Tài liệu Kế toán nguyên vật liệu về sản xuất thức ăn chăn nuôi của công ty tnhh mtv thú y và thủy sản thế bình

  • Số trang: 95 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 55 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

Trường đại họcThương Mại Khoa: Kế toán – Kiểm toán MỞ ĐẦU Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới và kinh tế khu vực trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam cũng có nhiều thay đổi rõ nét. Ở nước ta hiện nay, trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh gay gắt của các Doanh nghiệp có cùng lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Các doanh nghiệp tư nhân cũng không nằm ngoài sự cạnh tranh này. Để tồn tại và phát triển các Doanh nghiệp phải xây dựng phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả kinh tế nhằm đạt được mục tiêu cuối cùng là thu được lợi nhuận cao. Để đạt được điều này, các chi phí sản xuất phải được tiết kiệm ở mức tối đa, trên cơ sở hợp lý và có kế hoạch. Như chúng ta đã biết nguyên vật liệu là một trong những yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất kinh doanh; giá trị của vật liệu tiêu hao cho quá trình sản xuất kinh doanh tạo nên giá trị của sản phẩm, chiếm tỷ trọng lớn, chủ yếu. Chính vì vậy, việc quản lý vật liệu từ khâu thu mua đến khâu xuất dùng cho quá trình sản xuất kinh doanh có ý nghĩa rất lớn trong việc giảm chi phí, hạ thấp giá thành sản phẩm. Để quản lý tốt quá trình sản xuất kinh doanh cần phải sử dụng hàng loạt các công cụ khác nhau; trong đó kế toán được coi là một công cụ quan trọng hữu hiệu. Kế toán về mặt bản chất chính là một hệ thống đo lường, sử lý và truyền đạt những thông tin có ích cho các quyết định kinh tế. Đối với nhà nước kế toán là công cụ quan trọng để tính toán, xây dựng, kiểm tra việc chấp hành ngân sách nhà nước; điều hành và quản lý nền kinh tế quốc dân. Đối với các tổ chức Doanh nghiệp, kế toán là công cụ quan trọng để điều hành, quản lý các hoạt động kinh tế và kiểm tra việc bảo vệ, sử dụng tài sản, vật tư, tiền vốn của Doanh nghiệp. Hạch toán kế toán nói chung là công cụ để quản lý kinh tế thì hạch toán nguyên vật liệu là công cụ đắc lực phục vụ cho công tác quản lý nguyên vật liệu. Việc quản lý nguyên vật liệu là rất cần thiết, đòi hỏi kế toán nguyên vật liệu đưa ra các thông tin chính xác, kịp thời. Việc tổ chức kế toán nguyên vật liệu một cách khoa học, hợp lý SV : Ngô Thị Tố Loan 1 Lớp : K6_HK11A Trường đại họcThương Mại Khoa: Kế toán – Kiểm toán có ý nghĩa rất lớn trong việc quản lý nguyên vật liệu, làm cho tình hình cung cấp, sử dụng nguyên vật liệu được hợp lý, dẫn đến giảm chi phí và hạ thấp giá thành của sản phẩm. Xuất phát từ đặc điểm của nguyên vật liệu, vai trò của các kế toán vật liệu trong các doanh nghiệp sản xuất, trên cơ sở các lý luận đã được học ở nhà trường và qua thời gian thực tập ở Công ty TNHH MTV Thú y và thuỷ sản Thế Bình, được sự chỉ bảo tận tình của Thầy giáo TS Nguyễn Tuấn Duy và các cô chú trong Công ty em đã đi sâu nghiên cứu đề tài: “Kế toán Nguyên Vật Liệu về sản xuất thức ăn chăn nuôi của công ty TNHH MTV thú y và thủy sản Thế Bình” Nội dung của đề tài được chia làm ba phần chính: Chương 1: Lý luận chung về kế toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp sản xuất Chương 2: Tình hình thực tế về tổ chức kế toán nguyên vật liệu tại Công Ty TNHH MTV Thú y và thuỷ sản Thế Bình. Chương 3: Một số ý kiến nhằm hoàn thiện công tác kế toán nguyên vật liệu tại Công ty TNHH MTV Thú y và thuỷ sản Thế Bình SV : Ngô Thị Tố Loan 2 Lớp : K6_HK11A Trường đại họcThương Mại Khoa: Kế toán – Kiểm toán TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1. Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài: - Về mặt lý luận: Trong nền kinh tế thị trường hiện nay các doanh nghiệp muốn đứng vững và phát triển phải tìm cho mình những biện pháp cạnh tranh có hiệu quả. Đối với các doanh nghiệp sản xuất, kiểm soát và cắt giảm chi phí là một biện pháp tối ưu giúp doanh nghiệp tăng lợi nhuận. Chi phí nguyên vật liệu là một trong những yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí sản xuất cũng như tổng giá thành sản phẩm của doanh nghiệp. Do đó công tác kế toán nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp sản xuất phải được thực hiện tốt, có như vậy mới có thể cung cấp đầy đủ, kịp thời và chính xác các thông tin cho việc quản lý nguyên vật liệu trong doanh nghiệp như trong việc cũng sử dụng tiết kiệm nguyên vật liệu. Nhận thức được vai trò của kế toán một cách rõ ràng, đặc biệt là kế toán nguyên vật liệu trong quá trình quản lý chi phí của doanh nghiệp, việc tổ chức hạch toán nguyên vật liệu một cách khoa học SV : Ngô Thị Tố Loan 3 Lớp : K6_HK11A Trường đại họcThương Mại Khoa: Kế toán – Kiểm toán hợp lý có ý nghĩa thực tiễn rất cao trong việc nâng cao chất lượng quản lý và khả năng sử dụng vật liệu một cách có hiệu quả. - Về mặt thực trạng: Qua kết quả khảo sát sơ bộ, sau khi tiến hành lập phiếu điều tra tại các phòng ban của Công ty TNHH MTV Thú y và thuỷ sản Thế Bình cho thấy những vấn đề cấp thiết đặt ra cần giải quyết trong phạm vi bộ phận kế toán tài chính của công ty đó là công tác tổ chức kế toán nguyên vật liệu còn nhiều hạn chế về việc quản lý quy cách vật tư hệ thống kho bãi, việc thu mua nguyên vật liệu của công ty vẫn để xảy ra một số mất mát thiếu hụt vật tư, việc tiêu dùng vật tư và hao phí vật tư chưa đảm bảo đúng hạn mức. Đó là những vấn đề bất cập liên quan đến công tác hạch toán và việc sử dụng chi phí nguyên vật liệu trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. - Về mặt giải pháp: Bởi vậy, sự cần thiết cải tiến và hoàn thiện hơn nữa công tác kế toán nói chung, kế toán nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp sản xuất nói riêng luôn được đặt ra với mục đích nhằm tổ chức khoa học, hợp lý công tác kế toán sao cho phù hợp với yêu cầu và điều kiện của từng doanh nghiệp làm cơ sở cho các thông tin kế toán cung cấp đảm bảo tính đúng đắn và đáng tin cậy. 2. Xác lập và tuyên bố vấn đề trong đề tài: - Đối tượng nghiên cứu đề tài: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng kế toán nguyên vật liệu để sản xuất thức ăn chăn nuôi tại Công ty TNHH MTV Thú y và thuỷ sản Thế Bình và các giải pháp hoàn thiện kế toán ngyuên vật liệu tại Công ty, từ đó xác lập mô hình tổ chức công tác kế toán nguyên vật liệu trên cơ sở công ty đang áp dụng hệ thống hạch toán kế toán theo hình thức Nhật Ký Chung. - Tuyên bố vấn đề trong đề tài: SV : Ngô Thị Tố Loan 4 Lớp : K6_HK11A Trường đại họcThương Mại Khoa: Kế toán – Kiểm toán Nhận thức được tầm quan trọng của công tác kế toán nguyên vật liệu, đồng thời để áp dụng kiến thức đã có trong suốt thời gian học tập vào thực tế nhằm nâng cao trình độ hiểu biết của bản thân, qua quá trình thực tập tại Công ty TNHH MTV Thú y và thuỷ sản Thế Bình, em đã tiến hành nghiên cứu đề tài :“ Kế toán nguyên vật liệu tại Công ty TNHH MTV Thú y và thuỷ sản Thế Bình”. 3. Các mục tiêu nghiên cứu: - Về mặt lý luận: Chuyên đề nhằm hệ thống hóa một số lý luận cơ bản về kế toán bán nguyên vật liệu theo chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành nhằm trang bị thêm kiến thức cho bản thân. Những kiến thức về kế toán nguyên vật liệu đó là cơ sở lý luận, nền tảng nhằm nghiên cứu thực trạng kế toán nguyên vật liệu tại Công ty TNHH MTV Thú y và thuỷ sản Thế Bình. - Về mặt thực trạng: Chuyên đề nhằm hoàn thiện công tác kế toán nguyên vật liệu tại Công ty TNHH MTV Thú y và thuỷ sản Thế Bình chỉ rõ những ưu điểm, những tồn tại trong kế toán nguyên vật liệu tại công ty. - Về mặt giải pháp: Từ những tồn tại, đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán nguyên vật liệu tại công ty một cách hiệu quả cao nhất cho công ty. 4. Phạm vi nghiên cứu: - Phạm vi không gian: Tại Công ty TNHH MTV Thú y và Thuỷ sản Thế Bình - Thôn Đình Dù, xã Đình Dù, huyện Văn Lâm, Hưng Yên. - Phạm vi thời gian: Thời gian thực tập tại công ty từ 19/3/2012 12/6/2012 - Đối tượng nghiên cứu và số liệu trong đề tài: Đề tài tập trung nghiên cứu lý luận và thực tiễn về tổ chức công tác kế toán nguyên vật liệu tại Công ty TNHH MTV Thú y và thuỷ sản Thế Bình chuyên sản xất thức ăn chăn nuôi. SV : Ngô Thị Tố Loan 5 Lớp : K6_HK11A Trường đại họcThương Mại Khoa: Kế toán – Kiểm toán Đối tượng nghiên cứu và số liệu trong đề tài được bộ phận kế toán tại Công ty TNHH MTV Thú y và thuỷ sản Thế Bình cung cấp vào quý IV năm 2011. 5. Kết cấu khóa luận tốt nghiệp Khoá luận tốt nghiệp của em kết cấu gồm 3 chương lớn: Chương 1: Lý luận chung về kế toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp sản xuất Chương 2: Tình hình thực tế về tổ chức kế toán nguyên vật liệu tại Công Ty TNHH MTV Thú y và thuỷ sản Thế Bình. Chương 3: Một số ý kiến nhằm hoàn thiện công tác kế toán nguyên vật liệu tại Công ty TNHH MTV Thú y và thuỷ sản Thế Bình SV : Ngô Thị Tố Loan 6 Lớp : K6_HK11A Trường đại họcThương Mại Khoa: Kế toán – Kiểm toán CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT. 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGUYÊN VẬT LIỆU 1.1 Khái niệm, đặc điểm và vị trí vai trò của nguyên vật liệu 1.1.1 Khái niệm, đặc điểm. Nguyên vật liệu là đối tượng lao động có vị trí đặc biệt quan trọng trong quá trình sản xuất. Nó có những đặc điểm rất riêng biệt so với các tư liệu sản xuất khác. Do đặc điểm của nguyên vật liệu là chỉ tham gia một lần vào quá trình sản xuất nên việc quản lý nguyên vật liệu đòi hỏi phải luôn luôn chặt chẽ. Do nguyên vật liệu thuộc nhóm hàng tồn kho và là tài sản lưu động của Doanh nghiệp nên việc quản lý nguyên vật liệu phải dựa trên cả hai chỉ tiêu số lượng ( hiện vật) và giá trị. Về mặt hiện vật: nguyên vật liệu được tiêu dùng trực tiếp và tiêu hao toàn bộ hoặc đổi hình thái ban đầu. Về mặt giá trị: Giá trị của nguyên vật liệu được chuyển toàn bộ một lần vào giá trị của sản phẩm mới tạo ra. Nó là yếu tố của vốn lưu động và được phục hồi lại sau chu kỳ sản xuất kinh doanh. 1.1.2 Vị trí vai trò của nguyên vật liệu - Ta được biết nguyên vật liệu là đối tượng lao động, là một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất. Là cơ sở vật chất để hình thành nên sản phẩm. Trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, nguyên vật liệu chỉ tham gia một lần vào chu kỳ sản xuất; nó chuyển dịch một lần toàn bộ giá trị vào giá trị của sản phẩm do nó tạo ra. Nguyên vật liệu là cơ sở vật chất hình thành nên sản phẩm, là yếu tố không thể thiếu được trong quá trình sản xuất sản phẩm. Trong các Doanh nghiệp sản xuất, nguyên vật liệu là tài sản lưu động thuộc nhóm hàng tồn kho. Nguyên vật liệu rất đa dạng, phong phú về chủng loại, phức tạp về kỹ thuật. Trong quá trình sản xuất; vật liệu luôn chuyển hoá, biến đổi về mặt hiện vật và giá trị. SV : Ngô Thị Tố Loan 7 Lớp : K6_HK11A Trường đại họcThương Mại Khoa: Kế toán – Kiểm toán Mặt khác, trong quá trình sản xuất nguyên vật liệu là yếu tố dễ bị lãng phí, mất mát nhất trong các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất. Do vậy nguyên vật liệu đòi hỏi phải có những phương pháp quản lý thích hợp, mang tính khoa học và thực tiễn cao. Trong quá trình sản xuất kinh doanh việc cung cấp nguyên vật liệu có đầy đủ, kịp thời hay không sẽ ảnh hưởng rất lớn đến kế hoạch sản xuất của Doanh nghiệp; sản xuất không thể tiến hành được nếu không có nguyên vật liệu. Khi đã có đầy đủ nguyên vật liệu thì sản phẩm sản xuất ra có chất lượng tốt hay xấu, có được thị trường đánh giá cao hay không lại phụ thuộc phần lớn vào chất lượng của vật liệu. Ta được biết chi phí nguyên vật liệu thường chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ chi phí sản xuất cũng như giá thành sản phẩm. Do vậy, tăng cường công tác quản lý, công tác kế toán nguyên vật liệu ở các khâu thu mua; bảo quản dự trữ; và để hạ thấp chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có ý nghĩa quan trọng, làm cho Doanh nghiệp có thể đạt tới lợi nhuận cao, có thể đứng vững trong sự cạnh tranh của cơ chế thị trường. 1.2. Yêu cầu quản lý nguyên vật liệu. Mỗi loại sản phẩm sản xuất được sử dụng nhiều chủng loại nguyên vật liệu khác nhau, được thu mua từ nhiều nguồn khác nhau, giá cả của nguyên vật liệu thì thường xuyên biến động trên thị trường. Vì vậy để tăng cường công tác quản lý nguyên vật liệu phải theo dõi ở tất cả các khâu. Từ khâu thu mua, bảo quản, sử dụng, dự trữ, kiểm kê nguyên vật liệu. Yêu cầu cụ thể của công tác quản lý vật liệu trong từng khâu là: Khâu thu mua: Để sản xuất sản phẩm phải sử dụng nhiều loại nguyên vật liệu khác nhau, mỗi loại nguyên vật liệu đều có công dụng riêng, đối với quá trình thu mua phải quản lý chặt về mặt khối lượng, chất lượng, giá cả, chủng loại. Giá mua và chi phí mua của nguyên vật liệu phải được phản ánh kịp thời, chính xác, kế hoạch SV : Ngô Thị Tố Loan 8 Lớp : K6_HK11A Trường đại họcThương Mại Khoa: Kế toán – Kiểm toán mua nguyên vật liệu phải đúng tiến độ, thời gian phù hợp với kế hoạch sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp. Khâu sử dụng: Sử dụng tiết kiệm hợp lý trên cơ sở định mức và dự trữ chi phí; điều này ảnh hưởng quan trọng đến hạ thấp chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, tăng thu nhập, tích luỹ cho Doanh nghiệp. Đồng thời phải thường xuyên và định kỳ phân tích tình hình thực hiện định mức tiêu hao vật liệu trong sản xuất. Vì vậy, trong quá trình sử dụng phải tổ chức tốt công tác ghi chép, phản ánh đúng tình hình sản xuất; xuất dùng và sử dụng nguyên vật liệu trong quá trình sản xuất kinh doanh. Khâu dự trữ, bảo quản: Phải xác định đúng định mức tối đa, tối thiểu trong dự trữ nguyên vật liệu không gây ứ đọng để tăng vòng quay của vốn, hoạch gián đoạn trong sản xuất kinh doanh vì thiếu vật liệu. Trong quá trình bảo quản phải bảo quản theo đúng chế độ quy định, tổ chức tốt hệ thống kho tàng, bến bãi để vật liệu không bị thất thoát, hư hỏng ảnh hưởng đến chất lượng của sản xuất. Khâu kiểm kê: Kiểm tra định kỳ số nguyên vật liệu tồn kho để phát hiện kịp thời các nguyên nhân thừa, thiếu nguyên vật liệu kém phẩm chất để đưa ra các biện pháp xử lý cho phù hợp. Tóm lại: Quản lý chặt chẽ nguyên vật liệu ở tất cả các khâu của quá trình sản xuất là một trong những nội dung quan trọng trong công tác quản lý tài sản của Doanh nghiệp. 1.3. Nhiệm vụ của kế toán nguyên vật liệu. Để thực hiện chức năng giám đốc và là công cụ quản lý kinh tế xuất phát từ yêu cầu quản lý vật liệu, từ vị trí của kế toán trong quản lý kinh tế, quản lý Doanh nghiệp, Nhà nước đã xác định nhiệm vụ của kế toán nguyên vật liệu trong các Doanh nghiệp sản xuất như sau: - Tổ chức ghi chép phản ánh tổng hợp số liệu về tình hình thu mua vận chuyển, bảo quản tình hình xuất nhập tồn kho vật liệu. Tính giá thành thực tế của vật liệu đã thu mua và nhập kho. Doanh SV : Ngô Thị Tố Loan 9 Lớp : K6_HK11A Trường đại họcThương Mại Khoa: Kế toán – Kiểm toán nghiệp kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch thu mua vật liệu về mặt số lượng, chủng loại, giá cả nhằm đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời, đúng chủng loại vật liệu cho quá trình sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp. - Tổ chức hệ thống chứng từ, tài khoản kế toán phù hợp với phương pháp kế toán hàng tồn kho của Doanh nghiệp để ghi chép phân loại tổng hợp số liệu và tình hình hiện có và sự biến động tăng giảm của vật liệu trong quá trình sản xuất kinh doanh cung cấp số liệu kịp thời để tập hợp chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm. - Kiểm tra việc chấp hành chế độ bảo quản, dự trữ và sử dụng nguyên vật liệu. Phát hiện, ngăn ngừa và đề xuất những biện pháp sử lý vật liệu thừa, thiếu, ứ đọng hoặc kém, mất phẩm chất. Tính toán xác định chính xác số lượng và giá trị vật liệu thực tế đưa vào sử dụng đã được tiêu hao trong quá trình sản xuất kinh doanh, phân bổ chính xác giá trị vật liệu đã tiêu hao vào đối tượng sử dụng. - Tham gia kiểm kê, đánh giá lại nguyên vật liệu tồn kho theo đúng chế độ quy định của Nhà nước, lập báo cáo về vật liệu cho công tác quản lý, tiến hành phân tích tình hình thu mua, bảo quản, dự trữ và sử dụng nguyên vật liệu nhằm đưa ra đầy đủ các thông tin cho quá trình sản xuất. Tóm lại, với vai trò và nhiệm vụ như trên kế toán vật liệu đã trở thành một thành phần quan trọng trong hệ thống kế toán Doanh nghiệp. 1.4. Phân loại nguyên vật liệu. Việc phân loại nguyên vật liệu tuỳ thuộc vào từng loại hình Doanh nghiệp và từng ngành sản xuất khác nhau. 1.4.1. Căn cứ vào nội dung kinh tế và yêu cầu quản trị trong Doanh nghiệp, vật liệu được chia thành những loại sau: SV : Ngô Thị Tố Loan 10 Lớp : K6_HK11A Trường đại họcThương Mại Khoa: Kế toán – Kiểm toán - Nguyên vật liệu chính: Là những thứ mà sau quá trình gia công, chế biến sẽ thành thực thể và vật chất chủ yếu của sản phẩm (kể cả bán thành phẩm mua vào). - Nguyên vật liệu phụ: Là những vật liệu chỉ có tác dụng phụ trợ trong sản xuất, được sử dụng kết hợp với vật liệu chính để làm thay đổi màu sắc, hình dáng, mùi vị hoặc dùng để bảo quản, phục vụ hoạt động của các tư liệu lao động hay phục vụ cho lao động của công nhân viên chức (VD: dầu nhờn, thuốc nhuộm. giẻ lau…) - Nhiên liệu: Là những thứ dùng để cấp nhiệt lượng trong quá trình sản xuất, kinh doanh như xăng dầu, khí đốt hơi đốt, than, củi, ga… - Phụ tùng thay thế: Là các chi tiết, phụ tùng dùng để sửa chữa và thay thế cho máy móc thiết bị… - Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản: Bao gồm các vật liệu và thiết bị ( cần lắp, không cần lắp, công cụ, khí cụ…) mà doanh nghiệp mua vào nhằm mục đích cho xây dựng cơ bản. - Phế liệu: Là các loại vật liệu thu được trong quá trình sản xuất hay thanh lý tài sản, có thể sử dụng hay bán ra ngoài ( phôi bao, giấy vụn sắt, gạch…) - Vật liệu khác: Bao gồm các loại vật liệu còn lại ngoài những thứ kể trên như bao bì, vật đóng gói, các loại vật tư đặc trưng… 1.4.2. Căn cứ vào nguồn nhập nguyên vật liệu được chia thành: - Vật liệu nhập do mua ngoài. - Vật liệu tự gia công chế biến hoặc thuê ngoài gia công chế biến. - Vật liệu nhập do góp vốn liên doanh hoặc do tài trợ từ các tổ chức Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp thấy được từng nguồn nhập của nguyên vật liệu để có những biện pháp sử lý. 1.5. Đánh giá nguyên vật liệu. Đánh giá nguyên vật liệu là dùng thước đo tiền tệ để xác định giá trị của chúng theo những nguyên tắc nhất định. SV : Ngô Thị Tố Loan 11 Lớp : K6_HK11A Trường đại họcThương Mại Khoa: Kế toán – Kiểm toán 1.5.1. Mục đích đánh giá nguyên vật liệu - Tổng hợp các nguyên vật liệu khác nhau để báo cáo tình hình nhập xuất tồn kho nguyên vật liệu. - Để kế toán viên thực hiện chức năng ghi chép bằng tiền mặt các nghiệp vụ kinh tế phát sinh. 1.5.2. Các nguyên tắc đánh giá nguyên vật liệu. - Nguyên tắc giá phí (giá vốn) - Nguyên tắc thận trọng - Nguyên tắc nhất quán - Nguyên tắc kịp thời 1.6. Các phương pháp tính giá nguyên vật liệu. 1.6.1. Tính giá nguyên vật liệu nhập kho Trong doanh nghiệp nguyên vật liệu được nhập từ nhiều nguồn khác nhau, giá thực tế của chúng được xác định trong từng trường hợp cụ thể. Đặc biệt luật thuế GTGT áp dụng từ ngày 01/01/1999 việc tính giá nguyên vật liệu nhập kho sẽ được tính theo 1 trong hai phương pháp sau tuỳ theo đặc trưng của từng loại hình doanh nghiệp: Tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế. Tính thuế GTGT theo phương pháp tính trực tiếp. * Đối với doanh nghiệp tính thuế VAT theo phương pháp khấu trừ. Theo phương pháp này: Giá thực tế của nguyên vật liệu nhập kho là giá mua chưa có thuế GTGT (GTGT đầu vào được phản ánh vào TK 133 để khấu trừ) Tuỳ theo nguồn hình thành mà giá trị thực tế của nguyên vật liệu được tính như sau: - Nguyên vật liệu mua ngoài: Giá thực tế là giá mua ghi trên hoá đơn + thuế nhập khẩu (nếu có) và các chi phí thu mua thực tế (chi phí vận chuyển, bốc dỡ, chí phí nhân viên thu mua, chi phí của SV : Ngô Thị Tố Loan 12 Lớp : K6_HK11A Trường đại họcThương Mại Khoa: Kế toán – Kiểm toán bộ phận thu mua độc lập , chi phí thuê kho, thuê bãi, tiền phạt lưu kho, lưu hàng… ) trừ các khoản giảm giá hàng mua được hưởng hoặc các khoản chiết khấu. - Nguyên liệu tự sản xuất: Tính theo giá thành sản xuất thực tế. - Nguyên vật liệu thuê ngoài gia công chế biến: Giá thực tế gồm giá trị mua vật liệu xuất chế biến cùng các chi phí liên quan ( tiền thuê gia công, chế biến, chi phí vận chuyển, bốc dỡ…). - Nguyên vật liệu nhận đóng góp từ các đơn vị, tổ chức, cá nhân tham gia liên doanh: Giá thực tế là giá thỏa thuận do các bên xác định + chi phí tiếp nhận (nếu có). - Phế liệu: Giá ước tính thực thế có thể sử dụng được hay giá trị thu hồi tối thiểu. - Nguyên vật liệu được cấp phát, biếu tặng, tài trợ: Tính theo giá thị trường tương đương + chi phí tiếp nhận ( nếu có). * Đối với doanh nghiệp tính thuế VAT theo phương pháp trực tiếp. Theo phương pháp này: Giá thực tế của nguyên vật liệu nhập kho là giá mua đã có thuế GTGT. Cũng tuỳ thuộc vào nguồn hình thành của chúng tương tự như đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thì tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp không được hạch toán riêng vào tài khoản 133 mà trích gộp vào giá thực tế của nguyên vật liệu nhập kho. * VD: Mua một số nguyên vật liệu với tổng giá thanh toán 110 triệu trong đó thuế VAT là 10 triệu, công ty đã thanh toán toàn bộ bằng tiền mặt. Như vây ta sẽ hạch toán như sau: Theo phương pháp khấu trừ: Nợ TK 152: 100 triệu (không có thuế GTGT) Nợ TK 133: 10 triệu Có TK 111: 110 triệu Theo phương pháp trực tiếp: SV : Ngô Thị Tố Loan 13 Lớp : K6_HK11A Trường đại họcThương Mại Khoa: Kế toán – Kiểm toán Nợ TK 152: 110 triệu Có TK 111: 110 triệu Việc tính đúng giá thực tế của nguyên vật liệu nhập kho là rất quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp, vì nguyên vật liệu là yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, nó ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. 1.6.2. Các phương pháp tính giá nguyên vật liệu xuất kho Tuỳ thuộc đặc điểm hoạt động của từng doanh nghiệp, yêu cầu quản lý và trình độ nghiệp vụ của cán bộ kế toán có thể sử dụng một trong các phương pháp sau: - Phương pháp giá thực tế đích danh. - Phương pháp nhập trước - xuất trước. - Phương pháp nhập sau - xuất trước. - Phương pháp bình quân gia quyền * Phương pháp giá thực tế đích danh: Theo phương pháp này, giá trị xuất kho của bất kỳ nguyên vật liệu nào cũng được xác định đúng giá trị nhập kho của nó. Phương pháp này tuân thủ nguyên tắc phù hợp của hạch toán kế toán. Chi phí thực tế phù hợp với doanh thu thực tế, giá trị nguyên vật liệu xuất dùng cho sản xuất phù hợp với giá trị thành phẩm mà nó tạo ra. * Phương pháp giá hạch toán. Hạch toán nguyên vật liệu theo giá thực tế trong các doanh nghiệp có các nghiệp vụ nhập - xuất diễn ra thường xuyên và có nhiều chủng loại vật tư sẽ gặp rất nhiều khó khăn và không hiệu quả. Trong trường hợp này kế toán có thể sử dụng giá hạch toán để tính giá trị hạch toán nguyên vật liệu xuất dùng trong kỳ. Giá hạch toán là giá ổn định doanh nghiệp đưa ra và được sử dụng với ghi chép. Khi sử dụng phương pháp này cuối kỳ kế toán phải tiến hành điều chỉnh để xác định giá trị thực tế nguyên vật liệu xuất dùng trong kỳ và tồn cuối kỳ thông qua hệ số giá. Giá thực tế = SV : Ngô Thị Tố Loan Giá hạch toán NVL 14 x Hệ số Lớp : K6_HK11A Trường đại họcThương Mại NVL xuất dùng Khoa: Kế toán – Kiểm toán xuất dùng Giá thực tế NVL tồn Hệ số giá giá + Giá thực tế NVL nhập kho đầu kỳ trong kỳ = Giá hạch toán NVL tồn + Giá hạch toán NVL nhập kho đầu kỳ * Phương pháp nhập trước - xuất trước. kho trong kỳ Theo phương pháp này trước hết ta phải xác định được đơn giá thực tế nhập kho của từng lần nhập và giả định rằng nguyên vật liệu xuất kho theo đúng thứ tự nhập kho của chúng: tức là nguyên vật liệu nào được nhập vào kho trước thì sẽ được xuất trước. Sau đó căn cứ vào số lượng xuất kho để tính ra giá thực tế xuất kho theo nguyên tắc: tính theo đơn giá thực tếnhập trước đối với lượng xuất kho thuộc lần nhập trước, số còn lại (tổng số xuất kho – số đã xuất thuộc lần nhập trước) được tính theo đơn giá thực tế lần nhập tiếp sau. * Phương pháp nhập sau - xuất trước Theo phương pháp này ta cũng phải xác định được đơn giá thực tế nhập kho của từng lần nhập và giả thiết rằng nguyên vật liệu của doanh nghiệp sẽ được xuất kho ngược với thứ tự nhập kho của chúng: tức là những nguyên vật liệu nào được nhập kho cuối cùng thì sẽ được xuất kho đầu tiên. Sau đó căn cứ số lượng xuất kho tính ra giá thực tế xuất kho theo nguyên tắc: tính theo đơn giá thực tế của lần nhập sau cùng đối với số lượng xuất kho thuộc lần nhập sau cùng, số còn lại được tính theo đơn giá thực tế của các lần nhập trước đó. * Phương pháp bình quân gia quyền. Theo phương pháp này, giá thực tế của nguyên vật liệu xuất dùng trong kỳ được tính theo giá đơn vị bình quân. Trong đó doanh nghiệp có thể chọn một trong ba cách tính giá đơn vị bình quân sau: Phương pháp giá đơn vị bình quân cả kỳ dự trữ. SV : Ngô Thị Tố Loan 15 Lớp : K6_HK11A Trường đại họcThương Mại Khoa: Kế toán – Kiểm toán Giá trị thực tế NVL Giá đơn vị bình quân cả = kỳ dự trữ Giá trị thực tế NVL tồn đầu kỳ + nhập trong kỳ Số lượng thực tế + Số lượng thực tế NVL tồn đầu kỳ NVL nhập trong kỳ Phương pháp giá đơn vị bình quân cuối kỳ trước Giá đơn vị bình quân Giá trị NVL tồn đầu kỳ cuối kỳ trước = Số lượng NVL tồn đầu kỳ Phương pháp giá đơn vị bình quân sau mỗi lần nhập xuất Giá đơn vị bình quân Giá trị NVL sau mỗi lần nhập sau mỗi lần nhập xuất = xuất Số lượng NVL sau mỗi lần nhập xuất 1.6.3. Tính giá nguyên vật liệu tồn kho. Giá trị của nguyên vật liệu tồn kho cuối kỳ xác định dựa trên phương pháp tính giá trị nguyên vật liệu nhập kho và xuất kho theo công thức. Giá trị NVL = Giá trị NVL + Giá trị NVL nhập - Giá trị NVL xuất tồn cuối kỳ tồn đầu kỳ trong kỳ trong kỳ Như vậy tuỳ thuộc vào hình thức áp dụng thuế giá trị gia tăng đối với nguyên vật liệu nhập kho theo phương pháp trực tiếp hay khấu trừ mà doanh nghiệp áp dụng, chúng ta sẽ xác định được giá thực tế nguyên vật liệu tồn kho có hoặc không có thuế giá trị gia tăng. 2. HẠCH TOÁN CHI TIẾT NGUYÊN VẬT LIỆU. 2.1. Hệ thống chứng từ sổ sách sử dụng. 2.1.1. Chứng từ kế toán sử dụng Theo chế độ chứng từ kế toán ban hành theo quyết định số 15/2006/QĐ-BTC 20/03/2006 của bộ tài chính chứng từ kế toán về NVL gồm. + Phiếu nhập kho ( Mẫu 01- VT) + Phiếu xuất kho ( Mẫu 02- VT) SV : Ngô Thị Tố Loan 16 Lớp : K6_HK11A Trường đại họcThương Mại Khoa: Kế toán – Kiểm toán + Biên bản kiểm nghiệm vật tư, công cụ, sản phẩm, hàng hóa ( Mẫu 03- VT) + Phiếu báo vật tư còn lại cối kỳ ( Mẫu 04- VT) + Biên bản kiểm kê vật tư, công cụ, sản phẩm, hàng hóa ( Mẫu 05- VT) + Bảng kê mua hàng ( Mẫu 06- VT) + Bảng phân bổ nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ ( Mẫu 07- VT) Ngoài các chứng từ mang tính bắt buộc sử dụng thống nhất theo quy định của Nhà nước, trong các Doanh nghiệp có thể sử dụng thêm các chứng từ kế toán hướng dẫn sau: Phiếu xuất vật tư theo hạn mức (mẫu 04 – VT) Biên bản kiểm nghiệm vật tư ( mẫu 05 – VT) Phiếu báo cáo vật tư còn lại cuối kỳ (mẫu 07 – VT) …………………… Các chứng từ khác tuỳ thuộc vào đặc điểm, tình hình cụ thể từng Doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực hoạt động, thành phần kinh tế, hình thức sở hữu khác nhau mà áp dụng sao cho thuận tiện, khoa học đối với Doanh nghiệp mình. 2.1.2. Sổ sách kế toán sử dụng Sổ kế toán dùng để phản ánh các nghiệp vụ kinh tế trên cơ sở chứng từ kế toán hợp lý, hợp pháp. Sổ kế toán chi tiết vật liệu phục vụ cho việc hạch toán chi tiết các nghiệp vụ kinh tế phát sinh liên quan đến nguyên vật liệu. Tuỳ thuộc vào phương pháp hạch toán chi tiết áp dụng trong Doanh nghiệp mà sử dụng các sổ ( thẻ) kế toán chi tiết sau: - Số (thẻ) kho - Số (thẻ) kế toán chi tiết vật liệu - Số đối chiếu luân chuyển - Sổ số dư …………………. Ngoài các sổ chi tiết nêu trên, có thể mở các bảng kê nhập, bảng kê xuất, bảng kê luỹ kế nhập xuất tồn kho nguyên vật liệu phục SV : Ngô Thị Tố Loan 17 Lớp : K6_HK11A Trường đại họcThương Mại Khoa: Kế toán – Kiểm toán vụ cho việc ghi sổ kế toán chi tiết được đơn giản, nhanh chóng kịp thời. 2.2. Các phương pháp kế toán chi tiết nguyên vật liệu và ưu, nhược điểm của từng phương pháp. Việc hạch toán chi tiết nguyên vật liệu được tiến hành sử dụng một trong ba phương pháp: Phương pháp ghi thẻ song song. Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển. Phương pháp sổ số dư. 2.2.1. Phương pháp ghi thẻ song song (Sơ đồ 1a phần phụ lục). - Điều kiện áp dụng: Phương pháp này thường được áp dụng tại các doanh nghiệp có it chủng loại vật tư với mật độ nghiệp vụ phát sinh không lớn, có thể tổ chức giám sát thường xuyên, đồng thời hệ thống kho tàng được tập trung tạo điều kiện thuận lợi cho viếc kiểm tra đối chiếu. - Nguyên tắc hạch toán. Tại kho: Thủ kho dùng thẻ kho để phản ánh tình hình nhập - xuất tồn vật tư về mặt số lượng. Mỗi chứng từ ghi một dòng vào thẻ kho. Thẻ được mở cho từng danh điểm vật tư. Cuối tháng thủ kho phải tiến hành cộng số nhập - xuất tính ra số tồn kho về mặt số lượng theo từng danh điểm vật tư. Tại phòng kế toán: Kế toán vật tư mở thẻ kế toán chi tiết vật tư cho từng danh điểm vật tư tương ứng với thẻ kho mở ở kho. Thẻ này có nội dung tương tự thẻ kho nhưng theo dõi về mặt giá trị. Hàng ngày hoặc định kỳ, khi nhận được các chứng từ nhập – xuất kho do thủ kho chuyển tới, kế toán vật tư phải kiểm tra đối chiếu và ghi đơn giá vào thẻ kế toán và tính ra số tiền. Sau đó, lần lượt ghi các nghiệp vụ nhập – xuất vào thẻ kế toán chi tiết vật tư có liên quan cuối tháng tiến hành cộng thẻ và đối chiếu với thẻ kho. SV : Ngô Thị Tố Loan 18 Lớp : K6_HK11A Trường đại họcThương Mại Khoa: Kế toán – Kiểm toán - Ưu điểm: Đơn giản dễ làm, không đòi hỏi tình độ nghiệp vụ cao, phù hợp với những doanh nghiệp có qua mô nhỏ. - Nhược điểm: Ghi chép trùng lặp chỉ tiêu hiện vật (số lượng) giữa thủ kho và phòng kế toán. việc đối chiếu dồn vào cuối tháng nên việc làm báo cáo dễ bị chậm. 2.2.2. Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển (Sơ đồ 1b phần phụ lục). - Điều kiện áp dụng: Thường được áp dụng tại các doanh nghiệp có chủng loại vật tư phong phú đa dạng, mật độ nhập – xuất – tồn lớn, hệ thống kho tàng phân tán, kế toán không đủ điều kiện thực hiện đối chiếu, kiểm tra thường xuyên. - Nguyên tắc hạch toán. Tại kho: Thủ kho vẫn mở thẻ kho để theo dõi về mặt số lượng đối với từng danh điểm vật tư như phương pháp thẻ song song. Tại phòng kế toán: Không mở thẻ kế toán chi tiết vật tư mà mở sổ đối chiếu luân chuyển để hạch toán số lượng và giá trị của từng danh điểm vật tư theo từng kho. Sổ đối chiếu luân chuyển ghi mỗi tháng một lần vào cuối tháng trên cơ sở tổng hợp các chứng từ nhập – xuất phát sinh trong tháng của từng danh điểm vật tư, mỗi danh điểm vật tư chỉ được ghi một dòng trong sổ. Cuối tháng đối chiếu với số lượng vật tư trên sổ đối chiếu luân chuyển với thẻ kho đối chiếu số tiền với kế toán tổng hợp. - Ưu điểm: Giảm bớt số lần ghi trùng lặp và khối lượng ghi chép của kế toán tiện lợi trong việc đối chiếu kiểm tra sổ sách, cung cấp thông tin về tình hình nhập – xuất – tồn của từng danh điểm nguyên vật tư để kế toán xác định được trọng tâm quản lý đối với những loại vật liệu có độ luân chuyển lớn. - Nhược điểm: Vẫn còn trùng lặp trong ghi chép, vì công việc dồn vào cuối tháng nên việc cung cấp thông tin chưa được kịp thời. 2.2.3. Phương pháp sổ số dư (Sơ đồ 1c phần phụ lục). SV : Ngô Thị Tố Loan 19 Lớp : K6_HK11A Trường đại họcThương Mại Khoa: Kế toán – Kiểm toán - Điệu kiện áp dụng: Tương tự như phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển, phương pháp này vẫn thường được áp dụng tại các doanh nghiệp có chủng loại vật tư phong phú đa dạng, mật độ nhập – xuất – tồn lớn, hệ thống kho tàng phân tán, kế toán không đủ điều kiện thực hiện đối chiếu, kiểm tra thường xuyên. - Nguyên tác hạch toán. Tại kho: Thủ kho sử dụng thẻ kho để phản ánh tình hình nhập – xuất – tồn của từng loại nguyên vật liệu. Định kỳ, sau đó ghi thẻ kho, thủ kho tập hợp toàn bộ chứng từ và nộp cho kế toán. Sổ số dư được mở cho từng kho và dùng cho cả năm. Tại phòng kế toán: Kế toán mở sổ số dư theo từng kho. Định kỳ kế toán nguyên vật liệu phải xuống hướng dẫn và kiểm tra việc ghi chép thẻ kho của thủ kho và thu nhận chứng từ. Sau đó tính giá theo từng chứng từ theo giá hạch toán, tổng cộng số tiền và ghi vào cột số tiền trên phiếu giao nhận chứng từ, vào bảng luỹ kế nhập – xuất – tồn kho vật tư. Bảng này được mở cho từng kho mỗi kho một tờ. - Ưu điểm: Giảm bớt được sự ghi chép trùng lặp, công việc được tiến hành đều trong tháng do đó đáp ứng được thông tin kịp htời cho quản lý. - Nhược điểm: Phương pháp này không đối chiếu được giữa thẻ kho theo từng chứng từ nhập – xuất nên khó khăn cho việc kiểm tra khi có sai sót. 3. HẠCH TOÁN TỔNG HỢP NGUYÊN VẬT LIỆU Hạch toán tổng hợp nguyên vật liệu là việc ghi chép về mặt giá trị của nguyên vật liệu trên các sổ kế toán tổng hợp. Việc xác định giá trị hàng nhập- xuất- tồn kho tuỳ thuộc vào việc áp dụng phương pháp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp nào. 3.1. Theo phương pháp kê khai thường xuyên. 3.1.1. Tài khoản sử dụng chứng từ và trình tự luân chuyển chứng từ SV : Ngô Thị Tố Loan 20 Lớp : K6_HK11A
- Xem thêm -