Tài liệu Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính tại ngân hàng tmcp bắc á

  • Số trang: 118 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 92 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học, độc lập của tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và rõ ràng. TÁC GIẢ LUẬN VĂN DƯƠNG NGỌC TUẤN MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ VÀ BIỂU ĐỒ LỜI MỞ ĐẦU.................................................................................................. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG CHỈ TIÊU PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.................... 1.1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI........................................... 1.1.1. Khái niệm Ngân hàng thương mại.......................................................... 1.1.2. Đặc điểm hoạt động kinh doanh của ngân hàng ảnh hưởng đến việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính....................................... 1.2. VAI TRÒ VÀ NỘI DUNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH NHTM...................... 1.2.1. Vai trò của phân tích tài chính ngân hàng thương mại............................ 1.2.2. Nội dung phân tích tài chính ngân hàng thương mại............................10 1.2.3. Phương pháp phân tích tài chính Ngân hàng.........................................14 1.2.4. Hệ thống thông tin làm cơ sở cho việc tính toán các chỉ tiêu phân tích tài chính NHTM....................................................................................16 1.3. HỆ THỒNG CHỈ TIÊU PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH NHTM........................18 1.3.1. Các chỉ tiêu phân tích khái quát quy mô tài sản, nguồn vốn.................19 1.3.2. Các chỉ tiêu phân tích tình hình vốn chủ sở hữu...................................20 1.3.3. Các chỉ tiêu phân tích tình hình huy động vốn......................................21 1.3.4. Các chỉ tiêu phân tích hoạt động tín dụng và đầu tư.............................23 1.3.5. Các chỉ tiêu phân tích tình hình dự trữ..................................................29 1.3.6. Các chỉ tiêu phân tích khả năng thanh khoản........................................31 1.3.7. Các chỉ tiêu phân tích tình hình thu nhập và chi phí.............................32 1.3.8. Các chỉ tiêu phân tích lợi nhuận và khả năng sinh lợi...........................33 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1....................................................................................35 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG CHỈ TIÊU PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI NGÂN HÀNG TMCP BẮC Á.......................................36 2.1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG TMCP BẮC Á.......................................36 2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Bắc Á.........36 2.1.2. Mô hình tổ chức quản lý của Ngân hàng TMCP Bắc Á........................37 2.1.3. Khái quát hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Bắc Á trong thời gian qua.........................................................................................39 2.2. THỰC TRẠNG HỆ THỐNG CHỈ TIÊU PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI NGÂN HÀNG TMCP BẮC Á...................................................................42 2.2.1. Các chỉ tiêu phân tích khái quát về quy mô, cơ cấu tài sản và nguồn vốn của BacABank...............................................................................42 2.2.2. Các chỉ tiêu phân tích tình hình vốn chủ sở hữu...................................46 2.2.3. Các chỉ tiêu phân tích tình hình huy động vốn......................................51 2.2.4. Các chỉ tiêu phân tích tình hình dự trữ..................................................54 2.2.5. Các chỉ tiêu phân tích khả năng thanh khoản........................................55 2.2.6. Các chỉ tiêu phân tích hoạt động tín dụng và đầu tư.............................57 2.2.7 Các chỉ tiêu phân tích tình hình thu nhập và chi phí..............................63 2.2.8.Các chỉ tiêu phân tích lợi nhuận ngân hàng...........................................66 2.3. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG SỬ DỤNG HỆ THỒNG CHỈ TIÊU PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI NGÂN HÀNG TMCP BẮC Á...............................67 2.3.1. Ưu điểm.................................................................................................67 2.3.2. Tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại............................................68 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2....................................................................................72 CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN HỆ THỐNG CHỈ TIÊU PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI NGÂN HÀNG TMCP BẮC Á.......................................73 3.1. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA NGÂN HÀNG TMCP BẮC Á............73 3.2. TÍNH CẤP THIẾT VÀ NHỮNG YÊU CẦU CƠ BẢN CỦA VIỆC HOÀN THIỆN HỆ THỐNG CHỈ TIÊU PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH........................75 3.2.1. Tính cấp thiết phải hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính NHTM.....75 3.2.2. Những yêu cầu cơ bản của việc hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính NHTM....................................................................................76 3.3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG CHỈ TIÊU PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI NGÂN HÀNG TMCP BẮC Á...............................................78 3.3.1. Các chỉ tiêu phân tích khái quát quy mô tài sản, nguồn vốn.................78 3.3.2. Các chỉ tiêu phân tích tình hình vốn chủ sở hữu...................................82 3.3.3. Các chỉ tiêu phân tích tình hình huy động vốn......................................84 3.3.4. Các chỉ tiêu phân tích hoạt động tín dụng và đầu tư.............................90 3.3.5. Các chỉ tiêu phân tích tình hình dự trữ và khả năng thanh khoản.........94 3.3.6. Các chỉ tiêu phân tích tình hình thu nhập, chi phí và khả năng sinh lời......97 3.3.7. Các chỉ tiêu phân tích mức độ rủi ro trong kinh doanh ngân hàng.......99 3.4. NHỮNG ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN NHẰM HOÀN THIỆN HỆ THỐNG CHỈ TIÊU PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI NGÂN HÀNG TMCP BẮC Á.........102 3.4.1. Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước...............................................102 3.4.2. Đối với Ngân hàng TMCP Bắc Á.......................................................105 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3..................................................................................107 KẾT LUẬN..................................................................................................108 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................109 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT NHNN Ngân hàng nhà nước Doanh nghiệp TMCPNgân Thương mại cổ phần DN hàng thương mại NHTM BacABank Ngân hàng TMCP Bắc Á DTBB Dự trữ bình quân TSCĐ Tài sản cố định BCTC Báo cáo tài chính TT Tỷ trọng QĐ Quyết định ROA Tỷ suất sinh lời của tài sản ROE Tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu VCSH Vốn chủ sở hữu DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ VÀ BIỂU ĐỒ BẢNG Bảng 2.1: Phân tích cấu trúc tài chính của BacABank....................................45 Bảng 2.2: Phân tích cấu trúc nguồn vốn của BacABank.................................49 Bảng 2.3: Cơ cấu nguồn vốn huy động của BacABank..................................55 Bảng 2.4: Phân tích quy mô, cơ cấu tín dụng của BacABank.........................60 Bảng 2.5: Đánh giá chất lượng tín dụng BacABank.......................................61 Bảng 2.6: Phân tích cơ cấu đầu tư của BacABank..........................................64 Bảng 3.1: Phân loại tài sản, nguồn vốn...........................................................81 Bảng 3.2: Các chỉ tiêu tổng hợp phân tích khái quát tình hình tài sản, nguồn vốn...82 Bảng 3.3: Tình hình huy động tiền gửi có kỳ hạn 1 tháng của ngân hàng A quý 1 và quý 2 năm 200X...............................................................88 Bảng 3.4: Cách tính chỉ tiêu lãi suất huy động bình quân của nguồn tiền gửi không kỳ hạn của ngân hàng A.......................................................91 SƠ ĐỒ Sơ đồ 2.1: Mô hình tổ chức quản lý của BacABank........................................40 BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1: Tăng trưởng vốn chủ sở hữu qua các năm của BacABank...........49 1 LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài. Ngân hàng thương mại (NHTM) là DN kinh doanh tiền tệ, có những đặc thù riêng trong hoạt động kinh tế - tài chính. Cũng giống như các DN phi tài chính, các NHTM luôn phải đối đầu với những thách thức của thị trường cạnh tranh và đầy biến động. Hơn nữa, kinh doanh tiền tệ là loại hình kinh doanh đặc biệt, có liên quan đến hầu hết các lĩnh vực khác trong nền kinh tế. Vì vậy, ngân hàng luôn nhận được sự quan tâm sát sao của từ nhiều phía: Nhà nước, nhà đầu tư, người gửi tiền… Phân tích tài chính đóng một vai trò đặc biệt quan trọng và trở thành 1 việc làm không thể thiếu đối với bất kì ngân hàng nào, bởi đối với nhà quản trị ngân hàng, các nhà quản lý, nhà đầu tư…Với một hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính phù hợp, phân tích tài chính sẽ giúp cho DN và các đối tượng liên quan ra các quyết định đúng đắn trong hoạt động của mình nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong kinh doanh. Bước qua 17 năm phát triển và trưởng thành, Ngân hàng TMCP Bắc Á (BacABank) đã phần nào khẳng định được vị thế của mình trong hoạt động kinh doanh tiền tệ, cung cấp các dịch vụ ngân hàng tài chính đa dạng và hiện đại đến mọi tổ chức kinh tế, cá nhân và các tổ chức tín dụng. Tuy vậy, công tác phân tích tài chính tại Ngân hàng TMCP Bắc Á còn chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu quản lý, nguyên nhân chủ yếu là hệ thống chỉ tiêu phân tài chính chưa được xây dựng một cách phù hợp. Chính điều này đã ảnh hưởng không tốt tới công tác quản trị trong ngân hàng. Vì lí do này, tôi đã quyết định lựa chọn đề tài: “Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính tại Ngân hàng TMCP Bắc Á” cho luận văn của mình với hy vọng sẽ tổng hợp được hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính phục vụ cho ngân hàng TMCP Bắc Á nói riêng và hệ thống các NHTM nói chung. 2 2. Mục đích nghiên cứu luận văn Đề tài nghiên cứu cơ sở lý luận chung về việc phân tích tài chính của một ngân hàng, phương pháp phân tích tài chính của ngân hàng từ đó xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính phục vụ cho hoạt động phân tích tài chính NH TMCP Bắc Á nói riêng và hệ thống các NHTM nói chung. Chỉ rõ sự cần thiết phải xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính và lợi ích đem lại cho nhà quản trị nói riêng và hoạt động của ngân hàng nói chung. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu các vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn về hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính tại Ngân hàng TMCP Bắc Á. Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính và các điều kiện áp dụng tại Ngân hàng TMCP Bắc Á qua các giai đoạn phát triển từ năm 2008 – 2010. 4. Phương pháp nghiên cứu Luận văn dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin; phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh kết hợp nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tế. 5. Những đóng góp của Luận văn: Về mặt lý luận, luận văn hệ thống hoá các lý thuyết về phân tích tài chính và hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính. Về mặt nghiên cứu thực tiễn, luận văn khái quát hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính được áp dụng tại hệ thống các NHTM Việt Nam và phân tích thực trạng hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính tại Ngân hàng TMCP Bắc Á. Về tính ứng dụng và thực tiễn, luận văn đã xây dựng một hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính phù hợp với đặc điểm hoạt động kinh doanh và yêu cầu của phân tích cho Ngân hàng TMCP Bắc Á 3 6. Kết cấu luận văn Ngoài lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo luận văn được chia làm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận về hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong NHTM. Chương 2: Thực trạng hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính tại Ngân hàng TMCP Bắc Á. Chương 3: Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính tại Ngân hàng TMCP Bắc Á 4 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG CHỈ TIÊU PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1.1. Khái niệm Ngân hàng thương mại Theo Peter S.Rose, tác giả cuốn Quản trị Ngân hàng thương mại, Ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Theo Luật các Tổ chức tín dụng của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Ngân hàng thương mại là trung gian tài chính thực hiện kinh doanh tiền tệ với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán. Như vậy, dù theo định nghĩa nào thì NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt, có đối tượng kinh doanh là tiền tệ, sản phẩm của NHTM có tính đặc thù cao, cả đầu ra và đầu vào đều là tài sản tài chính. Ngân hàng thương mại có những đặc trưng sau: - Trung gian tài chính: Ngân hàng làm trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là chuyển các khoản tiết kiệm, chủ yếu từ hộ gia đình thành các khoản tín dụng cho các tổ chức kinh tế và các thành phần kinh tế khác. - Trung gian thanh toán: Thay mặt khách hàng, ngân hàng thực hiện thanh toán cho việc mua hàng hoá và dịch vụ. Việc thanh toán được thực hiện an toàn, nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm thông qua nhiều hình thức dịch vụ và màng lưới rộng khắp của ngân hàng: Phát hành và bù trừ séc, uỷ nhiệm 5 chi, nhờ thu,... - Tạo phương tiện thanh toán và thực hiện chính sách kinh tế của Chính phủ góp phần điều tiết sự tăng trưởng kinh tế và theo đuổi mục tiêu xã hội. 1.1.2. Đặc điểm hoạt động kinh doanh của ngân hàng ảnh hưởng đến việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính 1.1.2.1. Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại Hoạt động của NHTM bao gồm: Hoạt động kinh doanh và hoạt động khác. Trong đó, hoạt động kinh doanh của NHTM được hiểu là các hoạt động chủ yếu đem lại lãi và phí cho NHTM (tạo ra doanh thu cho NHTM); hoạt động khác là các hoạt động xảy ra không thường xuyên, không dự tính trước và ngoài các hoạt động kinh doanh. Hoạt động kinh doanh của NHTM bao gồm các hoạt động chủ yếu sau:  Hoạt động huy động vốn Huy động vốn là một trong những nghiệp vụ quan trọng của NHTM nhằm giải quyết đầu vào tức là giải quyết vấn đề chi phí hoạt động của ngân hàng. Công tác huy động vốn bao gồm: huy động vốn tiền gửi và huy động vốn phi tiền gửi. Ngân hàng có thể huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau như huy động dân cư, huy động của tổ chức kinh tế thông qua các công cụ nợ (trái phiếu, kỳ phiếu, thương phiếu, tín phiếu), thông qua hoạt động liên ngân hàng, giữa NHTM với NHNN, giữa NHTM với các định chế tài chính… Mục đích gửi tiền có thể là khác nhau nhưng tựu trung lại là để an toàn tránh trách nhiệm phải bảo quản tài sản, hưởng lãi cho các khoản tiền gửi và sử dụng các dịch vụ thanh toán của ngân hàng.  Hoạt động tín dụng Hoạt động tín dụng là hoạt động kinh doanh mang lại lợi nhuận cho NHTM. Nhờ thế mạnh huy động được một lượng vốn nhàn rỗi khổng lồ từ các cá nhân, các tổ chức kinh tế qua việc nhận tiền gửi hay đi vay, các ngân 6 hàng sử dụng số tiền ấy để cho vay các cá nhân, các tổ chức kinh tế cần vốn để đầu tư các nhu cầu như: mở rộng sản xuất kinh doanh, mua sắm tài sản cố định, đầu tư nhu cầu vốn lưu động, nhu cầu tiêu dùng … và đa dạng các nhu cầu khác. Nghiệp vụ này luôn chiếm từ 60% đến 80% tổng tài sản có của NHTM và được coi là một hoạt động quan trọng bậc nhất đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi ngân hàng, cũng như đem lại hiệu quả to lớn cho xã hội.  Hoạt động thanh toán Nghiệp vụ này xuất phát từ chính chức năng đầu tiên của ngân hàng là nhận tiền gửi. Các cá nhân, tổ chức kinh tế trên cơ sở mở các tài khoản tiền gửi thanh toán hay các tài khoản tiền gửi phục vụ giao dịch khi có nhu cầu thanh toán có thể ủy quyền cho ngân hàng thực hiện thay mình: thu hộ, chi hộ… Theo các quan điểm luật pháp ở hầu hết các nước, thì chỉ có các ngân hàng mới được phép mở tài khoản thanh toán hay các tài khoản giao dịch cho khách hàng mà không một định chế nào được phép làm điều này.  Hoạt động đầu tư Ngoài nghiệp vụ tín dụng là chủ yếu, ngân hàng còn thực hiện đầu tư vào các loại cổ phiếu, trái phiếu…nhằm mục tiêu thanh khoản, phân tán rủi ro và đa dạng hóa tài sản có sinh lời. Ngân hàng thường giữ nhiều loại chứng khoán nhưng chủ yếu chia thành 2 loại cơ bản là chứng khoán thanh khoản và chứng khoán đầu tư. Hiện nay, thị trường chứng khoán Việt Nam đang phát triển rất mạnh, các DN trong nền kinh tế tham gia vào thị trường chứng khoán dưới nhiều hình thức khác nhau tạo nên một thị trường khá sôi động.  Hoạt động cung cấp dịch vụ khác Các hình thức dịch vụ do NHTM cung cấp ngày càng đa dạng và được phát triển, hoàn thiện do yêu cầu của đời sống kinh tế xã hội. Các dịch vụ này bao gồm các loại như: dịch vụ thanh toán, kinh doanh ngoại hối, dịch vụ môi 7 giới, bảo lãnh, tư vấn tài chính … 1.1.2.2. Đặc điểm hoạt động kinh doanh của ngân hàng ảnh hưởng đến việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính NHTM có đặc điểm giống như các DN khác trong nền kinh tế, cũng sử dụng các yếu tố sản xuất như lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động (tiền vốn) làm yếu tố đầu vào, để sản xuất ra những yếu tố đầu ra dưới hình thức dịch vụ tài chính mà khách hàng yêu cầu. Tuy nhiên, khác với các DN khác, NHTM là loại hình DN đặc biệt, trong hoạt động kinh doanh thể hiện qua các đặc điểm sau: Tiền vừa là phương tiện đồng thời cũng là đối tựơng kinh doanh của NHTM. Và chính đặc điểm này sẽ bao trùm hơn và rộng hơn so với các loại hình DN khác. NHTM kinh doanh chủ yếu bằng vốn của người khác. Vốn chủ sở hữu của NHTM chiếm một tỷ lệ rất thấp trong tổng nguồn vốn hoạt động, nên việc kinh doanh của NHTM luôn gắn liền với một rủi ro mà ngân hàng buộc phải chấp nhận với một mức độ mạo hiểm nhất định. Bởi vì trong hoạt động kinh doanh hằng ngày của mình, NHTM không những phải bảo đảm nhu cầu thanh toán, chi trả như mọi loại hình DN khác, mà còn phải đảm bảo tốt nhu cầu chi trả tiền gửi của khách hàng. Từ đó cho thấy, việc phân tích khả năng thanh khoản của NHTM có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Hoạt động kinh doanh của NHTM có liên quan đến nhiều mặt, nhiều lĩnh vực hoạt động và nhiều đối tượng khách hàng khác nhau. Do đó, tình hình tài chính của NHTM có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động kinh doanh của các DN, tâm lý của người dân, cũng như của cả nền kinh tế. Chính vì vậy, việc phân tích, đánh giá thực trạng tài chính của các NHTM không chỉ là nhu cầu cấp thiết phục vụ cho hoạt động quản lý của chính nhà quản trị ngân hàng 8 mà còn là đòi hỏi mang tính bắt buộc của ngân hàng trung ương… Hoạt động kinh doanh của NHTM là hoạt động chứa nhiều rủi ro, bởi lẽ nó tổng hợp tất cả các rủi ro của khách hàng, đồng thời rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng có thể gây ảnh hưởng lớn cho nền kinh tế hơn bất kỳ rủi ro của loại hình DN nào vì tính chất lây lan có thể làm rung chuyển toàn bộ hệ thống kinh tế. Do đó, trong quá trình hoạt động các NHTM phải thường xuyên cảnh giác, nghiên cứu, phân tích, đánh giá, dự báo và có những biện pháp phòng ngừa từ xa có hiệu quả. Ngoài ra, điều này cũng đòi hỏi ngân hàng tự đánh giá được khả năng chịu đựng rủi ro của mình. Hoạt động kinh doanh của NHTM có những đặc thù riêng mà các DN trong các ngành khác không có. Đồng thời, hoạt động kinh doanh của NHTM diễn tiến liên tục trong mỗi loại hình nghiệp vụ và các sản phẩm của NHTM có mối liên hệ với nhau rất chặt chẽ. Điều này sẽ gây khó khăn trong việc tách riêng từng mặt hoạt động của ngân hàng để phân tích kết quả tài chính. Tóm lại, từ đặc điểm của hoạt động kinh doanh của ngân hàng, đặc điểm hoạt động tài chính của ngân hàng, dẫn đến các NHTM có đặc điểm phân tích tài chính riêng, có hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính riêng, khác biệt với các DN phi tài chính khác. Do đó, cần nghiên cứu đặc điểm phân tích tài chính của NHTM để phân tích và đánh giá tình hình tài chính của các DN này. 1.2. VAI TRÒ VÀ NỘI DUNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH NHTM 1.2.1. Vai trò của phân tích tài chính ngân hàng thương mại Phân tích tài chính trong hoạt động của NHTM là sử dụng các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật để đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của NHTM đó trong một kỳ kinh doanh nhất định mà thông thường là một tháng, quý hoặc năm. Phân tích tài chính cũng được quan tâm khi có sự biến động lớn của ngành tài chính – ngân hàng nói riêng và của nền kinh tế nói chung. Phân tích tài chính cho phép tìm hiểu các nguyên nhân dẫn đến hoạt động của NHTM 9 có được hiệu quả hay không, nhằm giúp các ngân hàng tìm ra giải pháp hoàn thiện hoạt động của mình. Như vậy, phân tích tài chính trong hoạt động của NHTM có những mục tiêu và vai trò sau đây: Phân tích tài chính là một công cụ để đánh giá hoạt động của NHTM. Thông qua quá trình phân tích tài chính, các NHTM có thể đánh giá được sự hoạt động của NHTM trong khoảng thời gian trước. Bằng các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật như: lợi nhuận, doanh thu, năng suất lao động của thời kỳ phân tích, các nhà quản trị có thể thấy được quy mô hoạt đông cũng như chất lượng hoạt động, tốc độ phát triển và tính bền vững, ổn định trong các lĩnh vực hoạt động mà ngân hàng đang tham gia. Mục tiêu chính của Ngân hàng là lợi nhuận do vậy sự gia tăng lợi nhuận ngày càng cao và bền vững cũng đồng nghĩa với hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Tuy nhiên hiệu quả hoạt động của ngân hàng cũng có thể đánh giá tùy theo từng thời kỳ chiến lược. Thông qua phân tích tài chính, chúng ta có thể thấy ngân hàng có đang thực hiện đúng với chiến lược đề ra hay không. Phân tích tài chính là công cụ để ngân hàng xem xét lại chiến lược kinh doanh cũ, đề ra chiến lược mới. Một chiến lược kinh doanh được đề ra có thể là đúng đắn hoặc cũng có thể còn thiếu sót. Bằng phân tích tài chính, các NHTM sẽ xem xét chiến lược kinh doanh của mình có được thực hiện đúng đắn, phù hợp với thực tiễn nền kinh tế không, đồng thời phát hiện ra những sai sót, thiếu sót để điều chỉnh hoặc thay thế bằng chiến lược mới. Bất cứ một NHTM nào, để định hướng cho hoạt động kinh doanh của mình, cũng phải chủ động đề ra các lĩnh vực kinh doanh chủ yếu của mình, các mục tiêu dài hạn, ngắn hạn mà mình cần phải đạt trong từng thời kỳ nhất định, và sau một quá trình hoạt động, các ngân hàng phải xem xét các mục tiêu đó đã đạt được hay chưa, đạt được đến đâu, lý do của nó… Qua phân tích tài chính NHTM, chúng ta sẽ có cái nhìn rõ ràng hơn 10 về các lĩnh vực đầu tư của ngân hàng, những mục tiêu đó có phù hợp với xu thế phát triển chung của nền kinh tế hay không và ngân hàng có cần thay đổi định hướng đâu tư không, hay sẽ tiếp tục phát triển theo định hướng đã chọn… Phân tích tài chính là một công cụ để NHTM đánh giá được những mặt mạnh cần phát huy và những mặt yếu cần củng cố. Kết quả của các phân tích tài chính cho ta bức tranh tổng quan về tình hình tài chính của ngân hàng, thông qua đó có thể đánh giá trình độ quản lý, chất lượng nhân sự, trình độ công nghệ của ngân hàng có thích hợp cho sự phát triển hay không, những thuận lợi, khó khăn hay thách thức mà ngân hàng gặp phải. Phân tích tài chính giúp các nhà quản trị NHTM nhận biết và dự đoán trước những rủi ro cũng như các tiềm năng trong tương lai. Bởi rủi ro là nguy cơ lúc nào cũng có thể gặp phải và gây ra các hậu quả to lớn cho ngân hàng, do vậy việc nhận biết các rủi ro giúp nhà quản trị ngân hàng có được các biện pháp phòng ngừa thích hợp. Đối lập với các rủi ro, những tiềm năng và cơ hội sẽ mang đến cho NHTM những điều kiện làm ăn vô cùng thuận lợi. Nhận biết điều đó đã là một bước đầu thắng lợi của ngân hàng trên con đường đi đến mục tiêu và phát triển. Phân tích tài chính góp phần đưa ra định hướng cho các quyết định của Ban giám đốc về các quyết định tài chính và các dự thảo tài chính trong tương lai như kế hoạch đầu tư, kế hoạch ngân quỹ. 1.2.2. Nội dung phân tích tài chính ngân hàng thương mại NHTM cũng là một DN, cho nên nội dung phân tích tài chính cũng dựa trên những nội dung phân tích tài chính của DN nói chung. Xuất phát từ mục tiêu phân tích tài chính cũng như đặc điểm và nội dung các quan hệ tài chính trong ngân hàng, nội dung phân tích tài chính ngân hàng bao gồm các 11 nhóm sau: 1.2.2.1. Phân tích cơ cấu tài chính ngân hàng Cơ cấu tài chính của ngân hàng phản ảnh cơ cấu tài sản, cơ cấu nguồn vốn và cả mối quan hệ giữa tài sản (tài sản có hay tiêu sản) và nguồn vốn (tài sản nợ hay tích sản) của ngân hàng. Một cơ cấu tài sản, nguồn vốn thường gắn với mức độ rủi ro tài chính nhất định, đồng thời có thể tác động đến hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng. Phân tích cơ cấu tài chính của ngân hàng chính là phân tích khái quát cơ cấu tài sản có, tài sản nợ của ngân hàng; tình hình huy động vốn, cho vay vốn; tình hình cân đối giữa nguồn vốn huy động và dư nợ cho vay. Phân tích cơ cấu tài chính nhằm đánh giá những đặc trưng trong cơ cấu tài sản có của ngân hàng, tính hợp lí khi đầu tư vốn cho hoạt động kinh doanh; cấu trúc nguồn vốn của ngân hàng không những thể hiện chính sách tài trợ của ngân hàng như các DN phi tài chính khác mà còn thể hiện những lợi thế khác nhau trong kinh doanh vốn như lãi suất, tính ổn định, khả năng chủ động. Trong điều kiện kinh tế thị trường, khi chênh lệch lãi suất đang ngày càng thu hẹp các ngân hàng còn phân tích mối tương quan giữa tài sản và nguồn vốn để thấy sự phù hợp, hiệu quả của việc sử dụng vốn, trên cơ sở đó cơ cấu, xây dựng danh mục tài sản vừa cho hiệu quả cao, vừa đảm bảo khả năng thanh khoản, hạn chế rủi ro. 1.2.2.2. Phân tích hiệu quả hoạt động ngân hàng Các NHTM hoạt động đều nhằm mục tiêu lợi nhuận; dưới áp lực phải hạ thấp chi phí trong điều kiện cạnh tranh với những định chế tài chính khác. Hiệu quả được xem xét trên quan điểm biến đổi đầu vào thành đầu ra. Phân tích hiệu quả là một giai đoạn quan trọng của công tác quản trị ngân hàng, là cơ sở đánh giá quá trình thực hiện chiến lược kinh doanh, xác định nguyên nhân ảnh hưởng đến chiến lược kinh doanh và kiến nghị những 12 giải pháp xử lý; là cơ sở cho những quyết định kịp thời và đúng đắn. Các chỉ tiêu trong nhóm này giúp cho ngân hàng đánh giá được hiệu quả của quá trình kinh doanh bằng cách so sánh kết quả kinh doanh đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Khác với các DN phi tài chính, đa số tài sản của ngân hàng tồn tại dưới hình thức quyền về tài chính (các khoản cho vay và chứng khoán) không phải là tài sản cố định (TSCĐ). Tuy nhiên, các TSCĐ tạo ra chi phí hoạt động cố định dưới dạng khấu hao, thuê tài sản là những yếu tố làm hình thành đòn bẩy hoạt động. Đòn bẩy hoạt động này cho phép ngân hàng đẩy mạnh thu nhập từ hoạt động nếu có thể gia tăng khối lượng dịch vụ lên tới một mức đủ lớn, tạo được nhiều thu nhập hơn từ việc sử dụng các TSCĐ so với chi phí cho các tài sản đó. Tuy nhiên, do TSCĐ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng tài sản, các ngân hàng không thể dựa nhiều vào đòn bẩy hoạt động để tăng thu nhập; vì thế họ phải sử dụng đòn bẩy tài chính - việc sử dụng vốn vay để đẩy mạnh hoạt động, tạo thu nhập và duy trì cạnh tranh với những ngành khác trong quá trình huy động vốn và cho vay. Vì vậy, khi phân tích hiệu quả hoạt động ngân hàng cần chú ý đến đặc điểm này để đánh giá hiệu quả của từng hoạt động cũng như toàn bộ hoạt động trong ngân hàng. Các hoạt động chủ yếu của NHTM gồm: hoạt động huy động vốn, hoạt động cho vay, đầu tư và cung cấp dịch vụ cho khách hàng. Do vậy, các nhà quản trị ngân hàng cần phải đo lường hiệu quả cho từng hoạt động. Hiện nay, các nhà quản trị ngân hàng chú trọng đến các chỉ tiêu hiệu quả từng hoạt động sau: tổng dư nợ trên vốn huy động, hiệu quả sử dụng vốn huy động, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên, tỷ suất lợi nhuận hoạt động tín dụng, lãi suất bình quân đầu vào, lãi suất bình quân đầu ra. Ngoài việc đo lường hiệu quả cho từng hoạt động, các nhà quản trị cần tính toán các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cho tất cả các hoạt động. Hiện nay, các 13 NHTM dùng các chỉ tiêu sau: Tổng thu nhập trên tổng tài sản, Tổng chi phí trên tổng thu nhập, Tỷ lệ lợi nhuận, Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), Tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) và dùng các mô hình để phân tích khả năng sinh lời. 1.2.2.3. Phân tích khả năng thanh toán Khả năng thanh toán là khả năng mà ngân hàng có thể hoàn trả các khoản nợ bằng tiền và các tài sản có thể chuyển hoá nhanh thành tiền. Việc thiếu khả năng thanh toán có ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng và có thể thể hiện trên 2 mức độ: Mức độ thứ nhất là thiếu hụt thanh khoản hay ngân hàng không có khả năng đáp ứng ngay nhu cầu về tiền cho mọi cam kết của ngân hàng, chủ yếu là cam kết cho vay, rút tiền gửi, các khoản tiền đến hạn khác trong quá trình kinh doanh bình thường. Mức độ thứ hai trầm trọng hơn là mất khả năng thanh toán hay vỡ nợ do ngân hàng bị lỗ làm suy giảm VCSH, hay các trường hợp giá trị tài sản của ngân hàng giảm xuống, hoặc do rủi ro về thiếu vốn khả dụng, rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá. Bởi vậy, nội dung chủ yếu của việc phân tích khả năng thanh toán của ngân hàng thường được các nhà phân tích xem xét trên hai nội dung: phân tích tính thanh khoản và phân tích khả năng thanh toán cuối cùng. Đánh giá tính thanh khoản, nhà phân tích thường xem xét liệu ngân hàng thương mại có thường xuyên duy trì nguồn tiền mặt, tiền gửi không kỳ hạn tại các tổ chức tín dụng khác và các tài sản có có thể chuyển hoá ngay thành tiền để đáp ứng mọi nhu cầu về tiền ở mọi thời điểm hay không. Việc đánh giá khả năng thanh toán cuối cùng chủ yếu là nghiên cứu vốn tự có của ngân hàng, yếu tố để hứng chịu mọi khoản tổn thất như trong bất cứ 14 doanh nghiệp nào. Nội dung này đã được trình bày ở phần phân tích VCSH. 1.2.2.4. Phân tích rủi ro của ngân hàng Phân tích hiệu quả chỉ mới là một mặt để xem xét tình hình tài chính của ngân hàng. Hiệu quả ngân hàng chỉ được xem xét tương ứng với một mức rủi ro mà ngân hàng có thể chịu đựng được và ngược lại. Kinh doanh ngân hàng là loại hình kinh doanh đặc biệt, và những rủi ro đối với hoạt động ngân hàng cũng vì thế mà mang tính đặc thù. Bản chất của hoạt động kinh doanh luôn mang tính mạo hiểm nên bất kỳ nhà phân tích nào cũng quan tâm đến rủi ro. Qua phân tích nhằm phát hiện những nguy cơ tiềm ẩn trong hoạt động tín dụng, trong thanh khoản. Trong lĩnh vực kinh doanh ngân hàng, rủi ro chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực sau: khả năng chi trả cho khách hàng, khả năng thu hồi nợ trong cho vay và đầu tư chứng khoán, sự thay đổi của lãi suất và tỷ giá hối đoái, sự biến động của thu nhập. Do vậy, trong phân tích tài chính chú trọng đến các loại rủi ro chủ yếu: rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất và rủi ro thu nhập. 1.2.3. Phương pháp phân tích tài chính Ngân hàng Để phân tích các chỉ tiêu, nhà phân tích có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau hoặc thực hiện kết hợp nhiều phương pháp trong quá trình phân tích một chỉ tiêu nào đó. Sau đây là một số phương pháp chủ yếu:  Phương pháp so sánh Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến nhất trong phân tích tình hình tài chính của ngân hàng. Thông qua phương pháp này, nhà quản trị có thể đánh giá kết quả, xác định vị trí và xu hướng biến động của chỉ tiêu phân tích. Phương pháp này thường được thực hiện ở bước khởi đầu của công việc phân tích. Về kĩ thuật so sánh có: - So sánh bằng số tuyệt đối: Cho biết khối lượng, quy mô của chỉ tiêu
- Xem thêm -