Tài liệu Nghiên cứu thực trạng sức khỏe tâm thần và các yếu tố liên quan của học sinh trung học phổ thông thành phố cần thơ năm2011

  • Số trang: 83 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 140 |
  • Lượt tải: 0
trancongdua

Đã đăng 1751 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ NGUYỄN TRỌNG HIẾU NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG SỨC KHỎE TÂM THẦN VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÀNH PHỐ CẦN THƠ NĂM 2011 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ ĐA KHOA CẦN THƠ, 2012 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ NGUYỄN TRỌNG HIẾU NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG SỨC KHỎE TÂM THẦN VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÀNH PHỐ CẦN THƠ NĂM 2011 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ ĐA KHOA Người hướng dẫn khoa học ThS.BS. NGUYỄN TẤN ĐẠT CẦN THƠ, 2012 LỜI CAM ĐOAN Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Sinh viên thực hiện đề tài Nguyễn Trọng Hiếu DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN Từ viết tắt Diễn giải CES-D Center of Epidemiologic Studies Depression: Thang đo trầm cảm của trung tâm nghiên cứu dịch tễ ĐLC Độ lệch chuẩn HIV/AIDS Human immunodeficiency virus/ Acquired Immune Deficiency Syndrome Virus gây suy giảm miễn dịch người/ Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải HS Học sinh KTC Khoảng tin cậy OR Odds ratio: Tỷ số chênh SKTT Sức khỏe tâm thần TB Trung bình TH Tiểu học THCS Trung học cơ sở THPT Trung học phổ thông WHO World Health Organization: Tổ chức y tế thế giới MỤC LỤC Lời cam đoan Danh mục từ viết tắt Mục lục Danh mục bảng Danh mục biểu đồ ĐẶT VẤN ĐỀ.........................................................................................................1 Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU .......................................................................3 1.1. ĐỊNH NGHĨA VỀ SỨC KHỎE TÂM THẦN...............................................3 1.1.1. Trầm cảm ...............................................................................................3 1.1.2. Lo lắng ...................................................................................................6 1.2. ẢNH HƯỞNG CỦA NHỮNG RỐI LOẠN SỨC KHỎE TÂM THẦN.........8 1.3. CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ VÀ BẢO VỆ CỦA SỨC KHỎE TÂM THẦN....9 1.4. BỐI CẢNH VỀ CÁC VẤN ĐỀ SỨC KHỎE TÂM THẦN Ở VIỆT NAM .13 1.5. SỨC KHỎE TÂM THẦN CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 14 Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............................ 17 2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:....................................................................17 2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: .............................................................. 17 2.2.1. Thiết kế nghiên cứu: .............................................................................17 2.2.2. Cỡ mẫu:................................................................................................ 17 2.2.3. Cách chọn mẫu: ....................................................................................17 2.2.4. Các biến số nghiên cứu:........................................................................18 2.2.5. Không gian và thời gian nghiên cứu: ....................................................23 2.2.6. Quản lý và phân tích số liệu:.................................................................23 2.2.7. Đạo đức trong nghiên cứu:....................................................................24 Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.............................................................................. 25 3.1. ĐẶC ĐIỂM CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÀNH PHỐ CẦN THƠ .........................................................................................................25 3.1.1. Đặc điểm nhân chủng học của học sinh ................................................25 3.1.2. Đặc điểm về môi trường gia đình của học sinh .....................................27 3.1.3. Đặc điểm về môi trường trường học của học sinh .................................29 3.2. ĐẶC ĐIỂM VỀ SỨC KHỎE TÂM THẦN CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG ....................................................................................................31 3.2.1. Đặc điểm sức khỏe tâm thần của học sinh ..............................................31 3.2.2. Đặc điểm sức khỏe tâm thần của học sinh theo giới................................ 31 3.2.3. Đặc điểm sức khỏe tâm thần của học sinh theo trường..........................32 3.2.3. Đặc điểm sức khỏe tâm thần của học sinh theo khối lớp .......................32 3.3. LIÊN QUAN GIỮA SỨC KHỎE TÂM THẦN VỚI ĐẶC ĐIỂM NHÂN CHỦNG HỌC, MÔI TRƯỜNG GIA ĐÌNH VÀ MÔI TRƯỜNG TRƯỜNG HỌC CỦA HỌC SINH ............................................................................................... 32 3.3.1. Liên quan giữa trầm cảm với đặc điểm nhân chủng học, môi trường gia đình và môi trường trường học của học sinh...................................................32 3.3.2. Liên quan giữa lo lắng với đặc điểm nhân chủng học, môi trường gia đình và trường học của học sinh .....................................................................37 Chương 4 BÀN LUẬN..........................................................................................41 4.1. ĐẶC ĐIỂM CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÀNH PHỐ CẦN THƠ .........................................................................................................41 4.1.1. Đặc điểm nhân chủng học của học sinh ................................................41 4.1.2. Đặc điểm môi trường gia đình của học sinh ..........................................42 4.1.3. Đặc điểm môi trường trường học của học sinh......................................44 4.2. THỰC TRẠNG CÁC VẤN ĐỀ SỨC KHỎE TÂM THẦN CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÀNH PHỐ CẦN THƠ ...................................44 4.2.1. Đặc điểm chung về sức khỏe tâm thần của học sinh.............................. 44 4.2.2. Đặc điểm sức khỏe tâm thần của học sinh theo giới .............................. 45 4.2.3. Đặc điểm sức khỏe tâm thần của học sinh theo trường..........................46 4.2.4. Đặc điểm sức khỏe tâm thần của học sinh theo khối lớp .......................47 4.3. LIÊN QUAN GIỮA SỨC KHỎE TÂM THẦN VỚI CÁC ĐẶC ĐIỂM NHÂN CHỦNG HỌC, MÔI TRƯỜNG GIA ĐÌNH VÀ MÔI TRƯỜNG TRƯỜNG HỌC CỦA HỌC SINH.....................................................................48 4.3.1. Liên quan giữa trầm cảm với các đặc điểm nhân chủng học, môi trường gia đình và môi trường trường học của học sinh ..............................................48 4.3.2. Liên quan giữa lo lắng với các đặc điểm nhân chủng học, môi trường gia đình và môi trường trường học của học sinh ....................................................51 4.4. ƯU ĐIỂM VÀ KHUYẾT ĐIỂM CỦA NGHIÊN CỨU .............................. 53 4.4.1. Ưu điểm của nghiên cứu .......................................................................53 4.4.1. Khuyết điểm của nghiên cứu .................................................................53 KẾT LUẬN...........................................................................................................55 KIẾN NGHỊ ..........................................................................................................57 Tài liệu tham khảo Phụ lục DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 1.1. Các yếu tố nguy cơ và bảo vệ của SKTT và sự khỏe mạnh......................10 Bảng 3.1. Đặc điểm giới tính và nhóm tuổi của học sinh .......................................25 Bảng 3.2. Đặc điểm nới sinh sống của học sinh .....................................................25 Bảng 3.3. Đặc điểm về sự phân bố theo trường học và khối lớp của học sinh ........26 Bảng 3.4. Đặc điểm dân tộc và tôn giáo của học sinh ............................................26 Bảng 3.5. Đặc điểm về trình độ học vấn và nghề nghiệp của cha mẹ học sinh .......27 Bảng 3.6. Đặc điểm về việc lớn lên và chung sống của học sinh với gia đình ..........28 Bảng 3.7. Đặc điểm kinh tế gia đình và tình trạng hôn nhân của cha mẹ học sinh ....28 Bảng 3.8. Đặc điểm về môi trường sống gia đình của học sinh .............................. 29 Bảng 3.9. Đặc điểm về kết quả học tập trong học kì trước của học sinh.................29 Bảng 3.10. Đặc điểm về mâu thuẫn của học sinh với thầy cô và nhân viên khác trong trường trong 12 tháng qua ............................................................................30 Bảng 3.11. Đặc điểm về áp lực học tập của học sinh..............................................30 Bảng 3.12. Đặc điểm chung về sức khỏe tâm thần của học sinh............................. 31 Bảng 3.13. Đặc điểm sức khỏe tâm thần của học sinh theo giới............................. 31 Bảng 3.14. Đặc điểm sức khỏe tâm thần của học sinh theo trường.........................32 Bảng 3.15. Đặc điểm sức khỏe tâm thần của học sinh theo khối lớp ......................32 Bảng 3.16. Liên quan giữa trầm cảm với giới tính của học sinh............................... 33 Bảng 3.17. Liên quan giữa trầm cảm với việc lớn lên của học sinh........................33 Bảng 3.18. Liên quan giữa trầm cảm với trình độ học vấn của cha ........................33 Bảng 3.19. Liên quan giữa trầm cảm và môi trường sống trong gia đình ...............34 Bảng 3.20. Liên quan giữa trầm cảm và tình trạng kinh tế gia đình........................35 Bảng 3.21. Liên quan giữa trầm cảm với kết quả học tập trong học kì trước..........35 Bảng 3.22. Liên quan giữa trầm cảm và áp lực học tập của học sinh......................36 Bảng 3.23. Liên quan giữa trầm cảm và mâu thuẫn với thầy cô của học sinh .........36 Bảng 3.24. Liên quan giữa lo lắng và giới tính của học sinh ..................................37 Bảng 3.25. Liên quan giữa lo lắng với việc chung sống của học sinh.....................37 Bảng 3.26. Liên quan giữa lo lắng và trình độ học vấn của mẹ học sinh ................38 Bảng 3.27. Liên quan giữa lo lắng với môi trường sống trong gia đình..................38 Bảng 3.28. Liên quan giữa lo lắng với kết quả học tập trong học kì trước..............39 Bảng 3.29. Liên quan giữa lo lắng và áp lực học tập của học sinh..........................39 Bảng 3.30. Liên quan giữa lo lắng và mâu thuẫn với thầy cô của học sinh.............40 DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH ẢNH Hình 2.1. Sơ đồ biến số trong nghiên cứu .............................................................. 18 Biểu đồ 3.1. Thực trạng về trầm cảm và lo lắng của học sinh ................................ 31 1 ĐẶT VẤN ĐỀ Sức khỏe tâm thần là một yếu tố quyết định quan trọng của chất lượng cuộc sống và sức khỏe tổng thể [7]. Sức khỏe tâm thần mô tả một cảm giác sức khỏe chủ quan, khả năng sống trong một cách tích cực và hạnh phúc, có khả năng hồi phục để đối phó với những thách thức cuộc sống hiện tại, kiểm soát được tình cảm, và có thể chịu trách nhiệm [34]. Những người mắc rối loạn sức khỏe tâm thần có nguy cơ bệnh tật cao và tử vong sớm [40]. Nhìn chung, họ có sức khỏe kém cũng như có nguy cơ cao thực hiện vào những hành vi gây hại cho sức khỏe như uống rượu, hút thuốc lá và ít vận động [28]. Các vấn đề sức khỏe tâm thần cũng có thể làm cho việc thực hiện những công việc bình thường hằng ngày trở nên khó khăn [37]. Tuổi trưởng thành là một giai đoạn phát triển đặc biệt, ở giai đoạn này trẻ em bắt đầu được xem như là người lớn trong sự cân bằng giữa trách nhiệm cá nhân và xã hội; điều này thường đi kèm với phát triển các mối quan hệ thân mật với người khác, bắt tay vào sự nghiệp hoặc lựa chọn những con đường nghề nghiệp khác nhau. Bằng chứng cho thấy rằng trong suốt giai đoạn phát triển này các vấn đề về sức khỏe tâm thần rất phổ biến và đỉnh cao là các rối loạn tâm thần [28]. Tỷ lệ trầm cảm và lo lắng trong giai đoạn này cao hơn so với bất kỳ giai đoạn nào khác của cuộc sống, đặc biệt là các phụ nữ trẻ, những người thường có nguy cơ tham gia vào những hành vi tự làm tổn hại bản thân, cố ý tự tử, hoặc xuất hiện các rối loạn ăn uống [11]. Số hiện mắc và những vấn đề sức khỏe tâm thần đặc biệt là ở nhóm vị thành niên và thanh niên trong cộng đồng ngày một tăng. Ước tính có khoảng 10% học sinh báo cáo rằng có ý định tự tử trong vòng 12 tháng trước [25]. Bên cạnh đó, khoảng 20% thanh thiếu niên và trẻ em Việt Nam có sức khỏe tâm thần kém [14], [32] mà chăm sóc sức khỏe tâm thần ở Việt Nam đặc biệt là vùng đồng bằng sông Cửu Long chưa được quan tâm và chỉ tập trung điều trị các bệnh lý rối loạn tâm thần ở các bệnh viện, các trung tâm tâm thần và chủ yếu trên người lớn. Trên thế 2 giới có rất nhiều nghiên cứu về sức khỏe tâm thần của thanh niên, đặc biệt là các quốc gia nói tiếng Anh. Tuy nhiên vấn đề này vẫn còn khá mới mẻ với khu vực Đông Nam Á nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Và do đó, so với các lĩnh vực khác, sức khỏe tâm thần chưa được sự quan tâm đúng mức. Trong báo cáo của WHO năm 2006 về chăm sóc sức khỏe tâm thần ở Việt Nam, tác giả Trudy Harpham và Trần Tuấn nhận định rằng “Ở Việt Nam những bằng chứng về gánh nặng bênh tật do các vấn đề sức khỏe tâm thần gây ra khá phức tạp và những nghiên cứu trên lĩnh vực này chưa được phát triển” [14]. Xuất phát từ nhu cầu muốn tìm hiểu về các vấn đề sức khỏe tâm thần và các yếu tố liên quan ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần của thanh thiếu niên như thế nào, chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên đối tượng học sinh trung học phổ thông để tìm hiểu các vấn đề sức khỏe tâm thần và các yếu tố có liên quan ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần của học sinh trung học phổ thông tại thành phố Cần Thơ. Mục tiêu của đề tài: - Mục tiêu tổng quát: nghiên cứu thực trạng sức khỏe tâm thần và các yếu tố liên quan của học sinh trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Cần Thơ năm 2011. - Mục tiêu chuyên biệt: 1. Xác định tỷ lệ các vấn đề sức khỏe tâm thần của học sinh trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Cần Thơ. 2. Xác định một số yếu tố liên quan đến sức khỏe tâm thần của học sinh trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Cần Thơ. 3 Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1. ĐỊNH NGHĨA VỀ SỨC KHỎE TÂM THẦN SKTT được định nghĩa là một trạng thái của sự khỏe mạnh và hạnh phúc, nhận thức được khả năng của chính mình, có thể đối phó với những căng thẳng bình thường của cuộc sống, làm việc hiệu quả và thành công, đóng góp cho cộng đồng của họ [38]. SKTT và các rối loạn hành vi bao gồm một loạt các rối loạn tâm lý với các triệu chứng khác nhau nhưng nói chung chúng được đặc trưng bởi sự kết hợp hành vi bất thường của nhận thức, tình cảm và trạng thái tâm lý tiêu cực như trầm cảm, lo lắng làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của con người không chỉ về mặt sinh học mà còn tác động lên tâm lý xã hội [38]. Cải thiện SKTT là một mục tiêu quan trọng, nó mang lại lợi ích đáng kể về sức khỏe và chất lượng cuộc sống cho tất cả mọi người và cộng đồng. Những lợi ích này không những là kết quả của không bệnh tật mà còn là sự hiện diện của SKTT tích cực. 1.1.1. Trầm cảm Trầm cảm là một rối loạn tâm thần thường gặp, đặc trưng bởi sự buồn bã, mất sự hứng thú trong hoạt động và giảm năng lượng [5], [19]. Trầm cảm được xem như là “một rối loạn tâm thần phổ biến biểu hiện bằng khí sắc trầm buồn, mất mọi quan tâm và thích thú, mặc cảm tự ti và ý tưởng bị tội, mất ngủ, ăn mất ngon, thiếu quyết đoán và giảm tập trung” [38]. Trầm cảm được phân chia thành nhiều loại như sau: - Rối loạn trầm cảm: theo Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia của Hoa Kỳ, rối loạn trầm cảm chủ yếu được đặc trưng bởi sự kết hợp các triệu chứng gây cản trở khả năng của một người bình thường để làm việc, ngủ, học tập, ăn, và tận hưởng các hoạt động vui chơi giải trí [6]. 4 - Trầm cảm mãn tính được đặc trưng bởi một tâm trạng chán nản dài hạn (hai năm hoặc nhiều hơn). Trầm cảm mãn tính là ít nghiêm trọng hơn so với trầm cảm nặng và thường không ảnh hưởng nhiều đến hoạt động bình thường của con người. Nếu mắc trầm cảm mãn tính, bạn đã từng trải qua một hoặc nhiều giai đoạn trầm cảm nặng trong suốt cuộc đời [6]. - Trầm cảm không điển hình: các triệu chứng chính của bệnh trầm cảm không điển hình bao gồm: ăn quá nhiều, ngủ nhiều, mệt mỏi, dễ dàng từ bỏ mọi thứ và tâm trạng xấu đi hay cải thiện ngay lập tức trong một số vấn đề [6]. - Trầm cảm lưỡng cực: rối loạn lưỡng cực - đôi khi được gọi là bệnh hưng trầm cảm là một rối loạn tâm trạng phức tạp thay đổi theo các giai đoạn của trầm cảm lâm sàng và thời gian hưng cảm [6]. - Trầm cảm theo mùa: thường được gọi là rối loạn tình cảm theo mùa, là một loại trầm cảm xảy ra mỗi năm tại cùng một thời điểm. Nó thường bắt đầu vào mùa thu hoặc mùa đông, và kết thúc vào mùa xuân hoặc đầu mùa hè. Một dạng hiếm của loại trầm cảm này được gọi là "trầm cảm mùa hè", bắt đầu vào cuối mùa xuân hoặc đầu mùa hè và kết thúc vào mùa thu [6]. - Trầm cảm tâm thần: các triệu chứng của trầm cảm sẽ đi kèm với các triệu chứng của rối loạn tâm thần như ảo giác và ảo tưởng [6]. - Trầm cảm sau sinh: theo Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia của Hoa Kỳ, trầm cảm sau sinh được chẩn đoán khi một người mẹ trải qua một giai đoạn trầm cảm trong vòng một tháng sau khi sinh [6]. Các triệu chứng của rối loạn trầm cảm: khí sắc trầm buồn, mất mọi quan tâm và hứng thú, ăn mất ngon, rối loạn giấc ngủ, rối loạn tâm thần vận động, mất sinh lực, mặc cảm tự ti và ý tưởng bị tội, thiếu quyết đoán và giảm tập trung, ý tưởng tự sát, lo lắng, ảo giác, ảo tưởng, các triệu chứng thực thể như buồn nôn, táo bón, thở sâu, đau ngực, chuột rút,… [5], [6]. Nguyên nhân của trầm cảm: trầm cảm là một căn bệnh vô cùng phức tạp, có rất nhiều nguyên nhân có thể dẫn đến trầm cảm như mắc bệnh lý thực thể hoặc 5 thay đổi cuộc sống như sự di cư hoặc mất mát người thân yêu, trong gia đình có người bệnh trầm cảm và có thể không tìm được nguyên nhân. - Lạm dụng về thể chất, tình dục và tình cảm. - Một số thuốc ví dụ thuốc điều trị tăng huyết áp. - Mâu thuẫn hoặc tranh chấp với các thành viên trong gia đình hoặc bạn bè. - Cái chết hoặc sự mất mát. - Di truyền học: gia đình có người bị trầm cảm có thể làm tăng nguy cơ. - Các sự kiện chính trong cuộc đời ngay cả những sự kiện như bắt đầu một công việc mới, tốt nghiệp hoặc kết hôn có thể dẫn đến trầm cảm. - Vấn đề cá nhân khác như sự cô lập và cách ly xã hội hoặc bị đuổi khỏi gia đình có thể dẫn đến trầm cảm. - Bệnh tật - Lạm dụng chất kích thích, gần 30% những người lạm dụng chất gây nghiện có nguy cơ trầm cảm nặng [6]. Trầm cảm là một vấn đề y tế công cộng quan trọng vì nó là tương đối phổ biến và tính chất tái phát của nó đã phá vỡ một cách sâu sắc cuộc sống của bệnh nhân. Trầm cảm dẫn đến rối loạn chức năng đáng kể trong mọi lĩnh vực của cuộc sống đối với bệnh nhân. Mặc dù, trầm cảm chủ yếu là bệnh tâm lý nhưng triệu chứng thực thể rất phổ biến ở những người bị trầm cảm. Trầm cảm xuất hiện trong nhiều bệnh lý và những người bị trầm cảm có thể mắc các bệnh lý thứ phát khác. Hơn nữa, tự tử là một nguy cơ chính trong quá trình trầm cảm. Vì vậy, trầm cảm phải được chẩn đoán và điều trị giống như bất kì bệnh lý khác. Sự hỗ trợ về xã hội và thuốc men tốt đều rất cần thiết để phục hồi sức khỏe tốt ở những bệnh nhân trầm cảm [19]. Theo WHO, trầm cảm đang trở nên phổ biến và là một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến bệnh tật trên toàn thế giới, ước tính khoảng 121 triệu người. Đến năm 2020, trầm cảm sẽ là nguyên nhân gây bệnh đứng hàng thứ hai cho mọi lứa tuổi, mọi giới [40]. Một nghiên cứu tổng hợp trên trầm cảm ở trẻ em và thanh thiếu niên cho thấy khoảng 1% đến 2% trẻ trước tuổi dậy thì và 3% đến 8% thanh 6 thiếu niên từng bị trầm cảm ở bất cứ thời điểm nào trong cuộc sống [12]. Trong những nghiên cứu khác, tỉ lệ trầm cảm thay đổi từ 22% đến 60% trong thanh thiếu niên nói chung phụ thuộc vào các thang đo. Ước tính có khoảng 5- 10% dân số ở bất cứ thời điểm nào mắc chứng trầm cảm mà họ có thể nhận biết được và cần điều trị tâm thần hay can thiệp tâm lí xã hội. Trầm cảm tạo ra một gánh nặng bệnh tật rất lớn và điều này dự kiến cho thấy một xu hướng gia tăng trong 20 năm nữa [19]. Kết quả tìm thấy từ nghiên cứu Yaacob S. N. và cộng sự (trường đại học Putra Malaysia) ở vị thành niên Malaysia lứa tuổi từ 13 đến 17 cho thấy có 24,2% HS THPT và THCS tuổi từ 13 đến 17 được xếp loại trầm cảm (có điểm số trên 20 dựa trên Children Depression Inventory thông qua bộ câu hỏi tự điền). Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy rằng sự cô độc, căng thẳng tâm lý và lòng tự trọng có mối liên quan đến trầm cảm và sự căng thẳng là yếu tố dự đoán quan trọng nhất đối với trầm cảm ở vị thành niên [41]. Một nghiên cứu cắt ngang (đề tài nghiên cứu sinh của Choo Wan Yuen) cũng được tiến hành ở 20 trường THPT (bao gồm 2 khu vực thành thị và nông thông) ở Malaysia cho thấy rằng ngược đãi tình cảm có mối liên quan có ý nghĩa thống kê đối với trầm cảm, lo lắng, lòng tự trọng và tự tử ở HS THPT [8]. 1.1.2. Lo lắng Lo lắng được mô tả như “một trong những cảm giác mà chúng ta trải qua khi chúng ta chịu áp lực từ các vấn đề thể chất, xã hội, kinh tế và tâm lý” [36], [41]. Lo lắng là một cảm xúc bình thường của con người mà tất cả mọi người đã từng trải qua trong cuộc sống như khi phải đối mặt với các vấn đề khó khăn trong công việc, trước khi tham gia một kì thi hoặc khi đưa ra một quyết định quan trọng. Tuy nhiên rối loạn lo lắng thì khác biệt, chúng gây ra những căng thẳng về mặt tâm lý ảnh hưởng và cản trở khả năng điều khiển cuộc sống bình thường của con người [6]. Rối loạn lo lắng là một bệnh lý tâm thần nghiêm trọng. Đối với những người bị rối loạn lo lắng, sự lo âu và sợ hãi luôn xuất hiện, lấn át cuộc sống và làm tê liệt họ. Có rất nhiều loại rối loạn lo lắng bao gồm: 7 - Rối loạn hoảng sợ: những người có tình trạng có cảm giác khiếp sợ xuất hiện đột ngột và lặp lại mà không có bất cứ một cảnh báo nào [6]. - Rối loạn ám ảnh bắt buộc: những người này bị ảnh hưởng bởi những suy nghĩ hoặc nỗi sợ hãi liên tục khiến họ làm những hành động hoặc có những thói quen không bình thường, đây là những ám ảnh có tính bắt buộc. Ví dụ một người sợ vi khuẩn một cách vô lý thì rửa tay của họ liên tục [6]. - Rối loạn căng thẳng sau sang chấn tâm lý: đây là một rối loạn có thể xuất hiện sau một sang chấn tâm lý hoặc một sự kiện đáng sợ, chẳng hạn như sau khi bị cưỡng hiếp, xâm hại thể chất, cái chết bất ngờ của một người thân yêu hoặc một thảm họa tự nhiên [6]. - Rối loạn lo âu xã hội: còn được gọi là ám ảnh xã hội, liên quan đến việc lo lắng quá nhiều và tự suy nghĩ về những tình huống xã hội hàng ngày. Những lo lắng thường tập trung vào nỗi sợ hãi bị người khác đánh giá hoặc cư xử một cách nào đó có thể gây bối rối hoặc bị mọi người chế giễu [6]. - Ám ảnh đặc biệt: một nỗi ám ảnh một đối tượng hoặc tình hình cụ thể, chẳng hạn như rắn, độ cao hoặc đi máy bay [6]. - Rối loạn lo lắng không chuyên biệt: rối loạn này liên quan đến việc lo lắng, căng thẳng quá mức ngay cả khi có rất ít hoặc không có yếu tố kích phát lo lắng [6]. Các triệu chứng của rối loạn lo lắng: tùy thuộc vào loại rối loạn lo lắng, nhưng triệu chứng chung bao gồm: cảm giác hoảng loạn, sợ hãi và lo lắng; những suy nghĩ ám ảnh không thể kiểm soát được; sự hồi tưởng về sang chấn tâm lý lặp đi lặp lại; ác mộng; hành vi bất thường, chẳng hạn như rửa tay lặp đi lặp lại; rối loạn giấc ngủ; bàn tay, bàn chân lạnh, vã mồ hôi; khó thở, đánh trống ngực; không có khả năng giữ bình tĩnh; khô miệng, tê hoặc ngứa ran ở bàn tay hoặc bàn chân, buồn nôn, căng cơ, chóng mặt [6]. Nguyên nhân của sự lo lắng: nguyên nhân phổ biến của sự lo lắng chính là các bệnh lý tâm thần. Tuy nhiên, các yếu tố bên ngoài có thể gây ra sự lo lắng như: - Áp lực công việc, học tập, tài chính,… 8 - Áp lực trong mối quan hệ cá nhân như hôn nhân. - Sang chấn tình cảm. - Áp lực từ bệnh lý của cơ thể. - Tác dụng phụ của thuốc. - Sử dụng một loại thuốc bất hợp pháp, chẳng hạn như cocaine… - Triệu chứng của một căn bệnh (như đau tim, hạ đường huyết, đột quỵ,…) - Thiếu oxy trong những trường hợp như say độ cao, khí phế thủng, hoặc thuyên tắc phổi (một cục máu đông trong mạch phổi) [6]. Lo lắng là một phản ứng bình thường của sự căng thẳng. Nó có thể giúp một người phản ứng nhanh chóng trong một tình huống nguy hiểm, để đối phó với một hoàn cảnh khó khăn trong công việc hoặc ở trường bằng cách thúc đẩy người đó đối phó với nó. Khi lo lắng trở nên quá nhiều, nó được xếp vào phân loại của một rối loạn lo lắng [24]. Lo lắng khi gặp hay tiếp xúc với những người lạ là một giai đoạn phát triển chung của những người trẻ tuổi. Đối với những người khác, nó có thể kéo dài đến khi trưởng thành và trở thành lo lắng xã hội hay ám ảnh xã hội. Ở tuổi trưởng thành, một nỗi sợ hãi người khác quá mức không phải là một giai đoạn phát triển bình thường mà được gọi là lo lắng xã hội. Điều quan trọng cần nhấn mạnh rằng sự lo lắng không chỉ bao gồm triệu chứng thể chất mà còn bao gồm nhiều triệu chứng liên quan đến cảm xúc, chúng bao gồm: "cảm giác lo lắng hoặc sợ hãi, khó tập trung, cảm giác căng thẳng hoặc bồn chồn, dự đoán những điều tồi tệ nhất, cáu gắt, không được nghỉ ngơi, xem xét (và chờ đợi) cho các dấu hiệu (hoặc các sự cố) hoặc sự nguy hiểm, và cảm giác giống như tâm trí của bạn trống rỗng" [29]. Ngoài ra, "cơn ác mộng, ám ảnh về cảm giác, một cảm giác bị mắc kẹt trong tâm trí của bạn và cảm giác giống như mọi thứ đều đáng sợ". 1.2. ẢNH HƯỞNG CỦA NHỮNG RỐI LOẠN SỨC KHỎE TÂM THẦN Những rối loạn hành vi, thần kinh, tâm thần xảy ra trên toàn cầu và gây ra hậu quả to lớn. Những người này thường bị xã hội cô lập, chất lượng cuộc sống trở nên nghèo nàn và thường chết sớm [39]. Hàng trăm, hàng triệu người trên toàn thế 9 giới bị ảnh hưởng bởi những rối loạn tinh thần, hành vi, thần kinh và sử dụng chất gây nghiện. Ví như các ước tính của WHO năm 2002 cho thấy rằng 154 triệu người trên toàn cầu bị trầm cảm và 25 triệu người tâm thần phân liệt, 91 triệu người bị ảnh hưởng bởi rối loạn sử dụng rượu, và 15 triệu người bị rối loạn do sử dụng ma túy [39]. Ngoài ra, báo cáo về gánh nặng bệnh tật toàn cầu ghi nhận rằng 850000 người chết do tự tử mỗi năm, 86% trong số đó ở các nước đang phát triển và có thu nhập thấp và hơn nửa trong số đó có độ tuổi từ 15 đến 44 [40]. Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng SKTT vẫn còn một sự ưu tiên thấp ở các nước đang phát triển và thu nhập thấp. Các nước này có xu hướng ưu tiên kiểm soát và loại trừ các bệnh truyền nhiễm và sinh sản, sức khỏe bà mẹ và trẻ hơn so với SKTT [26]. Trung bình, cứ một trong bốn bệnh nhân đến một dịch vụ y tế tại bất kỳ thời gian nào có ít nhất một bệnh nhân có rối loạn tâm thần, thần kinh hoặc hành vi nhưng hầu hết các rối loạn này không được chẩn đoán cũng như điều trị [28]. Bệnh tâm thần ảnh hưởng và bị ảnh hưởng bởi các bệnh mãn tính như tim mạch, ung thư, đái tháo đường và HIV/AIDS [28]. Thiếu nhận thức về SKTT và thiếu hiểu biết về lợi ích của SKTT tích cực là những rào cản để xác định bệnh tâm thần. Hầu hết các nước phát triển và có thu nhập thấp dành ít hơn 1% chi phí y tế của họ cho SKTT; việc điều trị bệnh tâm thần, chính sách và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cộng đồng không được ưu tiên trong ngân sách chăm sóc sức khỏe. 1.3. CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ VÀ BẢO VỆ CỦA SỨC KHỎE TÂM THẦN Yếu tố nguy cơ liên quan với "một xác suất gia tăng của sự khởi đầu, sự kéo dài lâu hơn và nghiêm trọng hơn của các vấn đề sức khỏe chủ yếu". Yếu tố bảo vệ liên quan đến tình trạng "cải thiện sức đề kháng của con người đến các rối loạn và các yếu tố nguy cơ". Chúng được định nghĩa là những yếu tố "làm sửa đổi, cải thiện hoặc thay đổi phản ứng của một người đối với sự nguy hiểm của môi trường mà tạo ra sự thích nghi không hiệu quả" [27]. Bảng 1.1 tóm lược về các yếu tố nguy cơ và bảo vệ ảnh hưởng đến SKTT và sự khỏe mạnh của con người. 10 Bảng 1.1. Các yếu tố nguy cơ và bảo vệ của SKTT và sự khỏe mạnh Yếu tố bảo vệ Yếu tố nguy cơ - Tham gia tích cực các hoạt động - Rượu và ma túy: tiếp cận và lạm dụng. - Thời thơ ấu: những trải nghiệm tích cực. - Bất lợi xã hội và kinh tế - Bản sắc văn hóa - Sự đổi chỗ: tị nạn và xin tị nạn. - Được hoan nghênh, chia sẻ, quý trọng - Khuyết tật. - Giáo dục: dễ tiếp cận - Sự phân biệt chủng tộc và sự sỉ nhục. - Môi trường sống: an toàn - Giáo dục: không tiếp cận được. - Sự cảm thông. - Môi trường: không an toàn, đông đúc, - Tự cường và tự quyết. nghèo tài nguyên. - Gia đình: linh hoạt, kiến thức nuôi con, - Gia đình: tan vỡ, bất hòa, bỏ bê con quan hệ tốt với cha mẹ và các thành viên cái, trầm cảm sau sinh. khác trong gia đình. - Thực phẩm: không đủ, không mua - Thực phẩm; dễ mua, chất lượng được. - Nhà cửa: giá phù hợp, dễ tìm. - Bệnh di truyền, bệnh lý thực thể. - Thu nhập: an toàn, dễ tìm việc, điều kiện - Sự cô lập và cách ly: xã hội và địa lý. làm việc tốt. - Thiên tai và thảm họa. - Linh hoạt và kĩ năng xã hội tốt. - Vô gia cư. - Sức khỏe tốt. - Bạn bè xa lánh. - Sự tôn trọng. - Sự đàn áp về chính trị. - Tham gia công tác xã hội: quan hệ tốt - Không vận động thể lực. mạng lưới nhóm và cộng đồng. - Sự nghèo đói: xã hội và kinh tế. - Thể thao và giải trí: tham gia tốt. - Sự phân biệt chủng tộc. - Phương tiện vận chuyển: dễ tiếp cận và - Thất nghiệp, điều kiện làm việc kém, giá cả phù hợp. công việc không an toàn. - Dịch vụ: dễ tiếp cận. - Nạn bạo hành: giữa người với người. - Đời sống tinh thần. - Công việc: căng thẳng. Nguồn: Điều lệ Melbourne cho tăng cường sức khỏe tâm thần và ngăn ngừa các rối loạn hành vi và tâm thần. (Điều lệ Melbourne, 2008)[35].
- Xem thêm -