểm phát triển nông nghiệp, nông thôn tỉnh Bắc Ninh, đồng thời đưa ra phương hướng, mục tiêu, đề xuất các giải pháp mang tính khoa học phù hợp với tình hình, đặc điểm của địa phương và sự phát triển chung của cả nước nhằm đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn của tỉnh đến năm 2015. - Những kết quả nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong quá trình hoạch định và thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn ở tỉnh Bắc Ninh 5 7. Kết cấu của luận án Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án kết cấu gồm 3 chương: Chương 1: Một số vấn đề lý luận về công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn và kinh nghiệm trong và ngoài nước. Chương 2: Thực trạng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn tỉnh Bắc Ninh từ năm 1986 đến nay. Chương 3: Phương hướng và giải pháp đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn tỉnh Bắc Ninh đến năm 2015. 6 Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN VÀ KINH NGHIỆM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN 1.1.1. Thực chất và sự cần thiết công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn 1.1.1.1. Quan niệm về công nghiệp hoá - Các quan niệm về công nghiệp hoá Mỗi phương thức sản xuất đều có cơ sở vật chất - kỹ thuật thích ứng với nó. Cơ sở vật chất kỹ thuật là hệ thống các yếu tố vật chất của lực lượng sản xuất để sản xuất ra của vật chất, nhằm đáp ứng các nhu cầu ngày càng đa dạng của xã hội. Sự biến đổi và phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, của tiến bộ khoa học - kỹ thuật, năng lực và quy mô tích luỹ, sự tác động của quy luật nhân khẩu, quan hệ kinh tế đối ngoại... là những nhân tố cơ bản ảnh hưởng rất lớn đến trình độ của cơ sở vật chất - kỹ thuật. Ngoài ra, tính chất và trình độ của các quan hệ sản xuất, có ảnh hưởng không nhỏ và có mối quan hệ hữu cơ đối với cơ sở vật chất - kỹ thuật. Nói đến cơ sở vật chất - kỹ thuật của một phương thức sản xuất nào đó là nói đến trình độ, sự vận động và biến đổi của nó theo xu hướng nào. Đặc trưng của cơ sở vật chất - kỹ thuật của phương thức sản xuất trước chủ nghĩa tư bản là kỹ thuật thủ công, lạc hậu. Chủ nghĩa tư bản xuất hiện, với những bước chuyển biến có tính quy luật của nó, tất yếu đưa sản xuất dựa trên kỹ thuật thủ công lên hiện đại, công nghiệp đại cơ khí. Vì vậy, đặc trưng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa tư bản là nền đại công nghiệp cơ khí hoá với trình độ khoa học - kỹ thuật cao. Đối với những nước xã hội chủ nghĩa, việc xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho nền sản xuất lớn hiện đại là một trong những nhiệm vụ kinh tế to 7 lớn và là một yêu cầu khách quan. Bởi vì, cơ sở vật chất - kỹ thuật của nền sản xuất lớn hiện đại đòi hỏi phải dựa trên trình độ kỹ thuật, công nghệ ngày càng cao hơn, hiện đại hơn. Điều đó không chỉ dừng lại ở chỗ, những yếu tố của tư liệu sản xuất được cơ khí hoá và ngày càng hiện đại hoá, mà còn ở trình độ công nghệ tiên tiến và thường xuyên đổi mới. Vậy có thể khái quát: “Cơ sở vật chất của nền sản xuất hiện đại, chỉ có thể là nền đại công nghiệp cơ khí hoá cân đối và hiện đại dựa trên trình độ khoa học – công nghệ ngày càng phát triển cao...”[20]. Để có được cốt vật chất kỹ thuật như vậy, tất cả các nước phải tiến hành xây dựng nó. Nói cách khác, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của nền sản xuất lớn, hiện đại là quy luật chung, phổ biến đối với tất cả các nước trong quá trình phát triển. Công nghiệp hoá chính là con đường và bước đi tất yếu để tạo ra cơ sở vật chất - kỹ thuật cho nền sản xuất lớn hiện đại. Trong lịch sử, nhiều nước đã tiến hành công nghiệp hoá, ở mỗi nước, quá trình công nghiệp hoá đang diễn ra khác nhau về bước đi, tốc độ và nội dung cụ thể. Nước Anh đã tiến hành công nghiệp hoá trong những điều kiện hoàn toàn khác với hiện nay. Đó là nước tiến hành công nghiệp hoá đầu tiên. Nước Anh chỉ có thể bắt đầu công nghiệp hoá từ nông nghiệp, tích luỹ vốn, mở rộng thị trường, tìm kiếm nguồn lao động... và phải bằng những biện pháp cưỡng chế tàn bạo. Trong bộ Tư bản, C.Mác có đề cập “...những người nông dân bị tước đoạt bằng vũ lực, bị xua đuổi và bị biến thành những kẻ lang thang lại bị người ta dùng những đạo luật kỳ quái đánh đập, đóng dấu bằng sắt nung đỏ, tra tấn để ghép vào một kỷ luật cần thiết cho chế độ làm thuê...”[12] Hơn nữa, nước Anh vì là nước đầu tiên tiến hành công nghiệp hoá, nên phải bắt đầu tự nghiên cứu, tự sáng tạo, tự áp dụng vào sản xuất và công nghiệp hoá là một con đường vừa dài, vừa gian nan. Nước Anh đã mất khoảng 100 năm với sự bóc lột, tước đoạt tàn bạo hàng triệu người lao động mới đạt được nền công nghiệp dẫn đầu thế giới vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX. Nước Mỹ đi sau đã học tập kinh nghiệm công nghiệp hoá của nước Anh, đã nhập khẩu được kỹ thuật, đã thu hút được vốn, lao động, kỹ thuật 8 công nghệ từ Châu Âu chuyển sang và có thị trường Châu Âu, Châu Á, Châu Mỹ. Đó là những lý do chính làm rút ngắn thời gian công nghiệp hoá ở Mỹ xuống còn khoảng 80 năm. Nước Nhật tiến hành công nghiệp hoá khoảng 60 năm với những đặc điểm nổi bật là: Nhật đã kế thừa kỹ thuật, công nghệ và vốn thị trường của Châu Âu và Châu Mỹ. Đồng thời, người Nhật đã sử dụng những ưu thế vốn có của nền văn hoá và xã hội Nhật vào quá trình công nghiệp hoá. Ở Liên Xô (cũ), quan niệm cho rằng: công nghiệp hoá là quá trình xây dựng nền đại công nghiệp cơ khí có khả năng cải tạo cả nông nghiệp. Đó là phát triển các ngành công nghiệp nặng mà cốt lõi là ngành cơ khí, do đó tỷ trọng công nghiệp trong tổng sản phẩm xã hội ngày càng lớn. STa-Lin viết: “Quan trọng hơn, vì nếu không phát triển công nghiệp nặng, thì chúng ta không thể xây dựng được ngành công nghiệp nào cả, chúng ta không thể thực hiện được một công cuộc công nghiệp hoá nào cả”.[41] Theo V.I.Lê Nin: “Chỉ có đại công nghiệp cơ khí mới có thể làm cho công nghiệp và nông nghiệp hoàn toàn tách rời nhau... chính nền sản xuất bằng máy móc, đã cắt đứt hẳn mối quan hệ giữa công nhân với ruộng đất” [54]. Như vậy, công nghiệp hoá ở Liên Xô (cũ) trong giai đoạn đó là phù hợp với bối cảnh lịch sử của thế giới và tình hình trong nước. Mô hình công nghiệp hoá này đã đem lại những kết quả đáng kể, song bên cạnh đó cũng còn nhiều hạn chế mà đến thập kỷ 80, 90 của thế kỷ XX đã có sự điều chỉnh cho hợp lý. Các nước và lãnh thổ (NICs) Đông Á đi sau, rút ngắn quá trình công nghiệp hoá hơn nữa, chỉ còn khoảng 40 năm. Do họ đã tiếp thu được kinh nghiệm của cả Châu Âu, Châu Mỹ và Nhật Bản. Ngày nay, một số nước ASEAN còn có thể rút ngắn quá trình công nghiệp hoá này xuống còn khoảng 30 năm, trong đó Đài Loan là vùng lãnh thổ tiến hành công nghiệp hoá thành công. Từ thực tiễn về công nghiệp hoá của đất nước, có thể khái quát một số quan niệm về công nghiệp hoá: + Quan niệm đơn giản nhất cho rằng: công nghiệp hoá là đưa tính đặc 9 thù công nghiệp cho một hoạt động (của một vùng, một nước) với các nhà máy, các loại hình công nghiệp. Theo quan điểm này, có những điểm chưa hợp lý, vì thứ nhất là nội dung quan niệm này gần như đồng nhất quá trình công nghiệp hoá với quá trình phát triển công nghiệp. Thứ hai là không thể hiện được tính lịch sử của qúa trình công nghiệp hoá. Thứ ba là không thể hiện được mục tiêu của quá trình công nghiệp hoá. Quan niệm về công nghiệp hoá nêu trên được hình thành trên cơ sở khái quát quá trình lịch sử công nghiệp hoá của các nước Tây Âu và Bắc Mỹ và do có những điểm chưa hợp lý, nên quan niệm này ít được vận dụng trong thực tiễn. + Quan niệm Liên Xô (cũ) và các nước xã hội chủ nghĩa trước đây thì khi tiến hành công nghiệp hoá nhấn mạnh là phát triển công nghiệp nặng. Cho rằng: công nghiệp hoá là quá trình xây dựng nền đại công nghiệp cơ khí có khả năng cải tạo cả nông nghiệp. Đó là sự phát triển công nghiệp nặng với trung tâm là chế tạo máy. Với đường lối công nghiệp hoá như vậy, công nghiệp nặng có vai trò đặc biệt quan trọng và trong một chừng mực nhất định nó phù hợp với hoàn cảnh Liên Xô khi bước vào thời kỳ công nghiệp hoá: chủ nghĩa đế quốc bao vây, chống đối, không có sự trợ giúp từ bên ngoài, trong khi yêu cầu phải xây dựng một nền sản xuất lớn, hiện đại và bảo vệ chủ nghĩa xã hội. Liên Xô cần thực hiện công nghiệp hoá với tốc độ nhanh, phải tập trung vào phát triển công nghiệp nặng, nhằm đảm bảo các nhu cầu trong nước. Do vậy, chủ trương về công nghiệp hoá này chỉ đúng với giai đoạn lịch sử Liên Xô lúc đó. Sẽ sai lầm nếu hiểu công nghiệp hoá như vậy trong mọi hoàn cảnh, mọi phương diện. Bởi vì, công nghiệp hoá không chỉ đơn thuần là phát triển đại công nghiệp. + Quan niệm mới về công nghiệp hoá: năm 1963, tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc (UNIDO) đã đưa ra quan niệm: Công nghiệp hoá là quá trình phát triển kinh tế. Trong quá trình này, một bộ phận nguồn của cải quốc dân được động viên để phát triển cơ cấu kinh tế nhiều ngành ở trong nước với kỹ thuật hiện đại. Đặc điểm của cơ cấu kinh tế này, có một bộ phận công nghiệp chế biến luôn thay đổi để sản xuất ra những tư liệu sản xuất và hàng tiêu dùng, có khả năng đảm bảo cho nền kinh tế phát triển với nhịp độ cao, đảm bảo đạt tới sự tiến bộ về kinh tế -xã hội [23]. 10 Do đó, công nghiệp hoá không chỉ hiểu là quá trình phát triển nền kinh tế dựa trên trình độ kỹ thuật, công nghệ hiện đại mà còn là quá trình phát triển, đảm bảo tạo ra cơ cấu sản phẩm vật chất, bao gồm các điều kiện sản xuất và điều kiện sinh hoạt, đảm bảo các mục tiêu phát triển kinh tế và sự tiến bộ xã hội. - Quan niệm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá Kinh nghiệm về công nghiệp hoá của các nước đi trước và qua thực tế kiểm nghiệm, kết hợp với sự phát triển mạnh của khoa học công nghệ và quan hệ kinh tế quốc tế ngày càng được mở rộng, quan niệm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá được hiểu như sau: Công nghiệp hoá chính là một cuộc cách mạng về lực lượng sản xuất, làm thay đổi căn bản kỹ thuật, công nghệ sản xuất, tăng năng suất lao động. Hiện đại hoá là quá trình thường xuyên cập nhật và nâng cấp những công nghệ hiện đại nhất, mới nhất trong quá trình công nghiệp hoá. Trong thời đại ngày nay, công nghiệp hoá luôn gắn liền với hiện đại hoá. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình trang bị kỹ thuật và công nghệ hiện đại cho nền kinh tế quốc dân, trước hết là các ngành giữ vị trí quan trọng, biến một nước có nền kinh tế kém phát triển thành một nước có nền kinh tế phát triển, có công nghiệp hiện đại. Hiện nay, ở Việt Nam công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam là: Quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội, từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học- công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao [22]. Quan niệm này nói lên phạm vi và vai trò đặc biệt quan trọng của công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong phát triển kinh tế - xã hội, gắn liền được hai phạm trù, không thể tách rời là công nghiệp hoá và hiện đại hoá. Xác định vai trò không thể thiếu được của khoa học-công nghệ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa.Công nghiệp hoá và hiện đại hoá có mối quan hệ mật 11 thiết với nhau, quá trình tiến hành công nghiệp hoá là cái đích để đạt tới hiện đại hoá. Việc tiến hành công nghiệp hoá phụ thuộc nhiều vào điều kiện và hoàn cảnh của mỗi nước và tình hình chung của khu vực và thế giới. Xu hướng hiện nay ở các nước đang phát triển là vừa tiến hành công nghiệp hoá theo những kinh nghiệm truyền thống, nhưng đồng thời cũng thường xuyên cập nhật, hội nhập những thành tựu khoa học- kỹ thuật mới nhất, để vừa đảm bảo phát triển tuần tự, vừa phát triển nhảy vọt ở những thời điểm, những ngành nghề có điều kiện và khả năng. 1.1.1.2. Thực chất công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn - Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp là quá trình chuyển nền nông nghiệp truyền thống phát triển thành nông nghiệp hiện đại, về thực chất là hiện đại hoá các biện pháp sản xuất nông nghiệp, hiện đại hoá công nghệ sản xuất, hiện đại hoá quản lý sản xuất kinh doanh và hiện đại hoá lực lượng lao động ngành nông nghiệp; làm thay đổi căn bản tính chất, phương thức sản xuất, cơ cấu sản xuất, hình thức tổ chức quản lý sản xuất của một nền nông nghiệp sản xuất tự cung, tự cấp, dựa chủ yếu vào điều kiện tự nhiên với kỹ thuật thủ công sang một nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá với kỹ thuật công nghệ tiên tiến, trong điều kiện thương mại hoá toàn cầu và phải đảm bảo cho sự phát triển bền vững về tự nhiên, kinh tế- xã hội. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp là một bộ phận của công nghiệp hoá nông thôn. Nội dung chủ yếu của nó là đưa máy móc thiết bị và phương pháp sản xuất công nghiệp cùng với các hình thức tổ chức sản xuất kiểu công nghiệp vào lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, nhằm khai thác triệt để lợi thế của mỗi ngành, trên cơ sở đó nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm tiêu dùng và xuất khẩu. Nội dung này được cụ thể hoá trên các mặt cơ giới hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi hoá, sinh học hoá trong các ngành sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Đồng thời làm tan rã dần nền nông nghiệp chậm phát triển và nông nghiệp truyền thống. 12 Lịch sử phát triển nông nghiệp thế giới và các nước trong khu vực đều chứng minh rằng, muốn có một nền nông nghiệp bền vững, năng suất lao động cao không thể dựa vào nông cụ thô sơ và sức kéo trâu bò là chủ yếu. Chỉ có cơ giới hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi hoá, hoá học hoá mới tạo ra nền nông nghiệp hàng hoá, có chất lượng sản phẩm cao, có quy mô lớn gắn với công nghiệp chế biến và xuất khẩu. Mặt khác, nông nghiệp không thể tự cải tạo kỹ thuật, không thể tự mình giải quyết vấn đề phát triển. Sự phát triển của nông nghiệp được quyết định bởi bản thân quá trình nền sản xuất xã hội thực hiện được, quá trình phát triển với hai tiến trình thị trường hoá và công nghiệp hoá. Đó là quá trình chuyển từ làn sóng nông nghiệp sang làn sóng công nghiệp. Sự phát triển này khiến cho nông nghiệp mất vị trí nền tảng của nền kinh tế. Quy luật chung của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá là làm giảm tỷ lệ GDP của nông nghiệp trong cơ cấu chung nền kinh tế, lao động ngành nông nghiệp có tỷ lệ nhỏ trong cơ cấu lao động chung của các ngành kinh tế. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp diễn ra đồng thời với công nghiệp hoá, hiện đại hoá các ngành kinh tế của đất nước. Không thể tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp bó hẹp trong quan niệm phát triển trong phạm vi ngành nông nghiệp, mà nó phải gắn với sự phát triển và sự chuyển đổi cơ cấu của toàn bộ nền kinh tế. Chính sự phát triển công nghiệp, du lịch, dịch vụ, cơ sở hạ tầng trong điều kiện hiện đại hoá làm thay đổi phương thức sản xuất, cơ cấu của nền sản xuất xã hội và là sự thay đổi bản chất kinh tế của nông nghiệp. Chuyển từ lĩnh vực tất yếu thành lĩnh vực kinh doanh, thành cực tăng trưởng và bắt buộc phải tồn tại phát triển trong cơ chế thị trường. Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp phải đảm bảo vai trò duy trì và phát triển cảnh quan thiên nhiên, xã hội cho phù hợp với yêu cầu của cuộc sống ở trình độ văn minh cao, trình độ văn hoá cao. Tái sản xuất hệ sinh thái, duy trì phát triển môi trường sống bền vững. Giữ gìn và phát triển truyền thống lâu đời của cộng đồng các dân tộc. Tham gia đắc lực trong việc hình thành sự kết hợp hài hoà giữa cuộc sống công nghiệp, đô thị và thiên nhiên, giữa lao động thư giãn và giải trí cho các tầng lớp dân cư và cộng đồng các dân tộc. 13 - Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn là quá trình thay đổi căn bản phương thức hoạt động, cơ cấu kinh tế của nông thôn và thay đổi căn bản tầng lớp gắn liền với sản xuất nông nghiệp là nông dân. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn làm thay đổi căn bản khái niệm về nông thôn truyền thống: Nông thôn là một xã hội được tổ chức trên nền tảng sản xuất nông nghiệp và dân cư của nó là những người làm ruộng. Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá diễn ra cùng với quá trình đô thị hoá, đã làm thay đổi hệ thống xã hội ở các phương diện: tập trung hoá sản xuất, do đó tập trung hoá dân cư, tăng một cách căn bản các quá trình trao đổi, giao dịch dịch vụ, sự phát triển của xã hội tiêu dùng, phát triển mạnh hạ tầng kinh tế - xã hội. Sự thay đổi này đã dẫn tới sự thay đổi căn bản trong phương thức sản xuất và phương thức sinh hoạt xã hội, văn hoá. Cùng với tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã cải tổ toàn bộ xã hội theo diện mạo công nghiệp-thương mại hoà nhập vào xu thế toàn cầu hoá và sự biến chuyển của xã hội nông thôn cũng không thể nằm ngoài xu hướng chung này. Cơ cấu nghề nghiệp thay đổi, xu hướng cơ bản là chuyển từ hoạt động nông nghiệp sang cơ cấu dân cư nghiêng về phi nông nghiệp, tỷ lệ hộ ở nông thôn làm nông nghiệp giảm, tỷ lệ hộ phi nông nghiệp tăng lên. Tuy nhiên, ở các nước phát triển, dân cư chuyển vào sống trong các đô thị ngày càng tăng cùng với dân cư nông thôn giảm đi đáng kể (tỷ lệ dân nông thôn ở các nước công nghiệp phát triển chỉ còn 10 – 25%). Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn gắn liền với yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tiến bộ: tăng tỷ trọng công nghiệp và dich vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp. Vì vậy, công nghiệp hoá không thể thiếu phát triển nông nghiệp, các ngành nghề phi nông nghiệp trên địa bàn nông thôn, áp dụng phương pháp công nghiệp vào sản xuất nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu ngành nghề lao động nông thôn, tạo thêm việc làm để tăng thu nhập cho dân cư nông thôn. 14 Qua quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tiến trình phát triển xã hội đã có sự thay đổi căn bản, đó là quá trình phát triển đô thị hoá kèm theo thu hẹp xã hội nông thôn, về mặt cơ sở hạ tầng cho sản xuất, cơ sở hạ tầng văn hoá, đời sống (hạ tầng về kinh tế và xã hội) là sự thay đổi về chất của xã hội nông thôn. Sự chênh lệch thu nhập, đời sống vật chất, văn hoá xã hội của dân cư ở nông thôn và dân cư thành thị được thu hẹp. Như vậy, công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn là xây dựng nông thôn mới có nông nghiệp hiện đại, công nghệ kỹ thuật cao, dịch vụ phát triển theo hướng văn minh, hiệu quả. Quan hệ sản xuất tiên tiến phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, cơ sở hạ tầng nông thôn hoàn thiện, đời sống vật chất tinh thần của nông dân không ngừng được cải thiện, xã hội ổn định và công bằng. 1.1.1.3. Sự cần thiết của công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Trong khi coi công nghiệp hoá, hiện đại hoá là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, Đảng ta vẫn xác định nội dung của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong những năm trước mắt là: “coi trọng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn”[20]. Điều đó bắt nguồn từ vai trò của nông nghiệp, nông thôn trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội và những lợi thế phát triển của Việt Nam hiện nay. Cụ thể, việc tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn ở nước ta xuất phát từ những cơ sở chủ yếu sau: Thứ nhất, xuất phát từ yêu cầu đảm bảo an ninh lương thực quốc gia Lương thực là sản phẩm tiêu dùng thiết yếu đối với cuộc sống con người, nhất là đối với một nước có truyền thống tiêu dùng lúa gạo như Việt Nam. Vì vậy, vấn đề đảm bảo an ninh lương thực quốc gia là nhân tố quan trọng hàng đầu để ổn định kinh tế, chính trị, xã hội, nhờ đó thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, thực hiện phân công lại lao động xã hội hợp lý hơn. Không chỉ ở Việt Nam, mà ngay cả các nước Đông Á, sự phát triển nông nghiệp vẫn được coi là một trong các nhân tố quan trọng tạo nên sự thần kỳ của họ trong nửa cuối thế kỷ trước. 15 Quy mô dân số Việt Nam ngày càng tăng nên nhu cầu về lương thực, thực phẩm cũng tăng lên rất nhanh, trong khi đó quỹ đất nông nghiệp của nước ta lại ít. Do đó, để đáp ứng đầy đủ nhu cầu lương thực cho hơn 80 triệu dân đòi hỏi nông nghiệp phải được công nghiệp hoá, hiện đại hoá để tạo sự phát triển vượt bậc về năng suất, cây trồng, vật nuôi. Vả lại, nếu nông nghiệp không sản xuất đủ lương thực thì việc dùng ngoại tệ để nhập khẩu lương thực sẽ đè nặng lên chi tiêu của Chính phủ, do đó sẽ ngăn cản việc nhập khẩu máy móc, công nghệ, nguyên nhiên vật liệu phục vụ công nghiệp hoá đất nước. Thực tế nói lên rằng, nếu trong cơ cấu kinh tế quốc dân mà không có một nền nông nghiệp phát triển để đảm bảo đầy đủ lương thực cho con người thì toàn bộ nền kinh tế sẽ gặp không ít khó khăn trong việc tạo ra tốc độ tăng trưởng cao. Do đó, vấn đề an ninh lương thực là nhiệm vụ thường xuyên của quốc gia cũng như từng địa phương. Thứ hai, xuất phát từ yêu cầu của sự phát triển công nghiệp và dịch vụ Nông nghiệp và nông thôn không chỉ sản xuất ra sản phẩm tiêu dùng trực tiếp cho con người, mà còn là nơi cung cấp nguồn nguyên liệu cho công nghiệp, trước hết là cho công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm, công nghiệp hàng tiêu dùng và hàng suất khẩu. Vì vậy, sự lạc hậu hay tiến bộ của nông nghiệp, nông thôn có ảnh hưởng rất lớn đến phát triển công nghiệp và dịch vụ. Thực tế nhiều nước đã chỉ ra rằng, sự lạc hậu của lực lượng sản xuất tại nông thôn đã hạn chế đến sự tăng trưởng của công nghiệp thành thị, vì nguồn tích luỹ thấp, mức đầu tư bị giảm xuống. Trong trường hợp đó, khu vực công nghiệp ở thành thị không đủ sức để cải tạo khu vực nông nghiệp cổ truyền ở nông thôn như vai trò vốn có của nó, mà ngược lại cả công nghiệp và nông nghiệp đều rơi vào tình trạng kém phát triển. Chỉ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, làm cho năng suất lao động nông nghiệp tăng lên, khối lượng nguyên liệu cung cấp cho công nghiệp nhiều hơn, khi đó công nghiệp mới có cơ hội phát triển, và đến lượt nó công nghiệp sẽ thúc đẩy trở lại đối với sự phát triển nông nghiệp và các ngành khác. Như vậy, công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn đã tạo ra quy mô và tốc độ tăng trưởng của các nguồn nguyên liệu nông nghiệp, là nhân tố có tác động quan trọng đến quy mô và tốc độ tăng trưởng của công nghiệp, dịch vụ và các ngành kinh tế khác. 16 Mặt khác, nông nghiệp, nông thôn là địa bàn rộng lớn tiêu thụ các sản phẩm của công nghiệp, từ tư liệu sản xuất, vật tư thiết bị đến các sản phẩm hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng. Nhiều nhà kinh tế đã khẳng định rằng, với vai trò là thị trường tiêu thụ hàng hoá cho lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ, nông nghiệp, nông thôn đã trở thành động lực thúc đẩy công nghiệp, dịch vụ phát triển, và như vậy nó còn quan trọng hơn cả vai trò nguồn cung cấp “đầu vào” cho công nghiệp. Tốc độ tăng trưởng thu nhập và quy mô dân số trong lĩnh vực nông nghiệp sẽ tác động đến dung lượng của thị trường nội địa đối với hàng hoá của khu vực công nghiệp. Nói cách khác, tăng trưởng của lĩnh vực công nghiệp phụ thuộc vào tăng trưởng của khu vực nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Do đó, “bóc lột” lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn vượt quá mức đầu tư trở lại cho nó thì sẽ làm cho khu vực này rơi vào tình trạng trì trệ, dẫn tới giảm sút tốc độ tăng trưởng của khu vực công nghiệp. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã từng xác đinh: “Muốn phát triển công nghiệp, phát triển kinh tế nói chung phải lấy việc phát triển nông nghiệp làm gốc, làm chính”[26]. Ngoài ra, nông nghiệp, nông thôn còn là nơi cung cấp nguồn nhân lực dồi dào cho các ngành kinh tế khác. Dưới tác động của khoa học và công nghệ, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá sẽ giải phòng một bộ phận lao động ra khỏi nông nghiệp để chuyển nhanh sang lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ, do đó công nghiệp và dịch vụ sẽ có cơ hội phát triển nhanh. Học thuyết kinh tế và kinh nghiệm các nước đã qua công nghiệp hoá đều chỉ ra rằng, quá trình phát triển kinh tế theo hướng hiện đại đều gắn liền với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động từ nông thôn ra thành thị, từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp. Trong vòng 30 năm từ 1965-1995, tại nhiều nước châu Á thực hiện công nghiệp hoá, tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm đi khá nhanh và số lao động đó được chuyển vào các ngành công nghiệp và dịch vụ có năng suất cao hơn. Ở những nước có tốc độ công nghiệp hoá nhanh, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao thì tốc độ chuyển dịch lao động nông nghiệp ngày càng lớn. Công nghiệp hoá gắn liền với đô thị hoá và thu hút phần lớn lao động từ nông nghiệp chuyển sang các ngành nghề phi nông nghiệp, chủ yếu từ dịch vụ. Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá tuy không đòi hỏi tăng nhanh số 17 lượng lao động vào các hoạt động thuần tuý công nghiệp, nhưng nó đòi hỏi nhiều lao động dịch vụ hỗ trợ như: vận chuyển hàng hoá, đóng gói, phân loại sản phẩm, thông tin thị trường, tiếp thị, y tế, văn hoá, giáo dục…khi các hoạt động này tăng nhanh cả về số lượng và năng lực thì nó đòi hỏi nguồn lao động bổ sung rất lớn từ nông nghiệp. Thứ ba, xuất phát từ yêu cầu tích luỹ vốn cho nền kinh tế-điều kiện tiên quyết để công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Là một nước nông nghiệp với đa phần dân số sinh sống ở nông thôn, thế mạnh của nước ta là thế mạnh về nông nghiệp và các ngành nghề phi nông nghiệp ở nông thôn. Đây là tiềm năng to lớn cần khai thác để tạo nguồn vốn tích luỹ và cũng là mục tiêu của chủ trương dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn sẽ cho phép khai thác triệt để và có hiệu quả tiềm năng đa dạng của nông, lâm, ngư nghiệp ở nước ta nhằm tạo giá trị thu nhập cao. Việc phát triển công nghệ sinh học, một thành tựu của tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá sẽ tạo ra nhiều giống cây, con mới phù hợp với điều kiện sinh thái, rút ngắn thời gian canh tác, do đó sẽ tăng vụ, tăng sản lượng và giá trị trên một đơn vị diện tích. Việc áp dụng thành tựu khoa học - kỹ thuật hiện đại trong đánh bắt và chế biến hải sản sẽ làm tăng sản lượng và giá trị của nguồn lợi từ biển, từ đó sẽ tạo nguồn thu nhập cao cho ngư dân. Nông nghiệp, nông thôn nước ta đóng vai trò quan trọng trong quá trình tích luỹ tư bản cho công nghiệp hoá. Trong nhiều năm trước đây, nông nghiệp đã tạo ra trên 40% thu nhập quốc dân và hiện nay ngành này đã tạo ra gần 30% GDP và hơn 45% giá trị xuất khẩu của các nước, chưa kể các sản phẩm công nghiệp lấy nguyên liệu từ sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp là chủ yếu. Vì vậy, nông nghiệp phát triển mạnh, năng suất hàng hóa nhiều về số lượng, đa dạng về chủng loại và tốt về chất lượng, là tiền đề vật chất quan trọng của công nghiệp hoá nói chung và công nghiệp chế biến nói riêng. Mặt khác, những năm qua, cùng với sự phát triển của sản xuất, tỷ lệ để dành (tích luỹ) trong khu vực nông nghiệp và kinh tế nông thôn tăng dần từ 5,2% năm 1990 18 lên 10% năm 1995 và khoảng 14,15% năm 2000. Tích luỹ đó chủ yếu do kết quả của phát triển nông nghiệp và ngành nghề thủ công trong nông thôn. Ở các nước đang phát triển, ngoài nguồn vốn từ viện trợ và đầu tư nước ngoài thì cần thiết phải có nguồn vốn từ tiết kiệm trong nước, trong đó nguồn thặng dư nông nghiệp là quan trọng. Đối với Việt Nam, trong giai đoạn đầu, nguồn vốn tất yếu phải dựa vào nông nghiệp và nông thôn, vì đây là khu vực rộng lớn, xét cả về khía cạnh lao động và tổng sản phẩm quốc dân. Nguồn vốn do nông nghiệp, nông thôn tạo ra sẽ được đầu tư trước hết và chủ yếu vào các hoạt động kinh doanh nông nghiệp và một số hoạt động phi nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Sự phát triển mạnh mẽ của nông nghiệp và kinh tế nông thôn sẽ làm tăng đáng kể nguồn vốn tích luỹ cho nền kinh tế, tạo điều kiện thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Thứ tư, xuất phát từ yêu cầu của phát triển bền vững, nâng cao đời sống xã hội nông thôn Sự phát triển mạnh mẽ của nông nghiệp và kinh tế nông thôn do công nghiệp hoá, hiện đại hoá tạo ra đảm bảo đời sống vật chất và tinh thần cho gần 80% dân số sinh sống tại nông thôn, do đó là điều kiện căn bản để tạo nên sự ổn định chính trị - xã hội của đất nước. Một chân lý rút ra từ thực tiễn: dân có giàu thì nước mới mạnh, 73% dân số sống ở nông thôn (năm 2005) mà chủ yếu là nông dân, nếu nông dân không giàu thì đất nước làm sao giàu mạnh được? Do vậy, phải làm cho nông dân giàu lên, tăng sức mua ở nông thôn chính là tạo ra thị trường thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đó cũng là bài học rút ra từ kinh nghiệm công nghiệp hoá ở các nước đi trước như Bắc Mỹ, Tây Âu, Singapo, Hàn Quốc. Nông thôn phát triển, đời sống nông dân no đủ, họ sẽ tin tưởng vào cuộc sống, vào chế độ xã hội. Do đó mà yên tâm làm giàu, xây dựng nông thôn giàu đẹp, ổn định. Sự ổn định của nông thôn sẽ có tác động rất lớn đến sự ổn định của cả nước. Hiện nay, Việt Nam vẫn là một nước nông nghiệp lạc hậu, lại trải qua nhiều năm bị chiến tranh tàn phá, do đó đang tồn tại sự chênh lệch khá xa về kinh tế và văn hoá giữa thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng trung du và miền núi, do đó tiềm ẩn nguy cơ sự bất ổn định. 19 Hơn nữa, sự lạc hậu của nông nghiệp và nông thôn đã làm tăng thêm làn sóng di cư tự do từ nông thôn ra thành thị, tạo nên hiện tượng quá tải ở thành thị. Quá trình đô thị hoá ồ ạt đặt ra những thách thức về môi trường đối với thành phố, như vấn đề vệ sinh, ô nhiễm môi trường sống, nhu cầu nước sạch, giao thông vận tải, rác thải, trật tự trị an... Do vậy, tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước không thể không coi trọng đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn, không thể không gắn công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp với công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn để giảm dần sự cách biệt về trình độ phát triển giữa các vùng trong nước. Bài học rút ra từ các nước đi trước mà họ tiến hành công nghiệp hoá từ nông nghiệp cho thấy, nếu mức độ chênh lệch về thu nhập giữa thành thị và nông thôn càng thấp thì sức mua của xã hội càng tăng nhanh và ổn định, tốc độ tăng trưởng kinh tế càng cao, sự tụt hậu của nông nghiệp, nông thôn so với thành thị và công nghiệp càng giảm. Những nước để sự chênh lệch giàu nghèo tăng lên quá mức, nông thôn lạc hậu so với thành thị, thậm chí bần cùng hoá thì sức mua của nông thôn thấp, kéo theo nhiều vấn đề phức tạp như tỷ lệ đói nghèo cao, dân cư từ nông thôn ra thành thị ồ ạt, môi trường xuống cấp, thất nghiệp, lạm phát gia tăng và từ đó làm chậm quá trình công nghiệp hoá và tăng trưởng kinh tế nói chung. Ngày nay, vai trò quan trọng của nông thôn đối với sự ổn định chính trị, xã hội đã được thừa nhận. Không riêng gì ở Việt Nam và các nước đang phát triển khác, mà ngay cả các nước công nghiệp phát triển và các nước mới công nghiệp hoá vẫn rất chú trọng đến khu vực nông nghiệp, nông thôn. Các học giả Đài Loan cho rằng: “Vấn đề nông nghiệp và nông thôn bao gồm các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục cho nên nó vô cùng quan trọng và phức tạp. Trong tương lai, tỷ trọng nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân sẽ ngày càng thu nhỏ, nhưng nó vẫn là lực lượng chủ yếu quyết định sự ổn định của nền kinh tế, xã hội và là yếu tố quan trọng để đảm bảo môi sinh, cân bằng sinh thái”[35].
- Xem thêm -