Tài liệu Kinh tế tư nhân trong ngành thủy sản ở tỉnh bến tre

  • Số trang: 101 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 78 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

1 Luận văn Kinh tế tư nhân trong ngành thủy sản ở tỉnh Bến Tre 2 Mở Đầu 1. Tính cấp thiết của đề tài Bến Tre là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long, được hợp thành bởi 3 cù lao lớn. Với địa thế nằm ở cuối nguồn Cửu Long và gần như bao trùm toàn bộ vùng hạ lưu sông Tiền, bốn nhánh đổ ra biển, đã tạo ra cho Bến Tre một hệ sinh thái khá độc đáo của một vùng cù lao cửa sông với 65 km bờ biển, địa hình có nhiều sông ngòi, kênh rạch lớn nhỏ, đây là tiềm năng rất lớn để Bến Tre phát triển ngành thủy sản. Vì vậy, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VII (2000) đã xác định thủy sản là ngành kinh tế mũi nhọn là bước đột phá sự tăng trưởng kinh tế của địa phương và chủ trương này được cụ thể hoá bằng các nghị quyết, chuyên đề về phát triển ngành thủy sản, trong đó đặc biệt quan tâm về phát triển kinh tế tư nhân (KTTN) trong ngành thủy sản. Trên thực tế, thời gian qua KTTN trong ngành thủy sản ở Bến Tre phát triển khá mạnh và đã đóng góp rất lớn vào phát triển ngành thủy sản, KTTN có nhiều kinh nghiệm trong khai thác, chế biến và nuôi trồng thủy sản. Mặt khác, KTTN rất linh hoạt, nhạy bén với cơ chế thị trường phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế biển hiện nay. Tuy nhiên, do ảnh hưởng tư duy nhận thức cũ về KTTN của một số cán bộ xem nhẹ vai trò của KTTN, nên KTTN chưa phát huy hết vai trò trong phát triển ngành thủy sản nói riêng và phát triển kinh tế tỉnh nhà nói chung. Để tiếp tục khai thác có hiệu quả tiềm năng thế mạnh của KTTN và phấn đấu sớm đưa ngành thủy sản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, thì cần làm rõ thực trạng KTTN nhằm hoạch định chính sách phù hợp để phát triển KTTN trong ngành thủy sản ở Bến Tre theo nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Chính vì vậy, “Kinh tế tư nhân trong ngành thủy sản ở tỉnh Bến Tre” 3 được chọn làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ Kinh tế. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Kinh tế tư nhân trong quá trình đổi mới ở nước ta hiện nay đã được nhiều nhà khoa học quan tâm ở các góc độ, phạm vi, mức độ khác nhau và đã có nhiều bài viết đăng trên các báo, tạp chí…như: - GS.TS Hồ Văn Vĩnh (chủ biên), Kinh tế tư nhân và quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003. Trong công trình này, tác giả đã đề cập đến vị trí, vai trò của KTTN trong nền kinh tế nhiều thành phần; vấn đề quản lý của nhà nước đối với KTTN, thực trạng KTTN ở nước ta, phương hướng, giải pháp, chiến lược phát triển KTTN trong tình hình hiện nay. - TS. Hà Huy Thành (chủ biên), Thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân- lý luận và chính sách, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002. tác giả đã nghiên cứu những vấn đề lý luận về kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân, đánh giá và phân tích thực trạng phát triển khu vực KTTN ở nước ta trong thời kỳ đổi mới, đồng thời trình bày những quan điểm, chính sách và đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực KTTN trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. - Luận văn thạc sĩ Phan Mậu Doãn, Kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa ở tỉnh Đồng Nai, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2005. Tác giả đã phân tích, đánh giá vị trí, vai trò và xu hướng vận động của KTTN trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Phân tích thực trạng KTTN ở tỉnh Đồng Nai, từ đó đề ra những giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả của KTTN ở Đồng Nai. - Cùng một số bài viết của các tác giả: GS.TS Vũ Đình Bách; PGS.TS Vũ Văn Phúc; PGS.TS Nguyễn Đình Kháng; PGS.TS Ngô Thị Hoài Lam; GS.TS Nguyễn Thị Doan; TS Nguyễn Văn Lịch. 4 Trong ngành thủy sản, đã có luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Hồng Minh về đề tài “Phát huy năng lực các thành phần kinh tế trong công nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu ở Việt Nam hiện nay”, năm 1996, luận án này chỉ đề cập đến việc phát huy năng lực các thành phần kinh tế trong công nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu chung cho cả nước. Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thành Hưng về đề tài: “Doanh nghiệp nhà nước khai thác, chế biến thủy sản trong cơ chế thị trường ở nước ta hiện nay”, năm 2001, luận án chỉ đề cập doanh nghiệp nhà nước khai thác, chế biến thủy sản trong phạm vi cả nước… và một số luận văn thạc sĩ nghiên cứu về ngành thủy sản như: - “Phát triển công nghiệp chế biến thủy sản ở tỉnh Kiên Giang”, năm 2000 của thạc sĩ Lê Thị Đào Thanh. Luận văn chỉ đề cập ở góc độ đánh bắt xa bờ biển, chế biển hải sản (cá nước mặn, nước lợ) ở tỉnh Kiên Giang. - “Phát huy năng lực kinh tế tư nhân trong ngành thủy sản ở Kiên Giang”, năm 2000 của thạc sĩ Võ Thị Xinh. Luận văn này đề cập vai trò thành phần KTTN trong công nghiệp khai thác chế biến thủy sản (cá nước mặn, nước lợ) ở tỉnh Kiên Giang. - “Phát triển công nghiệp chế biến thủy sản ở tỉnh An Giang”, năm 2001 của thạc sĩ Lưu Vĩnh Nguyên. ở luận văn này, tác giả chỉ đề cập đến phát triển công nghiêp chế biến thủy sản nước ngọt trên địa bàn tỉnh An Giang. Nhìn chung đã có rất nhiều công trình, bài báo, luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ nghiên cứu về KTTN nhưng ở góc độ chung của nền kinh tế quốc dân hoặc nghiên cứu KTTN trong việc khai thác, chế biến thủy sản. Trong khi đó, ở Bến Tre thủy sản đang trở thành một trong hai ngành chiến lược của tỉnh, ngành thủy sản ở Bến Tre đã đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao tỉ lệ tăng trưởng GDP, góp phần quan trọng giải quyết việc làm cho người lao động. Tuy vậy, việc nghiên cứu KTTN trong ngành thủy sản ở Bến Tre chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách độc lập. Vì vậy, vấn đề KTTN trong ngành thủy sản ở Bến Tre cần được nghiên cứu một cách cơ bản và toàn diện hơn. 5 3. Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu của luận văn - Mục đích nghiên cứu của luận văn là khẳng định rõ hơn vai trò, tính tất yếu khách quan của KTTN trong ngành thủy sản, đồng thời thông qua việc nghiên cứu thực trạng tình hình KTTN trong ngành thủy sản ở Bến Tre đã làm luận cứ khoa học cho việc đưa ra những giải pháp phát triển KTTN trong ngành thủy sản ở Bến Tre. - Với mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ: + Làm rõ vai trò KTTN trong ngành thủy sản ở Bến Tre. + Phân tích, đánh giá thực trạng KTTN trong ngành thủy sản ở Bến Tre trong những năm gần đây để tìm ra những vấn đề cần giải quyết trong phát triển KTTN ngành thủy sản. + Từ thực trạng, xác định phương hướng và đề ra các giải pháp chủ yếu nhằm phát huy hiệu quả KTTN trong ngành thủy sản ở Bến Tre thời gian tới. - Phạm vi nghiên cứu: Luận văn xác định đối tượng nghiên cứu là KTTN trong ngành thủy sản ở Bến Tre, thời gian khảo sát chủ yếu những năm gần đây. 4. Cơ sở ký luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn Luận văn được thực hiện dựa trên những nguyên lý của chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, những chủ trương, chính sách của Nhà nước về các thành phần kinh tế nói chung, KTTN nói riêng. Ngoài ra, luận văn kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học có liên quan đến đề tài. Về phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lênin, phương pháp lôgíc và lịch sử. Ngoài các phương pháp nghiên cứu của kinh tế chính trị MácLênin, luận văn còn sử dụng các phương pháp khác như: phân tích, tổng hợp, so sánh… 6 5. Những đóng góp về mặt khoa học của luận văn Luận văn vận dụng lý luận chung vào phân tích tình hình cụ thể trong một lĩnh vực ở địa phương nhằm làm rõ vai trò KTTN trong ngành thủy sản ở Bến Tre. Trên cơ sở đó đề ra những giải pháp có tính khả thi để phát triển KTTN ngành thủy sản ở Bến Tre trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam. 6. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn Từ việc nghiên cứu, phân tích thực trạng, đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm phát triển KTTN trong ngành thủy sản ở Bến Tre theo định hướng XHCN. Luận văn góp phần cung cấp thêm những cơ sở khoa học cho các cơ quan, ban ngành trong tỉnh tham khảo, hoạch định chính sách nhằm phát triển KTTN trong ngành thủy sản ở Bến Tre nói riêng và phát triển kinh tế- xã hội nói chung. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 6 tiết. 7 Chương 1 Vai trò kinh tế tư nhân trong ngành thủy sản ở bến tre 1.1. kinh tế tư nhân và đặc điểm của kinh tế tư nhân trong ngành thủy sản 1.1.1. Quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân Trong lịch sử phát triển của Việt Nam, sở hữu tư nhân và KTTN đã ra đời trước và có một quá trình phát triển lâu dài, cho đến khi chúng ta đã tiến hành các đợt cải tạo XHCN, phát triển nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, thì KTTN bị coi là không đồng hành với quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH), do đó nó đã không được thừa nhận về mặt nhận thức, quan điểm và pháp lý. Do đó, việc thừa nhận và tạo mọi điều kiện khuyến khích phát triển KTTN, coi mọi thành phần kinh tế điều là những bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân là cả một quá trình phát triển không ngừng về tư duy nhận thức. Quá trình đó đã gắn liền với trình đổi mới toàn diện của đất nước chuyển nền kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường định hướng XHCN. Kinh tế tư nhân được Đảng và Nhà nước ta thừa nhận là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế quốc dân. Trong những năm qua, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, KTTN phát triển rộng khắp cả nước trên tất cả các lĩnh vực. Đánh giá vai trò của KTTN trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX đã khẳng định: KTTN là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Phát triển KTTN là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng XHCN, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nâng cao nội lực của đất nước trong hội nhập kinh tế quốc tế [14, tr.363- 364]. 8 Đây là quan điểm của Đảng về phát triển KTTN trong thời kỳ đổi mới. Để đưa ra được quan điểm này Đảng ta phải trải qua một quá trình nghiên cứu, thử nghiệm và tổng kết thực tiễn. Thật vậy, sau năm 1975 mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung ở miền Bắc được áp dụng vào miền Nam. Cho đến giữa những năm 1980, mô hình kinh tế này được áp dụng rộng rãi trên phạm vi cả nước, nền kinh tế lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng. Trước tình hình đó, công cuộc đổi mới được khởi xướng, trong đó, nhận thức về KTTN cũng từng bước đổi mới. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12/1986) đã thừa nhận sự tồn tại khách quan của KTTN bao gồm kinh tế tiểu sản xuất- hàng hoá, tiểu thương, tư sản nhỏ. Đại hội đã chỉ rõ: Kinh tế gia đình có vị trí quan trọng và có khả năng dồi dào, cần được khuyến khích và giúp đỡ phát triển. Đối với kinh tế tiểu sản xuất hàng hoá, nhà nước thừa nhận sự cần thiết của bộ phận kinh tế này trong thời kỳ quá độ. Đối với tiểu thương, thông qua nhiều hình thức tuỳ theo ngành hàng, để sắp xếp, cải tạo và sử dụng họ thành lực lượng bổ sung cho thương nghiệp XHCN…Nhà nước cho phép những nhà tư sản nhỏ sử dụng vốn, kiến thức kỹ thuật và quản lý của họ để tổ chức sản xuất, kinh doanh trong một số ngành nghề thuộc khu vực sản xuất và dịch vụ ở những nơi cần thiết trong cả nước [10, tr.59-60]. Tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khoá VI đã làm rõ thêm quan điểm về phát triển KTTN: Nhà nước công nhận sự tồn tại lâu dài và tác dụng tích cực của kinh tế gia đình, kinh tế cá thể, KTTN sản xuất, dịch vụ; bảo hộ quyền sở hữu, quyền thừa kế tài sản và thu nhập hợp pháp của công dân trong các loại hình kinh tế này; thừa nhận tư cách pháp nhân và 9 bảo đảm địa vị bình đẳng trước pháp luật trong hoạt động sản xuất kinh doanh của họ; xoá bỏ mọi định kiến hẹp hòi và phân biệt đối xử về mặt chính trị và xã hội với họ và con cái họ [17, tr.96]. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (khoá VI) nêu rõ quan điểm: Thực hiện nhất quán chính sách cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, giải phóng mọi năng lực sản xuất và coi chính sách kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ đi lên CNXH và thể hiện tinh thần dân chủ về kinh tế, bảo đảm cho mọi người được tự do làm ăn theo pháp luật. Nghị quyết nhấn mạnh: Trong điều kiện của nước ta, các hình thức KTTN; cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân vẫn cần thiết lâu dài cho nền kinh tế và nằm trong cơ cấu của nền kinh tế hàng hoá đi lên CNXH. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (6/1991) đã xác định rõ hơn quan điểm của đảng đối với KTTN là: KTTN được phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất, theo sự quản lý, hướng dẫn của Nhà nước; trong đó, kinh tế cá thể và tiểu chủ có phạm vi hoạt động tương đối rộng ở những nơi chưa có điều kiện tổ chức kinh tế tập thể, hướng kinh tế tư bản tư nhân phát triển theo con đường tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức [11, tr.69]. Một trong những cơ sở pháp lý quan trọng và có hiệu lực cao nhất bảo đảm cho sự phát triển lâu dài và bình đẳng của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh là Hiến pháp năm 1992. Hiến pháp đã xác định nền kinh tế nước ta là: nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN và ghi nhận sự tồn tại của thành phần kinh tế cá thể và tư bản tư nhân. Điều 21 của Hiến pháp có quy định rõ: “Kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân được chọn hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, được thành lập doanh nghiệp, không bị hạn chế về quy mô hoạt động trong những ngành nghề có lợi cho quốc kế dân sinh. Kinh tế gia đình được khuyến khích phát triển”. 10 Hiến pháp thừa nhận sự tồn tại khách quan của nhiều hình thức sở hữu, bảo hộ vốn và tài sản hợp pháp của người kinh doanh lần đầu tiên kể từ năm 1954, sở hữu tư nhân đã được Hiến pháp thừa nhận và coi là một trong ba chế độ sở hữu chủ yếu của nền kinh tế. Có thể nói, Hiến pháp năm 1992 đã đặt những nền móng vững chắc cho sự phát triển lâu dài và ổn định của KTTN. Đại hội lần thứ VIII của Đảng làm rõ thêm quan điểm đối với phát triển KTTN, cụ thể là: Giúp đỡ kinh tế cá thể, tiểu chủ giải quyết các khó khăn về vốn, về khoa học và công nghệ, về thị trường tiêu thụ sản phẩm, hướng dẫn họ từng bước đi vào làm ăn hợp tác một cách tự nguyện hoặc làm vệ tinh cho các doanh nghiệp nhà nước hay hợp tác xã. Khuyến khích tư bản tư nhân đầu tư vào sản xuất, yên tâm làm ăn lâu dài, bảo hộ quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp, tạo điều kiện thuận lợi đi đôi với tăng cường quản lý, hướng dẫn làm ăn đúng pháp luật, có lợi cho quốc kế dân sinh [12, tr.26]. Hội nghị Trung ương 6 khoá VIII (lần 1) nhấn mạnh hơn nữa các chính sách đối với KTTN là: Giải phóng và phát huy mọi lực lượng, mọi tiềm năng, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho mọi người, mọi gia đình, mọi doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả…Tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho KTTN phát triển không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những lĩnh vực mà pháp luật không cấm, khắc phục sự giảm sút của khu vực kinh tế này [17, tr.304,316]. Đại hội IX của Đảng (4/2001) tiếp tục khẳng định: Thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định 11 hướng XHCN, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Kinh tế cá thể, tiểu chủ ở cả thành thị và nông thôn có vị trí quan trọng lâu dài, nhà nước tạo điều kiện giúp đỡ để phát triển…Khuyến khích phát triển kinh tế tư bản tư nhân rộng rãi trong những ngành nghề kinh doanh mà pháp luật không cấm, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi về chính sách pháp lý để kinh tế tư bản tư nhân phát triển [13, tr.96, 98]. Quán triệt quan điểm của Đại hội lần thứ IX, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành trung ương Đảng khoá IX về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách khuyến khích và tạo điều kiện phát triển KTTN (tháng 3/2002) chỉ rõ: Phát triển KTTN ở những ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm, đồng thời chú trọng nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động của KTTN, đảm bảo định hướng XHCN của nền kinh tế nhằm đáp ứng tốt hơn các yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế và sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Đến Đại hội X của Đảng (4/2006) đã xác định vai trò quan trọng của KTTN trong phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Đại hội nhấn mạnh: Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. KTTN có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế [15, tr.83]. Đặc biệt ở Đại hội X Đảng ta đã cho phép đảng viên làm KTTN trong các ngành nghề lĩnh vực sản xuất kinh doanh quan trọng mà pháp luật không cấm đã có tác dụng khuyến khích mạnh mẽ phát triển KTTN, tạo điều kiện 12 cho KTTN được phát huy đầy đủ tiềm năng thế mạnh, tạo sức bật lớn cho nền kinh tế. Đây được coi là bước đột phá mới về nhận thức phát triển KTTN. Thực hiện quan điểm Đại hội X, Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương khoá X đã đưa ra những quy định đảng viên làm KTTN, cụ thể như sau: Đảng viên làm KTTN phải trực tiếp tham gia lao động (lao động quản lý, điều hành sản xuất kinh doanh; lao động kỹ thuật hoặc lao động chân tay); có quyền kinh doanh các ngành, nghề mà pháp luật không cấm; phải gương mẫu và nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, Điều lệ Đảng và quy định của Ban Chấp hành Trung ương [18, tr.34]. Từ quan điểm và đường lối của Đảng đối với KTTN, Nhà nước cũng đã có những đổi mới cơ chế đối với KTTN mà tập trung nhất là ban hành Luật Doanh nghiệp (Quốc hội thông qua ngày 12/6/1999 thay thế cho Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân). Sự ra đời của Luật Doanh nghiệp đánh dấu một mốc mới, là bước ngoặt thúc đẩy KTTN phát triển mạnh mẽ. Luật doanh nghiệp đã tạo điều kiện pháp lý thuận lợi cho tư nhân trong việc thành lập và tổ chức sản xuất kinh doanh. Ngoài Luật doanh nghiệp, Quốc hội cũng ban hành một số luật có liên quan đến KTTN như Luật Thương mại, Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp… Năm 2005, Quốc hội đã thông qua Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư mới, là một bước đột phá nhằm tiến tới xoá bỏ sự phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp. Nhìn lại công cuộc đổi mới của đất nước cho thấy rằng đó là một quá trình đầy khó khăn phức tạp, nhưng rồi hướng đi đã được xác định rõ. Đó là phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng XHCN, những rào cản đối với KTTN được xoá bỏ. Những quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đã ngày khẳng định sự tồn tại của khu vực 13 KTTN không chỉ là tất yếu khách quan mà còn là cần thiết để làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách phát triển nền kinh tế. Như vậy, chính sách kinh tế nhiều thành phần ngày càng được nhận thức rõ hơn và có nhiều chủ trương khuyến khích phát triển và các chính sách hỗ trợ. Những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đã tạo điều kiện thuận lợi cho KTTN phát triển. Trong những năm đổi mới toàn diện đất nước, cùng với những thành tựu chung của cả nền kinh tế đã đạt được KTTN đã tự khẳng định được vị trí, vai trò của mình. 1.1.2. Bản chất của kinh tế tư nhân Theo Mác, quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất có vai trò phản ánh đặc trưng của hình thức quan hệ kinh tế nói chung cũng như hình thức tổ chức kinh tế nói riêng; nó quyết định quan hệ tổ chức quản lý sản xuất và phân phối kết quả sản xuất. Như vậy, có thể nhận thức rằng, KTTN được đặc trưng bởi sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Mặc dù trong các tài liệu nghiên cứu của Mác và Lênin không sử dụng thuật ngữ KTTN, nhưng các ông thường đề cập đến các thuật ngữ sở hữu tư nhân, sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, lao động tư nhân. Hiện nay ở hầu hết các nước trên thế giới, nền kinh tế được phân chia thành ba khu vực chủ yếu là kinh tế nhà nước, KTTN, kinh tế hỗn hợp. Nền kinh tế của Trung Quốc hiện nay cũng được chia thành hai khu vực: khu vực kinh tế công hữu (gồm kinh tế quốc hữu và kinh tế tập thể) và kinh tế phi công hữu (gồm KTTN và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài). Nhìn chung, những sự phân chia trên chủ yếu dựa trên quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất và vốn. ở Việt Nam trước năm 1986, KTTN không được thừa nhận là hoạt động hợp pháp nền kinh tế chủ yếu có hai thành phần là kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể. Từ khi đổi mới, Đảng ta đã thừa nhận sự tồn tại của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, trong đó có KTTN. Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn 14 quốc lần thứ X đã xác định nền kinh tế quốc dân ở nước ta hiện nay gồm 5 thành phần kinh tế. Đó là: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Trong đó, KTTN bao gồm: cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân. Như vậy, KTTN là một khu vực kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất hoặc vốn với các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh như doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, các cơ sở kinh tế cá thể, tiểu chủ…KTTN không phải là một thành phần kinh tế thuần tuý mà là phạm trù để chỉ thành phần kinh tế hỗn hợp bao gồm các bộ phận cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân. Kinh tế cá thể là bộ phận kinh tế dựa trên hình thức sở hữu tư nhân nhỏ về tư liệu sản xuất và hoạt động chủ yếu vào sức lao động của chính họ, tồn tại chủ yếu dưới hình thức hộ sản xuất kinh doanh. Kinh tế tiểu chủ là bộ phận kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân nhỏ về tư liệu sản xuất nhưng có thuê mướn lao động. Kinh tế tư bản tư nhân là bộ phận kinh tế dựa trên chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và sử dụng lao động làm thuê; hình thức tồn tại chủ yếu là doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn. Kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành cơ quan trọng của nền kinh tế quốc dân, phát triển KTTN là vấn đề có tầm chiến lược lâu dài trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Tiêu thức cơ bản để xác định một thành phần kinh tế, một hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh nào đó có thuộc KTTN hay không là quan hệ sản xuất, trước hết là quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất. KTTN không phải là một thành phần kinh tế thuần tuý, mà là một phạm trù để chỉ nhóm thành phần 15 kinh tế vừa có những đặc trưng chung lại vừa có bản chất khác nhau. Do đó, để xác định bản chất của KTTN phải xét trên cả 3 mặt quan hệ sản xuất, đó là quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và quan hệ phân phối thu nhập - Xét về quan hệ sở hữu: KTTN thể hiện quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất hoặc vốn cũng như của cải vật chất được tạo ra nhờ sản xuất hoặc vốn đó. Trong quá trình phát triển của sản xuất xã hội, sở hữu tư nhân cũng phát triển từ trình độ thấp đến trình độ cao. Trình độ thấp là sở hữu tư nhân nhỏ, đây là hình thức tư hữu của những người lao động tự do sản xuất ra sản phẩm bằng sức lao động của chính mình và của các thành viên trong gia đình. Trình độ cao là sở hữu tư nhân lớn, sở hữu này phát triển từ sở hữu tư nhân nhỏ, nhưng khi đã trở thành sở hữu tư nhân lớn thì nó lại là cơ sở làm nảy sinh mâu thuẫn nhất định giữa chủ sở hữu và lao động làm thuê. Vì vậy, những hình thức khác nhau của sở hữu tư nhân thường là những hình thức đặc trưng của các phương thức sản xuất khác nhau. Chẳng hạn như: sở hữu tư nhân của chủ nô và phường hội đặc trưng cho phương thức sản xuất phong kiến, sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa đặc trưng cho phương thức sản xuất sản xuất tư bản chủ nghĩa. - Xét về quan hệ quản lý: xuất phát từ quan hệ sở hữu của KTTN, quan hệ quản lý của khu vực này gồm các quan hệ quản lý dựa trên sở hữu tư nhân nhỏ và quan hệ quản lý dựa rên sở hữu tư nhân lớn. Quan hệ quản lý dựa trên sở hữu tư nhân nhỏ là quan hệ dựa trên sự tổ chức, phân công công việc trong nội bộ gia đình, giữa các thành viên trong gia đình với nhau. Dựa trên quyền lực của người chủ gia đình, các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ phục tùng sự phân công, điều khiển, quản lý của người chủ gia đình đối với các vấn đề sản xuất kinh doanh. Quan hệ giữa người chủ và các thành viên trong gia đình không phải là quan hệ bóc lột mà nó mang tính chất gia trưởng. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, nhiều hộ 16 cá thể do nhu cầu mở rộng quy mô sản xuất đã thuê thêm lao động ngoài gia đình. Như vậy, đã xuất hiện mầm móng của quan hệ bóc lột, nhưng chừng nào người chủ hộ chưa thoát khỏi hoạt động lao động trực tiếp thì ranh giới giữa bóc lột và không bóc lột chưa được xác định một cách rõ ràng. Quan hệ quản lý dựa trên sở hữu tư nhân lớn đây là quan hệ giữa chủ thể quản lý với đối tượng quản lý và khách thể quản lý. Chẳng hạn như quan hệ giữa người chủ doanh nghiệp với lao động. Quan hệ này xét về bản chất là quan hệ bóc lột. Bóc lột ở đây phải được xem xét nghiên cứu trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Trong điều kiện ở nước ta hiện nay, xét sự bóc lột phải đặt trong mối quan hệ sau: + Trong điều kiện nước ta cung lao động nhiều hơn cầu về lao động thì bất cứ ai bỏ vốn ra kinh doanh, tạo việc làm và thu nhập cho người lao động điều được khuyến khích. + Khi người lao động đồng thời là người sử dụng lao động, nhưng do chất lượng lao động kém nên thu nhập thấp, đồng ý tự nguyện ký hợp đồng lao động cho một người sử dụng lao động khác có thu nhập cao gấp nhiều lần. Trong trường hợp này không nên hiểu đây là bóc lột và bị bóc lột. Bởi vì, chỉ khi nào người lao động bán sức lao động cho chủ tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng như C.Mác nói thì mới có quan hệ bóc lột và bị bóc lột. - Xét về quan hệ phân phối: về thực chất phân phối là việc giải quyết mối quan hệ về lợi ích kinh tế các cá nhân tham gia vào quá trình tái sản xuất kinh doanh. Do vậy, việc phân phối nếu không đảm bảo được lợi ích của các cá nhân sẽ có ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất kinh doanh khó có thể đạt được hiệu quả cao. Trong KTTN, quan hệ phân phối được dựa trên cơ sở sở hữu tư nhân, do chủ tư nhân thực hiện. Đối với các cơ sở tư nhân mà người sở hữu đồng 17 thời là người lao động, không thuê mướn nhân công, thì phân phối kết quả sản xuất được thực hiện trong nội bộ gia đình của các hộ kinh doanh nhằm đảm bảo nhu cầu của các thành viên trong gia đình. Còn đối với các cơ sở tư nhân lớn, chủ sở hữu sử dụng lao động làm thuê thì phân phối kết quả sản xuất căn cứ vào giá trị sức lao động của người lao động làm thuê để trả công lao động cho họ, còn phần thặng dư thuộc về người sở hữu. Kinh tế tư nhân được hình thành trên cơ sở sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, sở hữu tư nhân gồm sở hữu tư nhân nhỏ (sở hữu của những người lao động làm ra sản phẩm bằng chính lao động của họ và các thành viên trong gia đình như hộ nông dân cá thể…) và sở hữu tư nhân lớn-sở hữu vốn, tài sản của các nhà sản xuất kinh doanh trong nước và nước ngoài đầu tư vào Việt Nam. KTTN bao gồm các loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh sau: - Loại hình kinh tế cá thể: là hình thức kinh tế của một hộ gia đình hay một cá nhân hoạt động dựa trên hình thức sở hữu tư nhân nhỏ về tư liệu sản xuất và hoạt động chủ yếu vào sức lao động của chính họ. Kinh tế hộ gia đình là hình thức tổ chức sản xuất chủ yếu trong loại hình kinh tế cá thể và trong khu vực sản xuất nông, lâm nghiệp, đây là bộ phận cấu thành quan trong của KTTN. Kinh tế tiểu chủ cũng là hình thức kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân nhỏ về tư liệu sản xuất nhưng có thuê mướn lao động, tuy nhiên thu nhập vẫn chủ yếu dựa vào sức lao động và vốn của bản thân và gia đình (đó là những hộ làm kinh tế trang trại, kinh tế trang trại chính là một hình thức của kinh tế tiểu chủ trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp) Kinh tế cá, thể tiểu chủ đang có vị trí quan trọng trong nhiều ngành, nghề ở nông thôn và thành thị, có điều kiện phát huy nhanh và hiệu quả tiềm năng về vốn, sức lao động, tay nghề của từng gia đình, từng người lao động. 18 - Loại hình doanh nghiệp tư nhân (được thành lập theo Luật Doanh nghiệp) là doanh nghiệp do một cá nhân là chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Doanh nghiệp tư nhân là một trong những loại hình kinh doanh phổ biến nhất trong các loại hình doanh nghiệp của KTTN. - Loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần: là doanh nghiệp mà trong đó các thành viên là tư nhân cùng góp vốn (công ty trách nhiệm hữu hạn), mua cổ phần (công ty cổ phần) để thực hiện kinh doanh. Các thành viên được hưởng lợi nhuận và cùng chịu trách nhiệm về các khoản nợ của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp. Tóm lại: KTTN nếu xét về thành phần kinh tế theo tinh thần Đại hội X của Đảng thì bao gồm 3 bộ phận: cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân. Đứng trên giác độ các hình thức tổ chức sản xuất, thì cũng có thể nói KTTN tồn tại ở các công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân và các hộ, cá nhân hoạt động sản xuất kinh doanh. 1.1.3. Ngành thủy sản và vai trò của kinh tế tư nhân trong ngành thủy sản 1.1.3.1. Vị trí của ngành thủy sản trong cơ cấu kinh tế Kinh tế thủy sản là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc dân, Đảng ta chủ trương phát triển mạnh kinh tế thủy sản trong những năm tới, nhằm tạo thêm lượng hàng hoá đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho nhân dân và xuất khẩu, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, gắn sản xuất thủy sản với các mục tiêu xã hội, an ninh quốc phòng trên cơ sở phát triển bền vững. Đại hội X đã nhấn mạnh: Phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng sản xuất hàng hoá lớn đi đôi với bảo vệ môi trường sinh thái; chuyển đổi cơ cấu khai 19 thác qua việc lựa chọn ngư trường, loại hình nghề nghiệp và sản phẩm để nâng cao giá trị hàng hoá sử dụng hợp lý nguồn lợi, giảm chi phí, nâng cao sức cạnh tranh, bảo đảm tăng trưởng bền vững [18, tr.192]. Đối với hầu hết các nước, ngành thủy sản có vai trò quan trọng trong nền kinh tế, đặc biệt đối với những nước có vùng biển và vùng nước nội địa phong phú. Việt Nam là nước có mặt biển rộng với hơn 3.200km bờ biển, có nhiều hồ và sông suối trong đất liền, có nhiều tiềm năng để phát triển nuôi trồng thủy sản ở khắp mọi miền đất nước cả về nuôi ở vùng nước lợ và nước ngọt. Phát triển ngành thủy sản có vị trí quan trọng trong nền kinh tế nước ta, thể hiện trên các mặt sau đây: - Ngành thủy sản cung cấp những sản phẩm thực phẩm quý cho tiêu dùng của dân cư, cung cấp nguồn nguyên liệu cho phát triển một số ngành khác. Theo kết quả nghiên cứu của các chuyên gia về dinh dưỡng đã khẳng định hầu hết các loại thủy sản đều là loại thực phẩm giàu đạm, dễ tiêu hoá, phù hợp với mọi lứa tuổi. Thuỷ sản ngày càng được tin tưởng như một loại thực phẩm ít gây bệnh (tim mạch, béo phì…) và ít chịu ảnh hưởng của ô nhiễm hơn. Xét về thành phần dinh dưỡng cho thấy: so với các loại thịt, các loại thực phẩm là thủy sản ít chứa mỡ hơn, nhiều chất khoáng hơn nhưng chất đạm khá cao. Chẳng hạn trong thịt bò, tỉ lệ tính theo phần trăm của đạm là 16,2%-19,2%, của mỡ là 11-18%, chất khoáng là 0,8-1,0%, cũng tương tự theo tỉ lệ nói trên trong cá thu có thứ tự là 18,6%, 0,4% và 1,2%, ở cá hồng là 17,8%, 5,9% và 1,4% [19, tr.7]. Ngành thủy sản cung cấp một phần thức thức ăn cho chăn nuôi, đặc biệt cho chế biến thức ăn chăn nuôi công nghiệp. Mặt khác, ngành thủy sản cung cấp nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và một số ngành công nghiệp khác. Nguồn nguyên liệu cung cấp cho công nghiệp chế biến thực phẩm gồm tôm, cá, nhuyễn thể, rong biển…Ngoài ra, các nguyên liệu thủy sản còn được sử dụng 20 làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp dược phẩm, mỹ nghệ… - Phát triển ngành thủy sản sẽ đóng góp quan trọng tăng trưởng tốc độ kinh tế cả nước nói chung và ngành nông nghiệp nói riêng. Ngành thủy sản là ngành kinh tế có khả năng tạo ra nhiều giá trị gia tăng.Vì vậy, phát triển mạnh ngành thủy sản, đặc biệt phát triển công nghiệp chế biến thủy sản, sẽ góp phần thúc đẩy tốc độ tăng trưởng của ngành nông nghiệp. Trong những năm qua, tỉ trọng đóng góp của khu vực nông, lâm, thủy sản vào tốc độ tăng trưởng chung có xu hướng giảm xuống rõ rệt từ 38,1% năm 1986 xuống còn 20,9% năm 2005 [18, tr.56]. Đây là xu hướng phù hợp với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trong khi tỉ trọng đóng góp vào tăng trưởng của ngành thủy sản lại tăng lên từ 10,9% lên 19,6% vào năm 2004. Ngành thủy sản đã thật sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước. Cùng với việc tăng cường năng lực đánh bắt xa bờ cho ngư dân, phong trào nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nuôi tôm, nuôi cá tra, cá basa, cá rô, cá lóc, ba ba… phát triển hết sức mạnh mẽ ở các địa phương, nhất là vùng đồng bằng sông Cửu Long và vùng ven biển Nam Trung bộ. Sự phát triển nhanh chóng của ngành thủy sản nước ta trong những năm qua chúng ta có thể thấy rõ qua bảng số liệu sau: Bảng 1.1: Sản lượng và diện tích nuôi thủy sản cả nước 2001 2.226.900 879.100 Sản lượng khai thác hải sản (tấn) 1.347.800 2002 2.410.900 976.100 2003 2.546.361 2004 2005 Năm 78.978 Diện tích mặt nước nuôi thủy sản (ha) 887.500 1.434.800 81.800 955.000 1.110.138 1.426.223 83.122 902.229 3.073.600 1.150.100 1.923.500 85.430 902.900 3.432.800 1.437.400 1.995.400 90.880 959.900 Tổng sản Sản lượng lượng thủy nuôi thủy sản (tấn) sản (tấn) Tổng số tàu thuyền(chiếc)
- Xem thêm -