Tài liệu Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty tnhh sx & tm minh thành

  • Số trang: 124 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 35 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP LỜI MỞ ĐẦU Trong bất cứ xã hội nào, việc sản xuất ra của cải vật chất hoặc thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh đều không tách khỏi lao động của con người. Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần cho xã hội. Lao động là điều kiện cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của xã hội. Để đảm bảo tiến hành liên tục quá trình tái sản xuất, trước hết cần phải đảm bảo tái sản xuất sức lao động, nghĩa là sức lao động mà con người bỏ ra phải được bồi hoàn dưới dạng thù lao lao động. Trong nền kinh tế thị trường, thù lao lao động được biểu hiện bằng thước đo giá trị và gọi là tiền lương. Hiện nay, công tác hạch toán tiền lương và các khoản trích theo lương là công cụ quản lý hữu hiệu của doanh nghiệp, thông qua đó việc cung cấp chính xác số lượng, thời gian và kết quả lao động cho các nhà quản trị sẽ giúp cho việc quản lý được chi phí tiền lương trong giá thành sản phẩm. Mọi doanh nghiệp được dựa vào các chế độ tiền lương do Nhà nước ban hành để áp dụng khéo léo vào thực trạng doanh nghiệp mình. Doanh nghiệp phải luôn tìm cách bảo đảm mức thù lao tương xứng với kết quả của người lao động để làm động lực thúc đẩy họ nâng cao năng suất lao động, gắn bó phấn đấu vì doanh nghiệp nhưng cũng đảm bảo tối thiểu hoá chi phí tiền lương trong giá thành để tạo thế cạnh tranh cho sản phẩm trên thị trường. Bởi tiền lương vừa là sản phẩm đối với doanh nghiệp đồng thời cũng là thu nhập chính của người lao động. Những lý luận trên đòi hỏi kế toán viên luôn phải tìm tòi để hoàn thiện hơn công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương, đảm bảo cung cấp thông tin chính xác, nhanh chóng nhất cho nhà quản trị, đồng thời là chỗ dựa đáng tin cậy của người lao động. Đỗ Thị Hồng Xinh 1 Lớp K17KT1 - Khoa KT&QTKD VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP Nhận thức được tầm quan trọng của công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương trong doanh nghiệp cùng với những kiến thức tích luỹ được trong quá trình học tập tại trường và quá trình thực tập tại Công ty TNHH SX&TM Minh Thành , em xin chọn đề tài: “Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty TNHH SX&TM Minh Thành” để làm khoá luận tốt nghiệp của mình. Trong bản khoá luận, ngoài phần lời nói đầu, kết luận, em xin được trình bày kết cấu khoá luận với ba phần chính như sau: Phần I: Lý luận chung về kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương trong doanh nghiệp. Phần II: Thực trạng kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty TNHH SX&TM Minh Thành . Phần III: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty TNHH SX&TM Minh Thành . Là một sinh viên với một lượng kiến thức thu lượm được ở các Thầy cô và qua sách vở còn thiếu nhiều kinh nghiệm về thực tế nên trong quá trình nghiên cứu và trình bày sẽ khó tránh những thiếu sót và hạn chế. Em rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô giáo, quý Công ty và bạn đọc để khoá luận được hoàn thiện hơn. Đỗ Thị Hồng Xinh 2 Lớp K17KT1 - Khoa KT&QTKD VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP PHẦN I LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP 1.1. Bản chất tiền lương trong doanh nghiệp. 1.1.1. Khái niệm tiền lương: Quá trình sản xuất là quá trình kết hợp đồng thời cũng là quá trình tiêu hao các yếu tố cơ bản ( Lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động); trong đó lao động với tư cách là hoạt động chân tay và trí óc của con người, sử dụng các tư liệu lao động nhằm tác động, biến đổi các đối tượng lao động thành các vật phẩm có ích phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của mình. Lao động là một trong ba yếu tố cần thiết và giữ vai trò quyết định đối với quá trình sản xuất. Để đảm bảo tiến hành liên tục quá trình tái sản xuất, trước hết cần phải đảm bảo tái sản xuất sức lao động, nghĩa là sức lao động mà con người bỏ ra phải được bồi hoàn dưới dạng thù lao lao động. Trong nền kinh tế thị trường, thù lao lao động được biểu hiện bằng thước đo giá trị gọi là tiền lương vì trong nền kinh tế thị trường, thứ mà người ta mua bán không phải là lao động mà là sức lao động. Khi sức lao động trở thành hàng hoá thì giá trị của nó được thể hiện bằng tiền. Người bán sức lao động sẽ nhận được phần thù lao cho giá trị sức lao động dưới hình thức thanh toán tiền lương, lúc này tiền lương là biểu hiện bằng tiền của gía trị sức lao động, là giá cả của yếu tố sức lao động mà người sử dụng lao động ( Nhà nước, chủ doanh nghiệp,...) phải trả cho người cung ứng sức lao động tuân theo quy luật Cung - Cầu, quy luật giá cả thị trường và pháp luật hiện hành của Nhà nước. Trong nền kinh tế thị trường, tiền Đỗ Thị Hồng Xinh 3 Lớp K17KT1 - Khoa KT&QTKD VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP lương là vấn đề quan trọng liên quan đến Chính phủ, doanh nghiệp và người lao động. Như vậy: Tiền lương là một bộ phận thu nhập quốc dân được dùng để bù đắp hao phí lao động cần thiết của người lao động do Nhà nước hoặc chủ doanh nghiệp phân phối cho người lao động dưới hình thức tiền tệ. Tiền lương là khoản tiền mà người lao động được hưởng phù hợp với số lượng và chất lượng lao động họ đã bỏ ra. 1.1.2. Bản chất của tiền lương Trong nền kinh tế thị trường, tiền lương không chỉ bị chi phối bởi quy luật giá trị mà còn bị chi phối quy luật cung - cầu lao động. Nếu cung lao động lớn hơn cầu lao động thì tiền lương sẽ giảm xuống. Ngược lại, nếu cung lao động nhỏ hơn cầu lao động thì tiền lương sẽ tăng lên. Mặt khác, theo C. Mác, giá trị sức lao động bao gồm: “Giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiết để bù đáp lại sức lao động đã hao phí trong quá trình sản xuất, giá trị của những chi phí nuôi dưỡng con người trước và sau tuổi có khả năng lao động, giá trị cần thiết cho những chi phí cần thiết cho việc học hành”. Những chi phí này không chỉ phụ thuộc vào nhu cầu tự nhiên và sinh lý con người mà còn phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, trình độ văn minh đạt được. Như vậy, tiền lương thường xuyên biến động xung quanh giá trị sức lao động, nó phụ thuộc vào quan hệ cung cầu và giá cả tư liệu sinh hoạt. Sự biến động xoay quanh giá trị sức lao động đó được coi như là biến động thể hiện bản chất của tiền lương. Mặc dù tiền lương (giá cả sức lao động) được hình thành trên cơ sở thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động nhưng nó có sự biểu hiện ở hai phương diện: Kinh tế và Xã hội. Về mặt Kinh tế: Tiền lương là kết quả của thoả thuận trao đổi hàng hoá sức lao động giữa người cung cấp sức lao động của mình trong một Đỗ Thị Hồng Xinh 4 Lớp K17KT1 - Khoa KT&QTKD VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP khoảng thời gian nào đó và sẽ nhận được một khoản tiền lương thoả thuận từ người sử dụng lao động. Về mặt Xã hội: Đối với người lao động, tiền lương là số tiền đảm bảo cho người lao động có thể mua được những tư liệu sinh hoạt cần thiết để tái sản xuất sức lao động của bản thân và dành một phần để nuôi thành viên gia đình cũng như bảo hiểm lúc hết tuổi lao động. Ngoài tiền lương cơ bản, trong quá trình quan hệ lao động người lao động còn nhận được các khoản phụ cấp lương, tiền thưởng và các loại phúc lợi. Trong xã hội phát triển ngày nay, khoa học công nghệ có bước tiến nhảy vọt, các nền kinh tế của các nước ngày càng hoà nhập mạnh mẽ với nhau, mức sống và trình độ chuyên môn kỹ thuật của nguồn nhân lực xã hội được nâng cao không ngừng, thì ngoài tiền lương cơ bản, phục cấp, thưởng và phúc lợi, người lao động còn có cơ hội thăng tiến nghề nghiệp, có vị trí xã hội và làm chủ công việc...Do đó tiền lương còn có ý nghĩa như khoản tiền đầu tư cho người lao động không ngừng phát triển về trí lực, thể lực, thẩm mỹ và đạo đức. Trong hạch toán kinh tế tại các doanh nghiệp, cơ quan, tiền lương là một bộ phận chi phí cấu thành chi phí sản xuất kinh doanh. Do vậy, các doanh nghiệp phải sử dụng sức lao động có hiệu quả để tiết kiệm chi phí tiền lương trong giá thành sản phẩm, làm tăng lợi nhuận nhưng vẫn đảm bảo tiền lương thoả đáng cho người lao động, tăng lợi nhuận phải tăng tiền lương và phúc lợi. Điều đó mới đảm bảo gắn kết người lao động với doanh nghiệp và trong mọi hoàn cảnh, doanh nghiệp luôn phải trả lương cho người lao động không thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định (Từ ngày 01/05/2012,mức lương tối thiếu là 1.050.000đồng/tháng/người Đỗ Thị Hồng Xinh 5 Lớp K17KT1 - Khoa KT&QTKD VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP 1.1.3. Chức năng của tiền lương * Chức năng thước đo giá trị sức lao động Tiền lương là giá cả của sức lao động, là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động, được hình thành trên cơ sở giá trị lao động nên phản ánh được giá trị sức lao động. Nhờ khả năng phản ánh này, nó có chức năng đo lường giá trị sức lao động, được dùng làm căn cứ để xác định mức tiền trả công cho các loại lao động, xác định đơn giá trả lương, đồng thời là cơ sở để điều chỉnh giá cả tư liệu biến động. Hay nói cách khác, giá trị của việc làm được phản ánh thông qua tiền lương, tiền công. Nếu việc làm có giá trị càng cao thì mức tiền lương, tiền công càng lớn. * Chức năng tái sản xuất sức lao động Như đã phân tích, quá trình tái sản xuất sức lao động được thể hiện qua việc trả công cho người lao động thông qua lương đúng, duy trì và phát triển sức lao động của chính bản thân người lao động, giúp sản xuất ra sức lao động mới, giúp người lao động tích luỹ kinh nghiệm, hình thành kỹ năng lao động, nâng cao trình độ tay nghề, tăng cường sức lao động.... * Chức năng kích thích sức lao động Tiền lương là bộ phận thu nhập chính của người lao động nhằm thoả mãn phần lớn nhu cầu về vật chất và tinh thần cùa người lao động. Do vậy, sử dụng các mức tiền lương khác nhau là đòn bẩy kinh tế quan trọng để kích thích được tinh thần hăng say lao động. Cụ thể, khi tiền lương nhận được thoả đáng, công tác trả lương của doanh nghiệp rõ rằng và công bằng sẽ tạo ra động lực tăng năng suất lao động, từ đó lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ không ngừng tăng lên. Khi có lợi nhuận cao thì nguồn phúc lợi doanh nghiệp dành cho người lao động nhiều hơn, nó là phần bổ sung thêm cho tiền lương, làm tăng thu nhập và tăng lợi ích cho người cung ứng lao động. Hơn nữa, khi lợi ích của người lao động được đảm Đỗ Thị Hồng Xinh 6 Lớp K17KT1 - Khoa KT&QTKD VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP bảo bằng các mức lương thoả đáng, nó sẽ tạo ra sự gắn kết cộng đồng giữa người lao động với mục tiêu và lợi ích của doanh nghiệp, xoá bỏ sự ngăn cách giữa người lao động và người sử dụng lao động, làm cho người lao động có trách nhiệm hơn, tự giác hơn hoạt động của doanh nghiệp. * Chức năng là công cụ quản lý của doanh nghiệp. Thông qua việc trả lương cho người lao động, người sử dụng lao động có thể tiến hành kiểm tra, theo dõi, quan sát người lao động làm việc theo kế hoạch, tổ chức của mình để đảm bảo tiền lương bỏ ra đem lại kết quả và hiệu quả cao. Nhờ đó mà người sử dụng lao động quản lý một cách chặt chẽ về số lượng và chất lượng lao động để trả công xứng đáng cho người lao động, thúc đẩy nâng cao năng suất lao động. Như vậy, tiền lương chính là một động lực quan trọng để người lao động không ngừng nâng cao kiến thức và tay nghề của mình. Ở góc độ vĩ mô, chính sách tiền lương luôn là một trong những bộ phận quan trọng trong hệ thống các chính sách Kinh tế - Xã hội và các yếu tố quyết định sự thành công của chiến lược phát triển nguồn nhân lực. 1.1.4. Nguyên tắc tính trả lương * Trả lương theo số lượng và chất lượng lao động Nguyên tắc này bắt nguồn từ quy luật phân phối theo lao động. Yêu cầu của nguyên tắc này là trả lương có phân biệt về số lượng và chất lượng lao động, không trả lương bình quân chia đều. Thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi việc trả lương phải gắn bó với năng suất lao động, kết quả sản xuất biểu hiện ở chất lượng và hiệu quả lao động. Nguyên tắc này thể hiện ở chỗ ai tham gia công việc nhiều, có hiệu quả, trình độ lành nghề cao thì được trả lương cao và ngược lại. Nguyên tắc này còn biểu hiện ở chỗ “ Trả lương ngang nhau cho lao động như nhau” không phân biệt giới tính, dân tộc trong trả lương. Trả Đỗ Thị Hồng Xinh 7 Lớp K17KT1 - Khoa KT&QTKD VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP lương ngang nhau cho lao động như nhau phải được phản ánh trong chính sách tiền lương, đặc biệt là trong hệ thống thang lương, bảng lương, các hình thức trả lương cho người lao động. * Đảm bảo tốc độ tăng năng suất lao động bình quân tăng nhanh hơn tốc độ tăng tiền lương bình quân. Tiền lương phải căn cứ vào năng suất lao động, gắn chặt với tốc độ tăng năng suất lao động, điều đó giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm. Tiền lương bình quân chỉ tăng trên cơ sở tăng năng suất lao động bình quân. Tốc độ tăng tiền lương phải chậm hơn tốc độ tăng năng suất lao động. * Trả lương theo các yếu tố thị trường. Mỗi doanh nghiệp thường có những nguyên tắc tổ chức tiền lương nhằm đảm bảo hệ thống tiền lương phù hợp với đặc điểm thực tiễn của doanh nghiệp và gắn với thị trường trong từng giai đoạn phát triển. * Đảm bảo mối quan hệ hợp lý về tiền lương giữa những người lao động là nghề khác nhau trong nền kinh tế quốc dân. Yêu cầu của nguyên tắc này là đảm bảo mối quan hệ hợp lý trong trả công lao động. Trả công lao động phải phân bịêt mức độ phức tạp của lao động, điều kiện lao động, vị trí quan trọng của các ngành nghề khác nhau, trên cơ sở đó nhằm khuyến khích chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, đảm bảo sự công bằng, bình đẳng trong trả lương theo ngành nghề cho người lao động. * Tiền lương phụ thuộc vào khả năng tài chính. Nguyên tắc này đòi hỏi ở doanh nghiệp không nên quy định cứng các mức lương cho người lao động, bởi vì trong nền kinh tế thị trường thì tiền lương ở doanh nghiệp không những phụ thuộc vào kết quả lao động của cá nhân mà còn phụ thuộc vào hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp nào hoạt động có hiệu quả cao thì tiền lương của cá nhân được hưởng cao và ngược lại. Đỗ Thị Hồng Xinh 8 Lớp K17KT1 - Khoa KT&QTKD VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP * Kết hợp hài hoà các dạng lợi ích trong trả lương. Nguyên tắc này đảm bảo mối quan hệ hài hoà giữa ba dạng lợi ích: lợi ích xã hội, lợi ích tập thể và lợi ích người lao động. Cụ thể là: - Đối với lợi ích cho xã hội thể hiện ở việc đóng thuế theo Luật định và đảm bảo được đời sống của lực lượng lao động. - Đối với lợi ích của doanh nghiệp là thu được lợi nhuận. - Đối với lợi ích của người lao động là đảm bảo được đời sống bản thân và gia đình, có tích luỹ cho phát triển toàn diện và bảo hiểm. 1.2. Các hình thức trả lương, nội dung quỹ lương và các khoản trích theo lương. 1.2.1. Các hình thức trả lương trong doanh nghiệp. Việc tính và trả lương có thể thực hiện theo nhiều hình thức khác nhau, tuỳ theo đặc điểm hoạt động kinh doanh, tính chất công việc và trình độ quản lý của doanh nghiệp . Trên thực tế ở Việt Nam hiện nay, các doanh nghiệp thường áp dụng ba hình thức trả lương như sau: + Trả lương theo thời gian. + Trả lương theo sản phẩm + Trả lương khoán. 1.2.1.1. Hình thức trả lương theo thời gian Hình thức trả lương theo thời gian là hình thức trả lương căn cứ vào mức lương cấp bậc hoặc chức vụ và thời gian làm việc thực tế của công nhân viên chức. Thực chất của hình thức này là trả công theo số ngày công (giờ công) thực tế đã làm. Công thức tính như sau: TLTG = ML x TLVTT Đỗ Thị Hồng Xinh 9 Lớp K17KT1 - Khoa KT&QTKD VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP Trong đó: + TLTG: Tiền lương thời gian trả chi người lao động. + ML: Mức lương tương ứng với các bậc trong thang lương, bảng lương (mức lương giờ, ngày, tháng...) + TLVTT: Thời gian làm việc thực tế (số ngày công, giờ công đã làm trong kỳ, tuần, tháng...) Hình thức trả lương theo thời gian chủ yếu áp dụng với những người làm công tác quản lý, còn công nhân sản xuất chỉ áp dụng ở bộ phận lao động bằng máy móc là chủ yếu hoặc những công việc mà không thể tiến hành định mức một cách chính xác được hoặc do tính chất của sản xuất nên nếu thực hiện được việc trả công theo sản phẩm sẽ không đảm bảo chất lượng sản phẩm, không đem lại hiệu quả thiết thực. Mặc dù hình thức trả lương này vẫn phải tuân theo quy luật phân phối theo lao động và vấn đề đặt ra là phải xác định được khối lượng công việc mà họ hoàn thành. * Điều kiện để áp dụng trả lương theo thời gian. - Phải thực hiện chấm công cho người lao động chính xác: Bởi vì tiền lương thời gian phụ thuộc vào độ dài thời gian làm việc thực tế. Thời gian làm việc thực tế làm việc nhiều hay ít quyết định đến tiền lương của người lao động nhận được nhiều hay ít. Người lao động làm nhiều ngày công, giờ công hơn thì được hưởng lương cao, làm ít ngày công, giờ công thì hưởng tiền lương ít hơn. Do đó, đòi hỏi chấm công chính xác để trả lương. - Phải đánh giá chính xác mức độ phức tạp của công việc: Đánh giá mức độ phức tạp của công việc thông qua đó để xác định được mức độ hao phí sức lao động ít hơn so với công việc phức tạp. Do vậy, đòi hỏi trả lương cao hơn cho công việc phức tạp và trả lương thấp hơn cho công việc đơn giản. - Phải bố trí đúng người đúng việc: Đảm bảo phù hợp giữa năng lực chuyên môn - kỹ thuật và đòi hỏi mỗi chỗ làm việc nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thời gian làm việc và hiệu quả của hình thức tiền lương này. Đỗ Thị Hồng Xinh 10 Lớp K17KT1 - Khoa KT&QTKD VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP * Hình thức tiền lương này mang tính chất bình quân, chưa thực sự gắn với kết quả sản xuất, không đánh giá đúng kết quả lao động của mỗi người, không đảm bảo được nguyên tắc “ Làm theo năng lực, hưởng theo lao động”. Hình thức trả lương theo thời gian có thể chia ra: - Hình thức trả lương theo thời gian giản đơn: Là số tiền trả cho người lao động căn cứ vào bậc lương và thời gian làm việc thực tế, không xét đến năng suất lao động và kết quả công việc hoàn thành. Hình thức này thường được áp dụng cho những công việc không thể xác định được hao phí lao động đã tiêu hao vào đó. Trong hình thức này gồm: Hệ số Tiền lương tháng = Mức lương tối thiểu (1.050.000đ/tháng) x lương hiện + Phụ cấp (nếu có) hửơng Tiền lương tuần = Tiền lương tháng x 12 tháng 52 tuần Tiền lương ngày = Tiền lương tháng Số ngày làm việc trong tháng theo chế độ Tiền lương giờ = Mức lương ngày Số gìơ làm việc theo chế độ (8giờ) - Hình thức trả lương thời gian có thưởng: Là hình thức trả lương cho công nhân viên chức căn cứ vào mức lương và thời gian làm việc có kết hợp với khen thưởng khi đạt và vượt các chỉ tiêu đã được như: tiết kiệm Đỗ Thị Hồng Xinh 11 Lớp K17KT1 - Khoa KT&QTKD VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP thời gian làm việc, chấp hành chế độ quy định làm việc của doanh nghiệp, giờ làm có hiệu quả. Tiền lương thời gian có thưởng = Tiền lương thời gian + Tiền thưởng Hình thức tiền lương này có nhiều ưu điểm hơn so với hình thức trả lương theo thời gian đơn giản. Hình thức này không những phản ánh trình độ thành thạo và thời gian làm việc thực tế mà còn gắn chặt tiền lương với thành tích công tác của từng người lao động thông qua các chỉ tiêu xét thưởng mà họ đã đạt được. Vì vậy, nó khuyến khích người lao động quan tâm đến kết quả công tác của mình. Các doanh nghiệp thường là các doanh nghiệp thương mại, khi áp dụng hình thức trả lương này đòi hỏi họ phải thường xuyên kiểm tra tiến độ làm việc của công nhân viên chức để phù hợp với chế độ khen thưởng hợp lý. Do những hạn chế nhất định của hình thức trả lương theo thời gian nên để khắc phục phần nào hạn chế đó, trả lương theo thời gian có thể được kết hợp chế độ tiền thưởng để khuyến khích người lao động hăng hái làm việc. 1.2.1.2. Hình thức trả lương theo sản phẩm Là hình thức trả lương dựa trực tiếp vào số lượng và chất lượng sản phẩm (hay dịch vụ) hoàn thành và đơn giá tiền lương tính cho một đơn vị sản phẩm. Đây là hình thức trả lương phù hợp với nguyên tắc “ Phân phối theo lao động”, gắn chặt với số lượng lao động, với chất lượng lao động, khuyến khích người lao động hăng say làm việc, góp phần làm tăng sản phẩm cho xã hội, thu lợi nhuận cho doanh nghiệp. Đây là hình thức lương cơ bản và phổ biến đang được áp dụng trong khu vực sản xuất vật chất hiện nay. Công thức tính tiền lương theo sản phẩm: Đỗ Thị Hồng Xinh 12 Lớp K17KT1 - Khoa KT&QTKD VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI Tiền lương sản phẩm = KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP Khối lượng (Số lượng sản phẩm hoàn thành đủ tiêu chuẩn ) x Đơn giá tiền lương sản phẩm * Điều kiện áp dụng hình thức trả lương sản phẩm: - Phải có hệ thống mức lao động được xây dựng có căn cứ khoa học (mức được xây dựng thông qua các phương pháp khảo sát như bấm giờ, chụp ảnh các bước công việc để có lương thời gian hao phí chính xác từng bước công việc) đảm bảo tính trung bình tiên tiến của hệ thống mức lao động. - Phải tổ chức nơi làm việc tốt, góp phần hạn chế tối đa lượng thời gian làm việc hao phí không cần thiết, giúp người lao động có đủ điều kiện hoàn thành công việc được giao. - Phải có chế độ kiểm tra, nghiệm thu sản phẩm được kịp thời bởi vì lương của công nhân phụ thuộc rất lớn vào sản phẩm sản xuất ra đúng quy cách chất lượng. Giáo dục tốt ý thức trách nhiệm của người lao động để họ vừa phấn đấu nâng cao năng suất lao động, tăng thu nhập nhưng vừa phải đảm bảo chất lượng sản phẩm, đồng thời tiết kiệm nguyên vật liệu, sử dụng an toàn máy móc, thiết bị, bảo đảm an toàn lao động. * Ý nghĩa của hình thức trả lương theo sản phẩm. - Hình thức này quán triệt nguyên tắc trả lương phân phối theo quy luật lao động, tiền lương mà người lao động nhận được phụ thuộc vào số lượng và chất lượng sản phẩm hoàn thành, từ đó kích thích tăng năng suất lao động. - Trả lương theo sản phẩm có tác dụng trực tiếp khuyến khích người lao động ra sức học tập nâng cao trình độ tay nghề, tích luỹ kinh nghiệm rèn luyện kỹ năng, tăng khả năng sáng tạo và tăng năng suất lao động. - Trả lương theo sản phẩm có ý nghĩa rất to lớn trong việc nâng cao và hoàn thiện công tác quản lý, nâng cao tính tự chủ, chủ động trong công việc của người lao động. Đỗ Thị Hồng Xinh 13 Lớp K17KT1 - Khoa KT&QTKD VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP Các hình thức trả lương theo sản phẩm gồm: * Hình thức trả lương sản phẩm trực tiếp cho cá nhân: là trả lương cho người lao động căn cứ trực tiếp vào số lượng, chất lượng sản phẩm (hay chi tiết sản phẩm) mà người lao động làm ra. Chế độ này áp dụng đối với những người trực tiếp sản xuất, kinh doanh trong các đơn vị kinh tế mà quá trình lao động của họ mang tính độc lập tương đối, công việc có thể định mức lao động và kiểm tra nghiệm thu sản phẩm một cách cụ thể, riêng biệt. Tiền lương của họ do chính năng suất lao động cá nhân quyết định và tính theo công thức: TLspi = ĐG x Qi Trong đó: + TLspi: Tiền lương sản phẩm công nhân i + Qi : Sản lượng (hoặc doanh thu) của công nhân i trong một thời gian nhất định (tháng, ngày...) Chế độ tiền lương này đơn giản, dễ hiểu, dễ tính; gắn được tiền lương với kết quả lao động, năng suất, chất lượng lao động cá nhân. Từ đó khuyến khích công nhân phấn đấu tăng năng suất lao động. Song, nếu thiếu những quy định chặt chẽ, hợp lý, công nhân sẽ ít quan tâm đến tiết kiệm nguyên vật liệu, coi nhẹ tiết kiệm chi phí sản xuất, ít quan tâm đến việc bảo đảm máy móc, thiết bị. * Hình thức trả lương sản phẩm tập thể ( Tổ, đội, nhóm....): là chế độ trả lương căn cứ vào số lượng sản phẩm hay công việc do một tập thể công nhân đã hoàn thành và đơn giá tiền lương của một đơn vị sản phẩm hay một đơn vị công việc trả cho tập thể. Chế độ trả lương này được áp dụng đối với những công việc hay sản phẩm do đặc tính về công việc (hay sản phẩm) không thể tách rời từng chi tiết từng phần việc để giao cho từng người mà phải có sự phối hợp của Đỗ Thị Hồng Xinh 14 Lớp K17KT1 - Khoa KT&QTKD VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP một nhóm công nhân thực hiện.Công thức tính đơn giá tiền lương và tiền lương cho tập thể: = ĐGtt Tổng số tiền lương và phụ cấp theo cấp bậc công việc của cả tổ Mức sản lượng của cả tổ Trong đó: + ĐGtt: Đơn giá tiền lương sản phẩm cho tập thể Tiền lương sản phẩm tập thể tính theo công thức: TLsptt = ĐGtt x Qtt Trong đó: Qtt: là sản lượng hoặc doanh thu đạt được của tổ, đội Ưu điểm và nhược điểm của chế độ trả lương theo sản phẩm tập thể: có tác dụng nâng cao ý thức trách nhiệm, tinh thần hợp tác và phối hợp có hiệu quả giữa công nhân làm việc trong tổ, nhóm để cả tổ, nhóm làm việc có hiệu quả hơn; khuyến khích các tổ, nhóm làm việc theo mô hình tổ chức lao động tự quản. Nhưng nếu việc phân phối tiền lương của nhóm không chính xác sẽ có thể gây mất đoàn kết nội bộ làm giảm động lực lao động. * Hình thức trả lương theo sản phẩm gián tiếp: Đây là tiền lương trả cho công nhân viên phụ cùng tham gia sản xuất với công nhân viên chính đã hưởng theo lương sản phẩm, được xác định căn cứ vào hệ số giữa mức lương sản phẩm đã định mức công nhân chính và nhân với sản phẩm công nhân chính sản xuất ra hoặc trên cơ sở thang lương và bậc lương của công nhân phụ trả theo tỷ lệ phần trăm hoàn thành các định mức sản xuất quy định cho công nhân chính. Ưu điểm và nhược điểm của chế độ trả lương theo sản phẩm gián tiếp: khuyến khích công nhân phục vụ tốt hơn cho công nhân chính, tạo điều kiện nâng cao lao động của công nhân chính. Song tiền lương của Đỗ Thị Hồng Xinh 15 Lớp K17KT1 - Khoa KT&QTKD VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP công nhân phụ phụ thuộc vào năng suất lao động của công nhân chính, do vậy tiền lương của công nhân phụ nhiều khi phản ánh không chính xác kết quả lao động của công nhân phụ. * Hình thức trả lương sản phẩm khoán: : Là chế độ trả lương cho một người hay một tập thể công nhân căn cứ vào mức độ hoàn thành công việc và đơn giá tiền lương được quy định trong hợp đồng khoán. Hình thức trả lương sản phẩm khoán được áp dụng trong trường hợp mà sản phẩm hay công việc khó giao chi tiết, phải giao nộp cả khối lượng công việc, hay nhiều việc tổng hợp yêu cầu phải làm xong trong một thời gian nhất định, với chất lượng nhất định. Tiền lương khoán sản phẩm được xác định như sau: TLspk = ĐGk x Qk Trong đó: + TLspk: Tiền lương sản phẩm khoán. + ĐGk: Đơn giá khoán cho một đơn vị sản phẩm hay công việc hoặc cũng có thể là đơn giá trọn gói cho cả khối lượng công việc hay công trình. + Qk: Khối lượng sản phẩm khoán được hoàn thành. Yêu cầu của hình thức trả lương này là đơn giá phải tính toán chặt chẽ và phải có bản hợp đồng giao khoán. Đơn giá khoán được tính toán dựa vào sự phân tích từng khâu công việc hay công trình. Chế độ trả lương này có tác dụng khuyến khích người lao động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, cải tiến phương pháp lao động để tối ưu hoá quá trình lao động, hoàn thành nhiệm vụ trước thời gian và đảm bảo chất lượng. Song việc xác định đơn giá khoán phải phân tích kỹ, tính toán phức tạp. Đỗ Thị Hồng Xinh 16 Lớp K17KT1 - Khoa KT&QTKD VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP * Hình thức trả lương theo sản phẩm có thưởng: Là chế độ trả lương theo sản phẩm kết hợp thực hiện các hình thức thưởng nếu công nhân đạt được các chỉ tiêu thưởng quy định. Hình thức trả lương này thường được áp dụng đối với công việc của những khâu chủ yếu trong dây chuyền sản xuất, để giải quyết sự đồng bộ trong sản xuất, thúc đẩy tăng năng suất lao động ở khâu khác có liên quan trong một dây chuyền sản xuất. Tiền lương sản phẩm có thưởng được xác định như sau: TLspt = L x LxMxH 100 % Trong đó: + TLspt : Tiền lương trả theo sản phẩm có thưởng + L: Tiền lương theo đơn giá cố định + M: Tỷ lệ thưởng cho 1% vượt mức chỉ tiêu thưởng + H: % vượt mức chỉ tiêu thưởng Chế độ trả lương này khuyến khích người lao động tích cực làm việc, học hỏi, tích luỹ kinh nghiệm để hoàn thành vượt mức sản lượng. Song nếu chỉ tiêu thưởng, điều kiện thưởng, tỷ lệ thưởng xác định không hợp lý sẽ làm tăng chi phí tiền lương và bội chi quỹ lương. * Hình thức trả lương sản phẩm luỹ tiến: là việc trả lương trên cơ sở sản phẩm trực tiếp, đồng thời căn cứ vào mức độ hoàn thành định mức sản xuất, mức độ hoàn thành sản xuất càng cao thì hiệu suất lương luỹ tiến càng lớn. Nhờ vậy trả lương theo sản phẩm luỹ tiến sẽ kích thích được người lao động tăng năng suất lao động, tiền lương trả theo hình thức này gồm hai phần: - Phần thứ nhất: Căn cứ vào mức độ hoàn thành định mức lao động tính ra tiền lương theo sản phẩm trong định mức. Đỗ Thị Hồng Xinh 17 Lớp K17KT1 - Khoa KT&QTKD VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP - Phần thứ hai: Căn cứ vào mức độ vượt định mức tính ra tiền lương phải trả cho người lao động theo tỷ lệ luỹ tiến . Tỷ lệ hoàn thành vượt mức định mức càng cao thì hiệu suất luỹ tiến càng nhiều. Hình thức tiền lương này có tác dụng khuyến khích nâng cao năng suất lao động và thường được áp dụng đối với những nơi sản xuất còn chậm, nhằm tăng sản lượng sản phẩm. Song việc tổ chức quản lý tương đối phức tạp. Nếu xác định biểu tỷ lệ luỹ tiến không hợp lý sẽ làm tăng giá thành sản phẩm và giảm hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp. 1.2.1.3. Hình thức trả lương khoán Chế độ trả lương này áp dụng cho những công việc nếu giao từng chi tiết, bộ phận sẽ không có lợi mà phải giao toàn bộ khối lượng cho công nhân hoàn thành trong một thời gian nhất định. Chế độ trả lương này có thể áp dụng cho cá nhân hoặc tập thể. Nếu đối tượng nhận khoán là tập thể, tổ, nhóm thì tiền lương nhận được sẽ phân phối cho công nhân trong tổ, nhóm giống như trong chế độ tiền lương tính theo sản phẩm tập thể. * Trả lương gọn theo sản phẩm cuối cùng Là hình thức trả lương theo sản phẩm nhưng tiền lương được tính theo đơn giá tập hợp cho sản phẩm hoàn thành đến công việc cuối cùng. Hình thức này áp dụng cho những doanh nghiệp mà quá trình sản xuất trải qua nhiều giai đoạn công nghệ nhằm khuyến khích người lao động quan tâm đến chất lượng sản phẩm. * Trả lương khoán quỹ lương Theo hình thức này, doanh nghiệp tính toán và giao khoán quỹ lương cho từng phòng ban, bộ phận theo nguyên tắc hoàn thành công tác hay không hoàn thành kế hoạch . * Trả lương khoán thu nhập Đỗ Thị Hồng Xinh 18 Lớp K17KT1 - Khoa KT&QTKD VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP Tuỳ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp mà hình thành quỹ lương để phân chia cho người lao động. Khi tiền lương không thể hoạch toán riêng cho từng người lao động thì phải trả lương cho cả tập thể lao động đó, sau đó mới tiến hành chia cho từng người. Trả lương theo hình thức này có tác dụng làm cho người lao động phát huy sáng kiến và tích cực cải tiến lao động để tối ưu hoá quá trình làm việc, tăng năng suất lao động, tiết kiệm chi phí, hoàn thành công việc giao khoán. Hình thức trả lương theo thời gian, trả lương theo sản phẩm và trả lương khoán đều có ý nghĩa và vai trò quan trọng, được áp dụng riêng lẻ hoặc kết hợp tuỳ theo đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. 1.2.1.4. Các chế độ về lương phụ cấp của doanh nghiệp * Chế độ tiền thưởng. Ngoài chế độ tiền lương, các doanh nghiệp còn có thể xây dựng chế độ tiền thưởng cho các cá nhân, tập thể có thành tích trong hoạt động sản xuất kinh doanh theo các hình thức khác nhau nhằm động viên, khuyến khích người lao động. Tiền thưởng là phần thu nhập ngoài tiền lương, thực chất là khoản tiền bổ sung cho tiền lương nhằm quán triệt hơn nguyên tắc “Phân phối theo lao động” và nâng cao hiệu quả trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Tiền thưởng được tính căn cứ vào hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và mức độ hoàn thành công việc của người lao động. Nếu doanh nghiệp có lãi thì tiếp tục được phân phối cho người lao động trên cơ sở đóng góp của từng người. Tiền thưởng bao gồm tiền thưởng thi đua (lấy từ quỹ khen thưởng) và thưởng trong sản xuất kinh doanh (lấy từ quỹ lương như: thưởng nâng cao chất lượng sản phẩm, thưởng tiết kiệm vật tư, thưởng phát minh sáng kiến...) thưởng đột xuất (không nằm trong kế hoạch, được áp dụng linh hoạt) và thưởng lễ, tết (lấy từ quỹ phúc lợi). * Chế độ phụ cấp Đỗ Thị Hồng Xinh 19 Lớp K17KT1 - Khoa KT&QTKD VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP Chế độ phụ cấp các tác dụng bổ sung cho chế độ tiền lương cơ bản, bù đắp thêm cho người lao động khi họ phải làm việc trong những điều kiện không thuận lợi hoặc không ổn định mà chưa được tính đến khi xác định lương cơ bản. Chế độ phụ cấp có tác dụng kích thích người lao động thực hiện tốt công tác công việc trong những điều kiện khó khăn. Doanh nghiệp, cơ quan có quyền quy định các khoản phụ cấp lương hoặc áp dụng chế độ phụ cấp do Chính phủ quy định đối với doanh nghiệp Nhà nước để trả cho người lao động. Theo quy định tại điều 4 Nghị định 205/2004/NĐ-Cp ngày 14/12/2004 thì chế độ phụ cấp áp dụng trong Công ty Nhà nước bao gồm: + Phụ cấp khu vực: Áp dụng đối với người làm việc ở những vùng xa xôi, hẻo lánh và khí hậu xấu. Phụ cấp khu vực được quy định gồm 7 mức hệ số: 0,1; 0,3; 0,4; 0,5; 0,7; 1,0 so với mức lương tối thiểu chung. Mức tiền phụ cấp khu vực được tính theo công thức: Hệ số phụ cấp Mức lương tối Mức tiền phụ = x cấp khu vực khu vực thiểu chung + Phụ cấp trách nhiệm công việc: Nhằm bù đắp cho những người vừa trực tiếp sản xuất hoặc làm công tác chuyên môn nghiệp vụ vừa kiêm công tác quản lý không chuyên trách. Có 4 mức hệ số phụ cấp: 0,1; 0,2; 0,3; và 0,5 so với mức lương tối thiểu chung + Phụ cấp độc hại, nguy hiểm: Áp dụng đối với người làm nghề hoặc công việc có điều kiện lao động làm việc độc hại, nguy hiểm, đặc biệt độc hại mà chưa xác định trong mức lương. Có 4 mức hệ số phụ cấp: 0,1; 0,2; 0,3; và 0,4 so với mức lương tối thiểu chung + Phụ cấp lưu động: Áp dụng đối với người làm nghề hoặc công việc thường xuyên thay đổi địa điểm và nơi ở, điều kiện sinh hoạt không ổn định và khó khăn Phụ cấp gồm 3 mức hệ số: 0,2; 0,4 và 0,6 so với mức lương tối thiểu chung Đỗ Thị Hồng Xinh 20 Lớp K17KT1 - Khoa KT&QTKD
- Xem thêm -