Tài liệu Nâng cao hiệu quả cho vay tại quỹ tín dụng nhân dân vân canh

  • Số trang: 58 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 69 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

Trường đại học kinh tế quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp LỜI MỞ ĐẦU Thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng từ năm 1986, nền kinh tế Việt Nam từng bước chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Những cải cách có ý nghĩa chiến lược trong những năm qua đã thúc đẩy sự hình thành và phát triển các mối quan hệ kinh tế và kiến trúc hạ tầng mới. Hệ thống ngân hàng được cải thiện theo nguyên tắc thị trường, đảm bảo phân bổ nguồn lực tài chính an toàn, hiệu quả. Với sự phát triển nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay nhu cầu về vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh ở khu vực nông thôn luôn đòi hỏi bức thiết. Các nhu cầu vốn đầu tư ngày càng nhiều, thúc đẩy sự đa dạng hoá các tổ chức tín dụng không chỉ dừng lại ở việc thành lập những tổ chức tín dụng (TCTD) mà còn phải có đủ các loại hình tín dụng phong phú, thích hợp; trong đó không thể thiếu vai trò của hoạt động tín dụng nông thôn. Những năm gần đây nhiều vùng nông thôn đang phát huy năng lực sản xuất hàng hoá to lớn, giúp cho nhu cầu vốn ngày càng tăng, đồng thời nhu cầu về vốn sản xuất, kinh doanh và cải thiện đời sống hàng ngày càng trở lên bức bách. Những cố gắng cung ứng vốn cho hộ nông dân trong sản xuất nông nghiệp chăn nuôi trồng trọt và kinh doanh dịch vụ thương mại. Do nhu cầu đòi hỏi về vốn và các nguồn vốn nhàn dỗi ở nông thôn. Hệ thống tổ chức hợp tác Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) chính là giải pháp phát huy tinh thần tương trợ cộng đồng để khai thác nội lực về vốn, đáp ứng nhu cầu tín dụng ở tại các xã, phường được kịp thời. Hiệu quả của hệ thống QTDND ở nước ta đã dần được khẳng định trong nền kinh tế ở các vùng nông thôn Được thành lập từ tháng 1 năm 1994, đến nay QTDND Vân Canh đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, góp phần thúc đẩy nền kinh tế xã hội địa phương. Trên cơ sở kiến thức tiếp thu được ở nhà trường và qua thực tập thực tế tại QTDND Vân Canh, em chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả cho vay tại Quỹ iín dụng nhân dân Vân Canh" để trình bày trong chuyên đề tốt nghiệp. Chuyên đề tốt nghiệp này gồm 3 chương: Chương 1: Tổ chức tín dụng (TCTD) và hiệu quả cho vay của TCTD. Chương 2: Thực trạng hoạt động cho vay của QTDND Vân Canh. Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả cho vay của QTDND Vân Canh. Trường đại học kinh tế quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp Sau thời gian thực tập tại QTDND Vân Canh, với sự nỗ lực của bản thân và sự giúp đỡ nhiệt tình của cán bộ lãnh đạo QTDND Vân Canh, tiếp thu ý kiến chỉ đạo, đóng góp của các thầy cô trực tiếp hướng dẫn, em đã hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp. Do có nhiều hạn chế về thời gian cũng như về kinh nghiệm thực tế, chuyên đề của em không tránh khỏi những khiếm khuyết. Em rất mong được sự đóng góp ý kiến của thầy cô giáo và các bạn có quan tâm tới vấn đề này để chuyên đề của em được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình, tạo điều kiện thuận lợi của các thầy cô trong Khoa Ngân hàng-Taì chính Trường đại học Kinh tế quốc dân, đặc biệt là cô giáo hướng dẫn Nguyễn Thị Thuỳ Dương, Ban giám đốc cùng tập thể cán bộ công nhân viên QTDND Vân Canh đã giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này. Trường đại học kinh tế quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp Chương 1 TỔ CHỨC TÍN DỤNG (TCTD) VÀ HIỆU QUẢ CHO VAY CỦA TCTD 1.1. KHÁI QUÁT VỀ TCTD. 1.1.1. Định nghĩa. TCTD là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng năm 1997 (được Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 12.12.1997) và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung hoạt động nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán. Tổ chức tín dụng hợp tác là tổ chức kinh doanh tiền tệ và làm dịch vụ ngân hàng, do các tổ chức, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập để hoạt động ngân hàng theo Luật các tổ chức tín dụng và Luật hợp tác xã nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống. Tổ chức tín dụng hợp tác gồm ngân hàng hợp tác, quỹ tín dụng nhân dân, hợp tác xã tín dụng và các hình thức khác. 1.1.2. Các hoạt động của TCTD. Hoạt động tín dụng là việc TCTD sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn tín dụng để cấp tín dụng, trong đó có ba nội dung hoạt động chính là: - Hoạt động huy động vốn, - Hoạt động cho vay, - Hoạt động dịch vụ. Tổ chức tín dụng hợp tác được huy động vốn của các thnàh viên và của các tổ chức, cá nhân để cho các thành viên vay. Việc cho các đối tượng không phải là thành viên vay phải được Đại hội thành viên hoặc Đại hội đại biểu chấp thuận và không được vượt quá tỷ lệ tối đa do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định. 1.1.2.1. Hoạt động huy động vốn. Trong cơ chế thị trường, vốn là một trong những yếu tố tiên quyết tác động đến quy mô và hiệu quả hoạt động kinh doanh. Trong hệ thống ngân hàng, các TCTD là doanh nghiệp đặc biệt hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực đặc biệt là kinh doanh tiền tệ. TCTD là tổ chức cung ứng vốn hữu hiệu cho nền kinh tế. Trường đại học kinh tế quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp Hoạt động huy động vốn là nghiệp vụ thường xuyên và thiết yếu của bất kỳ một ngân hàng hay một TCTD nào. Vốn của TCTD bao gồm hai bộ phận: vốn chủ sở hữu và các khoản nợ. TCTD được đi vay vốn ngắn hạn từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam dưới hình thức tái cấp vốn theo quy định của Điều 30 của Luật Ngân hàng Việt Nam, được đi vay vốn của các TCTD khác. Trong quá trình hoạt động, tại một thời điểm nhất định TCTD có thể tạm thời thừa vốn, trong khi đó những TCTD khác lại thiếu vốn, do đó các TCTD có thể vay vốn lẫn nhau thông qua thị trường liên ngân hàng. Hiện nay, các TCTD tiến hành huy động vốn dưới một số hình thức chủ yếu sau: - Huy động từ nguồn tiền của dân cư thông qua hình thức tiền gửi có kỳ hạn hoặc không kỳ hạn, - Huy động từ nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi của doanh nghiệp, cá nhân thông qua tiền gửi thanh toán. 1.1.2.2. Hoạt động cho vay. TCTD được cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác. Theo Quyết Định số 1627/2001/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó TCTD giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích trong một khoảng thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả đủ cả gốc và lãi. TCTD cho các tổ chức, cá nhân vay ngắn hạn nhắm đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống. TCTD cho các tổ chức, cá nhân vay trung, dài hạn nhằm thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống. Các loại cho vay của TCTD: - Căn cứ vào mục đích, các TCTD có các loại hình cho vay theo mục đích: cho vay bất động sản, cho vay công nghiệp thương mại, cho vay nông nghiệp, cho vay cá nhân, thuê mua và các loại khác. - Căn cứ vào thời hạn cho vay, các TCTD có 2 loại hình cho vay: cho vay ngắn hạn là loại cho vay có thời hạn dưới 12 tháng, cho vay trung và dài hạn là loại cho vay có thời hạn trên 1 năm. Hiện nay, các loại cho vay ngắn hạn của TCTD gồm có: cho vay bổ sung vốn lưu động, chiết khấu chứng từ có giá ngắn hạn của khách hàng, cho vay thấu chi, cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức, cho vay luân chuyển, cầm đồ, thế chấp Trường đại học kinh tế quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp bằng lương ... Các loại cho vay trung và dài hạn của TCTD gồm có: cho vay theo dự án đầu tư, cho thuê tài chính, cho vay đồng tài trợ, đầu tư vào giấy tờ có giá trung và dài hạn( như trái phiếu quốc tế , tráI phiếu Chính Phủ, trái phiếu doanh nghiệp...)... - Căn cứ vào mức độ tín nhiệm với khách hàng, các TCTD có 2 loại hình cho vay: cho vay có đảm bảo, cho vay không có đảm bảo. Nguyên tắc cho vay. Quyết định 1627/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành ngày 31/12/2001 về quy chế cho vay của TCTD đối với khách hàng đã quy định 2 nguyên tắc cơ bản trong cho vay của TCTD là: - Khách hàng vay vốn của TCTD phải đảm bảo sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thoả thuận trong Hợp đồng tín dụng. - Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã thoả thuận trong Hợp đồng tín dụng. Điều kiện cho vay. Điều kiện cho vay chính là cơ sở để xem xét và quyết định cho vay của TCTD, đồng thời cũng là căn cứ để TCTD theo dõi, kiểm tra giám sát và xử lý các tình huống xảy ra trong một quá trình cho vay. Theo các văn bản hiện hành, điều kiện vay vốn gồm có: - Khách hàng phải có năng lực pháp luật dân sự; năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật. Điều kiện này được quy định cụ thể cho pháp nhân và cá nhân vay vốn TCTD, - Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp, - Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn đã cam kết, - Có dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh dịch vụ khả thi và có hiệu quả, phù hợp với quy định của pháp luật, - Thực hiện các quy định đảm bảo tiền vay theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của TCTD. Thời hạn cho vay. Thời hạn cho vay là một trong những nội dung quan trọng trong Hợp đồng tín dụng giữa TCTD và khách hàng. Thông thường, thời hạn cho vay được tính từ khi khách hàng bắt đầu nhận tiền vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vốn vay đã được thoả thuận trong Hợp đồng tín dụng. Trong một số trường hợp thời hạn Trường đại học kinh tế quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp là khoảng thời gian do TCTD và khách hàng cùng thoả thuận và xác định. Trên cơ sở thực tế thực hiện Hợp đồng tín dụng, thời hạn cho vay vẫn có thể được điều chỉnh rút ngắn hoặc kéo dài thêm khi khách hàng có đề nghị và được TCTD chấp nhận. Bảo đảm tiền vay. Bảo đảm tiền vay là việc TCTD chủ động tìm kiếm các dự án sản xuất, kinh doanh khả thi có hiệu quả và có khả năng hoàn trả nợ đủ cả nợ gốc và lãi. TCTD tiến hành cho vay trên cơ sở có bảo đảm bằng tài sản cầm cố, thế chấp của khách hàng vay, bảo lãnh cho bên thứ ba. TCTD không được cho vay trên cơ sở cầm cố bằng cổ phiếu của chính TCTD cho vay. TCTD áp dụng các biện pháp nhằm phòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi được khoản nợ đã cho khách hàng vay. Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động kinh tế diễn ra rất đa dạng và phức tạp, vì thế mọi dự đoán rủi ro tín dụng của TCTD đều mang tính tương đối, do đó đảm bảo tiền vay là một tiêu chuẩn bổ sung những mặt hạn chế của cán bộ quản trị TCTD, cũng như phòng ngừa những diễn biến không thuận lợi của môi trường kinh doanh. Hiện nay, việc bảo đảm tiền vay của TCTD được thực hiện theo Nghị định 178/1999/NĐ-CP ngày 29/12/1999, Nghị định 85/2002/NĐ-CP ngày 25/10/2002 của Chính phủ, theo đó các TCTD có quyền lựa chọn, quyết định việc cho vay có đảm bảo bằng tài sản hoặc cho vay không có bảo đảm bằng tài sản và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Phương pháp cho vay. Nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng trong việc vay vốn, các TCTD đưa ra nhiều phương pháp cho vay khác nhau. Tuy vậy, nếu xét theo cách rút vốn vay và trả nợ thì hoạt động cho vay của TCTD được thực hiện theo 3 phương thức cho vay cơ bản là: cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức tín dụng và cho vay trả góp. Cho vay từng lần là phương thức cho vay mà mỗi lần vay vốn các TCTD thực hiện đầy đủ thủ tục vay vốn và ký kết hợp đồng vay vốn với khách hàng.Đây là hình thức cho vay tương đối phổ biến của các TCTD đối với các khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên, không có điều kiện để cấp hạn mức thấu chi Cho vay theo hạn mức tín dụng là việc các TCTD và khách hàng xác định và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một thời gian nhất định. Đây là hình thức cho vay thuận tiện cho những khách hàng vay mượn thường xuyên. Trường đại học kinh tế quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp Cho vay trả góp là hình thức tín dụng, theo đó các TCTD cho phép khách hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thoả thuận. Cho vay trả góp thường được áp dụng đối với các khoản vay trung và dài hạn, tài trợ cho tài sản cố định hoặc hàng lâu bền. Lãi suất cho vay. Lãi suất cho vay (Ls): là tỷ lệ phần trăm giữa số lợi tức thu được trong kỳ(Lt) so với số vốn cho vay phát ra (Td) trong một thời kỳ nhất định, thông thường lãi suất được tính theo năm: Ls  Lt Ld Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng bảo đảm tiền vay. Việc cho vay phải được thành lập thành Hợp đồng tín dụng. Hợp đồng tín dụng phải có đầy đủ các nội dung: điều kiện vay, hình thức vay, số tiền vay, lãi suất, thời hạn vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và những cam kết khác được các bên thoả thuận. Nói cách khác, Hợp đồng tín dụng là sự thoả thuận bằng văn bản giữa TCTD và khách hàng, theo đó TCTD chấp thuận để khách hàng được sử dụng tiền của mình trong một khoảng thời gian nhất định với điều kiện có hoàn trả nợ đủ cả nợ gốc và lãi. Mỗi phương thức cho vay có một mẫu Hợp đồng tín dụng riêng. Hợp đồng bảo đảm tiền vay là cam kết của khách hàng về việc sử dụng tài sản thuộc sở hữu của mình để thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với TCTD. Hợp đồng bảo đảm tiền vay được ký kết khi khách hàng có bảo đảm bằng tài sản với TCTD. Hiện nay, các TCTD thường sử dụng các loại Hợp đồng bảo đảm tiền vay: Hợp đồng thế chấp, Hợp đồng cầm cố, Hợp đồng tín dụng ngắn hạn kiêm bảo đảm tiền vay. Trong thực tế, QTDND Vân Canh đã xây dựng quy trình xét duyệt cho vay và thu nợ theo nguyên tắc bảo đảm tính độc lập, phân định rõ ràng trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm liên đới giữa các khâu bước. Trình tự cho vay. Trình tự cho vay bao gồm các khâu bước: - Thẩm định và quyết định cho vay, - Thu nợ, - Thanh lý hợp đồng, - Kiểm tra giám sát món vay, - Xử lý vi phạm, - Miễn giảm lãi tìên vay, - Hội đồng xử lý. Trường đại học kinh tế quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp a. Thẩm định và quyết định cho vay. Cán bộ tín dụng (CBTD). CBTD tiếp nhận hồ sơ vay vốn của thành viên. Căn cứ vào đơn xin vay cùng các tài liệu có liên quan trong hồ sơ vay vốn CBTD tiến hành các công việc sau: - Thu thập thông tin và phân tích đánh giá về thành viên xin vay. - Kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp của các tài liệu do thành viên cung cấp; phân tích tính khả thi, năng lực pháp lý của khách hàng. Tính cách và uy tín của khách hàng. Năng lực tài chính của khách hàng, khả năng trả nợ của dự án, phương án vay vốn (nếu có). Phân tích về biện pháp bảo đảm tiền vay, tính pháp lý, giá trị và khả năng sử lý tài sản bảo đảm tiền vay để thu nợ khi cần thiết. Trong quá trình thẩm định cho vay, CBTD hoặc cán bộ được phân công thẩm định phải đi khảo sát, kiểm tra thực tế thành viên. CBTD hoặc cán bộ được phân công phải chịu trách nhiệm về nội dung thẩm định trên cơ sở đó lập báo cáo thẩm định cho vay. Báo cáo thẩm định: Được lập theo mẫu của Ngân hàng Nhà nước được lưu trong hồ sơ cho vay (Mẫu số 02/TD). Trong đó phải có kết quả kiểm tra thực tế và ý kiến của CBTD về khả năng cho vay. Báo cáo thẩm định phải có đầy đủ chữ ký của người thẩm định, CBTD và có xác nhận của Giám đốc. Sau khi lập xong báo cáo thẩm định, CBTD lưu báo cáo thẩm định vào hồ sơ vay vốn và trình toàn bộ hồ sơ cho Giám đốc. Sau khi có quyết định cho vay của Giám đốc hoặc Trưởng ban tín dụng, CBTD thông báo cho các thành viên liên quan biết về quyết định cho vay hay không cho vay. Nếu đã có quyết định cho vay, CBTD soạn thảo Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng bảo đảm tiền vay (Hợp đồng thế chấp, Hợp đồng cầm cố hoặc Văn bản bảo lãnh). Giám đốc. Nhận được hồ sơ vay vốn do CBTD chuyển đến, Giám đốc có trách nhiệm xem xét, nghiên cứu báo cáo thẩm định và toàn bộ giấy tờ tài liệu có liên quan. Trong trường hợp cần thiết, Giám đốc có thể thẩm định lại hoặc giao cho CBTD thẩm định tiếp những phần còn thiếu, cần phải bổ sung. Sau khi nghiên cứu, Giám đốc quyết định cho vay hoặc không cho vay đối với những món vay thuộc quyền phán quyết của mình. Nếu quyết định không cho vay thì báo CBTD để thông báo cho khách hàng biết. Nếu quyết định cho vay thì thông báo cho khách hàng biết để đến ký Hợp đồng tín dụng. Sau đó, Giám đốc giao lại toàn bộ hồ sơ cho CBTD. Giám đốc phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình. - Đối với những món vay vượt quyền phán quyết, Giám đốc sau khi nghiên cứu, xem xét sẽ ghi rõ ý kiến của mình và trình toàn bộ hồ sơ vay vốn lên Ban tín dụng. Trường đại học kinh tế quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp Sau khi Ban tín dụng đã xem xét và quyết định cho vay, Giám đốc căn cứ vào biên bản họp xét duyệt cho vay của Ban tín dụng để ký HĐTD. Ban tín dung. Ban tín dụng tiếp nhận hồ sơ vay vốn do Giám đốc trình lên, Ban tín dụng có trách nhiệm xem xét báo cáo thẩm định và toàn bộ các tài liệu trong hồ sơ vay vốn. Trường hợp cần thiết, Ban tín dụng có thể thẩm định lại hoặc giao cho CBTD thẩm định lại. Sau khi xét duyệt, Ban tín dụng có biên bản ghi rõ quyết định cho vay hay không cho vay và chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Sau đó chuyển lại toàn bộ hồ sơ cho Giám đốc. Phát tiền vay. Sau khi hoàn tất các công việc thẩm định, xét duyệt cho vay nếu khoản vay được duyệt cho vay, Giám đốc và khách hàng vay vốn đã ký kết Hợp đồng tín dụng thì CBTD chuyển toàn bộ hồ sơ cho cán bộ kế toán. Cán bộ kế toán nhận được hồ sơ vay vốn do CBTD chuyển đến, tiến hành kiểm tra xem xét tính chất hợp lý, hợp pháp của các tài liệu trong hồ sơ. Mở cho khách hàng vay vốn một tài khoản cho vay để hạch toán tiền cho vay và thu nợ. Sau đó, cán bộ kế toán chuyển chứng từ cho thủ quỹ thực hiện phát tiền cho khách hàng vay. Sau khi giải ngân CBTD phải tiến hành kiểm tra giám sát tình hình sử dụng vốn, và tài sản bảo đảm tiền vay, kịp thời báo cáo những biểu hiện vi phạm Hợp đồng tín dụng và đề xuất ý kiến cho lãnh đạo TCTD. b. Trình tự thu nợ. Căn cứ vào đặc điểm sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, khả năng tài chính và nguồn trả nợ của khách hàng, TCTD thoả thuận với khách hàng về kỳ hạn trả nợ và ghi vào Hợp đồng tín dụng. Đối với mọi khoản cho vay TCTD phải thu đủ, thu đúng thời hạn, kỳ hạn đã được thoả thuận giữa TCTD và khách hàng. Sau khi cho vay, cán bộ kế toán phải thường xuyên theo dõi kỳ hạn trả nợ ghi trên Hợp đồng tín dụng để thu hồi nợ vay. Trước ngày đến hạn trả nợ 10 ngày, cán bộ tín dụng phải lập giấy báo nợ thông báo cho khách hàng hoặc gặp gỡ khách hàng vay vốn để đôn đốc thu nợ. Đến hạn trả nợ, khách hàng vay vốn đem tiền kèm theo Hợp đồng tín dụng đến TCTD giao cho cán bộ kế toán để làm thủ tục thu nợ. Trường đại học kinh tế quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp Khách hàng vay vốn có thể nộp bằng tiền mặt hoặc trích từ tài khoản của mình để trả nợ vay cho TCTD, cán bộ kế toán thực hiện nghiệp vụ hạch toán, ghi số tiền trả nợ vào phần 1 của phụ lục Hợp đồng tín dụng. Khách hàng vay vốn có thể trả nợ trước hạn. Trường hợp trả nợ trước hạn, TCTD và khách hàng vay vốn cần thoả thuận về số lãi tiền vay phải trả nhưng không vượt quá lãi suất đã thoả thuận trong Hợp đồng tín dụng. Trường hợp do nguyên nhân khách quan mà không trả được nợ đúng hạn, khách hàng có văn bản giải trình xin gia hạn nợ hoặc điều chỉnh kỳ hạn trả nợ. Khi đến kỳ hạn trả nợ hoặc kết thúc thời hạn cho vay, nếu khách hàng vay vốn không có khả năng trả nợ đúng hạn và không được điều chỉnh kỳ hạn nợ hoặc không được gia hạn nợ thì số nợ đến hạn phải chuyển sang nợ quá hạn và khách hàng phải chịu lãi suất nợ quá hạn đối với số tiền vay quá hạn. CBTD ghi sổ theo dõi và có biện phát để đôn đốc thu hồi nợ quá hạn. c. Thanh lý hợp đồng. Sau khi trả hết nợ gốc và lãi hoặc dư nợ cho vay đã được cấp thẩm quyền cho phép xử lý rủi ro hoặc khoanh nợ. CBTD và kế toán đối chiếu tất toán khoản cho vay đồng thời chuyển toàn bộ hồ sơ vay của món đó vào kho lưu trữ tài liệu. d. Kiểm tra, giám sát món vay. Trước khi cho vay TCTD tiến hành kiểm tra hồ sơ vay vốn, thẩm định các điều kiện vay vốn của khách hàng theo qui định. Trong khi cho vay, TCTD tiến hành kiểm tra việc cho vay và tiến độ giải ngân cho quá trình thực hiện phương án kinh doanh, mục đích sử dụng vốn tiền vay của khách hàng, kiểm tra xem xét khách hàng sử dụng tiền vay có hiệu quả và có đúng mục đích xin vay, thực trạng tài sản thế chấp bảo đảm tiền vay. Qua mỗi lần kiểm tra cán bộ đều lập biên bản làm căn cứ lưu vào hồ sơ tín dụng. Mỗi lần kiểm tra dều lập 2 liên để lưu hồ sơ và gửi khách hàng. Công tác kiểm tra của TCTD nhằm đôn đốc khách hàng thực hiện những cam kết đã thoả thận trong Hợp đồng tín dụng nhằm tránh rủi ro trong công tác tín dụng của TCTD. d. Xử lý vi phạm. TCTD căn cứ vào kết quả kiểm tra, tuỳ theo mức độ vi phạm đưa ra quyết định biện pháp xử lý phù hợp theo qui chế cho vay vốn của TCTD. e. Miễm giảm lãi tiền vay. Trường đại học kinh tế quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp TCTD thành lập hội đồng miễm giảm lãi tiền vay các đối tượng trường hợp được xét giảm lãi vốn vay, mức độ được miễm giảm lãi có qui chế về miễm giảm lãi, trách nhiệm của cá nhân, bộ phận nghiệp vụ liên quan đến miễm giảm lãi vay trong các trường hợp. Khách hàng bị tổn thất về tài sản có lên quan đến vốn vay do các nguyên nhân khách quan như thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh, bị chết, mất tích nhưng không có người thừa kế. hồ sơ xin miễm giảm phải đầy đủ chứng minh cho thiệt hại nêu trên. f. Hội đồng xử lý rủi ro. Căn cứ theo quyết định số 493/2005/QĐ NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, TCTD thành lập Hội đồng xử lý rủi ro để phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng, xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động tín dụng của mình. Công tác dự phòng gồm có hai phần : - Dự phòng cụ thể, và - Dự phòng chung. Hội đồng xử lý rủi ro QTDND Vân Canh họp mỗi tháng 1 lần nhằm đánh giá phân loại chất lượng tín dụng ngăn ngừa rủi ro và thực hiện trích lập quỹ dự phòng đúng theo qui định. Thành phần hội đồng xử lý ruỷ ro gồm có: - Chủ tịch Hội đồng quản trị cũng là Chủ tịch Hội đồng xử lý rủi ro, - Giám đốc TCTD, - Tổ trưởng Tổ tín dụng, - Kế toán trưởng, - Trưởng ban Kiểm soát. 1.1.2.3. Hoạt động dịch vụ. Bên cạnh hoạt động tín dụng là hoạt động chủ yếu thì TCTD còn tiến hành cung cấp các dịch vụ cho khách hàng và thu lệ phí từ việc thực hiện dịch vụ đó. Các TCTD có thể tham gia các hoạt động dịch vụ như: - Mở tài khoản, - Dịch vụ trung gian thanh toán, - Dịch vụ ngân quỹ, - Tổ chức và tham gia các hệ thống thanh toán, - Các hoạt động dịch vụ khác như: góp vốn, mua cổ phần, tham gia thị trường tiền tệ, kinh doanh ngoại hối và vàng, nghiệp vụ uỷ thác và đại lý, kinh doanh và dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ tư vấn …. Dịch vụ trung gian thanh toán. Trường đại học kinh tế quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp Với nghiệp vụ dịch vụ thanh toán trung gian, TCTD thực hiện thanh toán theo yêu cầu của khách hàng và nhận lệ phí từ việc thực hiện dịch vụ đó. Khách hàng có thể mang tiền đến TCTD nhờ chuyển đến cho người thụ hưởng (hình thức chuyển tiền cá nhân). Về mặt kỹ thuật nghiệp vụ này thực hiện thông qua các chứng từ chuyển tiền như: séc chuyển tiền, phiếu chuyển tiền… Hoặc có những khách hàng có mở tài khoản thanh toán tại TCTD có yêu cầu TCTD thu hộ, chi hộ thông qua các chứng từ như: uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, séc... Dịch vụ uỷ thác. TCTD có thể thực hiện uỷ nhiệm của khách hàng như thay mặt khách hàng thanh lý tài sản, quản lý và điều hành các tài sản được uỷ thác quản lý. Thực hiện trả lương cho cán bộ công nhân viên cho doanh nghiệp, trả lương cho người nghỉ hưu, cấp phát cho đối tượng chính sách, trả lãi cổ tức và trả lãi trái phiếu cho doanh nghiệp, bảo lãnh phát hành chứng khoán cho doanh nghiệp, làm trung gian tiêu thụ chứng khoán cho Chính phủ và các công ty. Các dịch vụ uỷ thác này ngày càng phát triển mạnh, xuất phát từ khả năng hoạt động của TCTD và nhu cầu xã hội. Việc thực hiện mức độ uỷ thác của TCTD phụ thuộc vào sự thoả thuận giữa TCTD và khách hàng. Thực hiện dịch vụ này vừa làm tăng lợi nhuận của TCTD đồng thời mở rộng quan hệ giữa TCTD và khách hàng. Việc TCTD đứng ra thực hiện các hoạt động dịch vụ này giúp cho khách hàng vừa đảm bảo an toàn, vừa không tốn công bảo quản vận chuyển tiền, đặc biệt nếu đó là những khoản tiền lớn phải chuyển đi xa. Bên cạnh đó việc thực hiện thanh toán, giao dịch qua TCTD đảm bảo nhanh chóng, chính xác, kịp thời, thuận tiện cho các bên trong giao dịch, thanh toán. Nhờ đó uy tín của TCTD với khách hàng cũng được cải thiện rõ rệt, đồng thời TCTD cũng có điều kiện "chiếm dụng" vốn của khách hàng trong một khoảng thời gian nhất định khi chờ thanh toán. Đối với nền kinh tế, thanh toán qua TCTD sẽ giúp giảm lượng tiền mặt trong lưu thông, tăng hiệu quả của chính sách tiền tệ, góp phần làm lành mạnh hoá hoạt động tài chính của các chủ thể kinh tế tham gia thanh toán qua TCTD. Cùng với sự phát triển của công nghệ ngân hàng hiện đại thì dịch vụ mà TCTD cung cấp cho khách hàng ngày càng phát triển, nhanh chóng, chính xác, thuận tiện. 1.1.3. Vai trò của TCTD trong nền kinh tế. Trường đại học kinh tế quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp Ngày nay, TCTD đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân đang trong tiến trình công nghiệp hoá-hiện đại hoá, tăng cường mở rộng quan hệ hợp tác nhiều bên nên vai trò của TCTD là một kênh dẫn vốn ngày càng trở nên quan trọng. Vai trò của TCTD có thể được xem xét trên một số khía cạnh sau: - Thứ nhất: TCTD giúp doanh nghiệp có vốn đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh doanh. Trong nền kinh tế thị trường, để mở rộng quy mô sản xuất đòi hỏi doanh nghiệp phải có vốn đủ lớn để đổi mới trang thiết bị, công nghệ, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại vào sản xuất kinh doanh. Trong thực tế đó, TCTD là một chủ thể cung ứng vốn cho doanh nghiệp phục vụ cho nhu cầu sản xuất và hỗ trợ doanh nghiệp trong việc thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh. Mặt khác, TCTD cũng cung cấp cho doanh nghiệp những dịch vụ tiện ích, hỗ trợ cho việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngày càng có hiệu quả. - Thứ hai: TCTD góp phần phân bổ hợp lý nguồn lực giữa các vùng, tạo điều kiện phát triển cân đối cho nền kinh tế. Vai trò này được thực hiện thông qua cơ cấu tín dụng hợp lý của TCTD. Có thể thấy rằng giữa hoạt động tín dụng với chuyển dịch cơ cấu kinh tế có mối quan hệ biện chứng với nhau. Trong đó hoạt động tín dụng của TCTD có vai trò quan trọng chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng hướng. Nếu cơ cấu tín dụng phù hợp là nhân tố thúc đẩy nền kinh tế phát triển đúng hướng, ngược lại nếu cơ cấu tín dụng được điều hành thiếu linh hoạt thì trở thành nhân tố kìm hãmsự phát triển của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. - Thứ ba: TCTD tạo môi trường cho việc thực hiện chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương. Bởi vì hoạt động kinh doanh của TCTD gắn liền với các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân khác trong nền kinh tế. Đồng thời thông qua TCTD và các định chế tài chính trung gian mà Ngân hàng trung ương có những thông tin phản hồi về tình hình giá cả, sản lượng, công ăn việc làm, nhu cầu tiền mặt, lãi suất, tỷ giá... Trên cơ sở đó, Ngân hàng trung ương có những chính sách điều tiết thích hợp với tình hình cụ thể ở từng thời kỳ. - Thứ tư: TCTD là một trong các cầu nối cho việc phát triển kinh tế đối ngoại giữa các quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Để hỗ trợ cho các doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh và khẳng định vị trí của mình trên trường quốc tế thì vai trò của TCTD là không thể thiếu được. Với xu hướng phát triển của nền kinh tế hội nhập vào cộng đồng kinh tế khu vực và trên toàn thế giới, TCTD góp phần mở rộng quan hệ giao lưu kinh tế, phát huy lợi thế cạnh tranh của mỗi quốc gia trong quan hệ hợp tác quốc tế. 1.2. HIỆU QUẢ CHO VAY CỦA TCTD. Trường đại học kinh tế quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp 1.2.1. Quan niệm về hiệu quả cho vay. Hiệu quả cho vay được hiểu theo nghĩa đúng là vốn vay TCTD đáp ứng kịp thời đầy đủ vốn cho doanh nghiệp và được doanh nghiệp đưa vào quá trình sản xuất kinh doanh, dịch vụ để tạo ra số tiền lớn hơn hoàn trả được cho TCTD (trả đủ cả nợ gốc và lãi), trang trải đủ chi phí và có lợi nhuận. Hiệu quả cho vay là khái niệm vừa cụ thể (có thể được đo lường qua một số chỉ tiêu định lượng như kết quả kinh doanh, nợ quá hạn…) vừa trừu tượng (có thể được xem xét thông qua những chỉ tiêu định tính như khả năng thu hút khách hàng, tác động đến nền kinh tế …. Hiệu quả cho vay không tự nhiên mà có, nó là kết quả của cả qúa trình phối kết hợp hoạt động của con người trong một tổ chức, giữa các tổ chức với nhau vì một mục đích chung. Do đó, để đạt được chất lượng cần có sự quản lý khoa học và chặt chẽ, đặc biệt phải có chính sách tín dụng đúng đắn, phù hợp. 1.2.2. Một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả cho vay của TCTD Để đánh giá hiệu quả cho vay của một TCTD, người ta xem xét trên một số giác độ sau: - Hoạt động an toàn, hạn chế rủi ro, - Khả năng thu hút khách hàng, - Kết quả của hoạt động cho vay. 1.2.2.1. Hoạt động an toàn, hạn chế rủi ro. Rủi ro tín dụng là rủi ro phức tạp nhất, quản lý và phòng ngừa nó rất khó khăn, nó có thể xảy ra ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào. Bất cứ một rủi ro nào từ phía người vay cũng có thể dẫn đến rủi ro cho TCTD. Rủi ro ảnh hưởng lớn đến hoạt động cho vay của TCTD nói riêng và toàn bộ hoạt động kinh doanh của TCTD nói chung, do đó quản lý rủi ro cần được quan tâm bởi mọi TCTD đang hoạt động đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường như hiện nay. TCTD cần phải dự đoán được rủi ro để có những giải pháp quản lý và phòng chống rủi ro cũng như chấp nhận rủi ro ở mức độ hợp lý. Không việc kinh doanh nào là không có rủi ro, nhưng nếu rủi ro quá giới hạn cho phép thì kinh doanh sẽ lỗ, thậm chí phá sản. Rủi ro trong kinh doanh là một tất yếu, nó có thể xuất hiện với muôn hình vạn trạng, tuy nhiên vẫn có thể nhận biết nguy cơ ruỉ ro thông qua một số dấu hiệu nhất định. Trong hoạt động cho vay của TCTD, nguy cơ rủi ro biểu hiện bên ngoài là việc không hoàn thành nghĩa vụ trả nợ, vốn bị ứ đọng, khó có khả năng thu hồi, nợ quá hạn ngày càng lớn, các khoản lãi chưa thu ngày càng tăng .... Trường đại học kinh tế quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp Để đo lường rủi ro trong hoạt động cho vay của TCTD người ta thường quan tâm tới một số chỉ tiêu đánh giá như sau: - Hệ số phân tán rủi ro, - Nợ quá hạn và mức độ nợ quá hạn, Hệ số phân tán rủi ro. Rủi ro là những tổn thất có thể xảy ra ngoài dự kiến. Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra những tổn thất ngoài dự kiến cho TCTD do khăch hàng vay nhưng không trả đúng hạn, trả không trả đầy đủ gốc và lãi, hoặc không trả, do chất lượng CBTD kém không đủ trình độ đánh giá khách hàng hoặc cố tình làm sai, do các nguyên nhân bất khả kháng. Hệ số phân tán rủi ro được dùng để đánh giá khả năng hạn chế rủi ro từ phía khách hàng, tức là đánh giá khả năng phân tán rủi ro, không tập trung vốn cho một khách hàng hoặc một số khách hàng quá lớn. Hệ số phân tán rủi ro được sử dụng đa dạng ở các nước khác nhau. ở nước ta, có quy định TCTD không được cho khách hàng vay quá 15% vốn tự có của mình, không được cho vay quá 5% vốn tự có đối với đối tượng ưu đãi. Nếu có sự vi phạm giới hạn an toàn trên thì TCTD bị đánh giá trong tình trạng mất an toàn. Nợ quá hạn Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ. Nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hàng không trả được dụng đã đến hạn thoả thuận ghi trên hợp đồng tín dụng. Khi một món nợ không trả được vào kỳ hạn nợ, toàn bộ nợ gốc còn lại của hợp đồng sẽ được chuyển thành nợ quá hạn. Nợ khó đòi và tỷ lệ khó đòi trên tổng dư nợ. Nợ khó đòi là khoản nợ quá hạn và kèm theo một số tiêu chí khác như quá một kỳ gia hạn nợ, hoặc không có tài sản đảm bảo, hoặc tài sản đảm bảo không bán được, con nợ thua lỗ triền miên, phá sản… Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn là chỉ tiêu rất quan trọng đánh giá hoạt động của một TCTD. Nợ quá hạn và mức độ nợ quá hạn phản ánh chất lượng tài sản có (khoản cho vay) rất rõ nét. Nợ quá hạn và mức độ nợ quá hạn có ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của TCTD trong hiện tại và tương lai. Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ cho vay của TCTD tại một thời điểm nhất định cũng phản ánh khả năng hoạt động an toàn của TCTD. Nếu tỷ lệ nợ quá hạn quá lớn, vượt quá giới hạn nhất định thì TCTD sẽ gặp phải rủi ro mất vốn, ảnh hưởng tới hoạt động cho vay của TCTD nói riêng và kết quả hoạt động kinh doanh của TCTD nói chung. Trường đại học kinh tế quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp Tỷ lệ NQH = (Nợ quá hạn/ Tổng dư nợ cho vay) x 100% Bên cạnh đó, để đánh giá hoạt động cho vay an toàn hay không TCTD, có thể xem xét tỷ lệ giữa cho vay có bảo đảm bằng tài sản trên tổng dư nợ cho vay. 1.2.2.2. Khả năng thu hút khách hàng. Sản phẩm TCTD cung cấp cho khách hàng là sản phẩm vô hình, là một loại dịch vụ tiện ích. Để đánh giá được chất lượng dịch vụ phải căn cứ trên cơ sở mức độ thoả dụng của khách hàng khi sử dụng dịch vụ. Sản phẩm dịch vụ của TCTD có những đặc điểm hết sức khác biệt so với các sản phẩm của ngành sản xuất khác. Sản phẩm dịch vụ của TCTD không tồn tại dưới dạng vật chất mà tồn tại dưới dạng dịch vụ được thực hiện thông qua các nghiệp vụ kinh doanh của TCTD. Trong hoạt động dịch vụ cho vay, sản phẩm mà TCTD cung cấp cho khách hàng là quyền sử dụng vốn trong một khoảng thời gian nhất định do TCTD và khách hàng có thoả thuận trước. Do đó, TCTD cần quan tâm tới nhu cầu của khách hàng, thiết lập mối quan hệ chặt chẽ và tin cậy với khách hàng, đổi mới trang thiết bị phục vụ khách hàng. Các chỉ tiêu định tính để đánh giá khả năng thu hút khách hàng. Để đánh giá khả năng thu hút khách hàng, các TCTD thường áp dụng các chỉ tiêu định tính sau: - Mức độ đơn gỉản và thuận tiện trong thủ tục, trình tự cho vay của TCTD đối với khách hàng. Mức độ cung ứng kịp thời.của món vay cho khách hàng khi khách hàng cần thiết. Đặc biệt là mức độ quan hệ thân thiện, trên cơ sở tin cậy và tương trợ giữa TCTD và khách hàng. - Tính phù hợp của lãi suất cho vay của TCTD. Khi bản thân khách hàng là người đi vay, phải trả lãi cho TCTD thì đó là một khoản chi phí để sử dụng vốn vay. Nếu chi phí này cao hơn so với khả năng sinh lời của dự án mà khách hàng đầu tư thì ắt hẳn là rất khó khăn trong việc hoàn trả nợ. Mặt khác, để mở rộng mối quan hệ với khách hàng, các TCTD khác có thể đưa ra những mức lãi suất "hấp dẫn" để cạnh tranh thu hút khách hàng cho mình. Do đó, TCTD cần phải quan tâm tới vấn đề cạnh tranh giữa các TCTD, lãi suất mà TCTD đưa ra cần phải linh hoạt, vừa bảo đảm thu hút khách hàng vừa bảo đảm lợi nhuận của TCTD, đồng thời TCTD cần phải quan tâm tới mức lãi suất thị trường ở từng thời kỳ. - Khả năng áp dụng công nghệ hiện đại trong quy trình nghiệp vụ của TCTD. Khoa học công nghệ phát triển kéo theo sự biến đổi to lớn trên nhiều lĩnh vực và toàn bộ đời sống xã hội, không ngoại trừ hoạt động của TCTD. Trong những năm qua, chương trình hiện đại hoá hoạt động TCTD, áp dụng công nghệ thông tin đã Trường đại học kinh tế quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp được quan tâm. Nhờ đó, tạo điều kiện cho TCTD tiến hành hoạt động của mình nhanh chóng, chính xác, giảm bớt thời gian xử lý nghiệp vụ và tạo niềm tin với khách hàng sẽ được cung cấp những dịch vụ tốt nhất. 1.2.2.3. Kết quả của hoạt động cho vay. Kết quả hoạt động cho vay của TCTD thường được đánh gía trên các chỉ tiêu sau: - Lợi nhuận, - Quy mô tín dụng, - Cơ cấu tín dụng, Lợi nhuận. TCTD là một doanh nghiệp kinh doanh, do đó mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận là một mục tiêu được ưu tiên đặc biệt trong nền kinh tế thị trường như hiện nay. Mọi doanh nghiệp trong cơ chế thị trường chỉ có thể tồn tại và phát triển bằng kinh doanh có lãi. Một TCTD muốn kinh doanh có lãi thì doanh thu chủ yếu từ lãi thu được từ các khoản cho vay phải lớn hơn chi phí. Để tăng lợi nhuận, một mặt TCTD phải tìm mọi biện pháp tăng thu, mặt khác TCTD phải giảm chi phí nghiệp vụ của mình. Trong điều kiện cạnh tranh hiện nay, việc tăng thu thông qua biện pháp tăng lãi suất cho vay là khó có thể thực hiện được bởi hầu hết các TCTD đều ra sức cạnh tranh nhau thông qua việc định ra lãi suất cạnh tranh. Quy mô tín dụng. Quy mô hoạt động cho vay của TCTD phản ánh tình hình hoạt động cho vay của TCTD, về số lượng được thể hiện thông qua các chỉ tiêu cụ thể như: doanh số cho vay, doanh số thu nợ và dư nợ cho vay của TCTD tại thời điểm đánh giá. Để đánh giá quy mô biến động của TCTD, cần theo dõi và so sánh các chỉ tiêu đó theo thời gian. Dư nợ cho vay cuối kỳ Doanh số cho vay Dư nợ cho vay = + trong kỳ đầu kỳ Doanh số thu nợ trong kỳ Cơ cấu tín dụng Cơ cấu tín dụng thể hiện tỷ trọng các khoản mục cho vay trong tổng số dư nợ cho vay của TCTD ở từng thời kỳ. Trên cơ sở xem xét cơ cấu tín dụng của TCTD kết hợp với tình hình kinh tế đất nước có thể thấy hoạt động của TCTD tập trung vào những bộ phận nào, khả năng phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế xã hội. Có thể thấy rằng giữa hoạt động tín dụng, hoạt động cho vay của TCTD với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong đó hoạt Trường đại học kinh tế quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp động cho vay chỉ có thể mang lại hiệu quả cao và phát triển bền vững trong dài hạn nếu nền kinh tế phát triển ổn định và vững chắc, nghĩa là cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo đúng hướng. Khi cơ cấu kinh tế chậm đổi mới tức là lợi thế so sánh của quốc gia chưa được khai thác triệt để, sẽ làm cho hoạt động cho vay trở nên kém sôi động, giảm sút về hiệu quả và rủi ro tăng cao. Ngược lại, hoạt động cho vay cũng có vai trò tác động rất quan trọng đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Về mặt cơ cấu, nếu cơ cấu tín dụng được điều hành linh hoạt và phù hợp sẽ trở thành nhân tố tích cực thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo định hướng đã xác định; còn nếu cơ cấu cho vay và cơ cấu tín dụng được điều hành thiếu linh hoạt và trì trệ thì sẽ trở thành nhân tố kìm hãmquá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Như vậy, cùng với việc tăng quy mô dư nợ tín dụng để đáp ứng nhu cầu vốn cho tăng trưởng kinh tế là việc xác định một cơ cấu tín dụng, cơ cấu cho vay phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế. 1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay của TCTD. Hiệu quả cho vay có ý nghĩa rất lớn đối với sự tồn tại và phát triển của TCTD. Để quản lý tốt hiệu quả cho vay, TCTD phải hiểu rõ tác động của những nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng hiệu quả cho vay, đo lường được mức độ ảnh hưởng của nó. 1.2.3.1. Các nhân tố chủ quan. Về phía khách hàng. Khách hàng là người có nhu cầu sử dụng vốn của TCTD. Khách hàng mong muốn được đáp ứng đầy đủ vốn phù hợp với nhu cầu sản xuất kinh doanh với thời hạn vay, lãi suất vay hợp lý, thủ tục nhanh chóng. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, khách hàng là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển và ổn định lâu dài trong hoạt động của TCTD. Do đó, TCTD phải tích cực mở rộng quan hệ với khách hàng trên cơ sở hiệu quả hoạt động kinh doanh của khách hàng đem lại hiệu quả hoạt động của TCTD. Tuy nhiên, cần phải phân tích đánh giá khách hàng tỉ mỉ, chính xác để tiếp cận được những khách hàng có chất lượng đảm bảo khoản vốn vay của TCTD được đầu tư đúng hướng.Tất cả những nội dung này sẽ tạo cho hoạt động cho vay của TCTD an toàn và hiệu quả. Khách hàng hoạt động kinh doanh có hiệu quả thì khả năng hoàn trả nợ tiền vay TCTD đủ cả gốc và lãi đúng hạn, sẽ làm tăng vòng quay vốn tín dụng, mở rộng qui mô vốn đầu tư, tăng hiệu quả đồng vốn vay, tăng hiệu quả cho vay của TCTD. Về phía TCTD. Trường đại học kinh tế quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp Chính sách tín dụng của TCTD. Chính sách tín dụng của TCTD là hệ thống các biện pháp liên quan đến việc khuếch trương tín dụng hoặc hạn chế tín dụng để đạt mục tiêu đã được hoạch định của TCTD, hạn chế rủi ro, đảm bảo an toàn trong kinh doanh của TCTD. Như vậy, bất cứ một chính sách tín dụng nào trong nền kinh tế đều phải đạt 3 mục tiêu: lợi nhuận, an toàn ít rủi ro và sự lành mạnh của các khoản tín dụng. Bất cứ một TCTD nào muốn đạt được các mục tiêu kinh doanh thì phải hoạch định một cách rõ ràng một chính sách phù hợp cho TCTD mình để xác định phương hướng sử dụng nguồn vốn hiện có, để tạo ra tài sản có chất lượng ít rủi ro. Đồng thời, chính sách tín dụng cũng là một "bản hướng dẫn" quan trọng cho các cán bộ tín dụng thực thi hoạt động của mình. Huy động vốn. Muốn nâng cao hiệu quả cho vay thì TCTD phải đáp ứng đầy đủ vốn cho các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh liên tục. Thực tế hiện nay, nguồn vốn tự có của các TCTD quá nhỏ bé, các TCTD muốn có đủ vốn cung cấp cho các doanh nghiệp thì TCTD phải huy động được các nguồn vốn tiềm tàng trong nền kinh tế. Nguồn vốn huy động hiện nay phổ biến gồm: tiền gửi của các tổ chức kinh tế xã hội, tiền gửi của dân cư. TCTD có đáp ứng đủ vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp thì nền kinh tế mới phát triển, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả, có lãi, hoàn trả vốn vay cho TCTD đủ cả gốc và lãi. Chất lượng thẩm định tín dụng và qui trình cho vay. Quá trình cho vay được bắt đầu từ khi thẩm định cho vay đến khi phát tiền vay, kiểm tra quá trình sử dụng vốn vay đến khi thu hồi được nợ. Thẩm định cho vay là khâu quan trọng nhất, quyết định đến hiệu quả cho vay. Thực hiện tốt khâu thẩm định cho vay sẽ tạo tiền đề cho việc thu hồi cả vốn và lãi khi đến hạn thanh toán, tạo điều kiện cho vốn tín dụng luân chuyển nhanh. Để thực hiện đầu tư vốn có hiệu quả, khi quyết định cho vayTCTD phải tính toán đảm bảo theo đúng qui định của chế độ tín dụng hiện hành. Trước khi ký duyệt cho vay phải tính đến sự an toàn của vốn vay, khả năng hoàn trả vốn vay, khả năng sinh lời của vốn tín dụng. Thực hiện tốt qui trình cho vay sẽ hạn chế được điều bất lợi xảy ra và đảm bảo được độ an toàn của đồng vốn. Trường đại học kinh tế quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp Công tác tổ chức hoạt động TCTD. Để hoạt động có hiệu quả, TCTD phải cụ thể hoá và sắp xếp các bộ phận phòng ban liên quan một cách khoa học trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc tín dụng, quản lý được tài sản nợ và tài sản có của TCTD. Do khả năng rủi ro trong kinh doanh tín dụng xảy ra cao hơn so với các loại hình kinh doanh khác nên cần có sự phối hợp giữa các bộ phận trong TCTD, cần có mối quan hệ của TCTD với các cấp chính quyền địa phương, công an, toà án, viện kiểm soát ... nhằm tạo điều kiện quản lý vốn tín dụng có hiệu quả. Chất lượng cán bộ. Hoạt động của TCTD ngày càng phát triển và đa dạng, sử dụng các phương tiện làm việc tiên tiến, hiện đại nên việc tuyển chọn cán bộ phải đảm bảo có đủ tiêu chuẩn đạo đức, nghiệp vụ chuyên môn, có khả năng tiếp thu và áp dụng khoa học mới tiên tiến. Trình độ cán bộ quản lý điều hành và CBTD hạn chế sẽ ảnh hưởng không tốt đến chất lượng thẩm định tín dụng, không đánh giá đúng hiệu quả vốn vay, không đề xuất biện pháp xử lý kịp thời khi có các tình huống bất lợi xảy ra. Thông tin tín dụng. Trên cơ sở những thông tin đã thu thập được, cán bộ điều hành có thể ra những quyết định đúng đắn về việc đầu tư tín dụng hoặc biện pháp cần thiết liên quan đến việc theo dõi quản lý thu hồi nợ. Kiểm soát nội bộ. Công tác kiểm soát nội bộ giúp cho cán bộ điều hành công việc theo đúng cơ chế, qui chế và đúng pháp luật. Mặt khác, cán bộ điều hành phát hiện được sai sót, lệch lạc trong hoạt động tín dụng, đề xuất biện pháp khắc phục kịp thời thông qua kiểm tra, kiểm soát đảm bảo cho hoạt động của TCTD thông suốt, có hiệu quả đảm bảo lợi ích của TCTD, thực hiện chế độ thưởng phạt nghiêm minh. Nâng cao chất lượng kiểm tra, kiểm soát nội bộ sẽ góp phần không nhỏ vào việc nâng cao hiệu quả cho vay. 1.2.3.2. Các nhân tố khách quan. Chính sách tiền tệ và tài chính của Nhà nước. Những chính sách tiền tệ và tài chính của Nhà nước mang tính pháp lý cao và TCTD buộc phải tuân theo. Khi Nhà nước có chủ trương muốn mở rộng tín dụng thì TCTD phải mở rộng cho vay theo; hoặc khi Nhà nước hạn chế tín dụng thì TCTD cũng phải nghiêm chỉnh chấp hành.
- Xem thêm -