Tài liệu Nâng cao hiệu quả quản lý tài sản ngắn hạn tại công ty cổ phần ô tô asc

  • Số trang: 72 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 112 |
  • Lượt tải: 0
nguyetha

Đã đăng 8489 tài liệu

Mô tả:

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ TÀI SẢN NGẮN HẠN TRONG DOANH NGHIỆP 1.1. Tổng quan về tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp 1.1.1. Khái niệm tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Tài sản là một từ quen thuộc và được sử dụng phổ biến. Căn cứ theo bộ luật Dân sự ban hành vào ngày 14 tháng 6 năm 2005: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”. Nhìn tổng quan, tài sản được hiểu là tất cả các nguồn lực hữu hình hoặc vô hình. Theo chuẩn mực số 1: Chuẩn mực chung trong “Chuẩn mực Kế toán Việt Nam” được ban hành và công bố theo Quyết định số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Tài chính đã đưa ra định nghĩa về tài sản như sau:“Tài sản là nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát và có thể thu được lợi ích kinh tế trong tương lai”. Lợi ích kinh tế trong tương lai của một tài sản là tiềm năng làm tăng nguồn tiền và các khoản tương đương tiền của doanh nghiệp hoặc làm giảm bớt các khoản tiền mà doanh nghiệp phải chi ra. Căn cứ vào đặc điểm luân chuyển của tài sản (hay vốn kinh doanh), tài sản của doanh nghiệp được chia thành 2 loại: Tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn. Theo thông tư 45/2013/TT-BTC ngày 25/4/2013 của Bộ Tài chính về Hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định. Tài sản ngắn hạn được hiểu là tiền, các khoản tương đương tiền và các tài sản khác có thể chuyển đổi thành tiền, hoặc có thể bán hay sử dụng trong vòng một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh bình thường của doanh nghiệp. Tài sản ngắn hạn phản ánh tổng giá trị tiền, các khoản tương đương tiền và các tài sản ngắn hạn khác tính đến thời điểm báo cáo. Tài sản dài hạn là những tài sản của đơn vị có thời gian sử dụng, luân chuyển hoặc thu hồi dài (hơn 12 tháng hoặc dài hơn trong nhiều chu kỳ kinh doanh) và có giá trị hơn lớn (từ 30 triệu đồng trở lên). Tài sản dài hạn phản ánh tổng giá trị các khoản phải thu dài hạn, tài sản cố định, bất động sản đầu tư và các tài sản dài hạn khác có đến thời điểm báo cáo, bao gồm: Các khoản phải thu dài hạn, tài sản cố định, bất động sản đầu tư, các khoản đầu tư tài chính dài hạn và các tài sản dài hạn khác. Có thể nói, khác với tài sản dài hạn, tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là những khoản mục có khả năng chuyển đổi dễ dàng và là mắt xích quan trọng trong quá trình tạo ra doanh thu cho doanh nghiệp. Trong khâu dự trữ và sản xuất, tài sản ngắn hạn đảm bảo cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp được tiến hành liên tục đảm bảo quy trình công nghệ, công đoạn sản suất. Còn trong lưu thông, tài sản ngắn hạn đảm bảo 1 dự trữ thành phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ liên tục nhịp nhàng và đáp ứng đòi hỏi của khách hàng. Thời gian luân chuyển tài sản ngắn hạn lớn khiến cho việc quản lý và sử dụng luôn luôn diễn ra thường xuyên, hàng ngày. Do đó yếu tố tồn tại trong ngắn hạn nếu có phát sinh trục trặc sẽ ảnh hưởng đến quá trình hoạt động và tạo ra lợi nhuận của công ty. Như vậy, từ sự phân loại trên của tài sản, ta đưa ra được khái niệm đầy đủ nhất về tài sản ngắn hạn: “Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là những tài sản thuộc quyền sở hữu và quản lý của doanh nghiệp, có thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi vốn trong một chu kỳ kinh doanh hoặc trong một năm. Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp có thể tồn tại dưới hình thái tiền, hiện vật (vật tư hàng hóa), dưới dạng đầu tư ngắn hạn và các khoản phải thu khác. Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp bao gồm: Tài sản bằng tiền, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu khách hàng, hàng tồn kho và các tài sản ngắn hạn khác”. Khái niệm này sẽ được dùng xuyên suốt trong quá trình phân tích. 1.1.2. Phân loại tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp Trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, để quản lý tốt tài sản ngắn hạn cần phân loại tài sản ngắn hạn theo những tiêu thức nhất định. Dựa trên tính chất vận động của tài sản ngắn hạn, người ta có thể phân loại tài sản ngắn hạn như sau: 1.1.2.1. Phân loại căn cứ vào quá trình tuần hoàn và chu chuyển vốn  Tài sản ngắn hạn trong khâu dự trữ: nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, công cụ và dụng cụ, hàng mua đang đi đường, hàng gửi gia công, trả trước cho người bán.  Tài sản ngắn hạn nằm trong khâu sản xuất bao gồm chi phí sản xuất kinh doanh dở dang, bán thành phẩm, các khoản chi phí chờ kết chuyển, chi trí trả trước, và các khoản chi phí khác phục vụ cho quá trình sản xuất.  Tài sản ngắn hạn trong khâu lưu thông bao gồm thành phẩm, hàng hóa mua ngoài, hàng gửi bán, vốn bằng tiền, các khoản vốn dùng trong thanh toán và các khoản nợ phải thu của khách hàng.  Cách thức phân loại này cho ta biết các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình luân chuyển của tài sản ngắn hạn từ đó các nhà quản lý doanh nghiệp sẽ có các biện pháp thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng trong doanh nghiệp. 1.1.2.2. Phân loại tài sản ngắn hạn dựa trên các khoản mục trên bảng cân đối kế toán Dựa vào các khoản mục trong bảng CĐKT, tài sản ngắn hạn bao gồm: tiền và chứng khoán khả thị, khoản phải thu khách hàng, hàng tồn kho và tài sản ngắn hạn khác. 2 Thang Long University Library  Tiền mặt: được biểu hiện là tiền tồn quỹ, tiền gửi trong ngân hàng. Tiền mặt được sử dụng để trả lương, mua nguyên vật liệu, mua sắm TSCĐ, trả tiền thuế, trả nợ và chi trả các khoản khác. Đây là loại tài sản có tính lỏng cao nhất nó cũng có thể dùng để dự trữ và đảm bảo khả năng thanh toán nhanh cho doanh nghiệp.  Chứng khoán khả thị: bao gồm các loại chứng khoán có khả năng sinh lời cho doanh nghiệp và có thể chuyển đổi sang tiền mặt dễ dàng với chi phí thấp. Tài sản ngắn hạn này giúp doanh nghiệp có thể đa dạng hóa các khoản mục đầu tư và giảm lượng tiền nhàn rỗi.  Phải thu khách hàng: được hình thành khi các doanh nghiệp bán hàng nhưng lại không nhận được tiền hàng ngay mà nhận được sau một khaongr thời gian xác định do haibên thỏa thuận. Phổ biến nhất hiện nay là hình thức tín dụng thương mại - cho các doanh nghiệp khác nợ, hình thức này thu hút được nhiều khách hàng mang lại nhiều cơ hội tạo ra nhiều doanh thu cho doanh nghiệp nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro về thanh toán.  Hàng tồn kho: bao gồm nguyên vật liệu thô phục vụ cho quá trình SXKD, sản phẩm dở dang và thành phầm. Trong quá trình luân chuyển của tài sản ngắn hạn để phục vụ sản xuất, kinh doanh thì việc tồn tại của vật tư hàng hóa dự trữ, tồn kho là bước đệm cần thiết cho hoạt động bình thường của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp, không thể tiến hành sản xuất tới đâu mua hành đến đó nên việc vật tư hàng hóa dự trữ, tồn kho là việc cần thiết để quá trình sản xuất diễn ra bình thường. Do đó việc dự trữ hàng tồn kho hợp lý là vấn đề với nhà quản lý để vừa đảm bảo cho quá trình SXKD của doanh nghiệp mà không làm phát sinh quá nhiều chi phí dự trữ của doanh nghiệp.  Tài sản ngắn hạn khác: bao gồm các khoản chi phí trả trước ngắn hạn, tiền tạm ứng, cầm cố, ký quỹ, ký cược… Những loại này thường có tỷ trọng rất nhỏ trong cơ cấu tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp.  Phân loại tài sản ngắn hạn theo tiêu chí này giúp doanh nghiệp xem xét, đánh giá mức tồn kho dự trữ, đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp. (Nguồn: Nguyễn Thủy Tiên (2014),“Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty Cổ phần đầu tư và phát triển Thiên Ấn”, ĐHTL) 1.1.3. Đặc điểm của tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp Thứ nhất, tài sản ngắn hạn biểu hiện dưới các hình thái khác nhau như: tiền và các tài sản tương đương tiền, khoản phải thu khách hàng, hàng tồn kho và các tài sản khác. Các khoản mục này tương ứng với các mục đích chuyên biệt khác nhau của TSNH trong doanh nghiệp: tiền và các tài sản tương đương tiền hay chứng khoán khả 3 thị đảm bảo khả năng thanh toán cho doanh nghiệp, hàng tồn kho được sử dụng trong khâu SXKD, các khoản phải thu khách hàng dùng để ghi nhận các khoản tín dụng thương mại. Thứ hai, tài sản ngắn hạn thường luân chuyển trong một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh. TSNH như tiền mặt, hàng tồn kho thường được sử dụng trong một chu kỳ kinh doanh, phân biệt với TSDH như thiết bị, máy móc, nhà xưởng thường được sử dụng trong nhiều năm và trích khấu hao. Thứ ba, tài sản ngắn hạn thường thay đổi hình thái vật chất ban đầu để tạo thành thực thể của sản phẩm. Đặc điểm này là điển hình của doanh nghiệp SXKD, hàng tồn kho dùng cho mục đích sản xuất thường trải qua một quá trình biến đổi thành thành phẩm, hàng hóa hoàn chỉnh để xuất bán ra thị trường. Thứ tư, tài sản ngắn hạn có giá trị luân chuyển toàn bộ một lần và giá thành sản phẩm làm ra. Điều này có nghĩa là mọi chi phí phát sinh trong quá trình biến đổi tài sản ngắn hạn thành thành phẩm đã được tính vào giá thành của sản phẩm trước khi đưa ra thị trường. (Nguồn: Nguyễn Thủy Tiên (2014),“Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty Cổ phần đầu tư và phát triển Thiên Ấn”, ĐHTL) 1.1.4. Vai trò của tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp Tài sản ngắn hạn đóng vai trò rất quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Tài sản ngắn hạn là điều kiện quan trọng để doanh nghiệp có thể kinh doanh, sản xuất thuận lợi. TSNH tham gia vào mọi quá trình hoạt động của doanh nghiệp như: sản xuất, lưu thông, phân phối và tiêu thụ sản phẩm. TSNH còn hỗ trợ thanh toán cho các giao dịch có độ trễ về thời gian. Điều này xuất hiện trong quá trình sản xuất, maketing, và thu tiền. Do các giao dịch diễn ra không đồng thời, nhiều hoạt động diễn ra không đồng thời, nhiều hoạt động tác động đến nhu cầu vốn lưu động như lưu trữ hàng tồn kho, áp dụng chính sách hỗ trợ bán hàng, chiết khấu thanh toán dễ khuyến khích khách hàng sớm, giảm thời gian chuyển tiền khi thu hồi nợ. TSNH giúp doanh nghiệp đảm bảo khả năng thanh toán. Doanh nghiệp cần dự trữ tài sản ngắn hạn để đáp ứng cho các chi phí giao dịch. Chi phí giao dịch bao gồm chi phí dịch vụ cho việc mua bán chứng khoán, các khoản lỗ tiềm tàng do phải bán gấp các tài sản trong khi có thể kiếm lời nhiều hơn nếu có thêm thời gian. Chính vì vậy doanh nghiệp luôn phải dự trữ một lượng tiền hoặc chứng khoán khả thị đủ để đảm bảo khả năng thanh toán, đây cũng là loại tài sản có tính thanh khoản cao, có khả năng chuyển đổi thành tiền mặt nhanh chóng với chi phí thấp đáp ứng cho các mục tiêu ngắn hạn. Chính vì vậy chính sách quản lý tài sản ngắn hạn là hết sức quan trọng. 4 Thang Long University Library Ngoài ra TSNH còn tạo lập quan hệ với khách hàng. Việc TSNH của công ty được sử dụng có hiệu quả hay không được ghi chép trong hồ sơ tín dụng thương mại, các khách hàng, đối tác có thể dựa vào đó mà quyết định xem có nên hợp tác hay không. Các công ty dựa vào mức độ thương mại của doanh nghiệp đang xem xét để đưa ra những quyết định chắc chắn, bao gồm việc bán hàng, cho vay, cho thuê, tăng nợ tín dụng, tiêu thụ nốt hàng tồn kho với giá cạnh tranh…. (Nguồn: Nguyễn Hương Giang (2014), “Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty Cổ phần Hoàng Thái”, ĐHTL) 1.2. Nội dung quản lý tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp 1.2.1. Chính sách quản lý tài sản ngắn hạn Tài sản ngắn hạn chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong tổng giá trị tài sản do đó việc quản lý và điều phối giữa các loại tài sản ngắn hạn hợp lý là điều cần thiết. Vai trò của quản lý tài sản ngắn hạn là tất yếu để duy trì tình hình hoạt động ổn định của doanh nghiệp. Cách thức quản lý tài sản phụ thuộc vào lĩnh vực ngành nghề mà doanh nghiệp đang doanh, quy mô của doanh nghiệp (lớn, vừa hay nhỏ), mức độ ổn định của doanh thu cũng như chiến lược phát triển theo từng thời kỳ. Tựu chung lại có ba cách thức quản lý Tài sản cơ bản, đó là: chiến lược quản lý cấp tiến (hay chiến lược mạo hiểm), chiến lược quản lý thận trọng và chiến lược quản lý dung hòa. Hình 1.1 sẽ mô tả cách thức quản lý, cơ cấu tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp. Cụ thể: Hình 1.1 Mô hình chiến lược quản lý tài sản ngắn hạn Cấp tiến TSNH Thận trọng Dung hòa TSNH TSNH TSDH TSDH TSDH (Nguồn: Chu Thị Thu Thủy (2011), “Bài giảng Quản lý tài chính1”, Chương1, tr.6, ĐHTL) Chiến lược quản lý cấp tiến là chính sách mà ở đó tỉ trọng tài sản dài hạn lớn hơn so với tỷ trọng tài sản ngắn hạn. Cụ thể hơn, quản lý tài sản cấp tiến là doanh nghiệp duy trì tài sản ngắn hạn ở mức thấp, đồng nghĩa với tiền, khoản phải thu và hàng tồn kho ở mức thấp. Mức dự trữ tiền này chủ yếu dựa vào sự quản lý hiệu quả và khả năng cho vay ngắn hạn để bù đắp các thiếu hụt do nhu cầu bất thường, điều này xảy ra tương tự với khoản hàng tồn kho. Chính sách quản lý cấp tiến giúp doanh nghiệp tiết 5 kiệm chi phí sử dụng vốn, chi phí lưu kho hơn nữa rút ngắn chu kỳ kinh doanh và thời gian quay vòng tiền do khoản phải thu khách hàng và hàng tồn kho giảm. Tuy nhiên, chính việc này cũng đem lại một rủi ro. Việc duy trì lượng tiền mặt ở mức thấp có thể ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của doanh nghiệp hoặc hàng trong kho ít không đủ đáp ứng các nhu cầu cho khách hàng nếu có đột biến về cầu. Ngược lại với chính sách cấp tiến ở trên là chính sách thận trọng. Việc duy trì tài sản ngắn hạn ở mức cao hơn so với tài sản dài hạn là điều bắt buộc với chính sách thận trọng. Chu kỳ kinh doanh và thời gian quay vòng tiền sẽ bị kéo dài do khoản phải thu khách hàng và hàng tồn kho luôn ở mức cao nên thời gian quay vòng tiền cũng tăng theo. Ưu điểm của chính sách này nằm ở sự an toàn hơn so chính sách cấp tiến. Nhờ vào sự tài trợ lâu dài và ổn định của nguồn vốn dài hạn, khả năng an toàn trong thanh khoản luôn ở mức cao trước những biến động bất thường. Tất nhiên, chi phí sử dụng vốn sẽ cao do doanh nghiệp luôn phải gánh thêm các khoản chi phát sinh từ hàng tồn kho, thừa vốn trong thời kỳ nhu cầu vốn xuống thấp và đặc biệt là chi phí cơ hội khi nắm giữ nhiều tiền mặt tại doanh nghiệp. Chính sách cơ bản nằm trung gian giữa hai chính sách nêu trên là chính sách quản lý tài sản dung hòa. Cụ thể, quản lý tài sản dung hòa là doanh nghiệp duy trì tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn ở mức tương đương nhau. Trên thực tế, chính sách này không tồn tại do đạt được trạng thái cân bằng không hề đơn giản cũng như vấp phải vấn đề về loại hình kinh doanh của doanh nghiệp là doanh nghiệp sản xuất hoặc doanh nghiệp thương mại. Ngoài ra, yếu tố luồng tiền đầu tư vào các khoản mục cũng chi phối chiến lược trong sử dụng tài sản của doanh nghiệp. Do vậy, đúng như cái tên chính sách này chỉ nhằm dung hòa rủi ro và chi phí phát sinh của 2 chính sách ở trên. 1.2.2. Quản lý tiền mặt và các chứng khoán khả thị Tiền mặt và các khoản chứng khoán khả thị được hiểu là quản lý tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, các loại chứng khoán khả thị. Đây là một bộ phận cấu thành TSNH của doanh nghiệp, có tính thanh khoản cao nhất và trực tiếp quyết định khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Khi dự trữ loại tài sản này doanh nghiệp có thể thực hiện giao dịch, đối phó với các biến cố bất thường về thanh khoản hoặc đầu tư sinh lời. Tuy vậy, mức dự trữ ra sao cũng là vấn đề cần quản lý, nếu dự trữ quá ít sẽ giảm khả năng thanh toán; nếu dự trữ quá nhiều sẽ giảm khả năng sinh lời, mất chi phí cơ hội, tăng chi phí quản lý cho chính tài sản này. Quản lý tiền và chứng khoán khả thị cơ bản bao gồm các quyết định sau: Quản lý hoạt động thu - chi tiền mặt; xác định nhu cầu dự trữ tiền mặt tối ưu, quản lý danh mục đầu tư chứng khoán khả thị và quản lý ngân quỹ. 6 Thang Long University Library 1.2.2.1. Quản lý hoạt động thu – chi tiền mặt Để chọn được một phương thức tối ưu, nhà quản lý cần đánh giá hiệu quả của các phương thức mang lại, cân đối thu – chi sau thuế để lợi ích đem lại là lớn nhất với doanh nghiệp. Ta có thể dựa trên cơ sở dưới đây để thực hiện so sánh, đánh giá: ∆B = ∆t * TS * I * (1 – T) ∆C = (C2 – C1) * (1 – T) (Nguồn: Chu Thị Thu Thủy (2011),“Bài giảng Quản lý tài chính1”, Chương2, tr.7, ĐHTL) Trong đó: ∆B = Lợi ích tăng thêm khi áp dụng phương thức đề xuất ∆C = Chi phí tăng thêm khi áp dụng phương thức đề xuất T = Số ngày thay đổi khi áp dụng phương thức đề xuất + Đối với phương thức thu tiền: là số ngày được rút ngắn + Đối với phương thức chi tiền: là số ngày tăng thêm TS = Quy mô chuyển tiền I = Lãi suất đầu tư T = Thuế suất thế TNDN C1 = Chi phí của phương thức đang sử dụng C2 = Chi phí của phương thức đề xuất Dựa vào kết quả tính toán theo mô hình trên, nhà quản lý có thể đưa ra quyết định như sau:  ∆B > ∆C: lựa chọn phương thức đề xuất vì lợi ích thu được cao hơn chi phí tăng thêm  ∆B = ∆C: bàng quan với cả hai phương thức do áp dụng phương thức đề xuất không đem lại lợi ích tăng thêm cho doanh nghiệp.  ∆B < ∆C: lựa chọn phương thức cũ do chi phí của việc chuyển sang phương thức mới không bù đắp được thu nhập. Song song với vấn đề tăng doanh thu, doanh nghiệp cũng duy trì hình thức giảm chi, tức là nên trì hoãn việc thanh toán (trong phạm vi thời gian cho phép) để có thể tận dụng những lợi ích có từ các khoản chậm thanh toán này. Nhà quản lý cần tập trung vào việc kiểm soát và trì hoãn dòng tiền ra đến hết mức có thể mà không làm ảnh hưởng đến uy tín của doanh nghiệp. Trong khoảng thời gian chênh lệch đó, ít nhiều những khoản tiền này cũng có thể đem lại lợi nhuận. 7 1.2.2.2. Xác định mức dự trữ tiền tối ưu Xác định mức dự trữ tiền mặt tối ưu Mức tồn quỹ tiền mặt mục tiêu là tồn quỹ mà công ty hoạch định lưu giữ dưới hình thức tiền (theo nghĩa rộng). Quyết định tồn quỹ mục tiêu liên quan đến việc đánh đổi giữa chi phí cơ hội do giữ quá nhiều tiền với chi phí giao dịch do giữ quá ít tiền. Mô hình độ lớn của đơn hàng tối ưu (EOQ): William J.Baumol là người đầu tiên đưa ra mô hình quyết định tồn quỹ kết hợp giữa chi phí cơ hội và chi phí giao dịch. Vận dụng mô hình EOQ ứng dụng vào quản trị tiền mặt nhằm thiết lập tồn quỹ mục tiêu. Giả sử một doanh nghiệp có kỳ vọng có dòng lưu kim thu nhập đều đặn là A/kỳ và dòng lưu kim chi phí là B/kỳ. Bởi vậy dòng lưu kim chi phí thuần là (B-A)/kỳ. Doanh nghiệp khởi sự các giao dịch chuyển tiền tệ ở đầu kỳ đầu tiên có cán cân tiền mặt là C. Với lượng tiền sử dụng ổn định mỗi kỳ là (B-A), số tiền này sẽ hết sau C/(B-A) kỳ. Tại thời điểm kết thức kỳ thứ C/(B-A), cán cân tiền mặt bằng 0 và cần phải bán một lượng chứng khoán có giá trị C để phục hồi cán cân tiền ban đầu. Cán cân tiền mặt khi bắt đầu các hoạt động là C và giảm dần đều đến hết mỗi chu kỳ C/(BA). Bởi vậy lượng tiền mặt trung bình quả doanh nghiệp là C/2 Giả sử tỷ lệ sinh lời một năm do các công cụ của thị trường tiện tệ mang lại là I, thì phần lợi nhuận bị bỏ qua mỗi năm trên khoản tiền mặt trung bình là (C/2).I. Nhưng để có cán cân tiền mặt trung bình (C/2) thì cần phải bán lượng chứng khoán có giá trị là C tại những thời điểm mà cán cân tiền mặt bằng 0. Nếu tổng nhu cầu của dòng lưu kim thuần trong suốt năm được ký hiệu là T, thì số lần các loại chứng khoán được chuyển đổi thành tiền mặt là (T/C). Giả sử chi phí cho mỗi lần giao dịch là F thì tổng chi phí cho các giao dịch chuyển đổi các loại chứng khoán trong năm là (T/C).F. Trong đó: C = Trị giá của các loại chứng khoán được bán ra trong mỗi lần giao dịch F = Tổng giá trị của dòng lưu kim thuần dự định cần đến trong năm k = Tỷ lệ sinh lời cơ hội của các công cụ được giao dịch trên thị trường tiền tệ Sử dụng các công cu này, chúng ta có thể thiết lập công thức tính toán hai loại chi phí thành phần như sau: 8 Thang Long University Library Do đó, tổng chi phí (TC) cho việc tiến hành T/C lần chuyển đổi các loại chứng khoán, mỗi lần có giá trị C trong năm là: ( ) ( ) Từ đó ta có thể thấy rằng tổng chi phí sẽ ở mức tối thiểu khi: √ C’ là mức dự trữ tiền mặt tối ưu. (Nguồn: Chu Thị Thu Thủy (2011),“Bài giảng Quản lý tài chính1”, Chương2, tr.11, ĐHTL) 1.2.2.3. Quản lý ngân quỹ Ngân quỹ có thể được hiểu là toàn bộ khoản tiền thu chi của một tổ chức hay đoàn thể. Merton Millere và Daniel Orr phát triển mô hình tồn quỹ với luồng thu và chi biến động ngẫu nhiên hàng ngày. Mô hình Miller Orr liên quan đến cả luồng thu (inflows) và luồng chi ( outflows) tiền mặt và giả định luồng tiền ròng (luồng thu trừ luồng chi) có phân phối chuẩn. Luồng tiền tệ ròng hàng ngày có thể ở mức rất cao hoặc rất thấp. Tuy nhiên, chúng ta giả định luồng tiền mặt ròng bằng 0, tức là luồng thu đủ bù đắp nguồn chi. Dưới đây là mô hình Miller Orr, một mô hình quản lý tiên tiến và khoa học nên được áp dụng trong các doanh nghiệp. Hình 1.2 Mô hình quản lý tiền mặt Miller Orr Tiền mặt X H Z L Y Thời gian (Nguồn: Chu Thị Thu Thủy (2011) “Bài giảng Quản lý tài chính1”, Chương2, tr.13, ĐHTL) Có 3 khái niệm cần chú ý trong mô hình này: Giới hạn trên (H), giới hạn dưới (L) và tồn quỹ tiền mặt (Z). Ban quản lý công ty thiết lập H căn cứ vào chi phí cơ hội giữ tiền mặt và thiết lập L căn cứ vào mức độ rủi ro thiếu tiền mặt. Công ty cho phép tồn quỹ biến động ngẫu nhiên trong phạm vi giới hạn và nếu như tồn quỹ vẫn nằm trong 9 mức giới hạn trên và giới hạn dưới thì công ty không cần thực hiện giao dịch mua bán chứng khoán ngắn hạn. Khi tồn quỹ đụng giới hạn trên tại điểm X thì công ty sẽ mua (H-Z) đồng chứng khoán ngắn hạn để giảm tồn quỹ trở về Z. Ngược lại, khi tồn quỹ giảm đụng giới hạn dưới tại điểm Y thì công ty sẽ bán (Z-L) đồng chứng khoán để tăng tồn quỹ lên đến điểm Z. Giống như mô hình Baumol, mô hình Miller Orr xác định mức tồn quỹ dựa vào chi phí cơ hội và chi phí giao dịch. Chi phí giao dịch (F) là chi phí liên quan đến việc mua bán chứng khoán ngắn hạn để chuyển đổi từ tài sản đầu tư cho mục đích sinh lời ra tiền mặt nhằm mục đích thanh toán. Chi phí giao dịch không phụ thuộc vào doanh số mua bán chứng khoán ngắn hạn. Chi phí cơ hội giữ tiền mặt là K, bằng lãi suất ngắn hạn. Khác với mô hình Baumol, trong mô hình Miller Orr, số lần giao dịch của một kỳ là số ngẫu nhiên thay đổi tùy thuộc vào biến động của luồng thu và luồng chi tiền mặt. Kết quả là chi phí giao dịch phụ thuộc vào số lần giao dịch chứng khoán ngắn hạn kỳ vọng còn chi phí cơ hội phụ thuộc vào tồn quỹ kỳ vọng. Với tồn quỹ thấp nhất L đã cho, giải mô hình Miller Orr chúng ta tìm được tồn quỹ mục tiêu (Z) và giới hạn trên (H). Giá trị của Z và H làm cho tổng chi phí tối thiểu được quyết định theo mô hinh Miller Orr là: √ H = 3Z – 2L Trong đó: F = Chi phí giao dịch ∂2 = Phương sai của dòng tiền mặt trong ngày K = Chi phí cơ hội Tồn quỹ trung bình theo mô hình Milller Orr là: Caverage= 1.2.3. Quản lý các khoản phải thu Khoản phải thu là sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp bán cho khách hàng và đang trong quá trình chờ khách hàng thanh toán. Các nhà quản lý khoản phải thu luôn muốn giá trị này càng thấp càng tốt bởi giảm rủi ro với nợ khó đòi thậm chí là không thu hồi được, tránh ứ đọng vốn và phải huy động thêm vốn, tránh việc phát sinh thêm chi phí quản lý, chi phí thu hồi nợ,... Một mặt, rủi ro của việc không cung cấp tín dụng là mất doanh thu. Mặt khác, một khoản thu quá cao sẽ gây ra chi phí và có thể vượt 10 Thang Long University Library quá lợi ích về doanh thu và sản xuất. Do vậy, doanh nghiệp thường xây dựng một chính sách tín dụng thông qua một số yếu tố sau: điều khoản bán trả chậm; phân tích tín dụng; quyết định tín dụng và chính sách thu tiền. 1.2.3.1. Điều khoản bán trả chậm Hầu hết các doanh nghiệp, hoạt động trong những lĩnh vực ngành nghề khác nhau đều cung cấp tín dụng thương mại nhưng chắc chắn nó sẽ có sự đáng biệt đáng kể. Nếu như hàng hóa được sản xuất đơn chiếc theo đơn đặt hàng, yêu cầu của khách thì thường có một khoản tạm ứng trả trước. Nếu việc giao hàng là không thường xuyên hay có rủi ro, người bán sẽ yêu cầu trả tiền ngay (COD: Cash on Delivery). Nếu việc cấp tín dụng thương mại thường được áp dụng thì thời gian thanh toán có thể kéo dài, ví dụ như từ 30 đến 60 ngày. Để khuyến khích người mua thanh toán sớm, doanh nghiệp thường cung cấp chiết khấu thanh toán. Nếu công ty bán hàng với điều khoản tín dụng 2/10 net 30 thì tức là nếu khách hàng thanh toán trong vòng 10 ngày sẽ được hưởng chiết khấu thanh toán 2%, còn nếu không thanh toán sớm thì khách hàng có nghĩa vụ trả nợ trong vòng 30 ngày. Đặc biệt trong điều khoản bán chậm đó, khi nghi ngờ khả năng thanh toán của khách hàng, người bán có thể áp dụng công cụ hối phiếu_ loại giấy quy định cụ thể thời hạn trả tiền của người mua vào một thời điểm xác định. (Nguồn: Chu Thị Thu Thủy (2011), “Bài giảng Quản lý tài chính1”, Chương4, tr.3, ĐHTL) 1.2.3.2. Phân tích tín dụng Để quyết định có bán trả chậm cho khách hàng hay không, khi bán trả chậm thì điều khoản tín dụng được quy định như thế nào, doanh nghiệp phải tiến hành phân tích tín dụng. Để phân tích tín dụng khách hàng, công việc này đòi hỏi thu thập một số thông tin: Từ các báo cáo tài chính: Dựa vào những báo cáo tài chính do khách hàng cung cấp, doanh nghiệp có thể xác định mức độ ổn định, tự chủ tài chính và khả năng chi trả của khách hàng. Xếp hạng tín dụng báo cáo: Doanh nghiệp tham khảo bảng xếp hạng tín dụng của các tổ chức có uy tín trong việc đánh giá khả năng tín dụng của khách hàng. Báo cáo tín dụng thường bao gồm: + Tóm tắt báo cáo tài chính thời gian gần đây + Các chỉ số quan trọng và có xu hướng thay đổi theo thời gian. + Các thông tin về mô hình thanh toán của đối tượng đang xét. 11 + Bản mô tả điều kiện tự nhiên và hoàn cảnh bất thường liên quan đến doanh nghiệp đang xét. + Mức xếp hàng tín dụng cho biết đánh giá của tổ chức tín dụng về vị thế của khách hàng.  Từ các ngân hàng: Hầu hết các ngân hàng đều có bộ phận tín dụng và có thể đại diện cung cấp thông tin tín dụng cho khách hàng của mình một cách rõ ràng.  Kinh nghiệm của doanh nghiệp: Dựa trên kinh nghiệm của bản thân, nhà quản lý cũng có thể đánh giá vị thế tín dụng của các khách hàng tiềm năng của mình. Khi đã thu thập đủ thông tin tín dụng, doanh nghiệp sẽ đưa ra quyết định có cung cấp tín dụng hay không. (Nguồn: Chu Thị Thu Thủy (2011),“Bài giảng Quản lý tài chính1”, Chương 4, ĐHTL) 1.2.3.3. Quyết định tín dụng Sau khi đã thực hiện thu thập thông tin tín dụng, doanh nghiệp sẽ cân nhắc việc cung cấp tín dụng thông qua chỉ tiêu NPV bằng ba mô hình dưới đây:  Quyết định tín dụng khi xem xét một phương án: Mô hình này so sánh giá trị hiện tại của lợi ích (giá trị dòng tiền vào hay dòng tiền sau thuế của các năm) và chi phí của việc cấp tín dụng với một mức rủi ro cho trước. Giá trị hiện tại ròng_NPV_của quyết định cấp tín dụng được tính toán như sau: CF0 = VC * S * (ACP/360) = [S *(1 – VC) – S * BD – CD]* (1 – T) Trong đó: CFt: Dòng tiền thu được sau thuế trong mỗi thời kỳ CF0: Dòng tiền đầu tư vào khoản phải thu khách hàng k: Tỷ lệ thu nhập theo yêu cầu VC: Luồng tiền ra biến đổi, được tính theo tỷ lệ % dòng tiền vào S: Doanh thu dự kiến trong từng thời kỳ ACP: Thời gian thu tiền trung bình (ngày) BD: Tỷ lệ nợ xấu trên doanh thu CD: Luồng tiền gia tăng của bộ phận tín dụng T: Thuế suất thuế TNDN 12 Thang Long University Library Từ kết quả thu được, nhà quản lý đưa ra quyết định dựa trên nguyên tắc giá trị hiện tại ròng: + NPV > 0: cấp tín dụng + NPV = 0: bàng quan + NPV < 0: không cấp tín dụng  Quyết định cấp tín dụng so sánh giữa bán trả tiền ngay và bán trả chậm: Mô hình cơ bản nhất là so sánh giữa phương án cấp tín dung và không cấp tín dụng. + Số lượng sản phẩm bán (Q): Nếu coi số lượng sản phẩm bán trước khi cung cấp tín dụng là Q0 và số lượng sản phẩm khi cho khách hàng nợ là Q1 thì Q1 > Q0 do việc cung cấp tín dụng sẽ tăng tính cạnh tranh của doanh nghiệp trong tiêu thụ và làm tăng doanh số bán. + Giá bán trên một sản phẩm (P): Giá bán sau khi cung cấp tín dụng thường cao hơn giá bán trước khi cung cấp tín dụng cho doanh nghiệp sẽ đánh đổi rủi ro thất thoát vốn khi cho khách hàng nợ với lợi nhuận kiếm được từ hoạt động bán hàng. + Chi phí bình quân (AC): Chi phí của doanh nghiệp sẽ đội lên (AC1 > AC0) khi doanh nghiệp quyết định cấp tín dụng do có nhiều khả năng sẽ gặp phải những khoản nợ xấu và phải xóa nợ hay nới lỏng chính sách tín dụng, khoản này được coi là chi phí nợ xấu và làm tăng chí phí hợp lý của doanh nghiệp. + Xác suất thanh toán: khi doanh nghiệp không cung cấp tín dụng mà thu tiền ngay thì xác suất thanh toán lúc này là 100%, do tất cả các lần bán của doanh nghiệp đều thu ngay bằng tiền. Nếu gọi h1 là xác suất thanh toán của doanh nghiệp cấp tín dụng cho khách hàng thì xác suất này sẽ nhỏ hơn 100% do khả năng xảy ra việc khách hàng không thanh toán là rất cao. + Thời gian nợ: Khi doanh nghiệp không cấp tín dụng mà thu tiền ngay thì thời gian cho khách hàng nợ là bằng 0. Ngược lại, khi doanh nghiệp cấp tín dụng thì sẽ có một khoảng thời gian t kể từ khi khách hàng xác nhận nợ cho đến khi khách hàng thanh toán khoản nợ đó. + Tỷ lệ chiết khấu: Đại diện cho chi phí cơ hội của việc đầu tư vào tài khoản phải thu khách hàng, là lãi suất được hưởng khi đầu tư vào tài sản sinh lời khác thay vì bị ứ đọng vốn trong khoản phải thu khách hàng. Để đưa ra quyết định có nên cấp tín dụng hay không, nhà quản lý tài chính phải so sánh giá trị hiện tại ròng của từng phương án: NPV0 =P0Q0 – AC0Q0 13 Trong đó: NPV0 = Giá trị hiện tại ròng khi chưa cấp tín dụng NPV1 = Giá trị hiện tại ròng khi cấp tín dụng P0, Q0, AC0: Giá bán, số lượng và chi phí sản xuất bình quân khi không cấp tín dụng. P1, Q1, AC1: Giá bán, số lượng và chi phí sản xuất bình quân khi cấp tín dụng. h: xác suất thanh toán Rt: tỷ suất chiết khấu thanh toán Quyết định lựa chọn: NPV1 > NPV0: cấp tín dụng NPV1 = NPV0: bàng quan NPV1 < NPV0: không cấp tín dụng  Quyết định cấp tín dụng khi sử dụng thông tin rủi ro, nhà quản lý có thể đầu tư thêm một phần chi phí để có thêm thông tin về rủi ro tín dụng sau đó mới đưa ra quyết định cuối cùng. Trong đó: NPV2: giá trị hiện tại ròng khi cấp tín dụng và có sử dụng đến thông tin rủi ro C: chi phí sử dụng thông tin rủi ro tín dụng Quyết định lựa chọn: NPV2 > NPV1 : cấp tín dụng NPV2 = NPV1 : bàng quan NPV2 < NPV1 : không cấp tín dụng (Nguồn: Chu Thị Thu Thủy (2011),“Bài giảng Quản lý tài chính1”, Chương 4, ĐHTL) 1.2.3.4. Chính sách thu tiền Sau khi đưa ra quyết định cấp tín dụng cho khách hàng, công việc nữa cần phải làm là theo dõi chặt chẽ khoản phải thu khách hàng để đảm bảo không bị thất thoát. Kỹ thuật mà doanh nghiệp thường sử dụng để theo dõi các khoản phải thu là dựa trên thời gian thu nợ trung bình (ACP). Thời gian thu nợ trung bình là khoảng thời gian được tính theo ngày trung bình kể từ khi khách hàng nhận nợ cho đến khi khách hàng trả nợ cho doanh nghiệp. 14 Thang Long University Library Khi phân tích chỉ số này ngoài việc so sánh giữa các năm, so sánh giữa các doanh nghiệp cùng ngành và so sánh với chỉ số trung bình ngành, doanh nghiệp cần xem xét từng khoản phải thu để phát hiện những khoản nợ đã quá hạn và có biện pháp hợp lý. (Nguồn: Chu Thị Thu Thủy (2011),“Bài giảng Quản lý tài chính1”, Chương 4, ĐHTL) 1.2.4. Quản lý hàng tồn kho Trong các phương thức quản lý hàng tồn kho thì mô hình _EOQ (Economic Ordering Quantily) thường được xử dụng nhiều nhất để doanh nghiệp có thể tập trung xác định mức dự trữ Mô hình được dựa trên giả định là những lần cung cấp hàng hoá là bằng nhau. Khi doanh nghiệp tiến hành dự trữ hàng hoá sẽ phát sinh hai loại chi phí chính: Chi phí lưu kho (Chi phí tồn dự trữ): Đây là chi phí liên quan đến việc tồn trữ hàng hoá, bao gồm:  Chi phí hoạt động như chi phí bốc xếp hàng hoá, chi phí bảo hiểm hàng hoá, chi phí do giảm giá trị hàng hoá, chi phí hao hụt mất mát, chi phí bảo quản hàng…  Chi phí tài chính bao gồm chi phí sử dụng vốn như trả lãi tiền vay, chi phí về thuế, khấu hao… Nếu gọi mỗi lần cung ứng hàng hoá là Q thì dự trữ cung ứng trung bình sẽ là Q/2. Hình 1.3 Mô hình mức dự trữ trung bình Q Q/2 Dự trữ trung bình Thời gian (Nguồn: Chu Thị Thu Thủy (2011),“Bài giảng Quản lý tài chính1”, Chương3, tr.7, ĐHTL) Gọi C1 là chi phí lưu kho đơn vị hàng hoá thì tổng chi phí lưu kho của doanh nghiệp sẽ là: C1*Q/2 Tổng chi phí lưu kho sẽ tăng nếu số lượng hàng hóa mỗi lần cung ứng tăng. Chi phí đặt hàng (Chi phí hợp đồng): Chi phí đặt hàng bao gồm chi phí quản lý giao dịch và vận chuyển hàng hoá, chi phí đặt hàng cho mỗi lần đặt hàng thường ổn định không phụ thuộc vào số lượng hàng hoá được mua. 15 Nếu gọi D là toàn bộ số lượng hàng hoá cần sử dụng trong một đơn vị thời gian (năm, quý, tháng) thì số lượng lần cung ứng hàng hoá sẽ là D/Q. Gọi C2 là chi phí mỗi lần đặt hàng thì tổng chi phí đặt hàng sẽ là: C2*D/Q Tổng chi phí đặt hàng tăng nếu số lượng mỗi lần cung ứng giảm. Gọi TC là tổng chi phí tồn trữ hàng hoá, ta có công thức: TC = C1*Q/2 + C2*D/Q Ta có thể tìm Q* bằng cách lấy vi phân TC theo Q ta có: √ Hình 1.4 Mô hình tồn kho EOQ C Tổng chi phí Chi phí lưu kho Chi phí đặt hàng 0 Q* Q (Nguồn: Chu Thị Thu Thủy (2011),“Bài giảng Quản lý tài chính1”, Chương3, tr.7, ĐHTL) Qua hình 1.4 trên ta thấy khối lượng hàng hoá cung ứng mỗi lần là Q* thì tổng chi phí dự trữ là thấp nhất. 1.3. Hiệu quả quản lý tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp 1.3.1. Khái niệm hiệu quả quản lý tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp Làm thế nào để nâng cao được hiệu quả sản xuất kinh doanh luôn là câu hỏi thường trực trong tâm thức của các nhà quản lý. Quản trị kinh doanh sản xuất có hiệu quả thì doanh nghiệp mới có thể tồn tại trên thị trường. Để vươn tới sự hiệu quả đó, doanh nghiệp phải có nhiều nỗ lực, tâm huyết và có những chiến lược, sách lược hợp lý từ khâu sản xuất cho đến khi sản phẩm được đến tay người tiêu dùng và những chính sách hậu mãi sáng tạo. Đích đến cuối cùng đối với nhà quản lý doanh nghiệp đó chính là lợi nhuận. Tuy nhiên đối với mỗi doanh nghiệp thì mục đích cuối cùng của họ luôn được gắn thêm 16 Thang Long University Library các sứ mệnh phục vụ lợi ích của cộng đồng khác nhau. Nhưng tựu chung lại đó lại việc tận dụng tốt nhất các nguồn lực hữu hình và vô hình của doanh nghiệp phục vụ cho sự phát triển. Và do vậy, câu hỏi thường trực với các người quản lý doanh nghiệp là vấn đề làm sao nâng cao được hiệu quả quản lý vốn và tài sản trong doanh nghiệp. Nếu quản lý tốt thì lợi suất hoạt động được sinh ra từ thực tế sản xuất sẽ mang lại kết quả cao cho doanh nghiệp. Hiệu quả quản lý tài sản trong doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế đánh giá trình độ, năng lực khai thác và quản lý tài sản của những người đứng đầu doanh nghiệp phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích đạt được kết quả cao nhất với tổng chi phi thấp nhất. Từ đó sẽ hoàn thành được lợi nhuận mục tiêu. Các doanh nghiệp khác nhau có loại hình kinh doanh khác nhau tất sự cơ cấu về tài sản riêng của mỗi loại tài sản cũng phải khác nhau. Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp nặng như chế biến, luyện kim, cơ khí, chế tạo thì (tỷ lệ) tài sản cố định chiếm một phần lớn trong tổng giá trị tài sản, ngược lại với các doanh nghiệp lĩnh vực thương mại, dịch vụ, sản xuất thì tài sản ngắn hạn lại chiếm tỷ lệ cao hơn. Với trọng tâm là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, thương mại, phân phối nên tỷ trọng của tài sản ngắn hạn luôn chiếm một vị trí quan trọng. Do vậy, các nhà quản lý luôn phải cân nhắc làm sao quản lý các loại tài sản ngắn hạn hiệu quả nhất. Hiệu quả quản lý tài sản ngắn hạn là thuật ngữ dùng để mô tả việc tổ chức và điều khiển tài sản hoạt động theo những yêu cầu nhất định sao cho tài sản có thể phát huy tối đa vai trò và công suất của nó. Hiệu quả quản lý tài sản ngắn hạn được dùng để đánh giá tình hình quản lý và sử dụng tài sản ngắn hạn của những người đứng đầu doanh nghiệp nhằm tối đa hóa kết quả lợi ích và thời gian sử dụng theo các điều kiện cụ thể, phù hợp với mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp. (Nguồn: Trịnh Trọng Anh (2012), “Nhập môn tài chính doanh nghiệp”, Chương5, ĐHTL) 1.3.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp 1.3.2.1. Các chỉ tiêu tổng hợp tình hình kinh doanh chung  Khả năng thanh toán Xuất phát từ đặc điểm của tài sản ngắn hạn là tính thanh khoản cao cho nên nhà quản lý doanh nghiệp luôn cân nhắc đến sự đánh đổi giữa khả năng sinh lời và tính thanh khoản. Do vậy, khi xem xét đến hiệu quả quản lý TSNH cũng cần xét xét đến khả năng thánh toán. Khi phân tích khả năng thanh toán của doanh nghiệp người ta 17 thường dùng bốn chỉ tiêu: khả năng thanh toán ngắn hạn, khả năng thanh toán nhanh, khả năng thanh toán tức thời và khả năng thanh toán lãi vay. Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn: Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn cho biết doanh nghiệp có thể khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn bằng TSNH là cao hay thấp. Hệ số này thường được so sánh với 1. Nếu trị số của chỉ tiêu bằng 1, doanh nghiệp có đủ khả năng chi trả các khoản nợ ngắn hạn_tình hình tài chính đang ở mức bình thường. Nếu “Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn” > 1 có nghĩa là doanh nghiệp luôn trong tình trạng sẵn sàng thanh toán với các khoản nợ. Tuy nhiên, nếu hệ số này cao quá sẽ giảm hiệu quả hoạt động vì doanh nghiệp đầu tư quá nhiều vào tài sản ngắn hạn. Hệ số hả năng thanh toán ngắn hạn = Giá trị tài sản ngắn hạn Tổng á ị nợ ngắn hạn Hệ số khả năng thanh toán nhanh: Hệ số khả năng thanh toán nhanh dùng để đánh giá khả năng thanh toán ngay các khoản nợ ngắn hạn bằng TSNH mà không bao gồm hàng tồn kho (mất thời gian để chuyển thành tiền mặt). Một doanh nghiệp có hệ số thanh toán nhanh nhỏ hơn 1 sẽ khó có khả năng hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn và phải được xem xét cẩn thận. Ngoài ra, nếu hệ số này nhỏ hơn hẳn so với tỷ số thanh toán ngắn hạn thì điều đó có nghĩa là TSNH của doanh nghiệp phụ thuộc quá nhiều vào hàng tồn kho. Hệ số này được đánh giá càng cao càng tốt. Hệ số hả năng thanh toán nhanh = Giá trị tài sản ngắn hạn Tổng á ị àng tồn ho á ị nợ ngắn hạn Hệ số khả năng thanh toán tức thời: Cho biết với lượng tiền và tương đương tiền hiện có, doanh nghiệp có đủ khả năng trang trải các khoản nợ ngắn hạn không. Các nhà quản lý quan tâm đến chỉ tiêu này vì tiền và các khoản tương đương tiền là những tài sản có tính thanh khoản cao nhất. Chỉ tiêu có xu hướng thấp (<1) bởi trong thực tế nếu chỉ số này > 1 chứng tỏ lượng tiền nhàn rỗi, ứ động lớn. Khả năng quản lý nguồn tiền và các khoản tương đương không tốt chưa phát huy được giá trị nguồn lực mang lại. Tuy vậy, nếu chỉ tiêu này thấp quá và kéo dài sẽ tác động đến uy tín của doanh nghiệp với các cổ đông. Hệ số hả năng thanh toán tức thời = Tiền à á Tổng ả ươ đươ ề á ị nợ ngắn hạn Hệ số khả năng thanh toán lãi vay: Hệ số khả năng thanh toán lãi vay là chỉ tiêu quan trọng đối với bên cấp tín dụng nó cho biết khả năng đản bảo thanh toán đối với các khoản cho vay. Trong mỗi giai đoạn hoạt động theo các chu kỳ kinh doanh khác nhau thì hệ số này cũng khác nhau. Chỉ tiêu này càng lớn thì chứng khả năng sinh lời từ tỏ hoạt động kinh doanh càng cao. Ngược lại, chỉ tiêu này càng gần 1 thì hoạt 18 Thang Long University Library động kinh doanh của doanh nghiệp chưa phát huy được hiệu quả. Đặc biệt khi chỉ tiêu này < 1 cho thấy hoạt động kinh doanh đang bị thua lỗ, thu nhập trong kỳ không đủ bù đắp chi phí, nếu kéo dài sẽ khiến doanh nghiệp phá sản. Hệ số hả năng thanh toán l i ay = Lợi nhuận trước thuế à l i ay L i ay phải trả *Khả năng quản lý tài sản Hiệu suất sử dụng tổng tài sản Hiệu quả quán lý tổng tài sản được xem xét thông qua chỉ tiêu hiệu suất sử dụng tổng tài sản bởi việc đánh giá hiệu suất sử dụng của tài sản sẽ giúp ta nhìn nhận quá trình quản lý tài sản của doanh nghiệp có hiệu quả không. Hiệu suất sử dụng tổng tài sản được xác định bằng công thức: Hiệu suất sử ụng tổng tài sản = Tổng oanh thu thuần Giá trị tổng tài sản Chỉ tiêu này cho biết cứ 1 đồng tài sản tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần trong một kỳ phân tích. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ việc quản lý tài sản đang diễn ra hiệu quả. Số vòng quay các tài sản vận động nhanh là điều kiện góp phần tăng doanh thu và nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp. Ngược lại, nếu chỉ tiêu này thấp chứng tỏ các tài sản vận động chậm, có thể hàng tồn kho lớn, việc quản lý tài sản chưa hiệu quả làm cho doanh thu của doanh nghiệp giảm. Cần lưu ý rằng khi phân tích chỉ tiêu này cần lưu ý tới đặc điểm ngành nghề kinh doanh và đặc điểm tài sản mà doanh nghiệp đang sở hữu từ đó mới có kết luận chính xác và biện pháp quản lý thích hợp làm tăng tốc độ quay vòng của tài sản.  Khả năng quản lý nguồn vốn Để tiến hành kinh doanh được thì nguồn lực đầu tư ban đầu không thể thiếu là nguồn vốn. Có hai nguồn vốn cơ bản hình thành nên tài sản của doanh nghiệp là: vốn chủ sở hữu và vốn vay. Do phạm vi hạn chế của đề tài khóa luận nên chỉ trình bày những chỉ tiêu chính trong việc quản lý nguồn vốn của doanh nghiệp. Hệ số nợ (Tỷ số nợ trên tổng tài sản): Hệ số nợ được sử dụng để xác định nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với các chủ nợ trong việc góp vốn. Công thức xác định: Tỷ số nợ = Giá trị tổng nợ Giá trị tổng tài sản Tỷ số này cho biết có bao nhiêu phần trăm tài sản của doanh nghiệp là từ đi vay. Qua đây biết được khả năng tự chủ tài chính của doanh nghiệp. Tỷ số này mà quá nhỏ, chứng tỏ doanh nghiệp vay ít. Điều này có thể hàm ý doanh nghiệp có khả năng tự chủ tài chính cao. Song nó cũng có thể hàm ý là doanh nghiệp chưa biết khai thác đòn bẩy 19 tài chính, tức là chưa biết cách huy động vốn bằng hình thức đi vay. Ngược lại, tỷ số này mà cao quá hàm ý doanh nghiệp không có thực lực tài chính mà chủ yếu đi vay để có vốn kinh doanh. Điều này cũng hàm ý là mức độ rủi ro của doanh nghiệp cao hơn. Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu: Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu là một chỉ tiêu tài chính đo lường năng lực sử dụng và quản lý nợ của doanh nghiệp. Công thức xác định: Tỷ số nợ trên ốn chủ sở hữu = Tổng nợ Giá trị ốn chủ sở hữu Tỷ số này cho biết quan hệ giữa vốn huy động bằng đi vay và vốn chủ sở hữu. Tỷ số này càng nhỏ chứng tỏ doanh nghiệp càng ít phụ thuộc vào hình thức huy động vốn bằng vay nợ tức là doanh nghiệp chịu độ rủi ro thấp. Tuy nhiên, nó cũng có thể chứng tỏ doanh nghiệp chưa biết cách vay nợ để kinh doanh và khai thác lợi ích của hiệu quả tiết kiệm thuế. Khi dùng tỷ số này để đánh giá cần so sánh tỷ số này với tỷ số bình quân của toàn ngành.  Khả năng sinh lời Phản ánh mối quan hệ giữa lợi nhuận dòng (lợi nhuận sau thuế) với chính doanh thu của Công ty tạo ra. Chỉ tiêu này cho biết mỗi đồng doanh thu thu được trong kỳ sẽ đem về được bao nhiêu đồng lợi nhuận, hay nói cách khác tỷ số này cho biết lợi nhuận bằng bao nhiêu phần trăm doanh thu trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt. Lợi nhuận sau thuế Doanh thu Đối với các ngành khác nhau chỉ tiêu này cũng khác nhau. Nên nhà đầu tư thường so sánh giữa các doanh nghiệp hoạt động cùng ngành với nhau. Nếu biết cách quản lý và sử dụng tốt nguồn lực đầu vào thì sẽ có hệ số này cao hơn. Ngoài ra, việc ROS = cắt giảm chi phí phát sinh của mình một cách hiệu quả cũng giúp cho tỷ suất sinh lời trên doanh thu giữ ở mức cao. Chỉ tiêu nhằm giúp các nhà đầu tư khai thác, cũng như là đích đến của các nhà quản trị đó là khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu. Công thức xác định: ROE= Lợi nhuận sau thuế Vốn chủ sở hữu Chỉ tiêu này phản ánh quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận sau thuế với vốn kinh doanh bình quân sử dụng trong kỳ. Cho nhà quản lý biết được mỗi đồng vốn kinh doanh bình quân sử dụng trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt. Đây là một chỉ tiêu đáng tin cậy đối để các nhà đầu tư có thể xem xét qua đó quyết định đầu tư thêm trong tương lai. 20 Thang Long University Library
- Xem thêm -