Tài liệu Nâng cao năng lực đảm bảo thông tin phục vụ xây dựng chính sách khoa học và công nghệ (nghiên cứu trường hợp cục thông tin kh&cn quốc gia)

  • Số trang: 102 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 741 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU .................................................................................................... 8 1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 8 2. Lịch sử nghiên cứu ...................................................................................... 10 3. Mục tiêu nghiên cứu ................................................................................... 10 4. Phạm vi nghiên cứu .................................................................................... 10 5. Mẫu khảo sát ............................................................................................... 11 6. Vấn đề nghiên cứu ...................................................................................... 11 7. Giả thuyết nghiên cứu ................................................................................ 11 8. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................... 12 9. Dự kiến luận cứ ........................................................................................... 12 10. Kết cấu luận văn ....................................................................................... 13 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN ......................................................................... 14 1.1. Một số khái niệm liên quan ..................................................................... 14 1.1.1 Khái niệm về chính sách và chính sách khoa học và công nghệ ..... 14 1.1.1.1. Khái niệm chính sách .................................................................... 14 1.1.1.2. Khái niệm chính sách khoa học và công nghệ.............................. 17 1.1.2 Khái niệm về thông tin và thông tin khoa học và công nghệ ............ 17 1.1.2.1. Khái niệm thông tin....................................................................... 17 1.1.2.2. Khái niệm thông tin khoa học và công nghệ ................................ 19 1.1.2.3. Khái niệm đảm bảo thông tin........................................................ 19 1.1.2.4. Khái niệm năng lực đảm bảo thông tin ........................................ 21 1.1.2.5. Các nguồn thông tin ...................................................................... 22 1.1.2.6. Các loại hình thông tin ................................................................. 23 1.1.2.7. Sản phẩm thông tin ....................................................................... 24 1.1.2.8. Dịch vụ thông tin........................................................................... 26 1.2. Vai trò của thông tin đối với xây dựng chính sách KH&CN .............. 27 1.3. Tiêu chuẩn về năng lực cán bộ thông tin ở Việt Nam trong thời kỳ mới ............................................................................................................. 29 5 1.3.1. Kiến thức và kỹ năng về chuyên môn nghiệp vụ .............................. 31 1.3.2. Kiến thức và kỹ năng về công nghệ thông tin và truyền thông ....... 34 1.3.3. Năng lực quản lý điều hành .............................................................. 34 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC ĐẢM BẢO THÔNG TIN ............. 36 PHỤC VỤ XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ....... 36 2.1. Quy trình xây dựng chính sách ở Việt Nam.......................................... 36 2.1.1. Xác định vấn đề chính sách ............................................................... 36 2.1.2. Thành lập tiểu ban nghiên cứu soạn thảo chính sách ..................... 36 2.1.3. Lấy ý kiến của các cơ quan tham mưu, bộ, ngành liên quan .......... 37 2.1.4. Xin ý kiến chỉ đạo của các cấp có thẩm quyền ................................. 37 2.1.5. Trình nộp văn bản chính thức và tờ trình tổng hợp ........................ 38 2.1.6. Ban hành ............................................................................................ 38 2.2. Các quá trình cơ bản của hoạt động thông tin KH&CN ..................... 39 2.2.1. Thu thập thông tin.............................................................................. 39 2.2.2. Xử lý thông tin ................................................................................... 41 2.2.3. Lưu trữ và bảo quản thông tin .......................................................... 42 2.2.4. Tìm tin ................................................................................................. 42 2.2.5. Phục vụ thông tin ............................................................................... 43 2.3. Cơ sở đảm bảo thông tin phục vụ xây dựng chính sách KH&CN của Cục Thông tin KH&CN Quốc gia ................................................... 44 2.3.1. Nguồn thông tin tư liệu ...................................................................... 44 2.3.2. Nguồn nhân lực.................................................................................. 47 2.3.3. Các phương tiện kỹ thuật ................................................................... 48 2.4. Thực trạng năng lực đảm bảo thông tin phục vụ xây dựng chính sách KH&CN của Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia . 49 2.4.1. Đối tượng phục vụ thông tin .............................................................. 49 2.4.2. Sản phẩm và dịch vụ .......................................................................... 51 2.4.2.1. Sản phẩm....................................................................................... 52 2.4.2.2. Dịch vụ .......................................................................................... 55 2.4.3. Đánh giá chung về năng lực đảm bảo thông tin phục vụ xây 6 dựng chính sách KH&CN của Cục Thông tin KH&CN Quốc gia .... 57 2.4.3.1. Những kết quả nổi bật ................................................................... 57 2.4.3.2. Một số tồn tại ................................................................................ 57 CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐẢM BẢO THÔNG TIN PHỤC VỤ XÂY DỰNG CHÍNH SÁCH KH&CN ..................................... 60 3.1. Kiện toàn cơ cấu tổ chức ......................................................................... 60 3.2. Đẩy mạnh xây dựng và phát triển ngân hàng dữ liệu về khoa học và công nghệ .............................................................................................. 60 3.3. Phát triển nguồn nhân lực thông tin khoa học và công nghệ .............. 65 3.3.1. Tăng cường hợp tác đào tạo với các trường đào tạo về thông tin ... 65 3.3.2. Đẩy mạnh E-learning trong công tác bồi dưỡng nghiệp vụ ............ 67 3.3.3. Xây dựng cơ chế đánh giá cán bộ thông tin thông qua kết quả học tập từ các lớp bồi dưỡng ............................................................... 69 3.3.4. Khuyến khích cán bộ tham gia đào tạo bồi dưỡng về ngoại ngữ, tin học và kiến thức khoa học và công nghệ ...................................... 70 3.4. Nâng cao chất lượng, hiệu quả thông tin ............................................... 72 3.4.1. Nghiên cứu người dùng tin là các nhà xây dựng chính sách khoa học và công nghệ .................................................................................. 72 3.4.2. Nghiên cứu nhu cầu thông tin của các nhà xây dựng chính sách khoa học và công nghệ ........................................................................ 74 3.4.3. Xác định nhu cầu thông tin của các nhà xây dựng chính sách khoa học và công nghệ ........................................................................ 76 PHẦN KẾT LUẬN .............................................................................................. 82 TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 85 PHỤ LỤC 1: KINH NGHIỆM CỦA TRUNG QUỐC TRONG XÂY DỰNG KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KH&CN TRUNG VÀ DÀI HẠN (2006-2020) ..... 88 7 KÝ HIỆU VÀ VIẾT TẮT Tên đầy đủ Viết tắt CNH – HĐH Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa CNTT Công nghệ thông tin CSDL Cơ sở dữ liệu KH&CN Khoa học và công nghệ KHKT Khoa học kỹ thuật NHDL Ngân hàng dữ liệu QG Quốc gia TT-TV Thông tin – Thư viện VESTENET Vietnam Economic Scientific Technological & Enviroment Information Network – Mạng Thông tin Kinh tế Khoa học Công nghệ và Môi trường Việt Nam VISTA Vietnam Information for Science and Technology Advance – Thông tin Khoa học và công nghệ tiên tiến Việt Nam 4 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Ngày nay, khoa học và công nghệ (KH&CN) ngày càng khẳng định vai trò tiên phong trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Trong các văn kiện của Đảng và các văn bản pháp luật của Nhà nước Việt Nam, cùng với giáo dục và đào tạo, phát triển KH&CN luôn được coi là quốc sách hàng đầu. Quan điểm này đã được thể hiện rõ trong các văn kiện của Đảng, như: Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) về KH&CN và gần đây nhất, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã xác định: “Phát triển mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động KH&CN với giáo dục và đào tạo để thực sự phát huy vai trò quốc sách hàng đầu, tạo động lực đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế tri thức”; “Cùng với việc đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động KH&CN, Nhà nước tập trung đầu tư vào các chương trình nghiên cứu quốc gia, phấn đấu đạt trình độ khu vực và thế giới; xây dựng tiềm lực KH&CN cho một số lĩnh vực trọng điểm, công nghệ cao”[25]. Đường lối, chính sách của Đảng về KH&CN đã được Chính phủ hiện thực hóa bằng các văn bản như: Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện kết luận của Hội nghị Trung ương 6 (Khóa IX) về KH&CN; Chiến lược phát triển KH&CN Việt Nam đến năm 2020…Bên cạnh việc tạo ra hành lang pháp lý, Đảng và Nhà nước cũng chú trọng đầu tư cho KH&CN. Đây thực sự là động lực thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của KH&CN Việt Nam. Trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, đặc biệt là sau khi Việt Nam chính thức là thành viên của WTO, để góp phần nâng cao sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và các cấp, các ngành đối với sự phát triển của KH&CN, cần phải có những thông tin phân tích-tổng hợp chính xác, tin cậy, đầy đủ và kịp thời về tình hình phát triển trong các lĩnh vực KH&CN trên 8 thế giới, trong khu vực và trong nước hiện nay. Đây là những thông tin ở tầm quốc sách, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong việc xây dựng hệ quan điểm phát triển của một nước, dự báo và xác định các phương hướng phát triển cơ bản của đất nước, cũng như chiến lược KH&CN quốc gia, xây dựng và quy hoạch các chương trình KH&CN trọng điểm dài hạn, trung hạn và ngắn hạn phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội (KTXH) của đất nước, thúc đẩy tiến trình hội nhập của KH&CN Việt Nam vào khu vực và quốc tế. Trên thực tế, các dòng thông tin KH&CN chiếm một phần khá lớn trong tổng số các loại thông tin được cung cấp bởi các cơ quan thông tin, các cơ quan báo chí, các nhà xuất bản, cơ quan phát thanh truyền hình và các cơ quan nghiên cứu (chủ yếu là các viện nghiên cứu, chiến lược, quy hoạch của bộ, ngành). Các tài liệu nghiên cứu có tính phân tích-tổng hợp về chiến lược, chính sách, dự báo các xu thế, phương hướng phát triển KH&CN quốc gia và quốc tế mang tính ngành-liên ngành, các báo cáo thường niên, các công trình nghiên cứu chuyên đề về những mô hình, các quan điểm về đổi mới và phát triển của các tổ chức kinh tế quốc tế và các tập đoàn nghiên cứu và tư vấn lớn đã và đang góp phần tạo ra và định dạng có tính đặc trưng các nguồn thông tin phục vụ xây dựng chính sách KH&CN. Mặt khác, những thông tin được khai thác trên mạng Internet cũng đang ngày càng trở nên hết sức quan trọng, có vai trò không nhỏ trong việc nghiên cứu, tìm hiểu bài học kinh nghiệm, tình hình phát triển KH&CN của các nước trên thế giới trong quá khứ và hiện nay, thông qua vô vàn cơ sở dữ liệu (CSDL) và ngân hàng dữ liệu (NHDL) điện tử hiện có trên mạng toàn cầu. Bên cạnh đó, các thông tin tổng hợp về hiện trạng hoạt động KH&CN của các ngành, địa phương, cũng như về việc thực hiện các đường lối, chính sách cải cách mới của Đảng, Nhà nước trong lĩnh vực KH&CN, với tính cách là dòng thông tin phản hồi cũng hết sức đa dạng, đang ngày càng tỏ ra hữu ích 9 đối với các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước cũng như các nhà hoạch định chính sách trong việc tham khảo, sử dụng nhằm điều chỉnh và đề ra các chính sách KH&CN, đề từ đó góp phần đẩy mạnh sự phát triển trong các lĩnh vực KH&CN, kinh tế-xã hội (KTXH). Tất cả những nội dung trên đã góp phần tạo ra những tiền đề thực tiễn, những lý luận về mặt xã hội và cơ sở khoa học để xây dựng và phát triển đề tài: “Nâng cao năng lực đảm bảo thông tin phục vụ xây dựng chính sách khoa học và công nghệ”. 2. Lịch sử nghiên cứu Trong thời gian qua, đã có rất nhiều đề tài, dự án nghiên cứu về đảm bảo thông tin như: “Nghiên cứu xây dựng các hệ thống đảm bảo thông tin khoa học cho nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ trong thời kỳ chuyển từ nền kinh tế chỉ huy tập trung sang kinh tế thị trường” (Tác giả: Phạm Văn Vu), “Đổi mới quản lý và khai thác các nguồn thông tin cho phát triển phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ” (Tác giả: Hồ Thị Mỹ Duệ), “Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn xây dựng hệ thống đảm bảo thông tin KH&CN cho các cơ quan lãnh đạo của Đảng và Nhà nước” (Tác giả: Phùng Minh Lai), tuy nhiên chưa có đề tài nào đi sâu vào nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực đảm bảo thông tin phục vụ xây dựng chính sách KH&CN. 3. Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá thực trạng năng lực đảm bảo thông tin phục vụ xây dựng chính sách KH&CN của Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia. - Đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực đảm bảo thông tin phục vụ xây dựng chính sách KH&CN của Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia. 4. Phạm vi nghiên cứu 10 Nội dung: Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực của Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia (Sau đây gọi tắt là Cục) trong việc đảm bảo thông tin phục vụ xây dựng chính sách KH&CN. Thời gian: từ năm 2005 đến nay. Không gian: Hoạt động tổ chức và nâng cao năng lực đảm bảo thông tin của Cục. 5. Mẫu khảo sát Khảo sát năng lực đảm bảo thông tin phục vụ xây dựng chính sách KH&CN của Cục. 6. Vấn đề nghiên cứu - Câu hỏi 1: Thông tin có vai trò như thế nào trong xây dựng chính sách KH&CN? - Câu hỏi 2: Hiện trạng năng lực đảm bảo thông tin phục vụ xây dựng chính sách KH&CN của Cục hiện nay ra sao? - Câu hỏi 3: Cần có giải pháp gì để nâng cao năng lực của Cục trong việc đảm bảo thông tin phục vụ xây dựng chính sách KH&CN? 7. Giả thuyết nghiên cứu - Trả lời cho câu hỏi 1: Thông tin có vai trò vô cùng quan trọng trong xây dựng chính sách KH&CN. Chất lượng cao và tính khả thi của các chính sách KH&CN do các cơ quan của Đảng và Nhà nước ban hành gắn liền với nội dung, độ tin cậy, chính xác và tính kịp thời của thông tin đã được xử lý, phân tích-tổng hợp và các dịch vụ thông tin được cung cấp và đảm bảo. Tùy thuộc vào mức độ cung cấp thông tin mà chính sách được thông qua trong những điều kiện được xác định hay còn bất định, thậm chí còn có rủi ro. Khi có đầy đủ thông tin cần thiết và kịp thời thì chính sách được thông qua trong điều kiện xác định. Khi chưa có thông tin, hoặc thông tin chưa đầy đủ, sai lệch, thì chính sách được thông qua trong điều kiện bất định. Khi thông tin lạc hậu thì 11 chính sách được thông qua mang trong nó nhiều yếu tố sai lạc, rủi ro. Chỉ trong điều kiện xác định mới có thể có những chính sách chính xác, đúng đắn và có hiệu quả. - Trả lời cho câu hỏi 2: Cục đã có những đóng góp đáng kể trong việc cung cấp thông tin cho xây dựng chính sách KH&CN mặc dù còn gặp nhiều khó khăn nhưng đều chủ động, nhất là việc triển khai ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình khai thác nguồn, vào quá trình xử lý thông tin và đã dành nhiều công sức, trí tuệ, sáng tạo ra nhiều loại sản phẩm phục vụ xây dựng chính sách KH&CN. Tuy nhiên vẫn chưa tập hợp được sức mạnh tổng hợp của các cơ quan thông tin có chức năng cung cấp thông tin cho xây dựng chính sách KH&CN, chất lượng xử lý để tạo ra các sản phẩm chưa ngang tầm với yêu cầu của các nhà xây dựng chính sách. Năng lực đảm bảo thông tin cho xây dựng chính sách KH&CN còn nhiều hạn chế như còn thụ động, bị động, sản phẩm và dịch vụ còn mang tính truyền thống, chưa thay đổi kịp với sự phát triển của công nghệ, kinh phí hàng năm chưa tương xứng. - Trả lời cho câu hỏi 3: Đề xuất giải pháp: + Kiện toàn cơ cấu tổ chức + Đẩy mạnh xây dựng và phát triển ngân hàng dữ liệu về KH&CN + Phát triển nguồn nhân lực thông tin KH&CN + Nâng cao chất lượng, hiệu quả của thông tin 8. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu Phương pháp chuyên gia Phương pháp khảo sát 9. Dự kiến luận cứ Luận cứ lý thuyết: - Các khái niệm và lý thuyết liên quan đến chính sách 12 - Các khái niệm và lý thuyết liên quan đến thông tin Luận cứ thực tế: - Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về KH&CN và thông tin KH&CN; - Các báo cáo về hiện trạng nguồn lực thông tin, nhân lực, năng lực đảm bảo thông tin phục vụ xây dựng chính sách KH&CN của Cục; 10. Kết cấu luận văn Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và khuyến nghị, luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận Chương 2: Thực trạng năng lực đảm bảo thông tin phục vụ xây dựng chính sách KH&CN Chương 3: Đề xuất giải pháp nâng cao năng lực của Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia trong việc đảm bảo thông tin phục vụ xây dựng chính sách KH&CN 13 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1. Một số khái niệm liên quan 1.1.1 Khái niệm về chính sách và chính sách khoa học và công nghệ 1.1.1.1. Khái niệm chính sách1 Có nhiều cách tiếp cận để xem xét khái niệm chính sách, trong đó đáng chú ý là James E. Anderson2 đã đưa ra định nghĩa: “Chính sách là quá trình hành động có mục tiêu, mà một hoặc một số chủ thể theo đuổi để giải quyết những vấn đề mà họ quan tâm”. “Chính sách là những sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra”3 hoặc “Chính sách là các chủ trương và các biện pháp của một đảng phái, một chính phủ trong các lĩnh vực chính trị - xã hội”4 Khái niệm chính sách được xem xét từ các cách tiếp cận: tiếp cận chính trị học, tiếp cận xã hội học, tiếp cận tâm lý học, tiếp cận kinh tế học, tiếp cận hệ thống, tiếp cận khoa học pháp lý, tiếp cận tổng hợp. Từ các cách tiếp cận trên đây, khi nói đến một chính sách, là nói đến những yếu tố sau đây: - Chính sách là tập hợp những biện pháp mà chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra, được thể chể hoá thành những quy định có giá trị pháp lý, nhằm thực hiện chiến lược phát triển của hệ thống theo mục đích mà chủ thể quyền lực mong đợi. - Chính sách bao giờ cũng tạo ra một sự phân biệt đối xử của chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đối với các nhóm xã hội khác nhau. Trong sự 1 Trong mục này, tác giả Luận văn sử dụng lý thuyết Khoa học chính sách của tác giả Vũ Cao Đàm, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2008 2 James E. Anderson: Public Policymaking, Thomson Learning (Dec. 1983) 3 Từ điển tiếng Việt, Nhà Xuất bản Đà Nẵng. 1988. Tr.157 4 Nguyễn Như Ý: Đại Từ điển tiếng Việt, Nhà Xuất bản Văn hoá – Thông tin.1999. tr.369. 14 phân biệt đối xử đó, chủ thể quyền lực có sự ưu đãi đối với một (hoặc một số) nhóm xã hội nào đó. - Các biện pháp ưu đãi phải có tác dụng kích thích động cơ hoạt động của nhóm được ưu đãi, là nhóm có vai trò then chốt trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển hệ thống theo chiến lược mà nhóm chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra. - Và như vậy, chính sách luôn tạo ra một bất bình đẳng xã hội, rất có thể, đồng thời khắc phục một bất bình đẳng xã hội đang tồn tại, rất có thể khoét sâu thêm những bất bình đẳng vốn có, nhưng cuối cùng phải nhằm mục đích tối thượng, là thoả mãn những nhu cầu cơ bản của mục tiêu phát triển xã hội. - Toàn bộ những biện pháp đó phải đạt đến một kết quả là tạo ra một đòn ứng phó với một tình huống của cuộc chơi, có khi là rất bất lợi cho chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý. Tổng hợp từ tất cả các cách tiếp cận trên, trong các bài giảng về khoa học quản lý và khoa học chính sách, tác giả Vũ Cao Đàm đã đưa ra định nghĩa: “Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo ra sự ưu đãi một nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của nhóm này, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội.” Khái niệm “Hệ thống xã hội” ở đây được hiểu theo một ý nghĩa khái quát. Đó có thể là một quốc gia, một khu vực hành chính, một doanh nghiệp, một nhà trường, v.v.. Như vậy, nói về một quyết định chính sách, người quản lý có thể hiểu như sau: - Chính sách là một tập hợp biện pháp. Đó có thể là một biện pháp kích thích kinh tế, biện pháp động viên tinh thần, một biện pháp mệnh lệnh hành 15 chính hoặc một biện pháp ưu đãi đối với các cá nhân hoặc các nhóm xã hội. - Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá dưới dạng các đạo luật, pháp lệnh, sắc lệnh; các văn bản dưới luật, như nghị định, thông tư, chỉ thị của chính phủ; hoặc các văn bản quy định nội bộ của các tổ chức (doanh nghiệp, trường học, v.v..) - Chính sách phải tác động vào động cơ hoạt động của các cá nhân và nhóm xã hội. Đây phải là nhóm đóng vai trò động lực trong việc thực hiện một mục tiêu nào đó. Ví dụ, nhóm quân đội trong chính sách bảo vệ Tổ quốc, nhóm giáo viên trong chính sách giáo dục, nhóm khoa học gia trong chính sách khoa học, nhóm các nhà kinh doanh trong chính sách kinh tế, v.v.. Mỗi nhóm được đặc trưng bởi những thang bậc giá trị khác nhau về nhu cầu. Đó là cơ sở tâm lý học giúp chúng ta vận dụng các bậc thang nhu cầu trong việc tạo động cơ cho đối tượng chính sách. - Chính sách phải hướng động cơ của các cá nhân và nhóm xã hội nói trên vào một mục tiêu nào đó của hệ thống xã hội. Chẳng hạn, mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp, mục tiêu đào tạo của nhà trường, mục tiêu phát triển của một địa phương, mục tiêu bảo vệ Tổ quốc của một quốc gia, v.v.. Trong quá trình chuẩn bị một quyết định chính sách, người quản lý cần xác định rõ các đặc điểm sau: - Cho ra đời một chính sách chính là chuẩn bị giải pháp ứng phó trong một cuộc chơi. Giải pháp đó phải lựa chọn sao cho chủ thể quản lý luôn thắng trong cuộc chơi, nhưng với chú ý rằng luôn thắng trong điều kiện mà đối tác cảm thấy được chia sẻ lợi ích thoả đáng, không dồn đối tác vào đường cùng để đón lấy những mối họa tiềm ẩn trong các vòng chơi tiếp theo. - Cuối cùng, một chính sách đưa ra chính là nhằm khắc phục một yếu tố bất đồng bộ nào đó trong hệ thống, nhưng đến lượt mình, chính sách lại làm xuất hiện những yếu tố bất đồng bộ mới. Và như vậy, quá trình làm chính 16 sách thực chất là tạo ra những bước phát triển hệ thống, từ những bất đồng bộ này tới những bất đồng bộ khác. Trong quá trình phát triển hệ thống, không bao giờ ảo tưởng sự đồng bộ ổn định tuyệt đối. Ổn định, có nghĩa là không còn sự phát triển. - Kết quả cuối cùng, cái mà chính sách phải đạt được là tạo ra những biến đổi xã hội phù hợp với ý đồ của chủ thể chính sách. 1.1.1.2. Khái niệm chính sách khoa học và công nghệ Theo UNESCO, chính sách KH&CN là “một tập hợp các biện pháp lập pháp và hành pháp được thực thi nhằm nâng cao, tổ chức và sử dụng tiềm lực KH&CN quốc gia với mục tiêu đạt được mục đích phát triển quốc gia và nâng cao vị trí quốc gia trên thế giới”. Chính sách KH&CN (theo thông lệ chung của thế giới) là những phương châm, điều lệ, quy định, đó là những nguyên tắc và quy tắc do một nhà nước, một ngành, một cơ sở (viện, trường, doanh nghiệp) trong một thời kỳ nhất định và với một mục tiêu chiến lược nhất định, đặt ra nhằm phát triển KH&CN. 1.1.2 Khái niệm về thông tin và thông tin khoa học và công nghệ 1.1.2.1. Khái niệm thông tin Thuật ngữ “Thông tin” (gốc Latinh là informatio có nghĩa là diễn giải, thông báo, lý giải) là thành ngữ thông dụng nhất, được sử dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong đời sống hàng ngày, thông tin được hiểu là “tin tức về các sự kiện diễn ra trong thế giới xung quanh” 5. Trong các lĩnh vực khoa học khác như triết học, toán học, vật lý học, điều khiển học, di truyền học, ngôn ngữ học, khoa học báo chí, văn hóa, nghệ thuật v.v.. khái niệm thông tin được sử dụng nhưng có nội dung rất khác nhau, không giống như cách hiểu trong cuộc sống hàng ngày, ví dụ: 5 Từ điển tiếng Việt thông dụng - Hà Nội, NXB Giáo dục, 1996 17 - Theo quan điểm triết học: Thông tin là một phạm trù triết học phản ánh sự vận động và tương tác của các hiện tượng, sự việc của thế giới tự nhiên, xã hội và tư duy. - Theo quan điểm của lý thuyết thông tin: Thông tin là sự loại trừ tính bất định của hiện tượng ngẫu nhiên. - Theo quan điểm điều khiển học: Thông tin là tính trật tự của các đối tượng vật chất có mối liên hệ biện chứng. - Theo quan điểm hệ thống: Thông tin là sự hạn chế tính đa dạng của mỗi hệ thống sự vật đối với môi trường. - Theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5453-1991: Thông tin là các dữ liệu, tin tức được xem xét trong quá trình tồn tại và vận động trong không gian và thời gian. [31] Từ những ví dụ trên có thể thấy khái niệm thông tin và bản chất của nó cho đến nay vẫn còn là vấn đề phức tạp, gây nhiều tranh cãi trong giới khoa học. Tuy nhiên, để có được sự nhìn nhận tương đối thống nhất, làm cơ sở cho các phần sau của luận văn, có thể xem xét phân tích một số khía cạnh sau đây liên quan đến thông tin. Thứ nhất, Thông tin phải là các tin tức, dữ liệu phản ánh trạng thái tồn tại và vận động của các hiện tượng, sự vật của thế giới tự nhiên, xã hội và tư duy; Thứ hai, thông tin phải là các tin tức, dữ liệu có thể thu thập được, nhận thức được, chế biến được và chuyển giao được; Thứ ba, thông tin phải là cái mà nhờ nó một yếu tố hay một hệ thống sẽ biến đổi. Và như vậy thông tin được hiểu là các tin tức, dữ liệu phản ánh các hiện tượng, sự vật của thế giới tự nhiên, xã hội và tư duy, được xem xét trong quá trình tồn tại, vận động của chúng trong không gian và thời gian. Trong đời sống hàng ngày, thông tin có thể được hiểu là các số liệu hoặc kiến thức. Song cũng có lúc người ta lại phân biệt thông tin với dữ liệu và dữ 18 liệu với kiến thức: thông tin là dữ liệu đã được chế biến (xử lý) tới mức độ nào đó, còn kiến thức thì cao hơn thông tin trên thang mức độ chế biến. Để làm rõ sự phân biệt này, Steven A.Rosell et al. đã đưa ra các định nghĩa sau đây: ‘…dữ liệu là quặng chưa tinh luyện, là những dữ kiện nào đó, nằm ngoài ngữ cảnh; …thông tin là quặng đã tinh luyện, là những dữ liệu đã được tổ chức, mà chúng ta còn chưa đồng hóa; …kiến thức là thông tin mà chúng ta đã đồng hóa, chúng ta đã liên kết vào trong những cái khung bên trong của bản thân chúng ta…vì vậy có tính chất cá nhân và đa nguyên, thông tin có thể được giữ chung còn kiến thức thì không.’ [31] 1.1.2.2. Khái niệm thông tin khoa học và công nghệ Thông tin KH&CN là thông tin về các tài liệu, sự vật, sự kiện, hiện tượng, quá trình được thu nhận từ kết quả hoạt động nghiên cứu của cộng đồng khoa học. Theo Nghị định 159/2004/NĐ-CP ngày 31 tháng 08 năm 2004, “Thông tin KH&CN là các dữ liệu, số liệu, dữ kiện, tin tức, tri thức KH&CN (bao gồm khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn) được tạo lập, quản lý và sử dụng nhằm mục đích cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước hoặc đáp ứng nhu cầu của tổ chức, cá nhân trong xã hội.” Thông tin KH&CN phát triển trên cơ sở của sự phát triển hoạt động nghiên cứu khoa học. Đến lược nó, thông tin KH&CN lại là một yếu tố tham gia không thể thiếu trong quá trình sản sinh ra các sản phẩm KH&CN mới ở trình độ cao hơn. 1.1.2.3. Khái niệm đảm bảo thông tin Đảm bảo thông tin là cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dùng tin 19 một cách đầy đủ, chính xác, có chất lượng, có giá trị, đúng lúc và kịp thời. * Chất lượng của thông tin: thông tin có chất lượng là - Thông tin xác thực và đúng đắn (phù hợp với thực tế). - Thông tin được cập nhật đầy đủ và kịp thời. - Thông tin dễ hiểu tức là người nhận có thể lĩnh hội được. - Thông tin có chất lượng thấp là những thông tin lạc hậu, sai lạc hoặc bị bóp méo, trái ngược với các thông tin khác, trình bày nghèo nàn, khó lĩnh hội. * Giá trị của thông tin: Thông tin có giá trị là thông tin có các tính chất sau: - Tính bao quát: Sản phẩm thông tin (SPTT) phản ánh đầy đủ nguồn tư liệu có trong thư viện. Đối với các SPTT dạng điện tử còn phải phản ánh được nguồn tin ở những nơi khác ngoài thư viện khi giữa các thư viện thực hiện chính sách chia sẻ nguồn lực thông tin. Nâng cao tính bao quát sẽ giúp giảm thời gian tìm kiếm thông tin. - Tính chính xác: thông tin trong sản phẩm phản ánh chính xác thông tin về tài liệu gốc. - Tính kinh tế: Đối với người dùng tin: giúp người dùng tin tiết kiệm thời gian, tiền bạc và công sức; Đối với các cơ quan thông tin: sản phẩm có thể sử dụng vào nhiều mục đích nhằm giảm thiểu chi phí, tiết kiệm thời gian và công sức cho cán bộ thư viện. - Tính linh hoạt: có khả năng chuyển đổi giữa các dạng sản phẩm dịch vụ; có khả năng cập nhật, phát triển và mở rộng sản phẩm thông tin; có khả năng liên kết và chia sẻ nguồn tin. Trên bình diện tổng quát: thông tin có giá trị là những thông tin có tính chất riêng biệt (làm thông tin phù hợp với yêu cầu của người sử dụng) và thông tin có tính chất dự báo (cho phép lựa chọn một quyết định trong nhiều khả năng cho phép). Trên ý nghĩa rộng hơn: giá trị thông tin nằm trong quyền 20 lực tổ chức của nó – thông tin phản ánh cái xác định, trật tự trong các mối quan hệ của tổ chức, thông tin có giá trị cao làm môi trường tốt lên và đưa ra được những quyết định đối phó được với sự thay đổi của hoàn cảnh. 1.1.2.4. Khái niệm năng lực đảm bảo thông tin Năng lực đảm bảo thông tin là khả năng đáp ứng các nhu cầu về thông tin của người dùng tin một cách chính xác, nhanh chóng, đúng đắn, đầy đủ và kịp thời. Để có được năng lực đảm bảo thông tin, cơ quan cung cấp thông tin và cán bộ cung cấp thông tin cần có năng lực thông tin. Khái niệm về năng lực thông tin (Information literacy) đã được đề cập đến từ những năm 70 của thế kỷ trước. Sự xuất hiện của khái niệm này gắn liền với xu thế bùng nổ thông tin tại thời điểm đó. Các nhà khoa học, mà chủ yếu là các nhà giáo dục, các chuyên gia thông tin – thư viện, hết sức quan tâm đến một lĩnh vực tri thức giúp con người làm chủ thế giới thông tin, làm chủ nguồn tri thức của nhân loại: đó chính là năng lực thông tin. Điều này đặc biệt cần thiết trong bối cảnh thế giới thông tin ngày càng trở nên phức tạp, nhất là hệ quả của sự xuất hiện và phát triển nhanh chóng của Internet. Theo Hiệp hội các thư viện Đại học và thư viên nghiên cứu Mỹ (ACRL, 1989), năng lực thông tin là sự hiểu biết và một tập hợp các khả năng cho phép các cá nhân có thể “nhận biết thời điểm cần thông tin và có thể định vị, thẩm định và sử dụng thông tin cần thiết một cách hiệu quả”. McKie, trong tài liệu của Cheek và các tác giả khác (1995, tr. 2) đã khẳng định “năng lực thông tin là khả năng nhận biết nhu cầu thông tin, tìm kiếm, tổ chức, thẩm định và sử dụng thông tin trong việc ra quyết định một cách hiệu quả, cũng như áp dụng những kỹ năng này vào việc tự học suốt đời” Cần hiểu rõ rằng năng lực thông tin không chỉ đơn thuần là những kỹ năng cần thiết để tìm kiếm thông tin một cách hiệu quả, nó bao gồm cả những kiến thức về các thể chế xã hội và các quyền lợi do pháp luật quy định liên quan 21 đến việc truy cập các nguồn thông tin. Đây có lẽ là mảng kiến thức cần phải được đặc biệt nhấn mạnh trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, khi mà vấn đề bản quyền và sở hữu trí tuệ đang trở thành vấn đề toàn cầu. Ngoài ra, năng lực thông tin gắn liền với khả năng nghiên cứu độc lập và học tập suốt đời. Có nghĩa là, người có năng lực thông tin là người có khả năng tiếp cận và áp dụng tri thức một cách tích cực, chủ động, hiệu quả trong từng phạm vi hoạt động cụ thể của mình. Theo Hiệp hội Các thư viện chuyên ngành và các trường đại học Hoa Kỳ (ACRL, 1989), người có năng lực thông tin là người “đã học được cách thức để học. Họ biết cách học bởi họ nắm được phương thức tổ chức tri thức, tìm kiếm thông tin và sử dụng thông tin, do đó những người khác có thể học tập được từ họ. Họ là những người được đã chuẩn bị cho khả năng học tập suốt đời, bởi lẽ họ luôn tìm được thông tin cần thiết cho bất kỳ nhiệm vụ hoặc quyết định nào một cách chủ động.” 1.1.2.5. Các nguồn thông tin Thông tin KH&CN cũng như các thông tin khác được thu thập từ 2 nguồn gồm: nguồn tin KH&CN nội sinh và nguồn tin KH&CN được nhập từ nước ngoài (dưới các hình thức khác nhau). - Nguồn tin KH&CN nội sinh: Trong một đất nước, nguồn tin nội sinh được sản sinh dựa trên sức lực trí tuệ và vật chất của một quốc gia. Cơ quan thông tin KH&CN thuộc sở hữu Nhà nước được cấp kinh phí để thu thập, quản lý đầy đủ các dạng nguồn tin KH&CN nội sinh và tạo lập các nguồn tin nội sinh phù hợp với chức năng và diện phục vụ của mình. Các cơ quan hữu quan cần có những giải pháp thích hợp đế thực hiện việc lưu chiểu, đặc biệt là đối với tài liệu nội sinh được số hóa trên các mạng thông tin. Các nguồn tin KH&CN nội sinh rất đa dạng, bao gồm các loại sau: sách, báo, tạp chí, tài liệu chép tay, luận án khoa học; báo cáo kết quả nghiên cứu và phát triển KH&CN; tư liệu và số liệu điều tra cơ bản; báo cáo các đoàn 22 tham quan, khảo sát; tài liệu hội nghị, hội thảo về KH&CN, các hình thức lưu trữ qua phim, nhạc, truyền khẩu... - Nguồn tin KH&CN được nhập từ nước ngoài: Nguồn tin KH&CN được nhập từ nước ngoài theo các hình thức khác nhau như mua (chủ yếu bằng ngân sách Nhà nước), trao đổi, biếu tặng... 1.1.2.6. Các loại hình thông tin Dựa theo tính chất thông tin, thông tin được chia thành: - Thông tin ở mức độ thư mục: là các thông tin về hình thức như thông tin về tác giả, thông tin về xuất bản, tên sách, nơi lưu giữ, kí hiệu xếp giá,.. - Thông tin ở mức độ toàn văn: là các thông tin được chứa trong một đơn vị tài liệu cụ thể, có kết cấu tương đối hoàn chỉnh, trình bày về một vấn đề nào đó. - Thông tin thông báo: là các dạng thông tin về các hoạt động, sự có mặt của các tư liệu, thông tin, phương thức sử dụng mới. Các dạng thông tin này thường được công bố đại chúng có tác dụng mở rộng, khơi gợi các nhu cầu của người dùng tin đối với các nguồn tin trong thư viện. - Thông tin từ Internet: các thông tin được khai thác từ Internet đa dạng và có phạm vi phổ quát ở mức độ toàn cầu. Dựa theo hình thức thông tin, thông tin được chia thành: - Thông tin ở dạng ấn phẩm truyền thống: thông tin được chứa trong các dạng vật mang tin truyền thống như sách báo, tạp chí, … - Thông tin dạng số: các dạng thông tin đã được xử lý, biên tập, chuyển dạng số hóa và có thể tham khảo, truy cập trên các máy tính. - Thông tin thông báo: bao gồm các dạng thông tin thông báo về các kế hoạch, chương trình, quy ước, hướng dẫn…được thể hiện bằng nhiều cách khác nhau, cung cấp thông tin cho đại đa số người dùng tin ở những khu vực công cộng. 23
- Xem thêm -