Tài liệu Nghiên cứu các giải pháp đổi mới chính sách đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh thanh hóa [tt]

  • Số trang: 29 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 587 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN XUÂN KIÊN NGHIÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TỈNH THANH HÓA LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Chính sách Khoa học và Công nghệ Hà Nội - 2011 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN XUÂN KIÊN NGHIÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TỈNH THANH HÓA Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Chính sách Khoa học và Công nghệ Mã số: 60.34.70 Người hướng dẫn khoa học: Tiến sĩ Trần Xuân Định Hà Nội - 2011 MỤC LỤC MỞ ĐẦU ................................................................................................................................................. 1 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHÂN LỰC KH&CN VÀ VAI TRÒ CỦA NHÂN LỰC KH&CN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI ................................................... 7 1.1. Nhân lực KH&CN và đào tạo, phát triển nhân lực KH&CN ................................... 7 1.1.1. Khái niệm về nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực ...................................... 7 1.1.2. Khái niệm nhân lực KH&CN .................................................................................. 8 1.1.3. Đào tạo, phát triển nhân lực KH&CN .................................................................. 11 1.2. Những chỉ tiêu đánh giá chất lượng nhân lực KH&CN .......................................... 12 1.2.1. Năng lực tinh thần của nhân lực KH&CN (trí lực) .............................................. 12 1.2.2. Năng lực thể chất của nhân lực KH&CN ............................................................. 13 1.2.3. Chỉ số phát triển con người (HDI) ........................................................................ 13 1.2.4. Phẩm chất đạo đức và trình độ văn hóa của nhân lực KH&CN .......................... 14 1.3. Chức năng của nhân lực KH&CN ............................................................................ 14 1.3.1. Chức năng nghiên cứu sáng tạo............................................................................ 14 1.3.2. Chức năng giảng dạy ............................................................................................ 14 1.3.3. Chức năng quản lý ................................................................................................ 15 1.3.4. Chức năng khai thác, sử dụng............................................................................... 15 1.4. Vai trò của nhân lực KH&CN trong phát triển kinh tế - xã hội ............................ 15 1.5. Những nhân tố ảnh hưởng đến đào tạo, phát triển nhân lực KH&CN ................. 17 1.5.1. Nhóm nhân tố về quy mô, cơ cấu dân số, tốc độ tăng dân số. .............................. 17 1.5.2. Nhóm nhân tố về trình độ phát triển kinh tế – xã hội của một quốc gia đóng vai trò quyết định đến trình độ phát triển nhân lực KH&CN của nước đó .......................... 18 1.5.3. Nhóm nhân tố về giáo dục và đào tạo giữ vai trò quyết định trực tiếp trong việc nâng cao chất lượng nhân lực KH&CN .......................................................................... 20 1.5.4. Nhóm nhân tố thuộc về chính sách ....................................................................... 21 1.6. Kinh nghiệm về chính sách đào tạo, phát triển nhân lực KH&CN của một số nước ASEAN ...................................................................................................................... 23 1.6.1. Kinh nghiệm của Singapore .................................................................................. 23 1.6.2. Kinh nghiệm của Thailand .................................................................................... 28 1.6.3. Kinh nghiệm của Indonesia ................................................................................... 30 1.6.4. Kinh nghiệm của Philippines ................................................................................ 31 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NHÂN LỰC KH&CN, ĐÀO TẠO NHÂN LỰC KH&CN VÀ HỆ THỐNG CÁC CHÍNH SÁCH VỀ ĐÀO TẠO NHÂN LỰC KH&CN CỦA TỈNH THANH HOÁ ...................................................................................................................................... 35 2.1. Những đặc điểm ảnh hưởng đến chất lượng nhân lực KH&CN tỉnh Thanh Hóa 35 2.1.1. Đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội ...................................................................... 35 2.1.1.1. Điều kiện tự nhiên ......................................................................................... 35 2.1.1.2. Tài nguyên thiên nhiên .................................................................................. 36 2.1.1.3. Quy mô của nền kinh tế ................................................................................. 37 2.1.2. Đặc điểm phát triển nhân lực................................................................................ 38 2.1.2.1. Dân số và cơ cấu nhân lực ............................................................................ 38 2.1.2.2. Đặc điểm nhân lực của tỉnh........................................................................... 39 2.2. Thực trạng nhân lực KH&CN và đào tạo nhân lực KH&CN của tỉnh Thanh Hóa ............................................................................................................................................. 40 2.2.1. Thực trạng nhân lực KH&CN ............................................................................... 40 2.2.1.1. Nhân lực KH&CN trong tổ chức hoạt động KH&CN ................................... 42 2.2.1.2. Nhân lực KH&CN trong các cơ quan nhà nước của tỉnh ............................. 47 2.2.1.3. Nhân lực KH&CN trong một số ngành kinh tế trọng điểm của tỉnh......................... 48 2.2.2. Thực trạng công tác đào tạo nhân lực KH&CN ................................................... 50 2.2.2.1. Hệ thống cơ sở giáo dục, đào tạo nhân lực ................................................... 50 2.2.2.2. Các điều kiện đảm bảo phát triển đào tạo .................................................... 52 2.3. Những bất cập của hệ thống chính sách hiện hành về đào tạo, phát triển nhân lực KH&CN .............................................................................................................................. 58 2.3.1. Một số văn bản quy định về đào tạo nhân lực KH&CN chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn về nhân lực KH&CN để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. .................... 58 2.3.1.1. Chính sách đối với người học ........................................................................ 59 2.3.1.2. Chính sách đối với giảng viên, giáo viên ...................................................... 62 2.3.1.3. Chính sách đối với các cơ sở đào tạo ............................................................ 63 2.3.2. Quy hoạch mạng lưới cơ sở đào tạo nhân lực KH&CN chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ mới. ............................................................ 65 2.3.3. Chưa gắn kết giữa đơn vị nghiên cứu, doanh nghiệp SX, tuyển dụng, sử dụng với cơ sở đào tạo nhân lực KH&CN ..................................................................................... 65 2.4. Đánh giá tổng quan hiệu quả của các chính sách đào tạo, phát triển nhân lực KH&CN giai đoạn 2006-2010 ........................................................................................... 67 2.4.1. Những thành tựu.................................................................................................... 67 2.4.2. Những hạn chế, yếu kém ....................................................................................... 69 2.4.3. Những nguyên nhân của hạn chế, yếu kém ........................................................... 71 CHƯƠNG 3: NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NHÂN LỰC KH&CN PHỤC VỤ CHO PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH THANH HOÁ ..... 73 3.1. Những nhân tố tác động đến sự phát triển nhân lực KH&CN của tỉnh Thanh Hoá ............................................................................................................................................. 73 3.1.1. Những nhân tố bên ngoài ...................................................................................... 73 3.1.1.1. Hội nhập quốc tế và toàn cầu hoá ................................................................. 73 3.1.1.2. Phát triển KH&CN và hình thành nền kinh tế tri thức.................................. 74 3.1.2. Những nhân tố trong nước, trong tỉnh .................................................................. 74 3.1.2.1. Nhân tố trong nước........................................................................................ 74 3.1.2.2. Nhân tố trong tỉnh ......................................................................................... 75 3.2. Dự báo nhu cầu nhân lực KH&CN đến năm 2020 .................................................. 76 3.2.1. Phương pháp dự báo ............................................................................................. 76 3.2.2. Dự báo tổng cầu lao động (cầu việc làm) giai đoạn 2011-2020 .......................... 77 3.2.3. Kết quả dự báo tổng cầu nhân lực KH&CN giai đoạn 2011-2020....................... 79 3.3. Quan điểm và mục tiêu phát triển nhân lực KH&CN giai đoạn 2011-2020 ................... 81 3.3.1. Định hướng hoạt động KH&CN giai đoạn 2011-2020 ......................................... 81 3.3.2. Quan điểm phát triển nhân lực KH&CN .............................................................. 82 3.3.3. Mục tiêu phát triển nhân lực KH&CN .................................................................. 82 3.4. Những giải pháp đổi mới chính sách đào tạo nhân lực KH&CN phục vụ phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thanh Hoá .............................................................................. 83 3.4.1. Đổi mới công tác Quy hoạch nhân lực KH&CN đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ mới ............................................................................................ 84 3.4.1.1. Xây dựng Quy hoạch phát triển nhân lực KH&CN giai đoạn 2011 - 2020 ...................... 84 3.4.1.2. Tổ chức rà soát, điều chỉnh Quy hoạch phát triển mạng lưới các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo nhân lực KH&CN và gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo với sử dụng, giải quyết việc làm ................................................. 84 3.4.1.3. Quy hoạch phát triển các tổ chức KH&CN trên địa bàn tỉnh nhằm đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, ứng dụng và gắn kết với đào tạo, sử dụng nhân lực KH&CN .. 85 3.4.2. Đổi mới các chính sách đào tạo nhân lực KH&CN theo hướng đáp ứng yêu cầu về nhân lực KH&CN để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội ................................................. 86 3.4.2.1. Đổi mới chính sách bồi dưỡng và phát triển đội ngũ giáo viên .................... 86 3.4.2.2. Xây dựng chính sách khuyến khích đổi mới chương trình đào tạo, bồi dưỡng gắn với chuẩn đầu ra của mỗi chương trình mà người học cần phải đạt được. ........ 87 3.4.2.3. Đổi mới chính sách đào tạo và đào tạo lại nhân lực KH&CN ..................... 87 3.4.3. Huy động và hỗ trợ đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị thí nghiệm, thực hành cho các cơ sở đào tạo, đơn vị nghiên cứu .................................................................................................. 89 3.4.3.1. Xây dựng chính sách huy động vốn đầu tư cho GD&ĐT để phát triển nhân lực KH&CN ................................................................................................................ 89 3.4.3.2. Xây dựng và hoàn thiện chính sách hỗ trợ kinh phí cho đào tạo, phát triển nhân lực KH&CN ....................................................................................................... 90 3.4.3.3. Hoàn thiện chính sách về đất đai để phát triển GD&ĐT .............................. 90 3.4.4. Xây dựng việc gắn kết giữa nghiên cứu, doanh nghiệp SX, tuyển dụng, sử dụng với cơ sở đào tạo nhân lực KH&CN ............................................................................... 90 3.4.4.1. Xây dựng và hoàn thiện chính sách đầu tư chuyển dịch cơ cấu kinh tế ....................... 90 3.4.4.2. Xây dựng chính sách đãi ngộ và thu hút nhân tài ......................................... 91 3.4.4.3. Xây dựng chính sách trao giải thưởng KH&CN tôn vinh nhân tài ...................... 92 3.4.4.4. Xây dựng chính sách hợp tác quốc tế giúp nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực KH&CN ................................................................................................................ 92 KẾT LUẬN .......................................................................................................................................... 94 KHUYẾN NGHỊ ................................................................................................................................. 96 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................... 99 MỞ ĐẦU 1. Lý do nghiên cứu Việt Nam đang thúc đẩy quá trình CNH-HĐH làm xương sống cho chiến lược phát triển KT-XH nhanh và bền vững. Để thực hiện thành công quá trình CNH-HĐH đòi hỏi phải có hai yếu tố cơ bản gắn bó chặt chẽ với nhau, đó là: - Công nghệ hiện đại - Nguồn nhân lực tiên tiến. Công nghệ hiện đại có thể huy động vốn nhập về từ nước ngoài, nhưng để có được nguồn nhân lực tiên tiến, có thể vận hành tốt những dây chuyền và thiết bị CNH-HĐH, tiến tới sáng tạo công nghệ... là bài toán hóc búa đặt ra cho các nhà quản lý, các nhà giáo dục và đào tạo. Thực hiện các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước về giáo dục, đào tạo và phát triển nhân lực KH&CN đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH. Những năm qua, tỉnh Thanh Hoá đã có nhiều chương trình hành động, nhiều chính sách quan tâm đến đào tạo, phát triển nhân lực KH&CN. Tuy nhiên, nhân lực KH&CN của tỉnh Thanh Hoá vẫn tồn tại những bất cập: - Trình độ chuyên môn nghiệp vụ nhân lực KH&CN chưa ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ mới; - Tình trạng vừa thừa, vừa thiếu vẫn còn tồn tại ở các cơ quan, đơn vị; - Chưa hợp lý về cơ cấu ngành nghề v.v... Bên cạnh đó: - Công tác giáo dục, đào tạo chưa gắn với kế hoạch sử dụng, quá trình đào tạo lại, đào tạo theo chức vụ, đào tạo tại chỗ chưa được quan tâm đúng mức; - Chưa tập trung đào tạo một số ngành mũi nhọn; công tác triển khai, đào tạo CBCC, VC ở nước ngoài tiến hành còn chậm; - Cơ chế quản lý, sử dụng, chính sách đào tạo, đãi ngộ đối với nhân lực KH&CN còn nhiều bất hợp lý, chưa thực sự tạo động lực để đội ngũ này có đóng góp hiệu quả cho phát triển KT-XH của tỉnh. Qua nghiên cứu tác giả thấy rằng, để thực hiện tốt mục tiêu phát triển nhân lực KH&CN của tỉnh cũng cần được hỗ trợ nhiều hơn từ hệ thống các chính sách đào tạo, bồi dưỡng nhân lực KH&CN. Vì thế, việc đổi mới chính sách đào tạo nhân lực KH&CN nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Thanh Hoá là vấn đề hết sức bức thiết và có ý nghĩa thực tiễn cao. 2. Lịch sử nghiên cứu Tại Việt Nam, đào tạo nhân lực KH&CN được Nhà nước rất quan tâm, có nhiều công trình nghiên cứu liên quan về vấn đề này như: Cơ chế chính sách đối với hoạt động KH&CN (Thạc sĩ Trần Chí Đức); Phát triển nguồn nhân lực của Thanh Hóa đến năm 2010 theo hướng CNH-HĐH (Bùi Sĩ Lợi, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội 2002). Các công trình đó đã đề cập một số vấn đề lý luận và thực tiễn đối với nguồn nhân lực KH&CN trên phạm vi cả nước, hoặc nguồn nhân lực nói chung của tỉnh Thanh Hóa. Từ trước đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu độc lập về “Các giải pháp đổi mới chính sách đào tạo nhân lực KH&CN phục vụ phát triển KT-XH của tỉnh Thanh Hóa”. Vì vậy đề tài này là rất cần thiết và có ý nghĩa lý luận, thực tiễn trong chủ trương phát triển KT-XH giai đoạn hiện nay của tỉnh Thanh Hoá. 3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu đề xuất các giải pháp đổi mới chính sách đào tạo nhân lực KH&CN phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa. 1 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn có các nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu sau đây: - Làm rõ các vấn đề lý luận về nhân lực KH&CN, đào tạo nhân lực KH&CN và sự cần thiết của việc nâng cao chất lượng nhân lực KH&CN để phục vụ phát triển KT-XH. - Phân tích, đánh giá nhu cầu nhân lực KH&CN của tỉnh Thanh Hóa hiện nay, thực trạng hệ thống chính sách hiện hành liên quan về đào tạo nhân lực KH&CN. Tìm ra những bất cập và nguyên nhân dẫn đến những bất cập của hệ thống các quy định hiện hành về đào tạo nhân lực KH&CN. - Đề xuất các giải pháp đổi mới chính sách đào tạo nhân lực KH&CN phục vụ phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thanh Hóa. 4. Đối tượng nghiên cứu Nghiên cứu các quan hệ kinh tế-xã hội liên quan đến đào tạo nhân lực KH&CN để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa. 5. Phạm vi nghiên cứu - Về nội dung: nghiên cứu hệ thống chính sách đào tạo, phát triển nhân lực KH&CN; thực trạng và nhu cầu về nhân lực KH&CN của tỉnh Thanh Hóa; nghiên cứu các giải pháp đổi mới chính sách đào tạo nhân lực KH&CN phục vụ phát triển KT-XH của tỉnh Thanh Hóa. - Về thời gian: Từ năm 2006 đến 2010. 6. Vấn đề nghiên cứu - Nhu cầu nhân lực KH&CN của tỉnh Thanh Hóa hiện nay được thể hiện qua các yếu tố nào? - Hệ thống chính sách hiện hành về đào tạo nhân lực KH&CN có những bất cập gì? - Cần có những giải pháp gì để đổi mới chính sách đào tạo nhân lực KH&CN phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa? 7. Giả thuyết nghiên cứu - Nhu cầu nhân lực KH&CN của tỉnh Thanh Hóa hiện nay được thể hiện qua các yếu tố: số lượng; chất lượng; cơ cấu ngành nghề; ... - Hệ thống chính sách hiện hành về đào tạo nhân lực KH&CN có những bất cập sau: + Một số văn bản quy định về đào tạo nhân lực KH&CN chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn về nhân lực KH&CN để phục vụ phát triển KT-XH. + Quy hoạch mạng lưới cơ sở đào tạo nhân lực KH&CN chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển KT-XH trong thời kỳ mới. + Chưa gắn kết giữa đơn vị NC, doanh nghiệp SX, tuyển dụng, sử dụng với cơ sở đào tạo nhân lực KH&CN. - Cần có những giải pháp sau đây để đổi mới chính sách đào tạo nhân lực KH&CN phục vụ phát triển KT-XH tỉnh Thanh Hóa: + Sửa đổi các chính sách đào tạo nhân lực KH&CN theo hướng đáp ứng được yêu cầu thực tiễn về nhân lực KH&CN để phục vụ phát triển KT-XH. + Có chính sách quy hoạch nhân lực KH&CN đúng đắn để đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH trong thời kỳ mới. + Xây dựng việc gắn kết giữa đơn vị NC, doanh nghiệp SX, tuyển dụng, sử dụng với cơ sở đào tạo nhân lực KH&CN. + Có chính sách hỗ trợ kinh phí đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị thí nghiệm, thực hành cho các cơ sở đào tạo, đơn vị nghiên cứu khoa học để nâng cao năng lực đào tạo nhân lực KH&CN có chất lượng. 8. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu kết hợp cơ sở lý luận với thực tiễn; Thống kê, phân tích các tài liệu liên quan về chính sách phát triển nhân lực hiện hành trong việc đào tạo, sử dụng, đãi ngộ đối với nhân lực KH&CN; Phương pháp chuyên gia, tư vấn.. 2 9. Luận cứ nghiên cứu 9.1. Luận cứ lý thuyết - Khái niệm khái niệm nhân lực KH&CN; Đào tạo, phát triển nhân lực KH&CN; Chỉ tiêu đánh giá chất lượng nhân lực KH&CN; Những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nhân lực KH&CN; Chức năng của nhân lực KH&CN; Vai trò của nhân lực KH&CN trong phát triển kinh tế - xã hội. - Khảo cứu kinh nghiệm của một số nước ASEAN về chính sách đào tạo, phát triển nhân lực KH&CN. 9.2. Luận cứ thực tế - Các báo cáo phân tích chính sách KH&CN, chính sách đào tạo nhân lực KH&CN. - Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị TW lần thứ 2 (khoá VIII) về KH&CN của tỉnh Thanh Hóa. - Đề án phát triển KH&CN tỉnh Thanh Hoá giai đoạn 2005-2010; Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh về KH&CN giai đoạn 2010-2015. 10. Cấu trúc luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung Luận văn gồm 3 chương: - Chương 1: Cơ sở lý luận về nhân lực KH&CN, đào tạo nhân lực KH&CN và vai trò của nhân lực KH&CN trong phát triển kinh tế-xã hội. - Chương 2: Thực trạng nhân lực KH&CN của tỉnh Thanh Hóa và hệ thống các chính sách về đào tạo nhân lực KH&CN. - Chương 3: Những giải pháp đổi mới chính sách đào tạo nhân lực KH&CN phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa. 3 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHÂN LỰC KH&CN VÀ VAI TRÒ CỦA NHÂN LỰC KH&CN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 1.1. Nhân lực KH&CN và đào tạo, phát triển nhân lực KH&CN 1.1.1. Khái niệm về nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực Nhân lực KH&CN được phát triển trên nền tảng của nguồn nhân lực. Để cắt nghĩa điều đó, trước khi đi sâu nghiên cứu nhân lực KH&CN, chúng ta cần xem xét những định nghĩa hoặc khái niệm chung nhất về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực nói chung. - Khái niệm nguồn nhân lực: Theo định nghĩa của Liên hiệp quốc, nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển KT-XH trong một cộng đồng. - Khái niệm phát triển nguồn nhân lực: Liên hiệp quốc định nghĩa “Phát triển nguồn nhân lực là toàn bộ kỹ năng, trí lực và khả năng của con người được sử dụng thực tế hoặc dưới dạng tiềm năng vì sự phát triển KT-XH trong một cộng đồng”. 1.1.2. Khái niệm nhân lực KH&CN Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD). Nhân lực KH&CN bao gồm những người đáp ứng được một trong những điều kiện sau đây: 1) Đã tốt nghiệp đại học hoặc cao đẳng về một lĩnh vực KH&CN; 2) Tuy chưa đạt được điều kiện trên nhưng làm việc trong một lĩnh vực KH&CN đòi hỏi phải có trình độ tương đương. Theo định nghĩa trên, nhân lực KH&CN được diễn giải gồm những người: 1) Đã tốt nghiệp ĐH-CĐ và làm việc trong một ngành KH&CN; 2) Đã tốt nghiệp ĐH-CĐ, nhưng không làm việc trong một ngành KH&CN nào; 3) Chưa tốt nghiệp ĐH-CĐ, nhưng làm một công việc trong một lĩnh vực KH&CN đòi hỏi trình độ tương đương. Hệ thống số liệu về nhân lực KH&CN chính thức của nước ta hiện nay gồm những người có trình độ ĐH-CĐ trở lên 1.1.3. Đào tạo, phát triển nhân lực KH&CN Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực KH&CN là sự biến đổi về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực KH&CN, biểu hiện qua các mặt cơ cấu, thể lực, kỹ năng, kiến thức và tinh thần cần thiết cho nhân lực KH&CN, qua đó mà tạo việc làm ổn định, nâng cao địa vị KT-XH của họ. Ở tầm vĩ mô, phát triển nhân lực KH&CN là các hoạt động nhằm tạo ra nguồn nhân lực có quy mô, cơ cấu số lượng và chất lượng ngày càng phù hợp với nhu cầu về nhân lực KH&CN phục vụ sự nghiệp phát triển KT-XH của một quốc gia, địa phương hay của một vùng lãnh thổ. Đào tạo phát triển nguồn nhân lực KH&CN chính là quá trình biến đổi nhằm phát huy, khơi dậy những tiềm lực KH&CN; là phát triển cả năng lực NC, ứng dụng KH&CN và năng lực tinh thần, cả về đạo đức nghề nghiệp của nhân lực KH&CN. 1.2. Những chỉ tiêu đánh giá chất lượng nhân lực KH&CN Chất lượng nhân lực KH&CN bao hàm nhiều yếu tố và được đánh giá trên các tiêu trí: trí lực, thể lực, chỉ số HDI, phẩm chất đạo đức, trình độ văn hóa. 1.2.1. Năng lực tinh thần của nhân lực KH&CN (trí lực) Trí lực của nhân lực KH&CN biểu hiện ở trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng nghề nghiệp. Trí lực của nhân lực KH&CN còn thể hiện ở khả năng biến tri thức thành công nghệ, kỹ năng nghề nghiệp và lựa chọn các giải pháp hợp lý để phát triển KT-XH. 1.2.2. Năng lực thể chất của nhân lực KH&CN Bao gồm nhiều yếu tố cả về thể lực lẫn tinh thần. Trong quá trình phát triển KT-XH với trình độ ngày càng cao, đòi hỏi ngày càng lớn về thể lực, bởi nếu không có thể lực và tinh thần tốt sẽ khó có thể chịu đựng áp lực căng thẳng của công việc, của nhịp độ cuộc sống, và cũng không thể tìm tòi, sáng tạo ra các tri thức mới và vật hóa nó thành công nghệ có ích cho xã hội. 4 1.2.3. Chỉ số phát triển con người (HDI) Liên hợp quốc đã đưa ra chỉ số HDI nhằm đánh giá trình độ phát triển con người của các nước. HDI là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh các mặt kinh tế, xã hội, chính trị, môi trường cũng như sự công bằng trong thụ hưởng các phúc lợi xã hội. Chỉ số HDI được tính căn cứ vào ba chỉ tiêu: thu nhập bình quân trên đầu người (GDP/người); trình độ dân trí; tuổi thọ bình quân. Việt Nam năm 2006 có chỉ số HDI xếp thứ 100/174 nước, trong khi GDP/đầu người xếp thứ 154/174. 1.2.4. Phẩm chất đạo đức và trình độ văn hóa của nhân lực KH&CN Là yếu tố rất quan trọng quy định bản tính của nhân lực KH&CN và đóng vai trò quyết định sự phát triển bền vững của một quốc gia. Đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế thị trường và xu thế hội nhập quốc tế, những yếu tố tích cực của phẩm chất đạo đức, trình độ văn hóa sẽ kích thích nhân lực KH&CN tham gia quá trình đào tạo và tự đào tạo để vừa có trình độ, kỹ năng R&D giỏi, vừa có tâm hồn trong sáng lành mạnh là những nội dung cơ bản nâng cao chất lượng nhân lực KH&CN trong quá trình phát triển KT-XH đất nước. 1.3. Chức năng của nhân lực KH&CN 1.3.1. Chức năng nghiên cứu sáng tạo Nhân lực KH&CN họ thường làm ở các tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (Viện, Trung tâm, Labô, Liên hiệp KH&CN, ..). 1.3.2. Chức năng giảng dạy Nhân lực KH&CN ở đây chỉ đề cập đến những giảng viên thực hiện chức năng tham gia giáo dục và đào tạo những con người biết sử dụng KH&CN trong phát triển. 1.3.3. Chức năng quản lý Nhân lực KH&CN thực hiện chức năng quản lý về hoạt động KH&CN như: tổ chức tuyển chọn, xét chọn, đánh giá, nghiệm thu các nhiệm vụ KH&CN và thẩm định nội dung KH&CN các quy hoạch phát triển KT-XH nhằm đẩy mạnh hoạt động NC-ƯD KH&CN. 1.3.4. Chức năng khai thác, sử dụng Nhân lực KH&CN phải họ tham gia vào quá trình công nghệ với tư cách là người tác nghiệp, thừa hành công việc được giao như vận hành máy móc, bảo trì, sửa chữa thiết bị. 1.4. Vai trò của nhân lực KH&CN trong phát triển kinh tế - xã hội Ngày nay, sự cạnh tranh gay gắt diễn ra giữa các quốc gia để giành những lợi thế so sánh trong phát triển, thực chất là cuộc đua tranh về tri thức, KH&CN. Sự phát triển mạnh mẽ đó đã làm biến đổi sâu sắc nền KT-XH của nhiều quốc gia, tạo ra ngày càng nhiều cơ hội cho các quốc gia chậm phát triển rút ngắn khoảng cách phát triển của mình thông qua con đường nhập khẩu và chuyển giao công nghệ. Bước chuyển từ nền kinh tế dựa trên lực lượng sản xuất mà vật chất đóng vai trò quan trọng nhất, sang nền kinh tế dựa trên lực lượng sản xuất mà nhân lực KH&CN (tri trức), thông tin đóng vai trò chủ đạo. Nhân lực KH&CN với tư cách là chủ thể sáng tạo, là yếu tố bản thân của quá trình sản xuất, là trung tâm của nội lực, là nguồn lực chính quyết định quá trình phát triển KT-XH. 1.5. Những nhân tố ảnh hưởng đến đào tạo, phát triển nhân lực KH&CN Các nhân tố ảnh hưởng đến đào tạo, phát triển nhân lực KH&CN bao gồm các yếu tố: điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, hệ thống chính sách ở mỗi giai đoạn phát triển. 1.5.1. Nhóm nhân tố về quy mô, cơ cấu dân số, tốc độ tăng dân số. Tăng trưởng dân số tác động trực tiếp tới số lượng và chất lượng nhân lực KH&CN, mức tăng dân số nhanh, liên quan vấn đề giải quyết việc làm tăng, giảm tốc độ tăng thu nhập GDP bình quân/đầu người. Do đó, tăng trưởng dân số phù hợp với mức tăng trưởng của sức sản xuất xã hội, trong đó phù hợp với tăng chất lượng của nhân lực KH&CN sẽ giúp cho KT-XH phát triển ổn định. Nói cách khác, phát triển dân số có kế hoạch sẽ góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng nhân lực KH&CN. 5 1.5.2. Nhóm nhân tố về trình độ phát triển kinh tế – xã hội của một quốc gia đóng vai trò quyết định đến trình độ phát triển nhân lực KH&CN Trình độ phát triển kinh tế góp phần quan trọng vào việc nâng cao mức sống, cải thiện tình hình sức khỏe và dinh dưỡng của con người. Sự phát triển KT-XH bao giờ cũng kéo theo quá trình đô thị hóa, thường thì các nước công nghiệp, dân số sống ở thành thị chiếm tỷ lệ cao. Tỷ lệ dân thành thị cao sẽ tạo điều kiện cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển sự nghiệp GD-ĐT, góp phần trực tiếp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực KH&CN, nâng cao ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong công nghiệp cho lực lượng này. 1.5.3. Giáo dục và đào tạo giữ vai trò quyết định trực tiếp trong việc nâng cao chất lượng nhân lực KH&CN Ngày nay, khi KH&CN, tri thức đang trở thành lực lượng lao động trực tiếp, là yếu tố quyết định sự tăng trưởng của kinh tế và phát triển bền vững, vai trò của nhân lực KH&CN càng trở nên quan trọng. Trí tuệ và sự sáng tạo, yếu tố chủ yếu của chất lượng nhân lực KH&CN là kết quả trực tiếp của GD&ĐT, do đó GD&ĐT đóng vai trò quyết định tới chất lượng nhân lực KH&CN. 1.5.4. Nhóm nhân tố thuộc về chính sách Các chính sách của nhà nước phù hợp với điều kiện phát triển KT-XH sẽ tạo điều kiện thúc đẩy nâng cao chất lượng nhân lực nói chung và nhân lực KH&CN nói riêng, ngược lại nếu không phù hợp sẽ kìm hãm sự phát triển cũng như hạn chế việc nâng cao chất lượng nhân lực. Bên cạnh đó, các chính sách của quốc gia phải luôn thay đổi theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn, phù hợp hơn mới thích ứng được sự phát triển của quốc gia đó. Tóm lại, những tác động của các yếu tố trên tới chất lượng nhân lực KH&CN là rất lớn dẫn đến những thay đổi căn bản và nhiều chiều của nguồn nhân lực KH&CN. Các thay đổi đa dạng trên đang đặt ra những thách thức lớn cho mỗi vùng lãnh thổ, mỗi quốc gia nhất là các quốc gia có nền kinh tế chậm phát triển. Do đó, cần phải nhận thức đầy đủ, sâu sắc về vai trò của nhân lực, đặc biệt là nhân lực KH&CN trong điều kiện hội nhập nền kinh tế thế giới mới tránh được nguy cơ tụt hậu trên mọi phương diện. 1.6. Kinh nghiệm về chính sách đào tạo, phát triển nhân lực KH&CN của một số nước ASEAN Việc nghiên cứu, tìm hiểu kinh nghiệm của Singapore, Thailand, Indonesia, Philippines trong lĩnh vực này có ý nghĩa quan trọng đối với Việt Nam nói chung và Thanh Hoá nói riêng. Các nước ASEAN kể trên, đều nhận thức được vai trò quan trọng của KH&CN trong phát triển đất nước, đặc biệt là xây dựng đội ngũ nhân lực KH&CN hùng hậu, có đủ năng lực để tiếp thu những kiến thức tiên tiến của thế giới và giải quyết được những vấn đề đặt ra cho sự nghiệp CNHHĐH đất nước. Một trong những bí quyết giành thắng lợi của những nước có tốc độ phát triển kinh tế cao là tầm nhìn chiến lược trong đường lối, chính sách đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng nhân lực KH&CN và trọng dụng nhân tài. Nhìn chung, các nước ASEAN đều tập trung vào việc tăng cường nhân lực KH&CN của mình thông qua một số chính sách đào tạo cơ bản như: 1. Chính sách cấp học bổng trong các ngành KH&CN từ cấp đại học trở lên cho các tài năng theo học tại các cơ sở đào tạo có uy tín ở các nước phát triển. 2. Đào tạo tài năng KH&CN ở đại học để kích thích các ngành công nghệ cao. 3. Chính sách khuyến khích học sinh theo học các ngành KH&CN cũng như đổi mới và tăng cường các chương trình giảng dạy KH&CN trong nhà trường. 4. Chính sách kêu gọi các kiều dân là chuyên gia KH&CN trở về phục vụ phát triển đất nước, đặc biệt trong lĩnh vực đào tạo nhân lực KH&CN. 5. Tăng số lượng và chất lượng giáo viên các ngành KH&CN thông qua các ưu đãi khuyến khích các tài năng KH&CN theo đuổi nghề sư phạm, đồng thời đổi mới các phương pháp giảng dạy KH&CN. 6. Hợp tác song phương và đa phương với các viện nghiên cứu, các tổ chức KH&CN hàng đầu trên thế giới. Các hoạt động hợp tác quốc tế về KH&CN tập trung vào R&D, ứng dụng và chuyển giao công nghệ. 6 Chương 2: THỰC TRẠNG NHÂN LỰC KH&CN, ĐÀO TẠO NHÂN LỰC KH&CN VÀ HỆ THỐNG CÁC CHÍNH SÁCH VỀ ĐÀO TẠO NHÂN LỰC KH&CN CỦA TỈNH THANH HOÁ 2.1. Những đặc điểm ảnh hưởng đến chất lượng nhân lực KH&CN tỉnh Thanh Hóa 2.1.1. Đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội 2.1.1.1. Điều kiện tự nhiên - Vị trí địa lý: Thanh Hoá nằm ở cực Bắc Miền Trung. Do đó, chịu ảnh hưởng của những tác động từ vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, các tỉnh Bắc Lào và vùng trọng điểm kinh tế Trung bộ. - Địa hình: Thanh Hoá có địa hình đa dạng, thấp dần từ Tây sang Đông, chia làm 3 vùng rõ rệt (vùng núi và trung du, vùng đồng bằng, vùng ven biển) có những vùng đất đai rộng lớn thuận lợi cho nông nghiệp và phát triển các khu công nghiệp. - Khí hậu: Thanh Hoá nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với 4 mùa rõ rệt. Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1600-2300mm, độ ẩm tương đối từ 85% đến 87%, nhiệt độ trung bình 230C - 240C, nhiệt độ giảm dần khi lên vùng núi cao. Nhìn chung, điều kiện tự nhiên có địa hình phức tạp, chia cắt, sông núi dốc nhiều, khí hậu phức tạp và khắc nghiệt. Do đó, hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh gặp nhiều khó khăn. 2.1.1.2. Tài nguyên thiên nhiên - Tài nguyên đất: Thanh Hoá có diện tích tự nhiên 1.112.033 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp 245.367 ha; đất sản xuất lâm nghiệp 553.999 ha; đất nuôi trồng thuỷ sản 10.157 ha; các nhóm đất thích hợp cho phát triển cây lương thực, cây lâm nghiệp, cây công nghiệp. - Tài nguyên rừng: Thanh Hoá là một trong những tỉnh có tài nguyên rừng lớn với diện tích đất có rừng là 484.246 ha, trữ lượng khoảng 16,64 triệu m3 gỗ. Rừng Thanh Hoá chủ yếu là rừng cây lá rộng, có hệ thực vật phong phú đa dạng về họ, loài. - Tài nguyên biển: Thanh Hoá có 102 km bờ biển và vùng lãnh hải rộng 17.000 km2, với những bãi cá, bãi tôm có trữ lượng lớn. Dọc bờ biển có 5 cửa lạch lớn, thuận lợi cho tàu thuyền đánh cá ra vào và có thể nuôi cá song, trai ngọc, tôm hùm... - Tài nguyên khoáng sản: Thanh Hoá có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú và đa dạng; có 296 mỏ và điểm khoáng sản với 42 loại khác nhau, nhiều loại có trữ lượng lớn so với cả nước như: đá vôi làm xi măng (trên 370 triệu tấn), sét làm xi măng (85 triệu tấn), crôm (khoảng 21 triệu tấn), quặng sắt (2 triệu tấn), đôlômit (4,7 triệu tấn), ngoài ra còn có vàng sa khoáng và các loại khoáng sản khác. 2.1.1.3. Quy mô của nền kinh tế - Ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá và tương đối ổn định, tốc độ tăng giá trị gia tăng bình quân giai đoạn 2006-2010 đạt 2,6% năm, lương thực hàng năm đạt trên 1,5 triệu tấn; thuỷ sản phát triển cả về đánh bắt, nuôi trồng và dịch vụ hậu cần nghề cá. - Ngành công nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao, tốc độ tăng giá trị gia tăng bình quân giai đoạn 2006-2010 đạt 16,7% năm. KKT Nghi Sơn, KCN tập trung, cùng hàng chục cụm công nghiệp được hình thành và phát triển. - Ngành xây dựng có bước phát triển nhanh, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng trung của cả tỉnh, tốc độ tăng giá trị gia tăng bình quân giai đoạn 2006-2010 đạt 20,1% năm. - Ngành dịch vụ phát triển đa dạng, chuyển biến tích cực cả về quy mô và chất lượng, tốc độ tăng giá trị gia tăng bình quân giai đoạn 2006-2010 đạt 12,3% năm. Đã hình thành các loại dịch vụ mới như: tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, tư vấn, viễn thông.. Nhìn chung kinh tế luôn duy trì được tốc độ tăng trưởng khá, năm sau cao hơn năm trước. Tuy nhiên, dân số đông nên GDP bình quân đầu người đạt 810USD, rất thấp so với bình quân chung của cả nước (1.200USD). Cả tỉnh có 6.200 doanh nghiệp, nhưng tỷ lệ bình quân thấp (đạt 18/10.000dân), và so với các tỉnh doanh nghiệp Thanh Hoá có quy mô nhỏ, trang thiết bị và công nghệ lạc hậu, vốn ít, chất lượng lao động thấp, nên lợi nhuận không cao. 7 2.1.2. Đặc điểm phát triển nhân lực 2.1.2.1. Dân số và cơ cấu nhân lực Thanh Hoá là tỉnh có quy mô dân số lớn (đứng thứ 3 cả nước, sau Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh); tháp dân số vào loại trẻ, năm 2010 dân số trung bình là 3.412 nghìn người, trong đó dân số thành thị là 359 nghìn người, chiếm 10,5%, dân số nông thôn gần 3.053 nghìn người, chiếm 89,5%. Lực lượng lao động của tỉnh phân bố không đều, chủ yếu ở khu vực nông thôn chiếm tỷ lệ 90%, còn thành thị có 10%. 2.1.2.2. Đặc điểm nhân lực của tỉnh Chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh có nhiều chuyển biến, năm 2010 đạt tỷ lệ lao động qua đào tạo là 36,7%, trong đó tỷ lệ lao động có trình độ trên ĐH, ĐH-CĐ, THCN đạt 8,1%, tăng 1,9% so với năm 2006, nhưng vẫn đang còn ở mức thấp so với trung bình của cả nước (Bảng 2.2). Nhân lực Thanh Hoá vẫn còn bất cập cả về số lượng cũng như chất lượng và cơ cấu, chất lượng nhân lực thấp, cơ cấu nhân lực qua đào tạo phân bố không đều giữa các vùng, miền, thiếu đội ngũ có trình độ chuyên môn giỏi, tay nghề cao trong các lĩnh vực, trách nhiệm nghề nghiệp, tác phong, kỷ luật của người lao động chưa đáp ứng yêu cầu của thời kỳ CNH-HĐH. Đây là một trong những vấn đề thách thức đối với tỉnh Thanh Hoá trong việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng nhân lực để thực hiện chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế theo hướng tăng năng suất ngành công nghiệp và dịch vụ. 2.2. Thực trạng nhân lực KH&CN và đào tạo nhân lực KH&CN của tỉnh Thanh Hóa 2.2.1. Thực trạng nhân lực KH&CN Dân số của tỉnh Thanh Hoá đứng thứ 3 trong cả nước, lực lượng lao động trong độ tuổi có 1.938,8 nghìn người (chiếm 56,8% dân số), trong đó có 711,8 nghìn lao động đã qua đào tạo. Trong những năm qua Thanh Hoá đã đào tạo và thu hút được khoảng 71.260 nhân lực KH&CN (đạt mức 209người/10.000dân) và chiếm 10% lao động đã qua đào tạo, trong đó 1.335 người có trình độ trên đại học, đạt tỷ lệ gần 4người/10.000dân và chiếm 1,87% (Tiến sĩ 82 người, chiếm 0,11%; thạc sĩ và tương đương 1.253 người, chiếm 1,76%); đại học 40.744 người, chiếm 57,18%; cao đẳng 29.181 người, chiếm 40,95%. Đây là nguồn nhân lực quan trọng cho hoạt động KH&CN của tỉnh trong phát triển KT-XH. Tuy nhiên, đội ngũ có trình độ trên đại học trong các có sở đào tạo quá ít, cơ cấu phân bố cán bộ KH&CN giữa các vùng không đều, chủ yếu tập trung ở vùng đồng bằng là 57.636 người, chiếm 80,9%; vùng miền núi có 13.625 người, chiếm 19,1%. Trong các lĩnh vực kinh tế: nông - lâm - ngư nghiệp có 4.911 người, chiếm 6,89%; công nghiệp - xây dựng có 7.875 người, chiếm 11,05% và các ngành dịch vụ có 58.474 người, chiếm 82,05%. - Nhân lực KH&CN trong các tổ chức R&D: Trong số 218 cán bộ KH&CN đang làm việc tại 13 tổ chức R&D, cán bộ có trình độ trên đại học có 32 người (3 tiến sĩ và 29 thạc sĩ), chiếm 14,7% tổng số; cán bộ đại học 181 người, chiếm 83,0% tổng số; cán bộ có trình độ cao đẳng 5 người, chiếm 2,3% tổng số (Bảng 2.3). - Nhân lực KH&CN trong các tổ chức dịch vụ KH&CN và các đơn vị có hoạt động dịch vụ KH&CN: Đội ngũ cán bộ KH&CN làm việc ở các đơn vị này có 2.174 người, chiếm 3,05% tổng số cán bộ KH&CN trong toàn tỉnh; cán bộ trình độ trên đại học có 540 người. Đây là nguồn nhân lực KH&CN chủ yếu cho các hoạt động dịch vụ KH&CN, đặc biệt là hoạt động tư vấn, ứng dụng các kỹ thuật thiết bị và chuyển giao công nghệ vào sản xuất trên phạm vi toàn tỉnh (Bảng 2.5 và Bảng 2.6). - Nhân lực KH&CN trong các trường đại học, cao đẳng Trong số 1.236 cán bộ KH&CN đang làm việc tại 2 trường đại học và 5 trường cao đẳng có: 505 cán bộ trình độ trên đại học (58 tiến sĩ và 447 thạc sĩ), chiếm 40,8%; 705 cán bộ trình độ đại học, chiếm 57,0%; 28 cán bộ có trình độ cao đẳng, chiếm 2,2% tổng số. Với 8 cơ cấu trình độ này cho thấy giảng viên có trình độ đạt chuẩn ở các cơ sở đào tạo, nhất là 2 trường đại học còn ở mức rất thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu về trình độ chuyên môn nghiệp vụ phục vụ cho công tác đào tạo hiện nay (Bảng 2.7). - Nhân lực KH&CN trong một số doanh nghiệp Trong số 862 cán bộ KH&CN đang làm việc tại 16 doanh nghiệp có: 09 cán bộ trình độ trên đại học (1 tiến sĩ và 8 thạc sĩ), chiếm 1,0%; 671 cán bộ trình độ đại học, chiếm 77,8%; 182 cán bộ có trình độ cao đẳng, chiếm 21,2% tổng số. Điều này, chứng tỏ cán bộ KH&CN trong các doanh nghiệp chủ yếu là trình độ đại học và cao đẳng, các doanh nghiệp chưa chú trọng đầu tư cho đào tạo, bồi dưỡng nhân lực KH&CN, có rất ít nhà khoa học (Bảng 2.8). - Nhân lực KH&CN trong các cơ quan nhà nước của tỉnh Thanh Hoá có 27 huyện, thị xã, thành phố với 637 xã, phường, thị trấn với đội ngũ CBCC,VC khá lớn gồm có 68.705 người. Về trình độ chuyên môn kỹ thuật: số người có trình độ tiến sĩ là 80 người chiếm 0,15%; trình độ thạc sĩ 1.454 người, chiếm 2,11%; trình độ đại học là 24.411 người, chiếm 35,5%; trình độ cao đẳng 14.636 người, chiếm 21,3%; trình độ trung cấp và khác là 24.172 người, chiếm 35,2%; chưa qua đào tạo 3.950 người, chiếm 5,7% (chủ yếu ở cấp xã). Trình độ đội ngũ này còn thấp so với mặt bằng chung của cả nước; một số CBCC năng lực quản lý, điều hành chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, thiếu chủ động, sáng tạo; vận dụng chủ trương, chính sách còn chậm, thụ động, dập khuôn.. Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã còn nhiều bất cập; số người chưa qua đào tạo hoặc được đào tạo ở trình độ trung, sơ cấp còn khá cao. Nguyên nhân của những vấn đề nêu trên là do công tác quy hoạch và quản lý CBCC,VC ở các địa phương chậm đổi mới. Công tác đào tạo, bồi dưỡng thay thế chưa theo quy hoạch và năng lực thực tế của cán bộ chưa đảm bảo đồng bộ giữa số lượng, chất lượng và cơ cấu; nội dung đào tạo, bồi dưỡng còn thiếu cân đối giữa lý luận chính trị và kỹ năng chuyên môn, đào tạo chưa đồng bộ với yêu cầu chuẩn hóa đội ngũ. Công tác đánh giá chưa thường xuyên, thiếu biện pháp hiệu quả khắc phục yếu kém. - Nhân lực KH&CN trong một số ngành kinh tế trọng điểm của tỉnh + Ngành xi măng Xi măng là ngành công nghiệp sản xuất phát triển khá sớm ở Thanh Hoá; nhà máy xi măng Bỉm Sơn được xây dựng vào những năm 80 và khi đó là một trong những nhà máy có công suất lớn nhất và hiện đại nhất của cả nước. Đến nay, toàn tỉnh có 03 nhà máy xi măng đang hoạt động với tổng công suất là 9 triệu tấn/năm. Tổng số lao động trong ngành là 3.074 người, trong đó trình độ chuyên môn kỹ thuật 753 người có trình độ đại học, cao đẳng chiếm 24,5%; 37 người có trình độ cao đẳng nghề, chiếm 1,2%. + Ngành tài chính, ngân hàng Tổng số lao động trong toàn ngành khoảng 21.750 người, tăng gần gấp 1,3 lần so với năm 2006. Số lao động có trình độ đại học, trên đại học là 12.727 người, chiếm 62,7%; tăng 28,1%; trình độ cao đẳng giảm 4,7%; trình độ trung cấp chuyên nghiệp là 31%, giảm 18,9% so với năm 2006. Trước yêu cầu nền kinh tế thị trường, tính chuyên nghiệp của đội ngũ trong ngành Tài chính – Ngân hàng còn chưa cao, đặc biệt trong lĩnh vực quản trị ngân hàng, tư vấn, phân tích tín dụng; quản lý rủi ro; marketing và tiếp cận các dịch vụ tài chính mới. + Khu kinh tế Nghi Sơn và các khu công nghiệp Tổng số lao động trong KKT và các KCN là 24.375 người. Trình độ chuyên môn kỹ thuật lao động có trình độ cao đẳng, đại học trở lên là 955 người chiếm 3,9%; còn lại 96,1% là trung cấp nghề và chưa qua đào tạo. Lao động trong KKT Nghi Sơn và các KCN chủ yếu thuộc các ngành dệt may, da giầy, sản xuất vật liệu xây dựng; các ngành nghề có hàm lượng KH&CN cao còn thấp. Do đó, năng suất và thu nhập của người lao động chưa cao; thu nhập bình quân của lao động trong KKT Nghi Sơn và các KCN khoảng 1,8 triệu đồng/tháng. 9 Nhân lực KH&CN của tỉnh tuy đông về số lượng, đa dạng về ngành nghề đào tạo, có đầy đủ cấp bậc trình độ, nhưng cũng còn nhiều hạn chế và bất cập đó là: chủ yếu làm việc ở các ngành dịch vụ như: giáo dục, y tế và tài chính, ngân hàng nhưng chưa có Giáo sư, Phó giáo sư và bác sĩ chuyên khoa đầu ngành; năng lực đội ngũ cán bộ KH&CN chưa đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH-HĐH của tỉnh, thiếu cán bộ đầu đàn có trình độ cao về KH&CN, thiếu nhân lực có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao ở các ngành sản xuất công nghiệp cơ khí, xây dựng, điện tử, tin học, công nghệ chế biến, thương mại quốc tế.. Đây là một trong những thách thức lớn của tỉnh trong thời gian tới, nhất là khi các dự án lớn như lọc hoá dầu, nhiệt điện, sản xuất thép.. ở khu kinh tế Nghi Sơn hoàn thành và đi vào sản xuất. 2.2.2. Thực trạng công tác đào tạo nhân lực KH&CN 2.2.2.1. Hệ thống cơ sở đào tạo Các cơ sở đào tạo đại học, cao đẳng và dạy nghề có bước phát triển về số lượng trường, lớp và quy mô đào tạo. Cơ cấu ngành nghề đào tạo ngày càng đa dạng theo nhu cầu xã hội; nhiều trường có ngành nghề đào tạo tăng cao so với năm 2006 là trường Đại học kỹ thuật công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh (cơ sở Thanh Hóa), trường Đại học Hồng Đức, trường cao đẳng nghề công nghiệp.. Đến năm 2010, trên địa bàn toàn tỉnh có 02 trường Đại học; 05 trường cao đẳng; 09 trường trung cấp chuyên nghiệp và 92 trường trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề; năng lực đào tạo đại học, cao đẳng trên 22 nghìn sinh viên, nhưng hàng năm các cơ sở đào tạo trong tỉnh tuyển mới đào tạo hệ đại học, cao đẳng khoảng 5.500 sinh viên (Bảng 2.9). Hiện nay, trường Đại học Hồng Đức chủ yếu đào tạo bậc đại học ở các ngành nông nghiệp, sư phạm, kinh tế; đào tạo thạc sỹ ở một số ngành trồng trọt, toán giải tích và ngữ văn. Thiếu các cơ sở đào tạo trình độ đại học ở các ngành kỹ thuật như: lọc hoá dầu, nhiệt điện, cơ khí đóng tầu, xây dựng, giao thông vận tải, hoá chất, điện tử, y học.. 2.2.2.2. Các điều kiện đảm bảo phát triển đào tạo - Cơ sở vật chất - kỹ thuật Hệ thống các phòng học lý thuyết cơ bản đã được kiên cố; các xưởng thực hành, phòng thí nghiệm và trang thiết bị bước đầu được trang bị. Đã tập trung đầu tư cơ sở vật chất cho một số trường trọng điểm như: Đại học Hồng Đức; trường Cao đẳng Thể dục thể thao, trường Cao đẳng Y tế; trường Cao đẳng Văn hoá nghệ thuật, các trung tâm dạy nghề. Đến năm 2010, các trường đại học, cao đẳng thuộc tỉnh quản lý có tổng diện tích các phòng học là 46.380m2 (485 phòng) diện tích phòng thực hành, thí nghiệm là 5.508m2; diện tích nhà ở cho sinh viên là 19.990 m2 (596 phòng); có 51 phòng tin học với 5.157 máy vi tính, trong đó có 1.260 máy kết nối mạng internet. Riêng trường Đại học Hồng Đức có diện tích đảm bảo theo yêu cầu; các cơ sở đào tạo còn lại đều trong tình trạng thiếu diện tích; các trang thiết bị phục vụ đào tạo, phòng thí nghiệm, xưởng thực hành đều thiếu và lạc hậu; nhất là các trang thiết bị cho các ngành nghề mới có yêu cầu khoa học và công nghệ, kỹ thuật cao. Vì vậy, để đáp ứng nhu cầu, mở rộng quy mô đào tạo trong thời gian tới cần phải đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật, thiết bị thí nghiệm của các trường mới có thể đáp ứng yêu cầu đổi mới nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng và nghiên cứu khoa học. - Thực trạng đội ngũ giảng viên, giáo viên, cán bộ quản lý: Năm 2010, tổng số giáo viên của các trường Đại học, cao đẳng là 1.236 người, tăng 33,9% so với năm 2006; trong đó trình độ trên ĐH đạt tỷ lệ quá thấp, tiến sĩ có 58 người (56 tiến sĩ và 02 PGS) chiếm 4,7%, thạc sĩ có 447 người chiếm 36,2% tổng số giáo viên (Trường ĐH Hồng Đức có 51% cán bộ, giảng viên đạt trình độ từ thạc sĩ trở lên). Đội ngũ giáo viên của các trường hiện vừa thừa, vừa thiếu; thừa là do một số giáo viên lớn tuổi, năng lực trình độ chuyên môn yếu được đào tạo từ những năm 80 không còn phù hợp với công việc giảng dạy, đồng thời cũng không còn khả năng để tiếp tục học tập nâng cao trình độ hoặc chuyển đổi để đáp ứng yêu cầu ngành đào tạo mới. Thiếu đội ngũ giảng viên, giáo viên giỏi, đầu đàn, đặc biệt là giảng viên, giáo viên các ngành công nghệ cao (lọc hoá dầu, điện tử, cơ khí chế tạo máy..). 10 - Nội dung và phương pháp giảng dạy, đào tạo Nội dung, chương trình và phương thức đào tạo được chú trọng và đổi mới, nhưng tốc độ còn chậm, chưa tạo được sự liên thông và gắn kết giữa đào tạo với nhu cầu sử dụng của thị trường lao động trong và ngoài nước. Chưa có sự liên kết, phối kết hợp chặt chẽ giữa các cơ sở đào tạo với doanh nghiệp. Các doanh nghiệp chưa quan tâm đầu tư để đào tạo lao động tại chỗ, mặc dù UBND tỉnh đã có chính sách hỗ trợ đào tạo theo mô hình này. Nội dung, chương trình đào tạo đã từng bước tiếp cận với thực tế nhưng so với trình độ quốc tế trong điều kiện toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế vẫn còn yếu. Hệ thống giáo trình chuẩn vẫn còn thiếu và chậm đổi mới về nội dung cho thích ứng với đổi mới công nghệ và thực tế sản xuất. Phương pháp giảng dạy còn lạc hậu, nặng về truyền thụ lý thuyết, chưa có đủ cơ cở vật chất phòng thí nghiệm. Chủ yếu vẫn theo phương pháp «đọc, chép», chưa phát huy được khả năng sáng tạo của người dạy và người học. Việc huấn luyện, đào tạo kỹ năng nghề nghiệp chưa được quan tâm đúng mức như kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm, kỹ năng thuyết trình... do đó, khi ra trường các sinh viên đều lúng túng và mất nhiều thời gian để tiếp cận với công việc thực tế. 2.2.2.3. Kết quả đào tạo, bồi dưỡng nhân lực Về số lượng: Trong 5 năm (2006-2010) đã đào tạo được 243.000 người, bình quân mỗi năm đào tạo trên 48,6 nghìn người, trong đó: + Đào tạo nghề là 191 nghìn (bao gồm cả dạy nghề thường xuyên); trong đó: cao đẳng nghề 3,7 nghìn người chiếm 1,9%; trung cấp nghề 34 nghìn người chiếm 17,7%; sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng 153,3 nghìn chiếm 80,4%. + Đại học, cao đẳng và sau đại học 52 nghìn người; bình quân mỗi năm đào tạo 10,4 nghìn người (trong đó có khoảng 50% học ngoài tỉnh). + Bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho 86 nghìn lượt người + Bồi dưỡng tin học cho 16,5 nghìn lượt người + Đào tạo trình độ tiếng Anh nâng cao cho 176 người Về chất lượng giáo dục, đào tạo: có chuyển biến tích cực. Cơ cấu ngành nghề đào tạo ngày càng đa dạng; nhiều trường có ngành nghề đào tạo chất lượng được nâng cao so với năm 2006 là trường Đại học kỹ thuật công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh (cơ sở Thanh Hóa), trường Đại học Hồng Đức. Tuy nhiên, do còn nhiều bất cấp về hệ thống cơ sở vật chất; đội ngũ giáo viên, giảng viên; nội dung chương trình, phương pháp đào tạo.. cho nên chất lượng đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu của CNH-HĐH, sinh viên tốt nghiệp ra trường ít có cơ hội đi tìm kiếm việc làm, nhất là ở các thành phố lớn vì có trình độ chuyên môn và ngoại ngữ hạn chế. 2.3. Những bất cập của hệ thống chính sách hiện hành về đào tạo, phát triển nhân lực KH&CN 2.3.1. Một số văn bản quy định về đào tạo nhân lực KH&CN chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn về nhân lực KH&CN để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Việc xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức, viên chức ở nhiều đơn vị còn mang tính hình thức, chưa sát với tình hình thực tế, chưa gắn kết công tác đào tạo, bồi dưỡng với công tác tuyển dụng, bố trí, sắp xếp sau khi đào tạo, dẫn đến tình trạng một số người được đào tạo nhưng không được bố trí sử dụng theo chuyên môn đã được học. Sự phối kết hợp giữa cơ quan quản lý Nhà nước được giao chỉ tiêu đào tạo với các cơ sở đào tạo trong tỉnh chưa chặt chẽ, thiếu cơ sở khoa học trong việc xác định chỉ tiêu của từng ngành nghề đào tạo hàng năm, nhất là chưa quan tâm và làm tốt công tác dự báo nhu cầu đào tạo và xác định năng lực đào tạo của các cơ sở đào tạo trong tỉnh.. dẫn đến việc giao chỉ tiêu không sát với nhu cầu thực tiễn, tiến độ triển khai chậm và số lượng tuyển sinh một số ngành đạt thấp so với chỉ tiêu. Một số chính sách đào tạo, phát triển nhân lực KH&CN của tỉnh hiện hành không còn đáp ứng yêu cầu thực tiễn về nhân lực KH&CN như: 11 2.3.2.1. Chính sách đối với người học - Quyết định số 746/2006/QĐ-UBND ngày 20/3/2006 của UBND tỉnh Thanh Hoá về quy định về chế độ trợ cấp đối với cán bộ, công chức, viên chức được cử đi đào tạo tiến sĩ, thạc sĩ, bác sĩ chuyên khoa cấp I, cấp II, dược sỹ chuyên khoa cấp I, cấp II được hưởng chế độ trợ cấp, đối với Tiến sĩ, bác sĩ, dược sĩ chuyên khoa cấp II: 700.000đồng/tháng và thạc sĩ, bác sĩ, dược sĩ chuyên khoa cấp I: 560.000đồng/tháng. Ngoài ra, chính sách này còn hỗ trợ kinh phí bảo vệ thành công luận án tiến sĩ, bác sĩ, dược sĩ chuyên khoa cấp II: 10 triệu đồng và luận văn thạc sĩ, bác sĩ, dược sĩ chuyên khoa cấp I: 5 triệu đồng; hỗ trợ khi Nhà nước phong hàm giáo sư: 15 triệu đồng, phó giáo sư: 10 triệu đồng. Mức hỗ trợ này được xây dựng theo đơn giá tiền lương tối thiểu từ năm 2006, hiện nay đơn giá tiền lương tối thiểu đã tăng gấp 2,5 lần. Vì vậy, mức hỗ trợ trên không còn đủ sức khuyến khích CBCC, VC tham gia đào tạo, tỉnh Thanh Hoá cần nghiên cứu điều chỉnh mức hỗ trợ để đủ sức khuyến khích CBCC, VC tích cực tham gia đào tạo nâng cao trình độ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới. - Quyết định số 1677/2006/QĐ-UBND ngày 15/6/2006 về phê duyệt đề án „„Liên kết đào tạo nguồn nhân lực có trình độ đại học và sau đại học với các trường đại học nước ngoài‟‟. Đề án này đặt ra mục tiêu đến năm 2020 đào tạo 50 tiến sĩ, 100 thạc sĩ và 350 đại học ở nước ngoài cho CBCC,VC, sinh viên tốt nghiệp đại học loại khá/giỏi, sinh viên có điểm thi vào Trường đại học Hồng Đức đạt từ 21 điểm trở lên bằng kinh phí từ nguồn ngân sách tỉnh. Sau 5 năm, nay đã có 99 người được đào tạo ở 51 trường đại học uy tín trên thế giới: Anh, Mỹ, Nhật Bản, Pháp, New Zealand, Bỉ, Thuỵ Điển, Thái Lan.. (trong đó đào tạo tiến sĩ 15 người, thạc sĩ 63 người, đại học 21 người), có 53 người đã trở về công tác tại các sở, ngành, làm giảng viên các trường đại học, cao đẳng của tỉnh và đều có trình độ chuyên môn cao, thông thạo ngoại ngữ, tin học, đã góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, giảng viên của tỉnh. Bên cạnh đó, vẫn còn những tồn tại, nguyên nhân trong quá tình thực hiện Đề án như là: + Nguồn tuyển sinh hạn chế, trong 5 năm chỉ có 28 người tham gia đào tạo tiếng Anh để đào tạo Tiến sĩ (15 người đạt yêu cầu), 151 người tham gia đào tạo tiếng Anh để đào tạo Thạc sĩ (63 người đạt yêu) và 23 người đủ 21 điểm thi đại học vào trường Hồng Đức tham gia đào tạo tiếng Anh để đào tạo Đại học, những người này chủ yếu là CBCC các sở, ban ngành, giảng viên Trường đại học Hồng Đức và thí sinh tự do, không có đối tượng do các cơ sở sản xuất kinh doanh cử tham gia, (72/99 người là giảng viên Trường đại học Hồng Đức). + Về mức kinh phí quá thấp, khi xây dựng đề án áp dụng mức chi cho đi học ở Thái Lan, trong khi thực tế sinh viên đi học ở các trường uy tín thuộc các nước phát triển có mức thu học phí cao và chi phí sinh hoạt đắt đỏ. Riêng đào tạo đại học theo quy định của Đề án chỉ hỗ trợ được 45% tổng chi phí đào tạo. 2.3.2.2. Chính sách đối với giảng viên, giáo viên Ngoài những cơ chế, chính sách của TW, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 2210/QĐ-UB ngày 13/10/1999 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hoá về chính sách ưu đãi đối với giảng viên dạy hệ đại học ở trường đại học Hồng Đức. Chính sách này hỗ trợ đối với Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sỹ, Phó tiến sỹ về nhà ở, hợp lý hoá gia đình, trợ cấp thêm ngoài lương và hỗ trợ đi đào tạo, bồi dưỡng. Tuy nhiên, mức hỗ trợ áp dụng đã hơn 10 năm, đến nay quá thấp và không còn phù hợp, vì vậy cần được xem xét điều chỉnh hợp lý để có thể tiếp tục thu hút nhân tài về tỉnh giảng dạy. 2.3.2.3. Chính sách đối với các cơ sở đào tạo UBND tỉnh Thanh Hoá đã tập trung chỉ đạo đẩy mạnh công tác cải cách thủ tục hành chính; đặc biệt là các thủ tục hành chính và chính sách liên quan đến khuyến khích cơ sở đào tạo, doanh nghiệp đầu tư cơ sở hạ tầng và phát triển sản xuất. Chính sách hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng: UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2343/2006/QĐ-UBND ngày 28/8/2006 của UBND tỉnh về ban hành chính sách khuyến khích phát triển các cơ sở ngoài công lập hoạt động trong lĩnh vực GD&ĐT, y tế, văn hoá, thể dục 12 thể thao. Trong đó nhà nước đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng thiết yếu gồm: hệ thống điện, đường giao thông, nước sinh hoạt đến hàng rào các cơ sở ngoài công lập; ngân sách nhà nước hỗ trợ một phần lãi xuất vốn vay đầu tư cơ sở hạ tầng; hỗ trợ kinh phí thường xuyên (bao gồm quỹ tiền lương, BHXH, BHYT) trong 4 năm kể từ khi các cơ sở đào tạo công lập, bán công chuyển thành cơ sở đào tạo ngoài công lập. Dù vậy, từ năm 2006 đến nay trong tỉnh chưa có một cơ sở đào tạo công lập, bán công chuyển thành cơ sở đào tạo ngoài công lập. Điều này cho thấy rằng, cơ sở đào tạo còn mang nặng tính bao cấp, năng lực hoạt động đào tạo còn thấp, nên chưa mạnh dạn tự chủ, tự chịu trách nhiệm và tự đảm bảo toàn phần kinh phí hoạt động của các cơ sở đó. Chính sách về đất đai: Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 đã được tỉnh phê duyệt, trong đó đã quy hoạch diện tích cho các trường đại học, cao đẳng của tỉnh đủ điều kiện mở rộng quy mô xây dựng cơ sở vật chất hiện đại. Riêng trường đại học Hồng Đức cơ sở 2 đã bố trí diện tích 320ha giáp trung tâm Thành phố Thanh Hoá. Tuy nhiên, chính sách hỗ trợ tiền thuê đất (miễn, giảm tiền thuê) cho các cơ sở đào tạo ngoài công lập chưa được ban hành; cơ sở hạ tầng các khu quy hoạch nghèo nàn, không đồng bộ là nguyên nhân chưa hấp dẫn thu hút các nhà đầu tư. 2.3.2. Quy hoạch mạng lưới cơ sở đào tạo nhân lực KH&CN chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ mới. Đến năm 2010, cơ sở đào tạo trên địa bàn tỉnh có 02 trường đại học; 05 trường cao đẳng; 92 cơ sở dạy nghề. Hệ thống cơ sở đào tạo hiện nay chưa đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động về cấp trình độ đào tạo và quy mô đào tạo: Mạng lưới cơ sở đào tạo tuy tăng về số lượng nhưng phân bố chưa hợp lý, chưa gắn kết với các cơ sở sản xuất, chủ yếu tập trung ở Thành phố Thanh Hoá (36 cơ sở), thị xã Bỉm Sơn (5 cơ sở), thị xã Sầm Sơn (5 cơ sở), các huyện còn lại có 1 đến 2 cơ sở; các cơ sở đào tạo nghề chủ yếu là có quy mô nhỏ và ngành nghề đào tạo thuộc lĩnh vực nông-lâm-thuỷ sản. Đến nay, nền kinh tế của Thanh Hoá đã và đang có nhiều chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng ngành công nghiệp và dịch vụ tăng trưởng cao, cùng với sự hình thành KKT Nghi Sơn và các KCN nảy sinh tăng nhu cầu cả về ngành nghề, số lượng và chất lượng nhân lực KH&CN. Vì vậy cần phải tổ chức rà soát điều chỉnh lại Quy hoạch phát triển mạng lưới các trường đại học, cao đẳng, cơ sở đào tạo nghề nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo nhân lực KH&CN và theo hướng chuẩn hoá đội ngũ giảng viên, nâng cao trình độ chuyên môn của nhân lực R&D, hiện đại hoá về cơ sở vật chất trường đại học, cao đẳng, cơ sở đào tạo nghề để gắn kết chặt chẽ đào tạo với sử dụng và giải quyết việc làm. 2.3.3. Chưa gắn kết giữa đơn vị nghiên cứu, doanh nghiệp SX, tuyển dụng, sử dụng với cơ sở đào tạo nhân lực KH&CN Trong những năm qua, nhân lực KH&CN tăng nhanh về số lượng, còn về chất lượng chưa đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH của tỉnh, nhưng chưa có cơ chế sao cho các doanh nghiệp phải tìm đến và dựa vào các trường đại học, trung tâm R&D để có thể phát triển các công nghệ mới, nâng cao sức cạnh tranh. Ðồng thời, cũng chưa có cơ chế để buộc các trường đại học, trung tâm R&D trực tiếp tham gia sản xuất, thúc đẩy phát triển KT-XH. Chưa có các nhà khoa học đầu đàn, không đủ trình độ để chủ động trong việc nghiên cứu, thiết kế, thi công các công trình lớn tạo ra các sản phẩm mang thương hiệu Việt Nam. Trong cơ quan nhà nước, số lượng cán bộ có trình độ cao gắn bó với hoạt động KH&CN ngày càng suy giảm. Do chế độ chính sách đãi ngộ còn nhiều bất cập là nguyên nhân làm cho sự phát triển nguồn nhân lực KH&CN bị hạn chế. Tỉnh Thanh Hoá chưa có chính sách thật sự ưu đãi và trọng dụng những người làm khoa học, đặc biệt là những người có tài năng và những người được coi là nhà khoa học đầu đàn trong hoạt động R&D; chưa có chính sách ưu đãi tương xứng trọng dụng cán bộ KH&CN trẻ nên vẫn còn hiện tượng “chảy máu chất xám” từ các cơ quan nhà nước sang các khu vực doanh nghiệp, chủ yếu là sang các doanh nghiệp lớn ở các thành phố khác và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. 13 2.4. Đánh giá tổng quan hiệu quả của các chính sách đào tạo, phát triển nhân lực KH&CN giai đoạn 2006-2010 2.4.1. Những thành tựu Cùng với quá trình phát triển của ngành KH&CN cả nước, ngành KH&CN tỉnh Thanh Hoá đã có bước phát triển nhanh, khẳng định vai trò, vị trí với những đóng góp quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội. Những chính sách của tỉnh đã khuyến khích công tác đào tạo bồi dưỡng nhân lực KH&CN có bước chuyển biến mới về cả năng lực và chất lượng đào tạo. Đến năm 2010, Thanh Hoá đã đào tạo và thu hút được 71.260 nhân lực KH&CN, với 1.335 người có trình độ trên đại học, chiếm 1,87% (Tiến sỹ 82 người, chiếm 0,11%; thạc sỹ và tương đương 1.253 người, chiếm 1,76%); đại học 40.744 người, chiếm 57,17%; cao đẳng 29.181 người, chiếm 40,95%. Đội ngũ cán bộ KH&CN trong các tổ chức R&D và các trường đại học, cao đẳng đã từng bước đổi mới công tác giảng dạy nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực, tổng số cán bộ, giảng viên có khoảng 1.454 người (chiếm 2,04 %); số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ KH&CN trong các tổ chức và đơn vị hoạt động dịch vụ KH&CN có khoảng 2.174 người (chiếm 3,05%). Đây là nguồn nhân lực quan trọng cho hoạt động KH&CN của tỉnh trong phát triển KT-XH. Những đóng góp của đội ngũ cán bộ KH&CN đã góp phần ổn định và phát triển nền kinh tế của tỉnh, từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng, dịch vụ và giảm tỷ trọng nông - lâm- ngư nghiệp trong tổng GDP: Tỷ trọng nông - lâm- ngư nghiệp trong tổng GDP năm 2006 là 34%, đến năm 2010 giảm còn 29,9 %; tỷ trọng công nghiệp - xây dựng năm 2006 là 33,2 % đến năm 2010 tăng lên 36,1%; tỷ trọng dịch vụ năm 2006 là 32,8 % đến năm 2010 tăng lên 34,0% (trung bình giai đoạn 2006 2010, tỷ trọng nông - lâm- ngư nghiệp là 30,9%; công nghiệp - xây dựng là 35,2 %; dịch vụ là 33,9 %). Có thể khẳng định, tuy đội ngũ nhân lực KH&CN của tỉnh còn nhiều hạn chế và bất cập nhưng đã có những đóng góp đáng kể cho hoạt động KH&CN, ứng dụng kỹ thuật tiến bộ và chuyển giao công nghệ vào phát triển KT-XH của tỉnh. Đây là lực lượng nòng cốt trong các phong trào phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, trực tiếp triển khai và hướng dẫn kỹ thuật cho đội ngũ công nhân kỹ thuật và đông đảo nông dân ứng dụng thành công các kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất trên tất cả các lĩnh vực KT-XH, góp phần giữ gìn bản sắc và phát huy truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc. 2.4.2. Những hạn chế, yếu kém - Đội ngũ nhân lực KH&CN chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của các ngành kinh tế-xã hội, nhất là ngành công nghệ cao, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài; chưa có chuyên gia giỏi, các "tổng công trình sư", đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ cao, thiếu cán bộ KH&CN trẻ kế cận có trình độ cao. Cơ cấu nhân lực KH&CN theo ngành nghề và vùng miền còn nhiều bất hợp lý. - Trang thiết bị, cơ sở hạ tầng kỹ thuật của nhiều trung tâm nghiên cứu, các phòng thí nghiệm, các trung tâm thông tin KH&CN, thư viện chưa được tăng cường và nâng cấp, không đồng bộ, lạc hậu. - Hệ thống giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực KH&CN chất lượng cao, đặc biệt đối với những lĩnh vực KH&CN tiên tiến; chưa đáp ứng yêu cầu phát triển KH&CN cũng như sự nghiệp CNH- HĐH đất nước. - Hệ thống dịch vụ KH&CN, bao gồm thông tin KH&CN, tư vấn chuyển giao công nghệ, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng còn yếu kém cả về cơ sở vật chất và năng lực cung cấp dịch vụ chưa đáp ứng các yêu cầu của hội nhập khu vực và quốc tế. - Chương trình đào tạo chưa thực sự đổi mới và chuẩn hoá, thiếu sự liên kết hữu cơ giữa nghiên cứu KH&CN, GD&ĐT và SX-KD; thiếu sự hợp tác chặt chẽ giữa các tổ chức R&D, các trường đại học và doanh nghiệp. - So với các tỉnh và các nước trong khu vực, Thanh Hoá còn có khoảng cách rất lớn về tiềm lực và kết quả hoạt động KH&CN: tỷ lệ cán bộ nghiên cứu KH&CN trong dân số và 14 mức đầu tư cho nghiên cứu khoa học theo đầu người thấp; các kết quả nghiên cứu - phát triển theo chuẩn mực quốc tế chưa có. Nhìn chung, đội ngũ nhân lực KH&CN của tỉnh Thanh Hoá còn tồn tại những bất cập: trình độ chuyên môn nghiệp vụ nhân lực KH&CN chưa ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ mới; tình trạng vừa thừa, vừa thiếu vẫn còn tồn tại ở các cơ quan, đơn vị; số CBCC,VC có trình độ sau đại học còn ít; chưa hợp lý về cơ cấu ngành nghề .v.v... Bên cạnh đó, công tác giáo dục, đào tạo chưa gắn với kế hoạch sử dụng, quá trình đào tạo lại, đào tạo theo chức vụ, đào tạo tại chỗ chưa được quan tâm đúng mức; chưa tập trung đào tạo một số ngành mũi nhọn; công tác triển khai, đào tạo cán bộ, công chức, viên chức ở nước ngoài tiến hành còn chậm, chậm đổi mới, chưa gắn kết chặt chẽ và đáp ứng được yêu cầu của phát triển kinh tế - xã hội. 2.4.3. Những nguyên nhân của hạn chế, yếu kém - Công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức về vai trò của KH&CN chưa được các cấp, các ngành, các tổ chức và cá nhân quan tâm đúng mức. - Nhiều chủ trương, chính sách của Trung ương và địa phương về phát triển KH&CN chưa được quán triệt đầy đủ, chậm được thể chế hoá bằng các văn bản quy phạm pháp luật; việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện chính sách thiếu kiên quyết nên kết quả còn hạn chế. - Chưa có Quy hoạch phát triển nhân lực KH&CN giai đoạn 2001-2010, đặc biệt là đội ngũ cán bộ KH&CN trình độ cao ở các lĩnh vực KH&CN ưu tiên. - Chưa có chính sách khuyến khích đổi mới chương trình đào tạo, bồi dưỡng gắn với chuẩn đầu ra của mỗi chương trình mà người học cần phải đạt được. - Trách nhiệm của Nhà nước đối với những hoạt động KH&CN mà Nhà nước cần đầu tư phát triển còn thấp như: các lĩnh vực nghiên cứu chiến lược, chính sách phát triển; nghiên cứu cơ bản v.v..; cũng như chưa có chính sách phù hợp đối với các hoạt động nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ, dịch vụ KH&CN. - Quản lý nhà nước đối với khu vực hành chính và khu vực sự nghiệp trong hệ thống KH&CN chưa được tách biệt rõ ràng, làm cho công tác quản lý các tổ chức KH&CN còn mang nặng tính hành chính. Chậm tổng kết thực tiễn để nhân rộng các điển hình tiên tiến về gắn kết giữa nghiên cứu KH&CN với GD&ĐT và SX-KD. - Đầu tư xây dựng tiềm lực KH&CN còn hạn chế, chưa được chú trọng đúng mức, thiếu tập trung vào lĩnh vực trọng điểm, ưu tiên, dẫn đến cơ sở hạ tầng KH&CN của các tổ chức KH&CN và các cơ sở GD&ĐT lạc hậu, chưa được đầu tư đáp ứng yêu cầu. - Chính sách quản lý kinh tế chưa tạo môi trường thuận lợi cho phát triển KH&CN: chưa quan tâm đến ứng dụng các kết quả nghiên cứu KH&CN và đổi mới công nghệ. Thiếu chính sách hữu hiệu để gắn kết giữa KH&CN với SX-KD và khuyến khích doanh nghiệp ứng dụng kết quả nghiên cứu KH&CN. - Các ngành các cấp chưa thực sự xem việc xây dựng kế hoạch hoạt động KH&CN là một bộ phận của kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội của ngành mình, nên phát triển công nghệ hạn chế về số lượng và trình độ chuyên sâu, thiếu cán bộ khoa học đầu ngành. - Chính sách chưa đủ hữu hiệu tạo động lực đối với cán bộ KH&CN và chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài, chế độ tiền lương còn nhiều bất hợp lý, không khuyến khích cán bộ KH&CN toàn tâm với sự nghiệp KH&CN. - Chính sách không đủ mạnh để huy động tối đa nguồn tài lực của các doanh nghiệp, các tổ chức cá nhân, Quỹ phát triển KH&CN của doanh nghiệp chậm được thành lập; hợp tác quốc tế tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đào tạo nhân lực KH&CN chưa được đẩy mạnh. 15
- Xem thêm -