Tài liệu Nghiên cứu cơ sở khoa học cho quy hoạch phát triển vùng cây cao su (heavea brasiliensis) tại xã chiềng sàng huyện yên châu - tỉnh sơn la

  • Số trang: 115 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 54 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

1 ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM I CẢM ƠN Trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, tôi luôn nhận được sự quan tâm dạy dỗ và chỉ bảo ân cần của các thầy giáo, cô giáo, sự ủng hộ, động viên và giúp đỡ nhiệt tình của bạn bè, người thân và đồng nghiệp. VÌ VĂN TOÀN Nhân dịp này, tôi xin được bày tỏ sự chân thành cảm ơn tới thầy giáo TS. Lê Sỹ Trung trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, người hướng dẫn khoa học và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn. CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC CHO NGHIÊN QUYTôi HOẠCH TRIỂN VÙNG CÂY CAO SU tạo xin chânPHÁT thành cảm ơn Ban Giám TRỒNG hiệu nhà trường, Khoa đào (HEVEA BRASILIENSIS) TẠI XÃdạy CHIỀNG SÀNG Sau đại học, các Giáo sư, Tiến sĩ hợp tác giảng tại Khoa Sau đại học, toàn HUYỆN YÊN CHÂU - TỈNH SƠN LA thể giáo viên và cán bộ Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Xin cảm ơn Ban chỉ đạo phát triển cây Cao su tỉnh Sơn La, Công ty cổ phần cao su tỉnh Sơn La, Trung tâm quy hoạch và phát triển nông lâm nghiệp NGÀNH: Sơn La, Ban chỉ đạoCHUYÊN phát triển cây Cao suLÂM huyệnHỌC Yên Châu tỉnh Sơn La, lãnh MÃ SỐ: 60.62.60 đạo UBND xã Chiềng Sàng huyện Yên Châu tỉnh Sơn La, Ban quản lý bản và người dân của các bản trong xã đã giúp đỡ tôi trong việc điều tra nghiên cứu thực tế để hoàn thành luận văn này. LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP Trong quá trình nghiên cứu thực hiện luận văn, do điều kiện hạn chế về thời gian, nhân lực, tài chính và nội dung nghiên cứu của đề tài còn tương đối hƣớng học: TS. Lê khỏi Sỹ Trung mới trên địa Ngƣời bàn tỉnh Sơn dẫn La, khoa nên không tránh những thiếu sót. Tôi mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo, các nhà khoa học và bạn bè đồng nghiệp. Xin trân trọng cảm ơn ./. Thái nguyên, ngày 05 tháng 05 năm 2010 Tác giả luận văn Thái nguyên, năm 2010 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên Vì Văn Toàn htt://www.lrc-tnu.edu.vn 2 DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT 1 FAO Tổ chức lương thực thế giới 2 RRA Đánh giá nhanh nông thôn 3 PRA Đánh giá có sự tham gia của người dân. 4 SALT Mô hình canh tác trên đất dốc. 5 NLKH Nông lâm kết hợp. 6 VRG Tập đoàn công nghiệp Cao su. 7 SWOT Phương pháp đánh giá mặt mạnh, mặt yếu, những cơ hội, những thách thức trong sự phát triển kinh tế xã hội. 8 NPV Giá trị hiện tại thu nhập dòng. 9 BCR Tỷ xuất giữa thu nhập và chi phí. 10 IRR Tỷ lệ thu hồi vốn nội bộ. 11 VKHKTNN Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp. 12 HĐND Hội đồng nhân dân. 13 UBND Uỷ ban nhân dân. 14 LNXH Lâm nghiệp xã hội. 15 KHNN Khoa học nông nghiệp. 16 CNQSDĐ Chứng nhận quyền sử dụng đất. 17 Nxb Nhà xuất bản. 18 QHSDĐ Quy hoạch sử dụng đất 19 TLSX Tư liệu sản xuất 20 XHCN Xã hội chủ nghĩa 21 KTXH Kinh tế xã hội 22 SXNLN Sản xuất nông lâm nghiệp Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn 3 MỤC LỤC Mục Nội dung Trang ĐẶT VẤN ĐỀ 1 Chƣơng I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3 1.1 TỔNG QUAN QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐÂT 3 1.1.1 TRÊN THẾ GIỚI. 3 1.1.1.1 Quy hoạch sử dụng đất cấp vĩ mô. 3 1.1.1.2 Quy hoạch sử dụng đất cấp vi mô có sự tham gia. 5 1.1.2 Ở VIỆT NAM. 6 1.1.2.1 Quy hoạch sử dụng đất. 6 1.1.2.2 Quy hoạch phát triển Lâm nghiệp ở Việt nam. 8 1.1.3 BÀI HỌC KINH NGHIỆM. 11 1.2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CÂY CAO SU Ở VIỆT 12 NAM. 1.2.1 Đặc tích sinh vật học cây Cao su 12 1.2.2 Đặc tính sinh thái và phân bố của cây Cao su 14 1.2.3 Những nghiên cứu về cây Cao su ở Việt nam. 16 1.2.4 Vài nét về cây Cao su ở Sơn la. 20 Chƣơng II MỤC TIÊU - ĐỐI TƢỢNG - NỘI DUNG 24 PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 24 2.2 ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU 24 2.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 24 2.3.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận trong quy hoạch sử dụng đất 24 2.3.2 Nghiên cứu cơ sở thực tiễn 25 2.3.3 Quy hoạch phát triển trồng cây Cao su tại xã Chiềng Sàng 25 2.4 PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26 2.4.1 Phương pháp phân tích kế thừa tài liệu thứ cấp 26 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn 4 2.4.2 Phương pháp PRA. 26 2.4.3 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm 27 2.4.4 Phương pháp tổng hợp, phân tích số liệu 27 2.4.5 Phương pháp phân tích hiệu quả kinh tế. 28 Chƣơng III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30 3.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN TRONG QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT 30 3.1.1 Quan điểm phương pháp luận trong quy hoạch sử dụng đất 30 3.1.2 Nguyên tắc cơ bản trong quy hoạch sử dụng đất 30 3.1.3 Quy luật phát triển của QHSDĐ 33 3.1.4 Quy hoạch sử dụng đất có sự tham gia của người dân 35 3.1.5 Quy hoạch theo quan điểm hệ thống 37 3.1.6 Quy hoạch theo quan điểm bền vững. 38 3.1.7 Luật pháp, chế độ chính sách 39 3.1.8 Chức năng của cấp xã trong quản lý và sử dụng đất tại địa 42 phương 3.1.9 QHSDĐ Cấp xã trong hệ thống QHSDĐ vĩ mô và vi mô. 43 3.1.10 Dự báo thị trường và khả năng phát triển của cây Cao su 44 3.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN. 46 3.2.1 Điều kiện tự nhiên. 46 3.2.2 Hiện trạng quy hoạch sử dụng đất của xã. 58 3.2.3 Hiệu quả kinh tế mộ số mô hình sử dụng đất 59 3.2.4 Hiện trạng phát triển cây Cao su trên địa bàn xã Chiềng Sàng 60 3.2.5 Định hướng phát triển kinh tế xã hội của huyện Yên Châu 61 3.3 QH VÀ PHÁT TRIỂN TRỒNG CÂY CAO SU TẠI XÃ 62 3.3.1 Quy hoạch về mặt không gian 62 3.3.2 Xây dựng kế hoạch thực hiện phương án quy hoạch 67 3.3.3 Quy hoạch và các biện pháp kỹ thuật trồng cây Cao su. 68 3.3.4 Đầu tư và hiệu quả của phương án 77 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn 5 Đề xuất các giải pháp thực hiện. 82 Chƣơng IV KẾT LUẬN - TỒN TẠI - KHUYẾN NGHỊ 87 4.1 KẾT LUẬN 87 4.2 TỒN TẠI 88 4.3 KHUYẾN NGHỊ 89 TÀI LIỆU THAM KHẢO 90 3.3.5 PHỤ BIỂU Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn 6 ĐẶT VẤN ĐỀ Trồng rừng phủ xanh đất chống đồi núi trọc và trồng rừng phục vụ cho công nghiệp hoặc trồng rừng với mục đích khác, ngoài các cây trồng rừng chính như: Thông, Keo, Bạch đàn, Muồng, Tếch, Lát...Đối với tỉnh Sơn La nói chung và huyện Yên Châu nói riêng cây Cao Su là một cây trồng mới được đưa vào gây trồng một vài năm gần đây. Nó được xem như là một cây xoá đói giảm nghèo, tăng thu nhập cho người dân, tạo công ăn việc làm cho bà con địa phương, cải thiện đời sống cho người dân nơi đây. Cao Su là một cây trồng có nhiều tác dụng bản thân loài cây này sinh trưởng tốt và có khả năng phòng hộ nơi đất dốc, có giá trị sinh thái cao đặc biệt cây Cao su còn đem lại nguồn lợi về kinh tế cho người dân: sản lượng nhựa có thể chế biến thành sản phẩm có giá trị tiêu thụ lớn trên thị trường trong nước và ngoài nước, ngoài sản phẩm nhựa ra cây Cao su còn có thể khai thác gỗ làm các công trình xây dựng nhỏ và đóng đồ gia dụng, sản xuất bao bì. Cũng như bao cây trồng khác, Cao su có khả năng quang hợp làm giảm nồng độ CO2 và tăng nồng độ O2 trong không khí ( hút khí CO2 và nhả khí O2 trong quá trình quang hợp), điều hoà khí hậu tạo không khí trong lành. Lợi ích của cây Cao su là như vậy nhưng vấn đề mà chúng ta đang gặp phải khó khăn hiện nay là việc quy hoạch diện tích đất trồng sao cho phù hợp, nhất là tỉnh miền núi như Sơn La, với việc tiếp cận loài giống mới như cây Cao su. Yên Châu là một huyện miền núi của tỉnh Sơn La, cách trung tâm thành phố Sơn La 64 km về đông nam. Đất đai chủ yếu là đồi núi chiếm hơn 75 % diện tích toàn huyện. Đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn. Chiềng Sàng là xã nằm trong vùng trọng điểm phát triển kinh tế xã hội của huyện Yên Châu, cách trung tâm huyện 10 km về phía Tây bắc. Xã có điều kiện giao thông thuận lợi và địa hình tương đối bằng phẳng. Tổng diện tích tự nhiên của xã là 2.019 ha, gồm có 5 bản với 950 hộ 3986 nhân khẩu, gồm 2 dân tộc Thái, Kinh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn 7 sinh sống trong đó dân tộc Thái chiếm 79%, dân tộc Kinh chiếm 21%. Cuối năm 1998 xã đã thực hiện việc giao đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình, tuy nhiên việc phân bổ đất đai cho các ngành, các thành phần quản lý và chuyển đổi cơ cấu kinh tế, mà chủ yếu là chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi còn nhiều lúng túng, hệ canh tác lạc hậu, người dân thiếu vốn sản xuất, thiếu kiến thức canh tác. Năm 2008 theo chủ trương chung của tỉnh và huyện, thúc đẩy trồng cây Cao su trên địa bàn huyện Yên Châu, mà xã Chiềng Sàng là một trong những xã được tham gia. Do đó hướng giải quyết hiện nay là giúp xã phân bổ lại đất đai, lập kế hoạch phát triển sản xuất nông lâm nghiệp quy hoạch sử dụng đất trồng Cao su trên địa bàn xã là nhiệm vụ cấp bách của xã. Chính vì những lý do trên, với hy vọng đóng góp một phần vào công tác quy hoạch định hướng phát triển kinh tế - xã hội cho địa phương, cho nên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Nghiên cứu cơ sở khoa học cho quy hoạch phát triển vùng trồng cây Cao su ( Hevea brasiliensis ) tại xã Chiềng Sàng huyện Yên Châu tỉnh Sơn La”. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn 8 Chƣơng I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1. TỔNG QUAN QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT. 1.1.1 TRÊN THẾ GIỚI. 1.1.1.1 Quy hoạch sử dụng đất cấp vĩ mô. Đất có vai trò rất lớn đối với sản xuất Nông – Lâm nghiệp nói riêng và đối với các ngành kinh tế khác nói chung. Khoa học về đất đã trải qua hơn 100 năm nghiên cứu và phát triển, những thành tựu nghiên cứu về phân loại đất và xây dựng bản đồ đất, đã được sử dụng làm cơ sở quan trọng cho việc tăng năng suất và sử dụng đất đai một cách có hiệu quả. Ngày nay với tốc độ tăng dân số cao con người đã lạm dụng quá mức giới hạn vốn có của đất đai. Đầu thế kỷ 16 dân số thế giới vào khoảng 500 triệu người, nhưng đến nay con số đó đã tăng lên hơn 6 tỷ người. Theo báo cáo về phát triển thế giới dự đoán dân số thế giới sẽ tăng lên khoảng 8,3 tỷ người vào năm 2025, Với tốc độ tăng dân số như trên thì không tránh khỏi tài nguyên thiên nhiên bị khai thác cạn kiệt, nhất là tài nguyên đất ngày càng bị thu hẹp và bị suy thoái nhanh chóng. Theo tài liệu của FAO thì thế giới đang sử dụng 17,6 tỷ ha rừng, hiện nay chỉ còn 4,1 tỷ ha, mỗi năm diện tích rừng bị thu hẹp 11 triệu ha. Riêng ở châu Á Thái bình dương vào những năm 1976 – 1980 mất 9 triệu ha rừng. Cũng trong thời gian này, châu Phi mất 37 triệu ha rừng, châu Mỹ mất 18,4 triệu ha rừng. Trong khi đó diện tích trồng rừng hàng năm chỉ bằng 1/10 diện tích rừng mất đi. Nguyên nhân là do nạn phá rừng diễn ra tràn lan với tốc độ lớn, cho nên hiện nay có tới 875 triệu người phải sống ở những vùng sa mạc hoá. Do xói mòn hàng năm trên thế giới mất đi 12 tỷ tấn đất, với lượng đất mất đi như vậy người ta ước tính có thể sản xuất ra 50 triệu tấn lương thực. Tài nguyên nước cũng bị ảnh hưởng lớn, hàng nghìn hồ chứa nước ở vùng nhiệt đới đang bị cạn kiệt dần, nước ngọt trở nên khan hiếm. Tuổi thọ của nhiều công trình thuỷ điện vùng nhiệt đới bị rút ngắn. Hàng năm thiệt hại do lũ lụt Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn 9 hạn hán vẫn sảy ra nghiêm trọng trên thế giới và gây nhiều tổn thất to lớn cho nền kinh tế toàn cầu. Quá trình phát triển của việc quản lý sử dụng đất trên thế giới luôn gắn liền với lịch sử phát triển của xã hội loài người. Trải qua một quá trình khai thác, bóc lột lâu dài tài nguyên thiên nhiên mà không hề nghĩ đến phục hồi và bảo vệ nó. Con người chỉ biết làm sao đem lại lợi nhuận cao về kinh tế trên mảnh đất mình sử dụng, chính vì lẽ đó mà thiên nhiên đã quay lưng lại với xã hội loài người, thiên tai hạn hán sảy ra thường xuyên, mặt đất nóng lên và lạnh đi một cách thất thường, tầng ôzôn bị phá huỷ, hiệu ứng nhà kính, trái đất nóng lên băng giá hai cực tan ra, nước biển dâng cao nhấn chìm những vùng đất ven biển. Hiện nay trên thế giới các nước đang phát triển, đặc biệt ở châu Á đều có một thực trạng giống nhau đó là nạn du canh du cư đã tàn phá tài nguyên thiên nhiên, dân số tăng nhanh, nhiều vùng miền núi và nông thôn chưa tự cung tự cấp được lương thực thực phẩm, năng suất cây trồng vật nuôi lại thấp, tác động của nhà nước làm thay đổi về mặt kinh tế văn hoá xã hội còn ít. người dân nghèo khổ không còn cách nào khác là phá rừng lấy đất canh tác, khai thác tài nguyên thiên nhiên bừa bãi, dẫn đến tình trạng mất rừng làm suy thoái tài nguyên đất. Những hình ảnh đó phần nào đã làm cho con người thức tỉnh hơn, chính vì thế mà những năm gần đây con người đã biết sử dụng đất bền vững, hợp lý hơn, những mô hình sử dụng đất có tính chất bảo vệ đất chống xói mòn rửa trôi đất ngày càng được áp dụng rộng rãi. Tại các nước phát triển đã có rất nhiều các công trình quy hoạch sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhất là về đất, như Đức, Thuỵ Điển, Canada… thì công tác quy hoạch sử dụng đất đã có lịch sử từ hàng trăm năm. Những thành tựu nghiên cứu về phân loại đất, phân tích mối quan hệ giữa cây trồng với từng loại đất, xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ lập địa được coi là cơ sở quan trọng cho việc tăng năng suất và sử dụng đất đai có hiệu quả hơn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn 10 Bang Wiscosin (Mỹ) đã có đạo luật sử dụng đất vào năm 1929, và xây dựng kế hoạch sử dụng đất đầu tiên cho vùng Oneide của Wiscosin. Kế hoạch này xác định diện tích cho sử dụng nông nghiệp, lâm nghiệp và nghỉ ngơi giải trí[34] Năm 1946, Jacks G.V đã cho ra đời chuyên khảo đầu tiên về phân loại đất đai với tên “ Phân loại đất đai cho quy hoạch sử dụng đất”. Đây là tài liệu đầu tiên đề cập đến việc đánh giá khả năng của đất cho quy hoạch sử dụng đất.[32] Năm 1967, nhiều hội nghị về phát triển nông thôn và quy hoạch sử dụng đất đã được hội đồng nông nghiệp châu Âu phối hợp với PAO tổ chức.[36] Năm 1988 Dent và các tác giả khác đã nghiên cứu về quy trình quy hoạch. Ông khái quát quy hoạch sử dụng đất trên 3 cấp và mối quan hệ giữa các cấp khác nhau: Kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia, cấp vùng (tỉnh huyện) cấp cộng đồng (xã, thôn) ông còn đề xuất trình tự quy hoạch (gồm 4 giai đoạn và 10 bước ).[35] 1.1.1.2 Quy hoạch sử dụng đất cấp vi mô có sự tham gia. Từ cuối thập niên 70 thế kỷ 20, vấn đề quy hoạch sử dụng đất có sự tham gia của người dân, được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và công bố kết quả. Các phương pháp điều tra đánh giá cùng tham gia như đánh giá nhanh nông thôn (RRA), nông thôn tham gia đánh giá (PRA). Những thử nghiệm phương pháp PRA vào thập kỷ 80 và lập kế hoạch sử dụng đất được thực hiện trên 30 nước phát triển (Chambers 1994)[30], đã cho thấy ưu thế của phương pháp này trong quy hoạch. Phương pháp phân tích các hệ thống canh tác cho quy hoạch sử dụng đất được nghiên cứu rộng rãi. Một trong những nghiên cứu có giá trị đó là tài liệu hội thảo giữa trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam và Trường tổng hợp kỹ thuật Dresden, vấn đề quy hoạch sử dụng đất có sự tham gia của người dân đã được Holm Wibrig đề cập đến một cách khá đầy đủ và toàn diện.[31]. Một trong những thành công cần được đề cập đến là các nhà khoa học của Trung tâm phát triển đời sống nông thôn Basptit Mindanao Philippiness tổng hợp, hoàn thành và phát triển từ những năm 1970 đến nay. Đó là mô hình kỹ thuật canh tác trên đất dốc SALT. Trải qua một thời gian dài nghiên cứu và hoàn thiện đến Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn 11 năm 1992 các nhà khoa học đã cho ra đời 4 mô hình tổng hợp về kỹ thuật canh tác nông nghiệp bền vững trên đất dốc và được các tổ chức quốc tế ghi nhận, đó là các mô hình SALT1, SALT2, SALT3, và SALT4. Ở Inđônêxia từ năm 1972, việc chọn đất để trồng cây lâm nghiệp đều do công ty lâm nghiệp nhà nước tổ chức. Nông dân được cán bộ công ty hướng dẫn kỹ thuật trồng sau hai năm người dân bàn giao lại rừng cho công ty, sản phẩm nông nghiệp họ toàn quyền sử dụng. Ngoài ra ở đây còn có mô hình lâm nghiệp “Ladang” rất được chú ý [29]. 1.1.2 Ở VIỆT NAM. 1.1.2.1 Quy hoạch sử dụng đất. Đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu vực dân cư. Xây dựng cơ sở kinh tế - văn hoá, xã hội và an ninh quốc phòng (luật đất đai năm 1993)[11]. Cho nên đất đai chính là một tư liệu sản xuất không có gì thay thế được. Chính vì lẽ đó mà nước ta từ thời Pháp thuộc các nhà khoa học Pháp đã thực hiện các công trình nghiên cứu đánh giá và quy hoạch sử dụng đất trên quy mô rộng lớn. Ở Việt nam các vấn đề nghiên cứu đất đai, quy hoạch đất đã được bắt đầu từ những năm 1930 [18], và dần dần được hoàn thiện theo đơn vị thời gian. Năm 1955 – 1975 công tác điều tra phân loại đất được tổng hợp một cách có hệ thống trên phạm vi toàn miền Bắc. Nhưng đến sau năm 1975 các số liệu nghiên cứu về phân loại đất mới được thống nhất cơ bản. Xung quanh chủ đề phân loại đất đã có nhiều công trình khác nhau triển khai thực hiện trên các vùng sinh thái (Ngô Nhật Tiến, 1986, Đỗ Đình Sâm, 1994). Tuy nhiên những công trình nghiên cứu trên chỉ dừng ở mức độ nghiên cứu cơ bản, thiếu những đề xuất cần thiết cho việc sử dụng đất. Trong công trình “Sử dụng đất tổng hợp bền vững” của Nguyễn Xuân Quát [19] đã nêu ra những điều cần biết về đất đai, phân tích tình hình sử dụng đất đai Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn 12 cũng như các mô hình sử dụng đất tổng hợp và bền vững, mô hình khoanh nuôi và phục hồi rừng ở Việt Nam. Công tác nghiên cứu về hiện trạng sử dụng đất gắn liền với hệ thống canh tác ở nước ta đã được đẩy mạnh từ những năm 1995. Đáng chú ý là 3 lần kiểm kê quý đất của tổng cục địa chính vào những năm 1978, 1985 và 1995 trên cơ sở hiện trạng sử dụng đất để đề xuất chiến lược sử dụng đất đai trong phạm vi toàn quốc và các ngành có liên quan. Quan điểm hệ thống và hệ thống sử dụng đất được đề cập một cách toàn diện và đầy đủ nhất là chương trình tập huấn của PAO. Trong đó những vấn đề sau được đề cập khá chi tiết trong bản hướng dẫn: Lược sử về sử dụng đất, khái niệm về hệ thống sử dụng đất, những đặc điểm của hệ thống sử dụng đất, đánh giá hệ thống sử dụng đất, một số hệ thống sử dụng đất và cách tiếp cận. Nghiên cứu hệ canh tác ở nước ta được đẩy mạnh hơn từ sau khi đất nước thống nhất. Căn cứ vào điều kiện đất đai, ngành Lâm nghiệp đã phân chia đất đai toàn quốc thành các vùng sinh thái: Trung du và miền núi Bắc bộ, Đồng bằng sông hồng, Bắc trung bộ, Nam trung bộ, Tây nguyên, Đông nam bộ và Đồng bằng sông cửu long. Phạm Chí Thành và cộng sự (1993), trên cơ sở tổng hợp các luận điểm về các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước để xây dựng cuốn giáo trình hệ thống nông nghiệp. Ngoài phần hệ thống hoá nông nghiệp, các tác giả đã đề xuất chiến lược phát triển, dự kiến cấu trúc và thứ bậc hệ thống nông nghiệp Việt Nam gồm hệ phụ: Trồng trọt, chăn nuôi, chế biến, quản lý, lưu thông, phân phối. Công trình đã hỗ trợ đắc lực cho công tác nghiên cứu nông nghiệp trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn. Công tác quy hoạch sử dụng đất trên quy mô cả nước giai đoạn 1995 – 2000 đã được cục Địa chính xây dựng vào năm 1994. Trong đó việc lập kế hoạch giao đất Nông nghiệp, Lâm nghiệp có rừng để sử dụng vào mục đích khác cũng được đề cập tới. Báo cáo đã đánh giá tổng quát hiện trạng sử dụng đất và định hướng phát triển Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn 13 đến năm 2000 làm căn cứ để các địa phương và các ngành thống nhất triển khai công tác quy hoạch và lập kế hoạch sử dụng đất. Để làm rõ cơ sở cho chiến lược sử dụng đất hợp lý, có hiệu quả theo quan điểm phát triển bền vững, Nguyễn Huy Phồn[17], trong luận án phó tiến sỹ khoa học Nông nghiệp đã tiến hành đánh giá loại hình đất chủ yếu trong Nông - Lâm nghiệp. Trên cơ sở đánh giá một cách tương đối có hệ thống về đất đai hiện trạng sử dụng đất Nông – Lâm nghiệp tác giả đã xây dựng các mục tiêu phát triển kinh tế và môi trường cho toàn vùng nghiên cứu. Trong giai đoạn 1955 – 1975, công tác điều tra, phân loại đất đã được tổng hợp một cách có hệ thống trên toàn Miền Bắc. Nhưng mãi đến năm 1975 các số liệu nghiên cứu về phân loại đất mới được thống nhất cơ bản. Xung quanh chủ đề phân loại đất đã có những công trình khác nhau triển khai thực hiện trên các vùng sinh thái.Tuy nhiên những công trình nghiên cứu trên chỉ dừng lại ở mức độ nghiên cứu cơ bản, thiếu những đề xuất cần thiết cho việc sử dụng đất. Công tác điều tra phân loại đã không gắn liền với công tác sử dụng đất. Trước việc quy hoạch sử dụng đất dựa vào các đơn vị hành chính: tỉnh, huyện, xã. Quy hoạch sử dụng đất theo ngành: nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản. Việc quy hoạch này căn cứ vào đặc điểm tự nhiên là chủ yếu, ví dụ: đất đồi có độ dốc < 150 thuộc về đất canh tác nông nghiệp, đất lâm nghiệp là vùng đồi núi có độ dốc > 150. Quy hoạch theo vùng sản xuất lâm nghiệp: vùng trung tâm, vùng Đông Bắc, vùng Tây nguyên. Quy hoạch theo chức năng: rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất. 1.1.2.2 Quy hoạch phát triển Lâm nghiệp ở Việt nam. Năm 1999, hai tác giả Trần Hữu Viên, Lê Sỹ Việt đã đề cập đến việc quy hoạch lâm nghiệp cho các đối tượng đơn vị: - Cấp quản lý lãnh thổ: Toàn quốc, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã. - Quy hoạch lâm nghiệp cho cấp quản lý sản xuất kinh doanh: Lâm trường, Công ty lâm nghiệp, khu rừng phòng hộ, đặc dụng, cộng đồng thôn bản, hộ gia đình. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn 14 Trong tài liệu tập huấn về quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp có sự tham gia của người dân, Trần Hữu Viên (1997) đã kết hợp phương pháp quy hoạch sử dụng đất trong nước và một số dự án quốc tế đang áp dụng tại một số vùng có dự án tại Việt Nam [26]. Trong tài liệu này tác giả đã trình bày về khái niệm và những nguyên tắc quy hoạch sử dụng đất và giao đất có người dân tham gia. Năm 1997, hai tác giả Hà Quang Khải, Đặng Văn Phụ đã đưa ra khái niệm về hệ thống sử dụng đất và đề xuất một số hệ thống và kỹ thuật sử dụng đất bền vững trong điều kiện Việt Nam [14]. Trong giai đoạn trước năm 1993 nhìn chung quy hoạch sử dụng đất được thực hiện bởi tổ chuyên môn trong từng ngành. Căn cứ vào định hướng phát triển ở Trung ương có Viện điều tra Quy hoạch rừng, ở tỉnh có các đoàn, đội điều tra quy hoạch tiến hành quy hoạch tổng thể cấp vĩ mô. Các đối tượng quy hoạch lâm nghiệp hiện nay ở nước ta gồm có: Cấp quản lý lãnh thổ: Toàn quốc, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã. Quy hoạch lâm nghiệp cho cấp quản lý sản xuất kinh doanh: Lâm trường, Công ty lâm nghiệp, khu rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, cộng đồng thôn bản, gia đình. Trong tài liệu sử dụng đất tổng hợp và bền vững của tác giả Nguyễn Xuân Quát, tác giả đã nêu ra những điều cần thiết về đất đai, phân tích tình hình sử dụng đất đai cũng như các mô hình sử dụng đất tổng hợp và bền vững, mô hình kinh doanh phục hồi rừng ở Việt Nam. Đồng thời bước đầu đề xuất tập đoàn cây trồng thích hợp cho các mô hình sử dụng đất tổng hợp bền vững. Do việc quản lý và sử dụng chưa bền vững và nhu cầu rất lớn về khai hoang đất rừng và lâm sản cho việc phát triển kinh tế - xã hội, nên diện tích và chất lượng rừng trong nhiều năm trước đây đã bị suy giảm liên tục. Theo các tài liệu đã có được, năm 1943, Việt Nam có 14,3 triệu ha rừng, độ che phủ là 43%, đến năm 1990 chỉ còn 9,18 triệu ha, độ che phủ còn 27,2%; thời kỳ 1980 – 1990 bình quân m ỗi năm hơn 100 nghìn ha rừng bị mất. Nhưng từ năm 1990 trở lại đây, diện tích rừng đã tăng liên tục nhờ trồng rừng và phục hồi rừng tự nhiên (trừ vùng Tây Nguyên và Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn 15 Đông Nam Bộ diện tích rừng vẫn có chiều hướng giảm). Theo công bố tại Quyết định số 1970/QĐ/BNN – KL – LN ngày 06 tháng 7 năm 2006, tính đến 31 tháng 12 năm 2005, diện tích rừng toàn quốc là 12,61 triệu ha ( độ che phủ rừng là 37%) trong đó 10,28 triệu ha rừng tự nhiên 2,33 triệu ha rừng trồng được phân chia theo 3 loại rừng như sau: - Rừng đặc dụng là: 1,93 triệu ha chiếm 15,2% - Rừng phòng hộ là: 6,2 triệu ha chiếm 49% - Rừng sản xuất là : 4,48 triệu ha chiếm 35,8 % Với vốn rừng như trên, chỉ tiêu bình quân ở nước ta hiện nay là 0,15 ha/người, xếp vào loại thấp của thế giới (0,97 ha/người). Trữ lượng gỗ bì nh quân 9,16 m3 gỗ/người, trong khi đó chỉ tiêu này của thế giới là 75m3 gỗ/người. Các loài thực vật rừng , động vật rừng quý hiếm bị mất đi , chức năng phòng hộ và cung cấp của rừng giảm sút rõ rệt. Hiện nay ngành Lâm nghiệp đang chỉ đạo định hướng xây dựng 3 loại rừng đến năm 2020 thành một hệ thống thống nhất trong cả nước. Hệ thống rừng đặc dụng đến nay đã xây dựng được 94 khu với diện tí ch đất có rừng là 2,16 triệu ha diện tí ch có rừng trong cả nước , trong đó có 12 vườn quốc gia, 64 khu bảo tồn thiên nhiên , 18 khu văn hóa , lịch sử và môi trường . Rừng đặc dụng được tổ chức theo hình thức các Ban quản lý và được đầu tư từ ngân sách. Hệ thống rừng phòng hộ đến nay đã quy hoạch được 5,68 triệu ha rừng phòng hộ , trong đó rừng phòng hộ đầu nguồn chiếm 5,28 triệu ha, còn lại 0,4 triệu ha là phòng hộ chống cát bay , chắn sóng biển và phòng hộ môi trường . Rừng phòng hộ được tổ chức theo hì nh thức các Ban quản lý và được đầu t ư từ ngân sách nhà nước. Hệ thống rừng sản xuất diện tí ch rừng sản xuất được quy hoạch là 8,4 triệu ha (trong đó rừng tự nhiên là 3,63 triệu ha, rừng trồng là 4,15 triệu ha, còn lại 0,62 triệu ha rừng tự nhiên nghèo kiệt để sử dụng phục hồi rừng và sản xuất nông lâm kết hợp). Rừng sản xuất được giao cho các doanh nghiệp , tổ chức, cá nhân để sản Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn 16 xuất kinh doanh . Nhà nước có chính sách cho vay vốn ưu đãi và hỗ trợ tạo nguồn nhân lực , hướng dẫn ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật và các thông tin về thị trường.(Nguồn: Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020). 1.1.3 BÀI HỌC KINH NGHIỆM. Qua đánh giá, phân tích các nghiên cứu và thử nghiệm về quy hoạch sử dụng đất lâm, nông nghiệp ở Việt Nam có thể rút ra một số kết luận sau: - Hiện tại ở Việt Nam chưa có nghiên cứu đầy đủ về quy hoạch sử dụng đất lâm, nông nghiệp cấp địa phương, đặc biệt là cấp xã. - Phương pháp quy hoạch hiện còn đang lúng túng nhiều điểm chưa rõ và được vận dụng khác nhau ở các chương trình dự án. - Trong nội dung quy hoạch vẫn chưa xác định được mối quan hệ giữa quy hoạch cấp xã và quy hoạch cấp trên, chưa có sự thống nhất và sự riêng rẽ giữa quy hoạch cấp xã và cấp thôn bản. - Phương pháp quy hoạch dựa trên thuộc tính của đất đai, ít xét đến tiềm năng đất đai, nhu cầu và khả năng của cộng đồng. - Công tác quy hoạch thường dựa vào ý kiến chủ quan của các nhà quy hoạch, thiếu sự đóng góp của người dân. Vì vậy không khai thác được kinh nghiệm của người dân trong cộng đồng và tính khả thi không cao. - Cơ sở khoa học cho quy hoạch sử dụng đất cấp xã chưa rõ ràng, thực tiễn về quy hoạch cấp xã chưa nhiều để tổng kết đánh giá. Bên cạnh những hạn chế về việc nghiên cứu và thử nghiệm đối với quy hoạch Lâm - Nông nghiệp ở Việt Nam, nhiều kết quả nghiên cứu và thử nghiệm có thể được vận dụng vào trong nghiên cứu của luận văn. Phương pháp tiếp cận có sự tham gia của người dân vào quá trình quy hoạch sẽ giúp cho công tác nghiên cứu. Phương pháp đánh giá đất đai, phân tích hệ canh tác để lựa chọn cây trồng và xác định các phương thức sử dụng đất sẽ được sử dụng trong quá trình nghiên cứu của đề tài. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn 17 1.2 - TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CÂY CAO SU Ở VIỆT NAM. 1.2.1 Đặc tích sinh vật học cây Cao su.[16] * Các bộ phận của cây Cao su: Cao su ( Hevea brasiliensis) nhìn hình dáng bên ngoài có thể chia ra làm bốn phần chính sau: + Thân cây: Là bộ chính của cây, cao su thuộc loại thân gỗ, to, cao. Ở những cây lâu năm có thể cao đến 30m và đường kính thân cây tới 1m. Hình dạng của thân ở cây thực sinh và cây ghép có khác nhau: phần sát gốc cây ghép thì bình thường nhưng ở cây thực sinh thì có dạng chân voi. Khi cây còn non, điểm sinh trưởng ở ngọn hoạt động mạnh phát sinh trên thân thành từng tầng lá rõ rệt. Cấu tạo của thân cây cao su có phần quan trọng là vỏ thân vì đây là bộ phận sản sinh ra nhựa mủ quyết định đến năng suất và sản lượng nhựa mủ cao su. Cấu tạo của vỏ thân bao gồm: Biểu bì, nhu mô, tượng tầng và gỗ. Trong đó phần nhu mô có chứa rất nhiều ống mủ bao gồm: ống mủ sơ cấp và ống mủ thứ cấp. Ống mủ sơ cấp ở trong tầng vỏ không liên quan gì đến ống mủ thứ cấp và hầu như không có sản lượng mủ. Ống mủ thứ cấp chính là nơi sản sinh và dự trữ mủ. Quá trình phát triển của thân, do sự phân hoá của cung tượng tầng trong một thời gian nhất định đã tạo thành những tế bào mẹ, chúng nối liền với nhau rồi vách bào bị phân giải tạo thành ống mủ. Tiếp theo sự phân hoá như vậy, lớp này đồng tâm với nhau tạo thành những ống mủ từ trong ra ngoài. Trong vỏ thân sự phân bố của ống mủ không đều: - Lớp vỏ ngoài: Cứng, số lượng ống mủ ít hơn, khó cạo, sản lượng mủ thấp. - Lớp vỏ trong: Mềm, số lượng ống mủ nhiều, sản lượng mủ nhiều. Các ống mủ đều xếp xiên từ dưới lên theo hướng từ trái sang phải (30-50). Theo kết quả giải phẫu cho biết: Càng gần cung tượng tầng số lượng ống mủ càng nhiều. Do vậy, khi cạo mủ phải chú ý cạo ở độ sâu thích hợp nhằm cắt đứt hết tất cả các ống mủ nhưng cũng không được phạm tới phần gỗ vì ảnh hưởng tới sự tái sinh của vỏ thân. Nói chung phần sát gốc có số lượng ống mủ nhiều hơn ( bảng 1.1). Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn 18 Bảng 1.1: Vị trí cạo mủ liên quan đến số vòng ống mủ Số vòng ống mủ Vị trí cạo mủ Loại cao sản Loại trung bình Loại thấp Gốc 24 11 7 Cách gốc 1m 14 6 6 Cành cấp 1 9 8 3 Cành cấp 2 4 2 0 Điểm phân cành cấp 1 11 7 3 Cho nên trong quy trình cạo mủ cần lưu ý cạo ở cây thực sinh phải cách mặt đất 50cm, ở cây ghép cách mặt đất là 1m. Ngoài ra, lớp vỏ thân dày hay mỏng cũng có số vòng ống mủ khác nhau ảnh hưởng đến sản lượng mủ (bảng 1.2). Bảng 1.2: Độ dày vỏ thân liên liên quan đến số vòng ống mủ. Độ dày vỏ (mm) 6,0 6,5 7,0 7,5 8,0 Số vòng ống mủ 10,4 10,7 11,9 13,8 13,0 + Lá cây: Lá Cao su mọc cách có 3 lá chét nhỏ cuống dài có hình bầu dục, đuôi nhọn, mặt nhẵn, gân song song . Lúc cây non lá có màu tím đỏ sau dần chuyển sang mầu xanh nhạt rồi xanh lục và hình thành từng lá rõ rệt. Khi cây lớn trưởng thành cho thu hoạch mủ thì tầng lá phát triển mạnh hình thành tán rộng, cần chú ý mật độ khoảng cách trồng thích hợp. + Hoa, Quả, Hạt: - Hoa Cao su thuộc loại đơn tính, có hoa đực và hoa cái riêng. Trong một chùm hoa có số lượng hoa đực nhiều gấp 50 lần hoa cái. Sau khi trồng được 5 – 6 năm cây mới có hoa quả, thường ở vào mùa xuân (tháng 3 - 4) hoặc tháng 7 – 8, sau 48 giờ phấn hoa mất sức sống. Nhìn chung khả năng thụ tinh thấp. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn 19 - Quả Cao su thuộc loại quả nang có lớp vỏ dày cứng trong có chứa hạt, khi chín vỏ tự nứt hạt có thể tách ra ngoài. Có 2 thời điểm thu hoạch quả: Mùa chính là tháng 8 – 9, có thể thu thêm ở tháng 2 – 3. - Hạt Cao su hình trứng hơi tròn, khi chín có màu nâu, ở ngoài là vỏ sừng cứng, hạt chứa 20% protit, 25% dầu …, rất dễ mất sức nảy mầm, chỉ sau thu hoạch 3 – 4 tuần không bảo quản tốt hạt không mọc được, nên yêu cầu phải gieo ngay. + Rễ cây: Bộ rễ Cao su bao gồm các loại: Rễ trụ: Là rễ chính có thể ăn sâu. Rễ con và rễ hấp thụ phát triển mạnh ở xung quanh, phân bố theo từng tầng, có hệ số tán cây/tán rễ = 1,5 lần. Nhìn chung bộ rễ Cao su khoẻ, tái sinh sản lớn, không phát triển sâu rộng như một số cây khác. 1.2.2 Đặc tính sinh thái và phân bố của cây Cao su[16] + Nhiệt độ: Cây Cao su yêu cầu nhiệt độ cao đều, thích hợp từ 200 – 280C, có biên độ nhiệt độ chênh lệch ít và sợ rét. Theo kết quả nghiên cứu của Trung Quốc: Nếu nhiệt độ bình quân ngày thấp hơn 150C đỉnh ngọn bị ức chế. Nếu dưới 100C thì hạt không nảy mầm, ảnh hưởng xấu đến trao đổi chất trong cây. Nếu dưới 50C thì vỏ thân bị nứt, mủ không đông, có thể bị khô ngọn. Nếu dưới 00C thì cây sẽ chết. + Chế độ mưa và độ ẩm không khí: Thân cây Cao su nhiều nước, đòi hỏi phải có lượng nước mưa hàng năm cao và đều từ 1500 -2000mm. Nếu lượng mưa trung bình mỗi tháng dưới 50 mm đã ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng. Về tính chất mưa cây Cao su yêu cầu mưa nhiều trận, vừa phải vào buổi chiều … vào khoảng 15 ngày mưa trong một tháng, mỗi trận mưa dưới 15 mm. Nếu mưa to hoặc mưa dầm đều không tốt vì làm cho sâu bệnh nhiều, mủ ít. Về độ ẩm không khí, Cao su yêu cầu cao tối thiểu từ 75% trở lên. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn 20 + Chế độ gió: Cây Cao su ưa lặng gió. Nếu có gió mạnh sẽ làm cho lượng bốc hơi ở lá, trong mủ tăng lên, cành thân giòn dễ gẫy, sản lượng mủ thấp. Tốc độ gió ảnh hưởng rất rõ đến đời sống cây Cao su: Nếu tốc độ gió 1m/s thì tốt, từ 1-2m/s không ảnh hưởng lớn lắm, nhưng từ 2-3m/s đã gây nhiều khó khăn trở ngại cho cây Cao su, nếu trên 3m/s thì cây phát triển không bình thường. + Chế độ ánh sáng: Cây Cao su cần đầy đủ ánh sáng, song vẫn có khả năng chịu được bóng râm, nên theo Xemicop (Liên Xô) cho rằng cây Cao su thuộc loại cây trung tính. Theo kết quả nghiên cứu ở Hoa Nam (Trung Quốc): Cường độ chiếu sáng thích hợp cho cây Cao su là 28.000 lux. Nếu thời gian chiếu sáng khác nhau thì sự sinh trưởng của cây cũng khác nhau (bảng 1.3). Bảng 1.3: Ảnh hưởng số giờ chiếu sáng đến sinh trưởng cây con Chỉ tiêu Cao cây (cm) Chu vi thân (cm) Chiếu sáng 24 h 31,9 0,8 Chiếu sáng tự nhiên 17,8 0,7 Chiếu sáng 6 h 5,3 0,6 Xử lý ánh sáng + Điều kiện về đất đai và địa hình: Độ dốc: Độ dốc liên quan đến độ phì nhiêu của đất. Đất càng dốc thì xói mòn càng mạnh, khiến các chất dinh dưỡng trong đất nhất là trong lớp đất mặt mất đi nhanh chóng. Khi trồng Cao su trên đất dốc cần phải thiết lập các hệ thống bảo vệ đất, chống xói mòn rất tốn kém như đê, mương, đường đồng mức. Cao su thường được trồng trên nền đất có độ dốc nhỏ hơn 8%. Còn độ dốc 8% – 30% thì vẫn trồng được, nhưng phải chú ý đến các biện pháp chống xói mòn. Độ sâu tầng đất: Đất có mức thuỷ cấp, tầng sỏi dày, hay tầng đá tảng nông đều không thuận lợi cho cây Cao su, do nó gây hạn chế phát triển rễ cọc. Cây Cao Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt://www.lrc-tnu.edu.vn
- Xem thêm -