Tài liệu Giải pháp phát triển phương thức tín dụng chứng từ trong thanh toán hàng nhập khẩu tại ngân hàng công thương, thành phố hồ chí minh luận văn thạc sĩ

  • Số trang: 145 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 141 |
  • Lượt tải: 0
sakura

Đã đăng 11429 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM ------œœ••----- HOÀNG THỊ HẢI YẾN GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TRONG THANH TOÁN HÀNG NHẬP KHẨU TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG, TP. HỒ CHÍ MINH LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ TP. Hồ Chí Minh - Năm 2010 i BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM ------œœ••----- HOÀNG THỊ HẢI YẾN GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TRONG THANH TOÁN HÀNG NHẬP KHẨU TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG, TP. HỒ CHÍ MINH Chuyên ngành: Kinh tế tài chính – Ngân hàng Mã số : 60.31.12 LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS-TS: PHẠM VĂN NĂNG TP. Hồ Chí Minh - Năm 2010 ii Lời cam đoan Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân tôi về vấn đề “Giải pháp phát triển phương thức tín dụng chứng từ trong thanh toán hàng nhập khẩu tại Ngân hàng Công Thương, TP. Hồ Chí Minh”. Các số liệu và những kết quả trong luận văn là trung thực, các giải pháp đưa ra một cách khách quan. Tôi sẽ chịu trách nhiệm trước Nhà Trường về nội dung tôi đã trình bày trong luận văn này. Tác giả Hoàng Thị Hải Yến iii MỤC LỤC Trang Trang phụ bìa i Lời cam đoan ii Mục lục iii Danh mục các từ viết tắt vii Danh mục bảng, biểu đồ và phụ lục viii Mở đầu ix 1. Tính cấp thiết của đề tài ix 2. Mục tiêu nghiên cứu ix 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu x 4. Phương pháp nghiên cứu x 5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu x 6. Tên và kết cấu của luận văn x CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHƯƠNG THỨC TDCT 01-21 1.1. Khái niệm phương thức TDCT - Văn bản pháp quy áp dụng – UCP 600 01 1.2. Quy trình nghiệp vụ thanh toán bằng phương thức TDCT 08 1.2.1. Định nghĩa thư tín dụng 08 1.2.2. Tính chất, ý nghĩa của thư tín dụng 08 1.2.3. Các bên tham gia 09 1.2.3.1 Người xin mở L/C 09 1.2.3.2 Người thụ hưởng L/C 09 1.2.3.3 Ngân hàng phát hành (ngân hàng mở L/C) 09 1.2.3.4 Ngân hàng thông báo 10 1.2.3.5 Ngân hàng xác nhận 10 1.2.3.6 Ngân hàng chỉ định 10 iv 1.2.4. Quy trình nghiệp vụ phương thức TDCT 10 1.3. Đánh giá những yếu tố để phát triển phương thức TDCT trong thanh toán hàng NK 12 1.4. Những điểm cần lưu ý khi thực hiện thanh toán bằng phương thức TDCT 16 1.4.1. Đối với nhà nhập khẩu 17 1.4.2. Đối với ngân hàng phát hành 19 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHƯƠNG THỨC TDCT TRONG THANH TOÁN HÀNG NHẬP KHẨU TẠI NHCT, TP. HCM 2.1. Giới thiệu về NHTMCP CÔNG THƯƠNG VN - CN TP. HCM 2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển 22-54 22 22 2.1.1.1 Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Công Thương VN 22 2.1.1.2 Ngân hàng TMCPCTVN - Chi nhánh TP.HCM 25 2.1.2. Sơ đồ tổ chức 27 2.1.3. Giới thiệu các sản phẩm và dịch vụ cung ứng bởi NHTMCP CÔNG THƯƠNG VN - CN TP. HCM 2.1.4. Tình hình hoạt động kinh doanh trong những năm gần đây 2.2. Thực trạng phương thức TDCT tại NHTMCPCTVN, TP. HCM 30 31 38 2.3. Một số rủi ro ngân hàng phải gánh chịu khi sử dụng phương thức TDCT trong thanh toán hàng NK 2.4 Những kết quả thực tế về hoạt động XNK tại CN TP. HCM 40 46 2.4.1. Các kết quả đã đạt được 46 2.4.2. Những mặt còn tồn tại và hạn chế trong phương thức TDCT 47 2.4.2.1 Tồn tại chung của hệ thống NHTMCPCTVN 48 2.4.2.2 Tồn tại của NHTMCPCTVN - Chi nhánh TP. HCM 49 2.5 Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng phục vụ đối với phương thức TDCT trong thanh toán hàng nhập khẩu 51 CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN PHƯƠNG THỨC TDCT TRONG THANH TOÁN HÀNG NHẬP KHẨU TẠI NHCT, TP. HCM 55-75 v 3.1. Định hướng phát triển của NHTMCPCTVN - CN TPHCM HCM trong thời gian tới 55 3.1.1 Sự phát triển kinh tế xã hội của TP.HCM 55 3.1.2 Định hướng phát triển của Vietinbank CN TP. HCM 56 3.2 Một số giải pháp để phát triển phương thức TDCT trong thanh toán hàng NK 3.2.1 Một số giải pháp trực tiếp 58 58 3.2.1.1 Đào tạo để nâng cao năng lực của đội ngũ nhân viên 58 3.2.1.2 Phát triển và mở rộng hệ thống ngân hàng đại lý 60 3.2.1.3 Đưa ra biểu phí cạnh tranh 60 3.2.1.4 Thành lập bộ phận tư vấn về hoạt động xuất nhập khẩu 61 3.2.1.5 Tăng cường huy động vốn để phát triển nghiệp vụ tài trợ thương mại quốc tế 62 3.2.2 Một số giải pháp gián tiếp 64 3.2.2.1 Tiếp tục xây dựng hình ảnh, thương hiệu, uy tín 64 3.2.2.2 Nâng cao hiệu quả của công tác tiếp thị, quảng bá sản phẩm, dịch vụ 65 3.2.2.3 Phát triển công nghệ tin học, nâng cao trình độ công nghệ “Hiện đại hoá Ngân hàng” 66 3.2.2.4 Nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ và tạo ra sản phẩm của ngân hàng có sự khác biệt đối với ngân hàng khác 3.3. Một số kiến nghị về giải pháp hỗ trợ 3.3.1. Kiến nghị về phía Nhà Nước 67 70 70 3.3.1.1 Chính sách khuyến khích xuất khẩu để tạo nguồn ngoại tệ phục vụ NK 70 3.3.1.2. Hoàn thiện hành lang pháp lý về phương thức thanh toán TDCT 71 3.3.1.3. Hoàn thiện hệ thống thông tin thị trường trong và ngoài nước 72 3.3.2. Giải pháp về phía Ngân hàng Nhà Nước 3.3.2.1. Xây dựng các văn bản pháp lý về tài trợ xuất nhập khẩu 73 73 vi 3.3.2.2 Nâng cao hiệu quả hoạt động của thông tin tín dụng (CIC) 3.3.3. Giải pháp về phía Sở Giao Dịch - NHTMCP CTVN KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC 1: Sơ đồ tổ chức của NHTMCPCTVN – CN TP. HCM PHỤ LỤC 2: Mô hình tập đoàn tài chính NHTMCPCTVN PHỤ LỤC 3: Biểu phí dịch vụ phương thức TDCT - NK tại NHTMCPCTVN – CN TP HCM PHỤ LỤC 4: Quy trình xử lý phương thức TDCT trong thanh toán hàng NK tại NHTMCPCTVN – CN TP. HCM PHỤ LỤC 5: Sơ đồ quy trình xử lý phương thức TDCT – L/C Nhập khẩu PHỤ LỤC 6: Sơ đồ xử lý tập trung PHỤ LỤC 7: Các mẫu biểu áp dụng đối với phương thức TDCT – NK PHỤ LỤC 8: Các loại thư tín dụng – Đặc điểm 73 74 vii DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT BCT Bộ chứng từ CBTD Cán bộ tín dụng HĐTD Hợp đồng tín dụng L/C, TTD Thư tín dụng KH Khách hàng NK: Nhập khẩu NH Ngân hàng NHCT Ngân hàng Công thương NHPH Ngân hàng phát hảnh NHNN Ngân hàng Nhà Nước NHTMCPCTVN: Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Công Thương VN NHTL Ngân hàng thương lượng NHXN Ngân hàng xác nhận PGD Phòng giao dịch SGD Sở Giao Dịch TDCT: Tín dụng chứng từ TSĐB Tài sản đảm bảo TTQT Thanh toán quốc tế TTTM Tài trợ thương mại TK Tài khoản XK: Xuất khẩu XNK: Xuất nhập khẩu viii DANH MỤC BẢNG, BIỂU VÀ PHỤ LỤC Sơ đồ 1.1 1.2 Bảng 2.1 2.2 2.3 2.4 2.5 2.6 Biểu đồ 2.1 2.2 2.3 2.4 2.5 2.6 2.7 3.1 Phụ lục 1 2 3 4 5 6 7 8 Tên Quy trình thanh toán L/C Rủi ro liên quan đến phương thức TDCT Trang 11 16 Kết quả kinh doanh của NHTMCPCTVN - Chi nhánh TP. HCM Cơ cấu dư nợ theo ngành kinh tế Doanh số thanh toán XNK tại các Ngân hàng Cơ cấu dư nợ cho vay Kết quả hoạt động phát triển dịch vụ của NHTMCPCTVN - Chi nhánh TP. HCM Kết quả thu phí dịch vụ của NHTMCPCTVN - Chi nhánh TP. HCM 33 37 39 46 51 Cơ cấu vốn điều lệ Vietinbank Tổng nguồn vốn huy động của NHTMCPCTVN - Chi nhánh TP. HCM Cơ cấu dư nợ theo ngành kinh tế Lợi nhuận của NHTMCPCTVN - Chi nhánh TP. HCM Cơ cấu dư nợ cho vay. Nguồn thu từ hoạt động TTTM của NHTMCPCTVN - Chi nhánh TP. HCM Doanh số thanh toán XNK của NHTMCPCTVN - Chi nhánh TP. HCM Kế hoạch vốn điều lệ và lợi nhuận sau thuế của Vietinbank giai đoạn 2010-2012 34 35 Sơ đồ tổ chức của NHTMCPCTVN – CN TP. HCM Mô hình tập đoàn tài chính NHTMCPCTVN Biểu phí dịch vụ TTTM tại NHTMCPCTVN – CN TP HCM Quy trình xử lý phương thức TDCT trong nghiệp vụ thanh toán hàng NK tại NHTMCPCTVN – CN TP. HCM Sơ đồ quy trình xử lý nghiệp vụ L/C nhập khẩu Sơ đồ xử lý tập trung Các mẫu biểu áp dụng đối với phương thức TDCT – Nhập khẩu Các loại thư tín dụng – Đặc điểm 52 37 38 47 53 53 56 27 57 60 ix MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam đã chính thức gia nhập vào Tổ Chức Thương Mại thế Giới (WTO), nền kinh tế thật sự hội nhập với các nước trên thế giới. Việt Nam đang phát triển nền kinh tế thị trường mở cửa – hợp tác – hội nhập. Do đó, hoạt động ngoại thương trong giai đoạn này ngày càng phát triển và càng có vị trí đặc biệt quan trọng trong chiến lược đổi mới và phát triển toàn diện nền kinh tế - xã hội nước ta. Và trong bối cảnh đó, các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế như: Séc, thanh toán quốc tế, tài trợ xuất nhập khẩu…. ngày càng phát triển và chiếm vị trí quan trọng đối với hoạt động của ngân hàng. Nó đã mở ra nhiều cơ hội cũng như thách thức đối với tất cả các tổ chức kinh tế nói chung và ngân hàng nói riêng. Chính vì vậy, các ngân hàng phải không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ và sản phẩm của mình để đứng vững trong nền kinh tế mở. Nói đến hoạt động kinh tế đối ngoại thì không thể không nhắc đến các phương thức thanh toán như: Nhờ thu, chuyển tiền, thanh toán tín dụng chứng từ… trong đó, phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là phương thức an toàn, hiệu quả, khách quan và được các doanh nghiệp sử dụng nhiều nhất, chiếm tỉ trọng lớn nhất trong các giao dịch ngoại thương. Trên thực tế, nghiệp vụ thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ đã chiếm vị trí hàng đầu và mang lại nguồn phí dịch vụ rất lớn cho ngân hàng nói chung và NHTMCP CTVN – Chi nhánh TP. Hồ Chí Minh nói riêng. Do đó, nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của nghiệp vụ này đang là một trong những chủ trương quan trọng trong hoạt động kinh doanh của NHTMCP CTVN – Chi nhánh TP. Hồ Chí Minh. Đó chính là lý do vì sao Tôi chọn đề tài nghiên cứu là: “Giải pháp phát triển phương thức tín dụng chứng từ trong thanh toán hàng NK tại NH Công Thương, TP. Hồ Chí Minh” 2. Mục tiêu nghiên cứu x Quan tâm đến hoạt động này và với mong muốn góp phần nhỏ vào việc thúc đẩy sự phát triển phương thức tín dụng chứng từ trong thanh toán hàng NK tại Vietinbank nói chung và Chi nhánh TP. Hồ Chí Minh nói riêng. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Luận văn chỉ đi sâu nghiên cứu về phương thức tín dụng chứng từ trong thanh toán hàng NK và những vấn đề cần quan tâm để phát triển phương thức tín dụng chứng từ trong thanh toán hàng NK tại Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Công Thương VN – Vietinbank. 4. Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu từ lý thuyết đến phân tích, so sánh, đối chiếu thực tế thông qua thống kê định lượng, phương pháp suy luận logic trong khoảng thời gian từ năm 2007-2009. 5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu: Bằng những phương pháp nghiên cứu trên, từ cơ sở lý luận đến quy trình thực tiễn của phương thức tín dụng chứng từ trong thanh toán hàng NK tại Vietinbank cũng như qua điều tra thực tế các doanh nghiệp hiện đang giao dịch bằng hình thức tín dụng chứng từ tại Vietinbank thì luận văn có những điểm mới cần quan tâm như sau: • Đánh giá lại phương thức tín dụng chứng từ trong thanh toán hàng NK tại NHTMCP CTVN - Chi nhánh TP. Hồ Chí Minh. • Nêu một số giải pháp có thể đưa vào vận dụng tại Vietinbank để phát triển phương thức tín dụng chứng từ trong thanh toán hàng NK. 6. Tên và kết cấu của luận văn Tên đề tài nghiên cứu: Giải pháp phát triển phương thức tín dụng chứng từ trong thanh toán hàng NK tại NH Công Thương, TP. Hồ Chí Minh. Kết cấu luận văn: Để thực hiện nội dung cơ bản của đề tài nghiên cứu, ngoài lời mở đầu, kết luận và các phụ lục. Nội dung chính chủ yếu gồm 3 phần chính như sau: xi • Chương 1: Lý luận chung về phương thức tín dụng chứng từ. • Chương 2: Thực trạng phương thức TDCT trong thanh toán hàng NK tại NH Công Thương, TP. Hồ Chí Minh. • Chương 3: Giải pháp phát triển phương thức TDCT trong thanh toán hàng NK tại NH Công Thương, TP. Hồ Chí Minh. 1 CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ –³— 1.1. KHÁI NIỆM PHƯƠNG THỨC TDCT - VĂN BẢN PHÁP QUY ÁP DỤNG – UCP 600 v Khái niệm phương thức TDCT: Phương thức tín dụng chứng từ đã và đang được sử dụng rất rộng rãi trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Phương thức tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán, trong đó, theo yêu cầu của khách hàng, một ngân hàng sẽ phát hành một bức thư (gọi là thư tín dụng - letter of credit) cam kết trả tiền hoặc chấp nhận hối phiếu cho một bên thứ ba khi người này xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những điều kiện và điều khoản quy định trong thư tín dụng. Từ khái niệm trên cho thấy, phương thức tín dụng chứng từ có thể được áp dụng trong nội thương và ngoại thương. Trong khuôn khổ của luận văn, Tôi chỉ đề cập đến phương thức tín dụng chứng từ được áp dụng trong hoạt động ngoại thương, theo đó, căn cứ yêu cầu của nhà nhập khẩu, ngân hàng phát hành một thư tín dụng (Letter of Credit - L/C) cho nhà xuất khẩu hưởng. Nội dung chủ yếu của thư tín dụng là sự cam kết của ngân hàng phát hành L/C sẽ trả tiền cho nhà xuất khẩu, khi nhà xuất khẩu tuân thủ những điều kiện quy định trong L/C và chuyển bộ chứng từ cho ngân hàng để được thanh toán. Thuật ngữ "tín dụng - credit" ở đây được dùng theo nghĩa rộng, nghĩa là "tín nhiệm", chứ không phải để chỉ "một khoản cho vay" theo nghĩa thông thường. Điều này được thể hiện rõ trong trường hợp nhà nhập khẩu ký quỹ 100% giá trị của L/C, thì thực chất ngân hàng không cấp bất cứ một khoản tín dụng nào, mà chỉ cho nhà nhập khẩu "vay" sự tín nhiệm của mình. Ngay cả trong trường hợp nhà nhập khẩu không ký quỹ, thì một khoản tín dụng chỉ thực sự xảy ra khi ngân hàng phát hành 2 L/C tiến hành trả tiền cho nhà xuất khẩu và ghi nợ nhà nhập khẩu. Như vậy, thuật ngữ "tín dụng" trong phương thức tín dụng chứng từ chỉ thể hiện khoản "tín dụng trừu tượng" bằng lời hứa trả tiền của ngân hàng thay cho lời hứa trả tiền của nhà nhập khẩu, vì ngân hàng có tín nhiệm hơn nhà nhập khẩu. Qua phân tích cho thấy, trong phương thức tín dụng chứng từ, ngân hàng không chỉ là người trung gian thu hộ, chi hộ, mà còn: - Là người đại diện cho nhà nhập khẩu thanh toán tiền hàng cho nhà xuất khẩu, đảm bảo cho nhà xuất khẩu nhận được khoản tiền tương ứng với hàng hóa mà họ đã cung ứng. - Là người đảm bảo cho nhà nhập khẩu nhận được số lượng và chất lượng hàng hóa phù hợp với bộ chứng từ và số tiền mà mình bỏ ra. Rõ ràng là, nhà nhập khẩu có cơ sở để tin chắc rằng, ngân hàng sẽ không trả tiền trước khi nhà xuất khẩu giao hàng, bởi vì điều này đòi hỏi nhà xuất khẩu phải xuất trình bộ chứng từ gửi hàng. Trong khi đó, nhà xuất khẩu tin chắc rằng sẽ nhận được tiền hàng xuất khẩu nếu anh ta trao cho ngân hàng phát hành L/C bộ chứng từ đầy đủ và phù hợp theo như quy định trong L/C. v Văn bản pháp quy áp dụng - UCP 600 Hiện nay phương thức tín dụng chứng từ đang được áp dụng theo quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ (The Uniform Customs and Practice for Documentary Credits - viết tắt là UCP) - Ấn bản số 600 do Phòng Thương mại Quốc tế (International Chamber of Commerce - ICC) tại Paris ban hành và có hiệu lực từ ngày 01/07/2007 Quy tắc và Thực hành thống nhất Tín dụng chứng từ là một bộ các quy định về việc ban hành và sử dụng thư tín dụng (hay L/C). UCP được các ngân hàng và các bên tham gia thương mại áp dụng ở hơn 175 quốc gia. Khoảng 15-20% thương mại quốc tế sử dụng thư tín dụng với tổng giá trị hơn 1.000 tỷ USD mỗi năm. Về mặt lịch sử, các bên tham gia thương mại, đặc biệt là các ngân hàng, đã phát triển các kỹ thuật nghiệp vụ và các phương pháp sử dụng thư tín dụng trong tài chính-thương mại quốc tế. Các thông lệ này đã được Phòng thương mại quốc tế tiêu 3 chuẩn hóa thông qua việc xuất bản UCP năm 1993 và tiếp theo đó là cập nhật nó qua các năm. ICC đã phát triển và đưa vào khuôn khổ UCP bằng các bản sửa đổi thường xuyên, bản trước đây là UCP500. Còn hiện nay, trên thế giới đã phát hành ấn bản số 600 được xem là ấn bản mới nhất. Nó được xem là ấn bản hoàn thiện nhất cho đến thời điểm hiện tại. Tính chất của UCP Ø Là văn bản pháp lý tùy ý, không bắt buộc tuân theo. UCP chỉ mang tính bắt buộc một khi cả hai bên cùng nhất trí áp dụng và có dẫn chiếu cụ thể điều ấy vào L/C. Ø Đây là văn bản pháp lý quốc tế chứ không phải quốc gia nên chỉ có hiệu lực điều tiết các mối quan hệ mang tính quốc tế. Ø Chỉ có bản UCP bằng tiếng Anh do ICC ban hành mới có hiệu lực thi hành và giải quyết tranh chấp. Những bản dịch chỉ có giá trị tham khảo. Ø Tính năng động của UCP rất cao thể hiện trong hầu hết các điều khoản của nó đều có quy định rằng: "Nếu thư tín dụng không quy định khác đi..." Điều này cho thấy bộ luật UCP rất tôn trọng chủ ý của các bên liên quan đến thư tín dụng. Sơ lược về sự ra đời của UCP 600 Năm 2003, Phòng Thương mại quốc tế (ICC) đã ủy quyền cho ủy ban Kỹ thuật và nghiệp vụ Ngân hàng (ICC Commission on Banking Technique and Practice) bắt đầu xem xét lại UCP 500 để có thể có những sửa đổi cần thiết đáp ứng với tình hình thực tiễn mới. Cũng như những lần sửa đổi trước đây, mục đích chính của lần sửa đổi này là để đáp ứng được sự phát triển trong hoạt động ngân hàng, vận tải và bảo hiểm. Hơn nữa, cũng cần thiết xem xét lại ngôn ngữ và phong cách đã được sử dụng trong UCP để loại bỏ những cách diễn đạt có thể gây ra sự hiểu nhầm và áp dụng không thống nhất. Ngay khi công việc xem xét lại được tiến hành, thông qua một số kết quả điều tra toàn cầu, ủy ban Kỹ thuật và Nghiệp vụ ngân hàng nhận thấy có tới khoảng 70% chứng từ xuất trình theo tín dụng thư đã bị từ chối ở lần xuất trình đầu tiên vì 4 có sai sót. Điều này rõ ràng có ảnh hưởng tiêu cực đến phương thức thanh toán tín dụng chứng từ, vốn là một phương thức thanh toán quốc tế truyền thống và có nhiều ưu điểm, vì chi phí tăng lên do các trường hợp phải chịu phí chứng từ bất hợp lệ gia tăng (thông thường mỗi bộ chứng từ bất hợp lệ sẽ bị thu phí từ 50 - 100USD khi thanh toán) và quan trọng hơn là những sai sót chứng từ đó lại tỏ ra không mấy rõ ràng. Do đó, Ban soạn thảo gồm 9 thành viên đã ra đời để sửa đổi UCP 500. Đồng thời, ủy ban Kỹ thuật và Nghiệp vụ ngân hàng thành lập Ban cố vấn gồm 41 thành viên là các chuyên gia trong lĩnh vực ngân hàng và vận tải đến từ 26 nước trên thế giới. Sau 3 năm soạn thảo và chỉnh lý, ngày 25 tháng 10 năm 2006, ICC đã thông qua Bản Quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ số 600 (UCP 600) thay cho UCP 500. UCP 600 chính thức có hiệu lực từ ngày 01 tháng 07 năm 2007. Những thay đổi cơ bản trong UCP 600 so với UCP 500: Những điểm mới trong UCP 600 Ø Thứ nhất: Thay đổi về thời gian: trong UCP 600 bỏ đi cụm từ “thời gian hợp lý (reasonable time)” và quy định mỗi ngân hàng sẽ có thời gian tối đa là 5 ngày làm việc tiếp theo ngày xuất trình chứng từ để xác định chứng từ có hợp lệ hay không. Ø Thứ hai: Quy định mới trong UCP 600-điều 14j cho phép địa chỉ của người bán hoặc mua trên hóa đơn không cần giống như được chỉ định trong L/C mà có thể là địa chỉ khác trong cùng quốc gia . Ø Thứ ba: Ngân hàng phát hành được phép từ chối chứng từ và giao bộ chứng từ cho người mở L/C cho đến khi được sự đồng ý chấp nhận bỏ qua sai biệt (Cụ thể trong điều 16.c.iii của UCP 600 ). Ø Thứ tư: Điều 6 UCP 600 có thêm khoản mục mới quy định về nơi xuất trình chứng từ so với Điều 42 UCP 500. Khoản d.ii có nói: tín dụng thư có hiệu lực tại ngân hàng nào thì tại đó cũng là nơi xuất trình chứng từ. Địa điểm xuất trình của một tín dụng có giá trị thanh toán với bất kỳ ngân hàng nào là địa điểm xuất trình 5 của ngân hàng bất kỳ đó. Và “A place for presentation other than that of the issuing bank is in addition to the place of the issuing bank.” Ø Thứ năm: Quy định về Hoá đơn thương mại ở UCP 600 có thêm nội dung mới so với UCP 500 là khoản mục a.iii: hoá đơn thương mại phải được lập bằng tiền tệ tương tự với tiền tệ trong tín dụng Ø Thứ sáu: Điều 7 và điều 8.c UCP 600 quy định mới cho phép chiết khấu L/C thanh toán theo hình thức chậm trả. Ø Thứ bảy: Trong UCP 600 điều 38 có quy định mới là cho phép “Một ngân hàng phát hành có thể là ngân hàng chuyển nhượng được”. Ø Thứ tám: Trong UCP 600, điều 22, khoản (a) đã quy định thêm rằng vận đơn thể hiện là nó phụ thuộc vào hợp đồng thuê tàu phải được ký bởi người thuê tàu hay đại lý đích danh hay nhân danh cho người thuê tàu. Một đại lý hoặc đại diện ký cho chủ tàu hoặc người thuê tàu phải thể hịên tên của người chủ tàu hoặc người thuê tàu → Qua đó ta thấy vận đơn này sẽ có giá trị pháp lý cao hơn, nhiều người có nghĩa vụ và chịu trách nhiệm hơn và từ đó thì bảo đảm an toàn hơn cho người nhập khẩu trong quá trình vận chuyển hàng hoá. Ø Thứ chín: UCP 600 không còn cho phép phát hành L/C có thể hủy ngang. Và trong UCP 600 bổ sung thêm trường hợp bất khả kháng là “torrisism-khủng bố” Ø Thứ mười: UCP 600 rút gọn lại chỉ có 39 điều khoản nhưng ý nghĩa súc tích hơn. Việc định nghĩa và giải thích thuật ngữ rõ ràng, chi tiết và dễ hiểu hơn, đặc biệt là các thuật ngữ “Honour, Negotiation, sự xuất trình phù hợp….”, và được cụ thể hóa và đưa hẳn thành điều khoản mới là điều 2 “Định nghĩa” và điều 3 “Giải thích ”. Những khác biệt UCP 600 và UCP 500 Ø Thứ nhất: Thay đổi trong việc chỉ định ủy quyền chiết khấu - UCP 600 dành một điều khoản riêng để nói về việc chỉ định (Điều 11). Điều này có nội dung tương tự như Điều 18 của UCP 500 nhưng có thêm khoản mục mới, Đ12b quy định: bằng việc chỉ định ngân hàng chấp nhận hối phiếu hoặc cam kết thanh toán khoản nợ chậm trả, ngân hàng phát hành đã uỷ quyền cho ngân hàng được chỉ định đó trả 6 trước hoặc mua hối phiếu đã được chấp nhận hoặc một cam kết thanh toán chậm đã được ngân hàng được chỉ định nhận nợ. Ø Thứ hai: Thay đổi trong việc yêu cầu thống nhất chứng từ UCP 600 điều 14d : Dữ liệu trong một chứng từ không nhất thiết phải giống hệt khi so sánh với L/C, bản thân chứng từ và thực hành ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế, nhưng không được mâu thuẫn nhau và không mâu thuẫn với bất cứ chứng từ quy định nào khác hoặc với thư tín dụng – UCP 500 điều 21: Khi các chứng từ vận tải, chứng từ bảo hiểm và các hóa đơn thương mại được yêu cầu thì L/C phải quy định những chứng từ như vậy phải được phát hành và những nội dung, từ ngữ hoặc dữ liệu của các chứng từ đó. Nếu L/C không ghi rõ như vậy, các ngân hàng sẽ chấp nhận các chứng từ đó như được xuất trình, miễn là các nội dung dữ liệu của chúng không mâu thuẫn với bất kỳ chứng từ nào khác được quy định phải xuất trình. Ø Thứ ba: Thay đổi trong việc quy định từ ngữ và chứng từ thất lạc Điều 35 trong UCP 600 không gì thay đổi so với điều 16 của UCP 500. Từ ngân hàng ở đây bao gồm tất cả các ngân hàng nào có liên quan. Nhưng trong điều 35 này có quy định thêm 1 phần là nếu ngân hàng được chỉ định xác nhận chứng từ xuất trình phù hợp và chuyển chứng từ tới ngân hàng phát hành hoặc ngân hàng xác nhận thì ngân hàng phát hành hoặc ngân hàng xác nhận phải thanh toán/ thương lượng ngay cả khi chứng từ bị mất trong quá trình chuyển chứng từ giữa ngân hàng Điều này quy định thêm để thể hiện rõ ràng vai trò độc lập của ngân hàng chỉ định so với các ngân hàng khác. Và điều 12, khoản a trong UCP 600 cũng bổ sung thêm ý này, là “trừ khi ngân hàng được chỉ định là ngân hàng xác nhận, hoặc ngân hàng được chỉ định đồng ý một cách rõ ràng và thông báo điều này cho người thụ hưởng, ngoài ra trách nhiệm thanh toán bộ chứng từ thì ngân hàng được chỉ định sẽ không có bổn phận”. Ø Thứ tư: Về chứng từ vận tải đa phương thức Sự khác nhau quan trọng ở đây là trong UCP 600 đã bỏ từ “multimodal transport operator” (kinh doanh vận tải đa phương thức). Còn UCP 500 điều 26, khoản (A) quy định chứng từ vận tải đa phương thức có ghi tên người chuyên chở (carrier) 7 hoặc người kinh doanh vận tải đa phương thức (MTO). Ở đây ICC đã xem vai trò của người chuyên chở và MTO như nhau. Trong thực tế, MTO có thể là người chuyên chở khi họ có đủ mọi phương tiện vận tải. Nhưng MTO thường không có đủ mọi phương tiện nên họ sẽ phải thuê đại lý hoặc người chuyên chở thực hiện việc giao hàng. Và khi có rủi ro xảy ra thì MTO là người chịu trách nhiệm pháp lý, các đại lý hoặc người chuyên chở sẽ không chịu mọi trách nhiệm pháp lý. Vì vậy trong UCP 600 đã quy định rõ ràng vai trò của người vận chuyển và đại lý. Ngoài ra, trong UCP 600, điều 19 có quy định thêm khoản (b) về chuyển tải mà trong UCP 500, điều 26 chưa quy định. Quy định điều này để thể hiện rõ bản chất của phương tiện vận tải đa phương thức. Ø Thứ năm: Quy định về chứng từ vận tải hàng không. Trong UCP 600-điều 23-phần khác nhau cơ bản so với UCP 500 là quy định về ngày giao hàng. Khi chứng từ vận tải hàng không không thể hiện ghi chú ngày giao hàng thực tế thì ấn chỉ chuyến bay trên vận đơn hàng không sẽ được xem là ngày giao hàng, bất kể trong L/C có quy định như vậy hay không. Ø Thứ sáu: Trong UCP 500, điều 20 B&C có quy định về chứng từ gốc. Khái niệm chứng từ gốc không rõ ràng. Còn trong UCP 600, điều 17 quy định rõ ràng và chi tiết hơn về chứng từ gốc. Ø Thứ bảy: Điều 6 UCP 600 quy định tín dụng thư phải ghi tên ngân hàng mà tại đó tín dụng thư có giá trị hiệu lực hoặc tín dụng thư có hiệu lực tại bất kỳ ngân hàng nào. Còn điều 10 UCP 500 quy định chỉ có Tín dụng thư không giới hạn ngân hàng chiết khấu, thì mới được thừa nhận tính hiệu lực bất kỳ, ngân hàng nào cũng được coi là ngân hàng chỉ định. Nhận định về UCP 600: Có thể nói UCP 600 là phiên bản khá hòan thiện so với UCP 500 vì nó đã giải quyết rất nhiều những bất cập và giải thích kỹ hơn những điều khỏan chưa rõ ràng trong UCP 500. Ngoài ra nó còn tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các bên khi áp dụng vào phương thức thanh toàn tín dụng chứng từ. Tuy nhiên UCP 600 vẫn còn một số vấn đề chưa giải quyết được như việc phân biệt “one copy of” và “in one copy”, chưa quy định về những chứng từ bất hợp lệ xuất trình 8 theo thư tín dụng chuyển nhượng…Nên trong tương lai chúng ta sẽ đón nhận thêm những phiên bản mới hơn về UCP để ngày càng giúp cho phương thức thanh tóan tín dụng chứng từ ngày càng hoàn thiện hơn nữa. Và bên cạnh đó trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, quy mô trao đổi thương mại là rất lớn kèm với những rủi ro không thể lường trước trên thương trường quốc tế thì các doanh nghiệp Việt Nam càng phải cập nhật kịp thời những điểm mới trong UCP 600, còn các ngân hàng Việt Nam phải có những am hiểu tường tận về bản sửa đổi lần này để có thể đóng vai trò là người tư vấn đáng tin cậy cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, từ đó mà nâng cao uy tín của mình trên trường quốc tế. 1.2. QUY TRÌNH NGHIỆP VỤ THANH TOÁN BẰNG PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ 1.2.1. Định nghĩa thư tín dụng Thư tín dụng là một cam kết chắc chắn và không hủy ngang bằng văn bản của một ngân hàng (ngân hàng phát hành L/C) được phát hành theo chỉ thị của nhà nhập khẩu (người yêu cầu mở L/C) cho người xuất khẩu hưởng (người hưởng lợi L/C) về việc thanh toán theo phương thức trả ngay hay trả kỳ hạn khi người hưởng xuất trình chứng từ phù hợp. Từ khái niệm trên ta thấy rằng việc thanh toán bằng thư tín dụng có thể được sử dụng cho cả thanh toán trong nước và quốc tế mà theo đó có sự cam kết của một ngân hàng phát hành L/C rằng sẽ thanh toán khi nhà xuất khẩu tuân thủ đúng các quy định trong L/C và chuyển bộ chứng từ phù hợp cho ngân hàng. Như vậy việc thanh toán giữa ngân hàng và người xuất khẩu dựa trên cơ sở là L/C và bộ chứng từ, không liên quan đến hợp đồng mua bán giữa nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu. 1.2.2. Tính chất, ý nghĩa của thư tín dụng Ø Thư tín dụng là cốt lõi, là phương tiện chủ yếu của phương thức thanh toán tín dụng chứng từ. Do đó, nếu thư tín dụng hết hạn hiệu lực thì phương thức thanh toán tín dụng chứng từ sẽ không còn ý nghĩa.
- Xem thêm -