Tài liệu Khóa luận tốt nghiệp nâng cao hiệu quả thực hành về văn kể chuyện trong phân môn tập làm văn cho học sinh lớp 4, 5

  • Số trang: 76 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 94 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC ĐINH THỊ HÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HÀNH VỀ VĂN KỂ CHUYỆN TRONG PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN CHO HỌC SINH LỚP 4, 5 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC SƠN LA, NĂM 2014 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC ĐINH THỊ HÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HÀNH VỀ VĂN KỂ CHUYỆN TRONG PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN CHO HỌC SINH LỚP 4, 5 Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Ngƣời hƣớng dẫn: ThS. Khổng Cát Sơn SƠN LA, NĂM 2014 LỜI CẢM ƠN Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Tiểu học – Mầm non, khoa Ngữ văn đã tạo điều kiện ủng hộ và tận tình giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu và hoàn thành khóa luận. Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo, Th.S Khổng Cát Sơn đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo và động viên em trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp. Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô và các em học sinh trƣờng Tiểu học B Thanh Nghị - Hà Nam đã tạo điều kiện cho em trong quá trình thực hiện khóa luận. Em cũng xin chân thành gửi lời cảm ơn tới các cán bộ, nhân viên ở bộ phận thƣ viện Trƣờng Đại học Tây Bắc đã giúp đỡ em trong quá trình sƣu tầm tài liệu để hoàn thành khóa luận. Đồng thời cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các bạn sinh viên trong và ngoài lớp đã động viên, đóng góp ý kiến, chia sẻ kinh nghiệm và giúp đỡ mình trong những lúc gặp khó khăn. Rất mong nhận đƣợc sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn để khóa luận thêm hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn! Sơn La, tháng 5 năm 2014 Sinh viên Đinh Thị Hà DANH MỤC VIẾT TẮT GV Giáo viên HS Học sinh SGK Sách giáo khoa NXBGD Nhà xuất bản giáo dục NXBĐHSP Nhà xuất bản đại học sƣ phạm PPDH Phƣơng pháp dạy học MỤC LỤC MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1 1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................... 1 2. Lịch sử vấn đề ................................................................................................... 3 3. Mục đích nghiên cứu ......................................................................................... 4 4. Nhiệm vụ nghiên cứu. ....................................................................................... 4 5. Đối tƣợng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu ............................................... 4 5.1 Đối tượng nghiên cứu...................................................................................... 4 5.2 Khách thể nghiên cứu ..................................................................................... 4 6. Phạm vi nghiên cứu ........................................................................................... 4 7. Phƣơng pháp nghiên cứu ................................................................................... 5 7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận ..................................................................... 5 7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn ................................................................. 5 7.3 Phương pháp toán học .................................................................................... 5 7.4 Phương pháp tổng kết, rút kinh nghiệm. ......................................................... 5 8. Giả thuyết khoa học........................................................................................... 5 9. Cấu trúc của đề tài ............................................................................................. 5 NỘI DUNG........................................................................................................... 7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ........................................... 7 1.1 Cơ sở lí luận .................................................................................................... 7 1.1.1 Cơ sở tâm lí học ........................................................................................... 7 1.1.2 Cơ sở ngôn ngữ học ..................................................................................... 9 1.1.2.1 Kể chuyện và văn kể chuyện...................................................................... 9 1.1.2.2 Đặc điểm của văn kể chuyện ................................................................... 10 1.1.2.3 Văn kể chuyện trong trường Tiểu học ..................................................... 11 1.2 Cơ sở thực tiễn ............................................................................................. 17 1.2.1 Thực trạng dạy học văn kể chuyện ở trường Tiểu học .............................. 17 1.2.2 Thực trạng học văn kể chuyện của học sinh .............................................. 20 TIỂU KẾT CHƢƠNG 1 ...................................................................................... 23 CHƢƠNG 2: BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HÀNH VĂN KỂ CHUYỆN CHO HỌC SINH LỚP 4, 5 .................................................... 24 2.1 Những vấn đề chung của việc dạy văn kể chuyện ở bậc Tiểu học ............... 24 2.2 Biện pháp nâng cao hiệu quả thƣc hành văn kể chuyện cho học sinh lớp 4, 5 ............................................................................................................................. 25 2.2.1 Bồi dưỡng lòng ham thích kể chuyện, rèn luyện kĩ năng kể chuyện và phát triển trí tưởng tượng sáng tạo cho HS ................................................................ 25 2.2.2 Hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề bài, xây dựng câu chuyện ...................... 25 2.2.2.1 Hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề bài ....................................................... 25 2.2.2.2 Hướng dẫn học sinh xây dựng chuyện .................................................... 26 2.2.3 Biện pháp sắp xếp ý, lập dàn bài văn kể chuyện ....................................... 31 2.2.4 Hướng dẫn học sinh sử dụng ngôi kể trong văn kể chuyện ....................... 35 2.2.4.1 Giáo viên yêu cầu học sinh xác định rõ ngôi kể và nhất quán trong suốt truyện ................................................................................................................... 35 2.2.4.2 Hướng dẫn học sinh chuyển đổi ngôi kể ................................................. 36 2.2.5 Hướng dẫn học sinh tích lũy vốn từ ngữ kể chuyện và lựa chọn từ ngữ khi kể chuyện ............................................................................................................. 37 2.2.6 Biện pháp sử dụng trò chơi ........................................................................ 39 2.2.6.1 Trò chơi “Mở ô số”................................................................................. 39 2.2.6.2 Trò chơi “Tuyển chọn biên tập viên” ..................................................... 40 2.2.6.3 Trò chơi “ Thi tìm từ nhanh” .................................................................. 41 2.2.7 Kĩ năng ra đề bài văn kể chuyện của Giáo viên ........................................ 42 TIỂU KẾT CHƢƠNG 2 ...................................................................................... 43 CHƢƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM ................................................... 44 3.1 Mục đích thực nghiệm................................................................................... 44 3.2 Đối tƣợng, địa bàn, thời gian thực nghiệm ................................................... 44 3.3 Phƣơng pháp thực nghiệm ............................................................................ 45 3.4 Nội dung thực nghiệm ................................................................................... 45 3.5 Tiêu chí đánh giá ........................................................................................... 46 3.5.1 Đánh giá về kĩ năng làm văn kể chuyện..................................................... 46 3.5.2 Đánh giá về thái độ học tập của HS .......................................................... 46 3.6 Kết quả thực nghiệm ..................................................................................... 46 TIỂU KẾT CHƢƠNG 3 ...................................................................................... 50 KẾT LUẬN ........................................................................................................ 51 TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Môn Tiếng Việt cùng với các môn học khác, có nhiệm vụ cung cấp cho HS bốn kĩ năng đó là: “nghe - nói - đọc - viết” với các phân môn: Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập viết, Tập làm văn,…Trong đó, Tập làm văn là phân môn có tính chất tích hợp của các phân môn khác. Các em có thể vận dụng cách xây dựng một văn bản trong giờ Tập đọc; cách sử dụng, lựa chọn từ ngữ trong tiết học Luyện từ và câu hay cách sáng tạo câu chuyện trong giờ Kể chuyện. Qua tiết Tập làm văn, HS có khả năng xây dựng một văn bản: bài nói, bài viết,…Trong suốt quá trình vận dụng này, các kiến thức, kĩ năng luyện nói và viết văn sẽ đƣợc hoàn thiện và nâng cao dần. Trong phân môn Tập làm văn, văn kể chuyện cùng với văn miêu tả là một trong những phần trọng tâm của chƣơng trình Tập làm văn, đặc biệt là ở lớp 4, 5. Trong cuộc sống, muốn mọi ngƣời cùng biết, cùng nhận ra những gì mình nhìn thấy đòi hỏi chúng ta phải biết cách tái hiện, kể và miêu tả lại. Trong văn học, các câu chuyện, các cuốn tiểu thuyết, các truyện ngắn…đƣợc xây xây dựng trên nhiều đoạn văn tự sự (kể). Vì thế, văn kể chuyện là nền tảng của sáng tác văn học và là loại văn thƣờng dùng trong đời sống hàng ngày. Chẳng những sau này đi vào cuộc sống mà ngay khi còn học ở nhà trƣờng, HS đã luôn luôn vận dụng văn kể chuyện trong mọi mặt sinh hoạt. Văn kể chuyện dạy cho các em nắm đƣợc nội dung và phƣơng pháp kể. Luyện cho HS kĩ năng nói và viết những câu chuyện trong đời sống hàng ngày gần gũi với các em mà các em đƣợc chứng kiến hoặc đƣợc nghe kể lại. Văn kể chuyện còn phát triển trí tƣởng tƣợng và năng lực sáng tạo cho HS, phát huy vốn tri thức, vốn sống của HS tạo điều kiện để sau này các em tập sáng tác bút kí, hồi kí, truyện ngắn,…Sự hiểu biết về văn kể chuyện còn có tác dụng lớn đến việc đọc sách, thƣởng thức, phê bình văn học và chuẩn bị cho HS làm tốt bài nghị luận văn học. Vì thế, có thể nói văn kể chuyện có vị trí quan trọng trong sáng tác văn chƣơng và chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong chƣơng trình Tập làm văn bậc Tiểu học. Văn kể chuyện đƣợc đƣa vào chƣơng trình phổ thông 1 ngay từ các lớp Tiểu học. Tại sao cần cho HSTH học văn kể chuyện? Vì văn kể chuyện phù hợp với tâm sinh lí tuổi thơ. Các em sống với tuổi thơ của mình trong thế giới của truyện, các em thích nghe ngƣời khác kể chuyện và cũng thích kể chuyện cho ngƣời khác nghe. Ở tuổi này các em cũng ƣa khám phá, thích tƣởng tƣợng, yêu thích các con vật, nhân vật trong truyện…Từ đó, văn kể chuyện góp phần nuôi dƣỡng phát triển tâm hồn trẻ thơ, khơi gợi ở các em trí tò mò, ham hiểu biết, lòng yêu cái đẹp, yêu chính nghĩa và tạo khả năng phát triển ngôn ngữ. Chƣơng trình văn kể chuyện đƣợc dạy từ cấp 1 (từ lớp 1 đến lớp 5). Ở các lớp 2, 3 kiểu bài này đƣợc đƣa vào chƣơng trình giúp các em làm quen với văn kể chuyện thông qua các bài học thực hành và chƣa hình thành kiến thức. Lên lớp 4, kiến thức về văn kể chuyện mới đƣợc đƣa đến HS và làm nền tảng cho rèn luyện kĩ năng. Đến lớp 5, văn kể chuyện đƣợc thiết kế để ôn tập những kiến thức cơ bản, làm những đề bài tiêu biểu, đƣợc dạy trong 3 tiết: ôn tập, kiểm tra và trả bài. Quá trình dạy học là quá trình tƣ duy sáng tạo, ngƣời GV là một kĩ sƣ tâm hồn, hơn nữa còn là một nghệ thuật về việc dạy học. Ngày nay dựa trên cơ sở phát huy tính tích cực hoạt động sáng tạo của HS, đòi hỏi ngƣời GV phải có sự sáng tạo, tự cải biến nâng cao chất lƣợng dạy và học. Phân môn Tập làm văn có nhiệm vụ rèn kĩ năng đọc và viết, thế nhƣng các em lớp 4, 5 rất sợ học phân môn này đặc biệt là văn kể chuyện, các em không biết viết gì, chƣa biết cách “hóa thân – nhập vai” vào nhân vật, các em chƣa đạt yêu cầu của đề bài đề ra, thƣờng lặp lại câu đã viết, dùng từ sai hoặc viết chƣa hay, ngay cả khi GV dạy phân môn Tập làm văn cũng không tự tin khi giảng dạy phân môn này. Viết văn là một quá trình rèn luyện không chỉ ở ngƣời lớn mà đặc biệt đối với HS viết văn càng khó khăn hơn. Vậy làm thế nào để giúp các em đạt mục tiêu đề ra, muốn dạy các tiết Tập làm văn ở tiểu học, không thể không nghiên cứu sâu về văn kể chuyện, phƣơng pháp dạy và học văn kể chuyện, là một sinh viên chuẩn bị tiếp cận với công tác giảng dạy tôi thấy nghiên cứu về vấn đề trên là hết sức cần thiết. Vì vậy, tôi mạnh dạn chọn đề tài “ Nâng cao hiệu quả thực hành về văn kể chuyện trong phân môn Tập làm văn cho HS lớp 4, 5” để nghiên cứu. 2 2. Lịch sử vấn đề Thực hiện đề tài này, chúng tôi sƣu tầm, tổng hợp và tham khảo các tài liệu sau: Trong cuốn “ Dạy Tập làm văn ở trường tiểu học” của tác giả Nguyễn Trí đã trình bày phƣơng pháp dạy Tập làm văn ở trƣờng Tiểu học theo chƣơng trình hiện hành. Các phƣơng pháp dạy đƣợc xem xét trên hai bình diện: Theo kĩ năng cần rèn luyện ở các tiết dạy trong quy trình dạy một đề bài và theo các kiểu loại bài Tập làm văn. Quan điểm cơ bản là quan điểm thực hành gắn với từng kiểu loại bài. Đây là cuốn sách tham khảo mở rộng cho GV Tiểu học, giáo sinh các trƣờng sƣ phạm, là tài liệu bổ trợ dạy Tập làm văn ở trƣờng tiểu học. Trong cuốn “ Dạy học và phương pháp dạy môn Tiếng Việt ở Tiểu học” theo chƣơng trình mới ( NXB Giáo dục – 2003) đã đƣa ra một số vấn đề chƣơng trình mới, một số điểm cần lƣu ý về phƣơng pháp dạy học môn Tiếng Việt theo chƣơng trình mới, đó là cơ sở cho việc đổi mới nội dung, phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng. Trong cuốn “Luyện tập văn kể chuyện ở Tiểu học” của tác giả Nguyễn Trí đã hƣớng dẫn phƣơng pháp chung đối với từng kiểu bài kể chuyện. Luyện tập gắn với từng kiểu bài cụ thể. Ở mỗi đề, ngoài phần gợi ý các công việc cần chuẩn bị, sách còn đƣa ra một số cách kể khác nhau. Qua đó ngƣời đọc thấy đƣợc sự đa dạng và sáng tạo khi kể chuyện và tự tìm cách kể của riêng mình. Trong cuốn “ Về văn miêu tả và kể chuyện” các tác giả Vũ Tú Nam - Phạm Hổ - Bùi Hiển đã đƣa ra những suy nghĩ của mình về văn miêu tả và văn kể chuyện. Trong đó các tác giả đã đƣa ra những đặc điểm của từng kiểu bài, hƣớng dẫn làm văn qua các bài viết cụ thể và luôn khẳng định vị trí, vai trò của văn miêu tả và văn kể chuyện. Trong cuốn “Phương pháp dạy Tiếng Việt ở Tiểu học” của tác giả Lê Phƣơng Nga – Nguyễn Trí, không đi sâu vào đề tài nào nhất định nhƣng đã đƣa ra nhiều vấn đề cụ thể, nóng hổi đang đặt ra với các nhà giáo và với những ngƣời quan tâm đến dạy học Tiếng Việt. Mỗi tiểu mục trong chƣơng trình trình 3 bày ý kiến của tác giả về một vấn đề trong đó có khái quát cơ bản nhất về một số vấn đề dạy và học văn kể chuyện lớp 4, 5. Các công trình nghiên cứu trên là cơ sở quan trọng để tôi nghiên cứu về đề tài “ Nâng cao hiệu quả thực hành về văn kể chuyện trong phân môn Tập làm văn cho HS lớp 4, 5” 3. Mục đích nghiên cứu Văn kể chuyện là loại văn có vị trí quan trọng trong chƣơng trình Tập làm văn bậc Tiểu học nói chung và môn Tiếng Việt nói riêng. Song hiệu quả dạy và học của giáo viên và học sinh đặc biệt là thực hành viết văn chƣa thực sự nhƣ mong muốn. Thực hiện đề tài này chúng tôi hi vọng sẽ đề xuất đƣợc một số biện pháp nhằm nâng cao kết quả thực hành về văn kể chuyện cho học sinh lớp 4, 5. 4. Nhiệm vụ nghiên cứu - Tìm hiểu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc dạy và học văn kể chuyện ở trƣờng Tiểu học. - Đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hành văn kể chuyện trong phân môn Tập làm văn lớp 4, 5. - Tiến hành thiết kế giáo án và thực nghiệm dạy học kiểu bài kể chuyện – phân môn Tập làm văn lớp 4, 5 theo những biện pháp đã đề ra. 5. Đối tƣợng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu 5.1 Đối tƣợng nghiên cứu Nghiên cứu biện pháp nâng cao hiệu quả thực hành về văn kể chuyện cho học sinh lớp 4, 5. 5.2 Khách thể nghiên cứu Tìm hiểu và thể nghiệm tại trƣờng Tiểu học B Thanh Nghị - Thanh Liêm Hà Nam, đồng thời nghiên cứu nội dung văn kể chuyện trong phân môn Tập làm văn lớp 4, 5. 6. Phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu các biện pháp nâng cao hiệu quả thực hành văn kể chuyện, sách Tiếng Việt lớp 4, 5; các bài văn kể chuyện của học sinh tại trƣờng Tiểu học B Thanh Nghị - Thanh Liêm - Hà Nam. 4 7. Phƣơng pháp nghiên cứu Đề tài nghiên cứu dựa trên một số phƣơng pháp sau : 7.1 Phƣơng pháp nghiên cứu lí luận - Phƣơng pháp đọc, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa các vấn đề tài liệu làm cơ sở lí luận cho đề tài. 7.2 Phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn - Phƣơng pháp khảo sát bằng phiếu điều tra nhằm cung cấp cơ sở thực tiễn cho đề tài. - Phƣơng pháp quan sát, thực hành luyện tập, so sánh đối chiếu, rút ra kết luận và đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả thực hành văn kể chuyện cho học sinh lớp 4,5. 7.3 Phƣơng pháp toán học Sử dụng thống kê để xử lí thông tin, số liệu 7.4 Phƣơng pháp tổng kết, rút kinh nghiệm. Kiểm tra đánh giá kết quả của đề tài và những mặt còn hạn chế, rút kinh nghiệm. 8. Giả thuyết khoa học. Hiện nay việc dạy và học phân môn Tập làm văn nói chung và học văn kể chuyện nói riêng trong trƣờng phổ thông gặp nhiều khó khăn. Đặc biệt, đối với giáo viên việc dạy để học sinh dễ dàng tiếp thu chắc kiến thức qua từng khâu. Từ việc ra đề, hƣớng dẫn làm bài cho đến khâu chấm bài, trả bài và việc học của học sinh để đạt kết quả cao đối với phân môn này lại càng khó hơn. Vì vậy, đề tài “Nâng cao hiệu quả thực hành về văn kể chuyện trong phân môn Tập làm văn cho học sinh lớp 4,5 ’’ với các biện pháp đề xuất chứng minh đƣợc tính khả thi thì sẽ góp phần đổi mới phƣơng pháp và hình thức dạy học, làm cho tiết học diễn ra nhẹ nhàng và có hiệu quả hơn. 9. Cấu trúc của đề tài Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, mẫu điều tra, phiếu bài tập, phần nội dung của đề tài gồm 3 chƣơng : 5 Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc dạy và học kiểu bài kể chuyện trong phân môn Tập làm văn lớp 4, 5. Chƣơng 2 : Nội dung và một số biện pháp nâng cao hiệu quả thực hành về văn kể chuyện trong phân môn Tập làm văn cho học sinh lớp 4, 5. Chƣơng 3 : Thiết kế giáo án và thực nghiệm sƣ phạm. 6 NỘI DUNG CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lí luận 1.1.1 Cơ sở tâm lí học Nghe kể chuyện và kể chuyện cho ngƣời khác nghe là niềm vui thích của trẻ thơ. Vì thế ngay từ mẫu giáo, trẻ em đã đƣợc nghe kể chuyện và tập kể chuyện cho bạn bè, cha mẹ, anh chị … nghe. Ở bậc Tiểu học, kể chuyện là một trong những phân môn của môn Tiếng Việt nhằm rèn luyện cho học sinh kĩ năng nói ít nhiều mang tính biểu cảm. Từ lớp 1 đến lớp 5, lớp nào cũng có tiết kể chuyện. Trong Tập làm văn lại có bài văn kể chuyện. Luyện tập văn kể chuyện trở thành một yêu cầu đối với học sinh Tiểu học. Trong nhà trƣờng Tiểu học nhu cầu kể chuyện là nhu cầu tất yếu của lứa tuổi học sinh nhỏ. Từ tuổi lên 3 bập bẹ tập nói, các em nhỏ đã thích nghe kể chuyện. Đến tuổi mẫu giáo nhu cầu cần nghe kể chuyện lại tăng thêm nhiều. Bƣớc vào tuổi học sinh Tiểu học ( từ 6 đến 11 tuổi ) , nhu cầu nghe kể chuyện vẫn không hề giảm mà lại tiếp tục tăng thêm, đặc biệt là đối với các loại truyện cổ dân gian và truyện về đời sống hàng ngày. Tại sao vậy ? Các nhà nghiên cứu thƣờng trả lời bằng những kiến giải xác đáng mang tính chiêm nghiệm của chính bản thân họ. Những truyện kể, truyện dân gian là một trong những hình thức nhận thức thế giới của các em, giúp các em chính xác hóa những biểu tƣợng đã có về thực tế xã hội xung quanh, từng bƣớc cung cấp thêm những khái niệm mới và mở rộng kinh nghiệm sống cho các em. Những tác phẩm ấy giúp các em xác lập một thái độ đối với các hiện tƣợng của đời sống xung quanh. “ Truyện cổ tích gắn liền với cái đẹp góp phần phát triển các xúc cảm thẩm mĩ mà thiếu chúng không thể có tâm hồn cao thƣợng, lòng mẫn cảm chân thành trƣớc nỗi bất hạnh, đau đớn và khổ ải của con ngƣời. Nhờ có truyện cổ tích, trẻ nhận thức đƣợc thế giới không chỉ bằng trí tuệ mà còn bằng trái tim. Và trẻ em không phải chỉ có nhận thức mà còn đáp ứng lại sự kiện và hiện tƣợng của thế giới xung quanh, tỏ thái độ của mình với các điều thiện và điều ác. Truyện cổ tích cung cấp cho trẻ những biểu tƣợng đầu tiên về chính nghĩa và phi nghĩa. Giai đoạn đầu tiên 7 của giáo dục lí tƣởng cũng diễn ra nhờ có truyện cổ tích. Truyện cổ tích là ngọn nguồn phong phú và không gì thay thế đƣợc để giáo dục tình yêuTổ Quốc” .Đó là những lí do giúp ta hiểu tại sao trẻ em học sinh Tiểu học lại rất mê truyện. Học sinh Tiểu học không chỉ thích nghe ngƣời khác kể chuyện, thích đọc truyện mà các em còn thích kể chuyện cho ngƣời khác nghe bằng trí tƣởng tƣợng, phong phú và đầy sáng tạo riêng của mình. Chính vì những cơ sở tâm lí trên mà kiểu bài kể chuyện đã đƣợc đƣa vào trong phân môn Tập làm văn nhằm trang bị cho học sinh kiến thức về văn kể chuyện. Kiểu bài này mang tính sáng tạo cao trong sử dụng ngôn từ và tƣ duy. Mỗi bài kể cho học sinh là sự thể hiện của việc quan sát tinh tế khả năng ghi nhớ, cách hành văn khi kể. Tuy nhiên, ở giai đoạn học sinh Tiểu học , các cơ quan của cơ thể chƣa phát triển đầy đủ, khả năng mã hóa các đơn vị ngôn ngữ âm thanh chữ viết còn chậm, dẫn đến tình trạng vốn từ của các em còn ít, khả năng tƣ duy còn kém, các kĩ năng quan sát, phân tích, tổng hợp chƣa cao. Chính vì vậy mà học sinh vẫn ngại viết văn, e dè khi kể chuyện theo cảm nhận của riêng mình, thƣờng thì các em kể theo nguyên tác là chủ yếu. Các em chƣa thực sự “hóa thân, nhập vai” vào nhân vật khác nhau để kể lại chuyện. Nếu đã “nhập vai” rồi thì các em lại không biết cách liên tƣởng, tƣởng tƣợng đúng vai nhân vật của mình cần hành động , xử thế nhƣ thế nào ? Vì thế, các em thƣờng nhầm lẫn vai trong khi kể. Cho nên, nhu cầu về phƣơng pháp luận dạy văn kể chuyện là một nhu cầu cấp bách để nâng cao hơn nữa hiệu quả thực hành văn kể chuyện trong phân môn Tập làm văn cho HS Tiểu học. Từ những cơ sở tâm sinh lí trên khiến cho việc lựa chọn nội dung, hình thức các bài Tập làm văn kể chuyện trong chƣơng trình Tiếng Việt cũng chịu sự chi phối căn bản. Ngƣời Giáo viên phải đặc biệt quan tâm đến đặc điểm tâm lí của HS lứa tuổi này để nâng cao chất lƣợng hiệu quả dạy học Tiếng Việt nói chung và Tập làm văn nói riêng. Đồng thời cần có những biện pháp dạy học tích cực, hình thức dạy học phong phú phát huy trí lực của học sinh, nhằm đạt kết quả dạy học cao nhất. 8 1.1.2 Cơ sở ngôn ngữ học 1.1.2.1 Kể chuyện và văn kể chuyện Từ điển Tiếng Việt do Văn Tân (chủ biên) giải thích: “Kể là nói lại một cách có đầu có cuối cho ngƣời khác nghe, kể những điều mắt thấy tai nghe” “Chuyện là sự việc có diễn biến nhằm nói lên một điều gì đó” “Kể chuyện là một phƣơng thức tự sự, một phƣơng thức biểu đạt để kể các chuyện” Sách Ngữ Văn lớp 7 đã định nghĩa: “Kể chuyện là giới thiệu, thuyết minh, miêu tả nhân vật và diễn biến của chúng sao cho ngƣời nghe hình dung đƣợc diễn biến đó và ý nghĩa của nó”. Sách Tiếng Việt 4 thì định nghĩa: “Kể chuyện là kể lại một chuỗi sự việc có đầu có cuối, liên quan đến một hay một số nhân vật. Mỗi câu chuyện cần nói lên một điều có ý nghĩa”. Nhƣ vậy, kể chuyện là một thuật ngữ đƣợc dùng với ý nghĩa kể một câu chuyện bằng lời, kể cả câu chuyện có một hình thức hoàn chỉnh đƣợc in trong sách, trên báo. Kể chuyện là một trong những phƣơng thức biểu đạt để nói lên điều mình muốn nói thông qua câu chuyện. Vì vậy, khi một ngƣời nào đó kể chuyện thì phải xác định mục đích rõ ràng. Dƣới góc độ giao tiếp, kể chuyện là một hoạt động giao tiếp có ngƣời phát, ngƣời nhận, nội dung là những sự việc xảy ra trong đời sống hàng ngày và diễn ra trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống. Ở góc độ Giáo dục và Văn học, chúng ta còn nghe đến “Văn kể chuyện”. Vậy thế nào là Văn kể chuyện? Theo tác giả Chu Huy trong cuốn “ Dạy Văn kể chuyện ở trường Tiểu học”: Văn kể chuyện là một loại văn mà học sinh phải đƣợc luyện tập diễn đạt bằng miệng hoặc viết thành bài theo những quy tắc nhất định. Vì tính chất phổ biến và ứng dụng rộng rãi của loại văn này nên nó trở thành loại hình cần đƣợc rèn kĩ năng, kĩ xảo bên cạnh các loại hình văn miêu tả, văn nghi luận. Tác giả Nguyễn Quang Ninh trong cuốn “Rèn luyện kĩ năng thực hành Tiếng Việt” cho rằng: Văn kể chuyện là loại văn viết ra nhằm trình bày những sự việc, 9 những chuyện xảy ra trong đời sống xã hội. Sự đánh giá đó không chỉ dừng lại ở một sự việc đơn lẻ nào mà là sự phản ánh và đánh giá có bắt đầu, có kết thúc. Nhƣ vậy, văn kể chuyện đƣợc hiểu là một văn bản nghệ thuật. Trong đó, ngƣời viết trình bày vấn đề dƣới dạng một câu chuyện. Câu chuyện này cần có “chất truyện” và “chất văn”. Nghĩa là nó phải trình bày sự việc từ đầu đến cuối, mang một thông điệp nào đó và phải mang tính thẩm mĩ, tính hình tƣợng, tính riêng về phong cách cá nhân. 1.1.2.2 Đặc điểm của văn kể chuyện Văn kể chuyện đƣợc chia thành hai dạng chính: Kể chuyện từ đời sống ngƣời thật, việc thật và kể chuyện tƣởng tƣợng, hƣ cấu. Từ hai dạng chính này ngƣời ta có thể phân thành các dạng nhỏ hơn nhƣ kể lại chuyện đã đƣợc nghe, đƣợc đọc, đƣợc học; kể lại chuyện đƣợc chứng kiến, tham gia; chuyện danh nhân, truyện cổ tích; kể tiếp theo những chuyện đã có…Việc phân chia cũng chỉ mang tính chất ƣớc lệ. Tuy nhiên dù ở dạng nào đi nữa thì văn kể chuyện cũng có các đặc điểm sau: - Văn kể chuyện đòi hỏi phải có chuyện (cốt truyện). Cốt truyện bao gồm các yếu tố sau: Sự việc (nội dung, diễn biến, nhân vật, hoạt động của nhân vật, không gian, thời gian…) và ý nghĩa. Diễn biến nội dung trong truyện phải có sự hợp lí đến từng chi tiết, từng nhân vật. Ta phải chịu khó quan sát, tìm hiểu cuộc sống, có sự lao động nghiêm túc để tạo ra một cốt truyện hợp lôgic và hấp dẫn. - Mỗi câu chuyện đƣợc đánh giá là hay khi nó mang một thông điệp ý nghĩa cuộc sống đến cho ngƣời nghe, ngƣời đọc. Sự việc chỉ là phƣơng tiện, ý nghĩa mới là mục đích mà câu chuyện muốn hƣớng đến. Kể chuyện chính là một cách ngƣời kể chuyển đến ngƣời nghe, ngƣời đọc những thông điệp của cuộc sống. Ví dụ: + Truyện “Người ăn xin” (Tiếng Việt 4, Tập 1, trang 30) mang một thông điệp về lòng trắc ẩn – con ngƣời phải biết yêu thƣơng nhau, phải biết thông cảm giúp đỡ ngƣời nghèo. Câu chuyện ca ngợi tình cảm chân thành và sự thông cảm mới là món quà đáng quý. Khi bạn cho đi chính là lúc bạn đang nhận đƣợc. 10 + Truyện “Nỗi dằn vặt của An-đrây-ca” (TV 4,Tập 1,Trang 56).Thông qua nỗi dằn vặt của cậu bé mà ngƣời đọc nhận thấy tình cảm của cậu với ông mình. Ngoài ra, ngƣời đọc còn thấy ở An-đrây-ca một sự trung thực và nghiêm khắc với lỗi lầm của bản thân. Rõ ràng sau khi đọc xong câu chuyện, ngƣời đọc sẽ suy nghĩ và rút ra kinh nghiệm cho bản thân. - Mỗi câu chuyện chứa đựng trong nó nhiều tình huống chi tiết, nhân vật….cung cấp cho ngƣời đọc vô vàn thông tin về cuộc sống. Ví dụ: + Đọc truyện “Vua tàu thủy” Bạch Thái Bƣởi(TV4, Tập1, Trang15). Ngƣời đọc sẽ hiểu thêm về xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX, lúc xã hội đang chuyển mình sang hình thái kinh tế mới, lúc hình thành nền kinh tế thị trƣờng. + Truyện “Người tìm đường lên các vì sao” (TV4,Tập1,Trang 25). Ngƣời đọc sẽ hiểu đƣợc những vất vả, gian nan, lòng kiên nhẫn của các nhà khoa học và công việc nghiên cứu khoa học. - Cần có cách kể hấp dẫn lôi cuốn ngƣời nghe, ngƣời đọc. Kể chuyện mang dấu ấn cá nhân khá rõ. Ngƣời ta thƣờng cho rằng chỉ những ngƣời có năng khiếu thì kể chuyện mới hay mới hấp dẫn. Điều này không sai nhƣng không có nghĩa là chúng ta không thể rèn luyện cho mình một phong cách kể chuyện lôi cuốn ngƣời khác. Cách kể chuyện hay do nhiều yếu tố tạo nên. Sắp xếp các tình tiết, cách mở đầu, kết thúc câu chuyện; cách lựa chọn ngôi kể, biết hóa thân nhập vai vào nhân vật; biết thắt nút mở nút đúng lúc sao cho có kịch tính; giọng điệu, phong cách, cử chỉ, nét mặt….Biết xử lí tốt các yếu tố trên thì việc trở thành một ngƣời kể chuyện có duyên là điều có thể làm đƣợc. 1.1.2.3 Văn kể chuyện trong trường Tiểu học * Văn kể chuyện,một kiểu bài quan trọng trong chương trình Tập làm văn ở tiểu học Đã từ lâu văn kể chuyện đƣợc đƣa vào chƣơng trình Tiểu học và trung học cơ sở. Hiện nay ở Tiểu học, văn kể chuyện bắt đầu dạy từ lớp 3. Học sinh tiểu học cần sớm học văn kể chuyện vì đây là phƣơng thức tự sự đã ổn định đƣợc sử dụng nhiều trong đời sống, trong nhà trƣờng và trong văn học. Từ thuở còn thơ, 11 trẻ em đã sớm học và tập dùng văn kể chuyện. Tại các lớp mẫu giáo nhỡ và lớn, các em đƣợc nghe đƣợc tập kể chuyện. Ở trƣờng tiểu học, có nắm đƣợc văn kể chuyện học sinh mới có cơ sở hiểu rõ hơn các bài tập đọc trích từ truyện ngắn, truyện dài, viết dựa trên phƣơng thức tự sự. * Sự phân chia các kiểu bài kể chuyện Trong sáng tác, các nhà văn đƣa chuyện kể thành nhiều loại.Nhà văn Phạm Hổ đã nói tới: - Chuyện ta vừa nghĩ ra(sáng tác,hƣ cấu) - Chuyện kể lại (đọc sách, nghe kể rồi kể lại) nhƣ các chuyện: “Quả dưa đỏ” của Nguyễn Trọng Thuật, “Đảo hoang” của Tô Hoài, “An Dương Vương xây thành ốc” của Nguyễn Huy Tƣởng…. - Chuyện viết tiếp theo những chuyện đã có.Ví dụ Phạm Hổ viết “Lửa vàng lửa trắng” kể tiếp theo chuyện “Trí khôn của người ở đâu?”, “Lửa vàng lửa trắng” kể lại chuyện con của ngƣời nông dân xƣa đã trị tội con của con hổ già ngày trƣớc bằng một thứ lửa mới: vôi sống bỏ vào hố nƣớc. - Chuyện viết ngƣợc, chuyện đã quen. - Chuyện anh hùng chiến sĩ thi đua, danh nhân. - Chuyện ngƣời tốt, việc tốt. Đƣa vào nhà trƣờng văn kể chuyện cũng chia thành nhiều kiểu bài. Ở Tiểu học có các kiểu: a) Kiểu bài kể chuyện đã nghe, đã đọc. - Khái niệm Kể lại câu chuyện đã nghe đã đọc là cách làm thƣờng thấy trong đời sống. Ông bà, bố mẹ kể lại cho con cháu nghe truyện cổ tích đã đọc đã biết. Một học sinh kể lại cho bạn nghe truyện Dế mèn phiêu lưu kí, Đất rừng phương nam, Đôrê-mon….sau khi đọc truyện. Ghi chép những điều đã kể lại, chúng ta có bài văn kể lại truyện đã nghe đọc. - Điều kiện cần có để kể lại truyện đã nghe, đã đọc. Kể lại chuyện đã nghe đã đọc cần có các điều kiện: Có truyện; ngƣời kể đã đọc hoặc đã nghe kể chuyện đó; kể lại chuyện cho ngƣời khác nghe (nhƣng không có văn bản truyện trƣớc mắt, hoàn toàn dựa vào trí nhớ). 12 - Yêu cầu của kiêu bài kể chuyện đã nghe, đã đọc. Đây là kiểu bài kể truyện nhƣng ở mức độ thấp vì cốt truyện, nhân vật, tình tiết, chi tiết và cả ngôn từ đã có trong văn bản truyện. Ngƣời kể chỉ cần nhớ lại sau khi đọc và nghe kể. Tuy nhiên khi kể lại, không phải ngƣời kể chỉ làm nhiệm vụ đọc thuộc lòng câu chuyện, không sai một chữ, một dấu phẩy là đƣợc. Họ phải dựa vào cốt truyện, nhân vật, chi tiết thậm chí đến cả một vài ngôn từ của truyện rồi dùng lời của mình để kể. Mục đích của họ là giúp ngƣời nghe biết đƣợc câu chuyện, nắm đƣợc ý nghĩa của truyện. Ví dụ: Kể lại truyện “ Cây tre trăm đốt” đừng lạc thành truyện “ Tấm Cám”; kể lại truyện “Dế Mèn phiêu lưu kí” đừng đƣa nhân vật Sọ Dừa vào. Đây là điều bắt buộc. Vì thế, biết bao thế hệ ông bà đã kể cho con cháu nghe nhƣng truyện “Tấm Cám” vẫn là truyện “Tấm Cám”, truyện “Cây tre trăm đốt”, “Sọ Dừa”… cũng vậy. Yêu cầu khi kể lại truyện đã nghe, đã đọc: + Khi kể lại, ngƣời kể phải giữ đúng ý nghĩa câu chuyện, kể trung thành cốt truyện, nhân vật, chi tiết quan trọng nhƣng lại có thể dùng lời lẽ khác nhau, cách nhấn mạnh hay lƣớt qua, cách sử dụng giọng điệu khác nhau để kể. + Khi kể lại, ngƣời kể có thể thay đổi ngôi kể. Câu chuyện “Cây tre trăm đốt” có thể kể lại bằng lời của anh trai cày, lúc đó câu chuyện sẽ bắt đầu bằng lời tự giới thiệu: “Tôi là anh trai cày đi ở cho phú ông trong làng…”. Kể lại bằng lời anh trai cày khiến câu chuyện đã nghe quen mà lạ, mới mẻ. + Sự sáng tạo của ngƣời kể lại chuyện đã nghe, đã đọc không phải không có nhƣng nó không đƣợc vi phạm cốt truyện, không đƣợc làm ngƣời nghe hiểu lầm hoặc hiểu sai ý nghĩa câu chuyện. Hai loại ngôi kể khi kể lại truyện đã đọc, đã nghe. + Kể theo lời ngƣời dẫn truyện: Các truyện cổ tích, nhiều truyện ngắn, truyện dài đã viết theo cách này. Khi đọc hoặc nghe kể đoạn mở đầu truyện Thạch Sanh: “Ngày xửa ngày xưa, ở một khu rừng nọ, có gia đình một người tiều phu”, có bao giờ ta tự hỏi: Ai đang kể câu chuyện này đây nhỉ? Rõ ràng đây không phải là lời Lí Thông, không phải lời Thạch Sanh, cũng không phải lời công chúa Quỳnh Nga… Nếu là lời Thạch Sanh thì Thạch Sanh phải xƣng “tôi” 13 và phải tự giới thiệu. Đây là lời của ngƣời dẫn truyện. Ngƣời dẫn truyện biết hết mọi điều nhƣng không bao giờ xuất hiện trong truyện. + Kể theo lời một nhân vật trong truyện. Truyện “Dế Mèn phiêu lưu kí” kể theo cách này. Trong truyện Dế Mèn xƣng “tôi” và kể lại cuộc sống của mình từ khi con nhỏ đến khi lớn, đi phiêu lƣu trong thiên hạ để học hỏi, kết bạn… Tóm lại, mỗi cách kể có vẻ đặc sắc riêng. b) Kiểu bài kể chuyện người thật, việc thật - Khái niệm Kể chuyện ngƣời thật, việc thật, ngƣời kể phải tự mình tìm ra truyện, tìm ra chi tiết, nhân vật… để tạo thành câu chuyện. Yêu cầu này khó hơn nhƣng là một bƣớc phát triển tất yếu khi học văn kể chuyện. - Kiểu bài kể chuyện người thật, việc thật trong chương trình Tiếng Việt Tiểu học Theo Chƣơng trình Tiếng Việt Tiểu học, kiểu bài này đƣợc học ở lớp 3, 4, 5 và có sự mở rộng dần phạm vi đề tài. + Ở lớp 3, HS học cách kể lại những việc đơn giản nhƣ rửa ấm chén, quét nhà. + Lên lớp 4 HS học cách kể những chuyện xảy ra ở xung quanh nhƣ kể lại một việc tốt trong gia đình, ở trƣờng, ở lớp… + Lên lớp 5, phạm vi câu chuyện mở rộng hơn, kể những chuyện xảy ra ngoài xã hội, ở nơi công cộng. - Yêu cầu của bài kể chuyện người thật, việc thật Hằng ngày, biết bao nhiêu chuyện xảy ra ở trong nhà, trong lớp học, khi đi trên đƣờng, lúc chạy chơi trên sân trƣờng… Nhiều câu chuyện có ý nghĩa: Bênh vực một bạn yếu hoặc tàn tật bị những đứa trẻ lớn hơn bắt nạt; phê phán thói ghen tị vì không đạt điểm cao nhƣ bạn; tỏ sự thông cảm với một bạn bị tật nguyền; giúp đỡ một em nhỏ bị lạc… Chỉ cần kể lại những sự việc đó ta đã có một câu chuyện hay và hấp dẫn. Tóm lại, bài văn kể về ngƣời thật, việc thật cũng phải có cốt truyện ở mức độ đơn giản và bao hàm một ý nghĩa nào đó. 14
- Xem thêm -