Tài liệu Chính sách thuế xuất nhập khẩu việt nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế

  • Số trang: 80 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 61 |
  • Lượt tải: 0
sakura

Đã đăng 11429 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH _________________________ PHẠM THỊ THÙY DƯƠNG CHÍNH SÁCH THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CHUYÊN NGÀNH: Kinh tế tài chính – Ngân hàng MÃ SỐ : 60.31.12 LUẬN VĂN THẠC SỸ GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN KHOA HỌC TS. NGUYỄN HỒNG THẮNG TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2009 -1MỤC LỤC ******* Trang Danh mục các chữ viết tắt Mục lục Chương 1: Lý luận cơ bản về thuế XNK -----------------------------------------1 1.1./ Khái nhiệm về thuế quan ........................................................................... 1 1.2./ Vai trò của thuế quan: -----------------------------------------------------------1 1.3./ Hiệp ước chung về thuế quan -------------------------------------------------2 1.4/. Xu hướng tất yếu trong quá trình hội nhập kinh tế hiện nay ---------------5 1.5./ Các nhân tố ảnh hưởng ----------------------------------------------------------6 1.6./ Mô hình liên hiệp thuế quan tạo mậu dịch ------------------------------------7 1.7./ Tỷ lệ bảo hộ thật sự (ERP) -----------------------------------------------------9 1.8. / Kinh nghiệm của một số nước về việc thực hiện quá trình hội nhập quốc tế ----- 11 Chương 2: Thực trạng sử dụng chính sách thuế XNK Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế ...................................................................... 16 2.1./ Lịch sử hình thành và phát triển của thuế XNK Việt Nam --------------- 16 2.2./ Các chính sách của Việt Nam về hội nhập kinh tế quốc tế liên quan đến thuế XNK: ----------------------------------------------------------------------------- 19 2.3/. Thực trạng việc áp dụng chính sách thuế XNK tại Việt Nam với yêu cầu thực hiện các cam kết quốc tế------------------------------------------------------- 21 2.3.1/ Các thành tựu chính sách thuế XNK Việt Nam đạt được---------------- 21 2.3.1.1/ Về mặt chính sách ---------------------------------------------------------- 21 2.3.1.2/ Về cơ chế tổ chức thực hiện----------------------------------------------- 22 2.3.2/ Những tồn tại của chính sách thuế XNK Việt Nam ---------------------- 22 2.3.2.1/ Chính sách thuế XNK------------------------------------------------------ 22 2.3.2.2/ Về nhân sự ----------------------------------------------------------------- 30 2.3.2.3/ Về cơ sở hạ tầng thông tin ------------------------------------------------ 31 2.4./ Cắt giảm thuế XNK và vấn đề thu NSNN ---------------------------------- 31 1 -22.4.1/ Áp dụng mô hình liên hiệp thuế quan tạo mậu dịch tại Việt Nam đối với mặt hàng thép xây dựng ------------------------------------------------------------- 31 2.4.2/ Cắt giảm thuế XNK ảnh hưởng đến nguồn thu NSNN ......................... 33 2.5./ Tỷ lệ bảo hộ thật sự tại Việt Nam đối với mặt hàng xe ô tô ................... 35 Chương 3: Chính sách thuế XNK Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế ........................................................................................................ 39 3.1 Xây dựng chính sách thuế quan------------------------------------------------ 39 3.1.1/ Định hướng xây dựng chính sách thuế quan phải hướng đến minh bạch, thân thiện, hiệu quả, thích nghi ---------------------------------------------------- 39 3.1.2/ Về nhân sự -------------------------------------------------------------------- 47 3.1.3/ Về cơ sở hạ tầng thông tin -------------------------------------------------- 48 3.1.4./ Kiến nghị khác --------------------------------------------------------------- 49 3.2/ Xây dựng biểu thuế quan------------------------------------------------------- 52 3.2.1/ Giai đoạn 2010- 2015 -------------------------------------------------------- 52 3.2.1.1/ Xây dựng biểu thuế theo định hướng bảo hộ chính đáng sản xuất trong nước, nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa .................................................. 52 3.2.1.2/ Xây dựng biểu thuế theo định hướng tính đến hiệu quả của việc thu thuế .................................................................................................................. 54 3.2.2/ Giai đoạn 2016- 2020 -------------------------------------------------------- 58 3.2.2.1/ Xây dựng biểu thuế theo định hướng điều tiết hàng hóa xuất nhập khẩu ----- 58 3.2.2.2/ Xây dựng biểu thuế theo định hướng là công cụ chống phân biệt đối xử trong quan hệ thương mại và tạo áp lực nhượng bộ trong đàm phán thương mại của các đối tác ------------------------------------------------------------------------ 59 Kết luận Tài liệu tham khảo Phụ lục 2 -3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT AFTA : ASEAN Free Trade Area – Khu vực mậu dịch tự do ASEAN. AIA : ASEAN Investment Area – Khu vực đầu tư ASEAN. AICO : ASEAN Industrial Co-Operation – Hợp tác công nghiệp ASEAN. APEC : Asia Pacific Economic Co-operation – Hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương. ASEAN: Association of South East Asian Nations – Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á. ASEM : Asia-Europe Meeting – Hội nghị Á - Âu CEPT : Common Effective Preferential Tariffs – Chương trình ưu đãi thuế XNK có hiệu lực chung. GATT : General Agreement on Tariff and Trade – thỏa thuận chung về thuế XNK và mậu dịch. GTGT : Thuế giá trị gia tăng. IL : Inclusion List – Danh mục giảm thuế IMF : International Monetary Fund – Quỹ tiền tệ quốc tế. MFN : Most Favoured Nation – Tối huệ quốc. NSNN : Ngân sách nhà nước. NT : National Treatment – Đối xử quốc gia.. TTĐB: Thuế tiêu thụ đặc biệt . WB : World Bank – Ngân hàng thế giới WTO : World Trade Organization – Tổng chức thương mại thế giới. XNK : Xuất nhập khẩu. 3 -4MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài: Tự do hóa thương mại ngày nay đã trở nên rất phổ biến đối với mỗi quốc gia trên thế giới. Điều đó làm quá trình khu vực hóa, toàn cầu hóa kinh tế diễn ra sôi động và trở thành một xu thế khách XNK trong tiến trình phát triển kinh tế thế giới. Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo ra những thời cơ thuận lợi cho các quốc gia đang phát triển, nhưng cũng đặt mỗi nước phải đối mặt với không ít khó khăn, trong đó vấn đề xoá bỏ hàng rào thuế XNK nhằm thực hiện tự do hóa thương mại toàn cầu là một thách thức to lớn. Việc cắt giảm thuế XNK không chỉ ảnh hưởng đến tính hệ thống của chính sách thuế nói chung mà còn tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế và sự thay đổi các chính sách kinh tế – xã hội của đất nước. Trong tiến trình hội nhập, Việt Nam đã trở thành thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), tham gia vào khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), gia nhập diễn đàn kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC), ký kết Hiệp định thương mại với Hoa Kỳ – và là thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)... Vì vậy, dựa trên nghiên cứu những tác động do cắt giảm thuế XNK sẽ ảnh hưởng giảm đến nguồn thu NSNN và Việt Nam tiếp tục bảo hộ thị trường nội địa do một số ngành hàng chưa có khả năng cạnh tranh trong quá trình hội nhập, đồng thời vẫn đảm bảo các nguyên tắc đã cam kết và tiến trình cắt giảm thuế, Chính phủ Việt Nam giao nhiệm vụ cho Bộ Tài chính và thông qua cơ XNK Hải XNK Việt Nam sử dụng các chính sách thuế XNK như thuế nào đối với nền kinh tế nước ta để có các đối sách hữu hiệu là một đòi hỏi cấp thiết. Cho nên, việc chọn đề tài: “Chính sách thuế Xuất Nhập Khẩu Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế ” vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn trong giai đoạn phát triển kinh tế Việt Nam hiện nay. 4 -52. Mục tiêu nghiên cứu: Hoàn thiện chính sách thuế XNK theo hướng đảm bảo nguồn thu NSNN với cơ cấu hợp lý, tiếp tục bảo hộ một số mặt hàng có chọn lọc nhằm điều tiết hàng nhập khẩu và hạn chế những bất lợi đối với nền kinh tế nước ta trong điều kiện Việt Nam hội nhập ngày càng đầy đủ hơn với kinh tế khu vực và thế giới. 3. Phạm vi nghiên cứu: Số liệu phân tích trong giai đoạn 2004-2008 và Việt Nam đã đưa ra lộ trình cắt giảm thuế XNK thực hiện theo WTO. Từ việc sử dụng và cắt giảm thuế XNK theo lộ trình cam kết WTO ảnh hưởng đến nền kinh tế Việt Nam, đề tài đưa ra các giải pháp trong giai đoạn 2010-2020 dựa trên cơ sở các nguyên tắc, gắn liền với chủ trương của nhà nước về hội nhập và phù hợp với những qui định về thuế XNK của các tổ chức kinh tế quốc tế. 4. Phương pháp nghiên cứu: - Phân tích định lượng các số liệu thứ cấp. - Phân tích mô hình và kịch bản. 5. Cấu trúc của đề tài: Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và biểu bảng, nội dung của đề tài thể hiện qua 3 chương: Chương 1: Lý luận cơ bản về thuế xuất nhập khẩu. Chương 2: Thực trạng sử dụng chính sách thuế xuất nhập khẩu Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Chương 3: Chính sách thuế xuất nhập khẩu trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế 5 -6CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU 1.1./ Khái nhiệm về thuế xuất nhập khẩu - Các nhà kinh tế học khác nhau đều có những quan điểm không giống nhau về thuế. Học giả người Mỹ E.R.A Seligman nêu: “ Thuế là sự đóng góp cưỡng bức của mỗi người cho Chính phủ để trang trải các chi phí và lợi ích chung không căn cứ vào lợi ích riêng được hưởng “. - Luật gia Oliver Wendall Holmes cho rằng: “ Thuế là những khoản ta phải trả cho một xã hội văn minh”. - Ở Việt Nam, nhiều công trình nghiên cứu khác nhau sẽ có những khái niệm về thuế XNK cũng khác nhau, nhưng cần hiểu rằng thuế XNK là một khoản tiền mà người chủ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu hoặc quá cảnh phải nộp cho hải quan là cơ quan đại diện cho nước chủ nhà. Nói cách khác, thuế XNK là khoản thu đối với hàng hóa khi qua cửa khẩu của mỗi quốc gia. - Thuế XNK là một loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng xuất khẩu hay nhập khẩu của một quốc gia. Xét trong quá trình vận động của hàng hóa qua cửa khẩu thì thuế XNK có 2 loại: + Thuế đánh trên hàng hóa xuất khẩu (Thuế xuất khẩu): là thuế đánh trên hàng hóa xuất khẩu qua khỏi biên giới quốc gia. + Thuế đánh trên hàng hóa ở khâu nhập khẩu (Thuế nhập khẩu): là thuế đánh trên hàng hóa nhập khẩu từ thị trường nước ngoài vào thị trường trong nước. 1.2./ Vai trò của thuế XNK Trong thương mại quốc tế, thuế XNK có những vai trò sau: Thứ nhất, thuế XNK có vai trò điều tiết xuất nhập khẩu. Một bộ phận XNK trọng trong giá cả hàng hóa ngoại thương là thuế XNK. Thuế XNK thấp hay cao đều ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của hàng hóa, do đó thông qua mức thuế XNK đánh vào hàng hóa xuất nhập khẩu, chính phủ gián tiếp điều tiết xuất nhập khẩu hàng hóa. 6 -7Thứ hai, thuế XNK có tác dụng bảo hộ thị trường nội địa. Bởi vì việc đánh thuế cao vào những hàng hóa nhập khẩu sẽ giúp các nhà sản xuất trong nước bằng giá rẻ có thể cạnh tranh với hàng hóa nhập khẩu, tạo điều kiện để các ngành sản xuất non trẻ trong nước có thời gian trưởng thành và sinh lời nhằm cạnh tranh với hàng nhập khẩu trong tương lai. Thứ ba, thuế XNK có tác dụng tăng thu cho NSNN. Ngày nay, cùng với tiến trình toàn cầu hóa, vai trò của thuế XNK đối với nguồn thu ngân sách ngày càng giảm nhưng đối với nhiều nước, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển, thuế XNK vẫn là nguồn thu lớn cho ngân sách quốc gia. Thứ tư, thuế XNK được xem là công cụ mậu dịch mang tính minh bạch hơn so với các công cụ phi thuế quan vì thông qua mức thuế suất đánh trên hàng hóa, người ta dễ xác định được các tác động tiêu cực của chính sách bảo hộ đối với tiến trình hội nhập kinh tế của quốc gia để qua đó gây sức ép điều chỉnh. Thứ năm, thuế XNK là công cụ phân biệt đối xử trong quan hệ thương mại và tạo áp lực nhượng bộ trong đàm phán thương mại của các đối tác. Thứ sáu, thuế XNK còn định hướng thị hiếu người tiêu dùng. Trong thực tế, đối với các hàng hoá xa xỉ thì việc áp mức thuế suất nhập khẩu cao đối với các hàng hoá này sẽ gây tác động đến việc lựa chọn đối với người tiêu dùng. 1.3./ Hiệp ước chung về thuế quan 1.3.1/ Lịch sử hình thành Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch (tiếng Anh: General Agreement on Tariffs and Trade, viết tắt là GATT) là một hiệp ước được ký kết vào năm 1947 nhằm điều hòa chính sách thuế XNK giữa các nước ký kết. Kể từ khi GATT được thành lập vào năm 1948, các nước tham gia GATT đã cùng nhau tiến hành nhiều đợt đàm phán để ký kết thêm những thoả thuận thương mại mới. Mỗi đợt đàm phán như vậy được gọi là một "vòng đàm phán." Nhìn chung, những thoả thuận thương mại trong các vòng đàm phán đó ràng buộc các nước ký kết phải tiến hành giảm thuế xuất, nhập khẩu cũng như giảm bớt các hàng rào thương mại phi thuế khác đối với hàng hóa xuất, nhập 7 -8khẩu. Mức độ giảm thuế khác nhau tùy theo từng nước cũng như từng loại hàng hóa. 8 vòng đàm phán của GATT là: - Vòng Geneva (1947): bao gồm 23 nước tham gia, GATT bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 1948. - Vòng Annecy (1949): bao gồm 13 nước tham gia. - Vòng Torquay (1951): bao gồm 38 nước tham gia. - Vòng Geneva (1956): bao gồm 26 nước tham gia. Tại vòng này đã đạt được những kết quả liên quan đến việc giảm thuế, đề ra chiến lược cho chính sách của GATT đối với các nước đang phát triển, nâng cao vị thế của họ với tư cách là những thành viên tham gia GATT. - Vòng Dillon (1960-1961): bao gồm 26 nước tham gia. Vòng này chủ yếu bàn về việc giảm thuế. Được đặt tên theo Thứ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ C. Douglas Dillon. - Vòng Kenedy (1964-1967): bao gồm 63 nước. Nội dung thảo luận cũng vẫn là việc giảm thuế, nhưng lần đầu tiên đàm phán giảm thuế theo một phương pháp áp dụng chung cho tất cả các loại hàng hóa chứ không đàm phán giảm thuế cho từng loại hàng hóa một như các vòng trước. Hiệp định chống bán phá giá được ký kết (nhưng tại Hoa Kỳ không được Quốc hội nước này phê chuẩn). - Vòng Tokyo (1973-1979): Bao gồm 102 nước. Thảo luận về việc giảm các hàng rào phi thuế cũng như giảm thuế đối với các sản phẩm chế tạo. Tăng cường và mở rộng hệ thống thương mại đa phương. - Vòng Uruguay (1986-1994): bao gồm 125 nước tham gia. Những nét chính của vòng này là: thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) thay thế cho GATT; mục tiêu giảm thuế và các biện pháp trợ cấp xuất khẩu; giảm hạn ngạch và các hạn chế nhập khẩu khác trong vòng 20 năm; ký kết Hiệp định về Bảo hộ Quyền sở hữu Trí tuệ liên XNK đến Thương mại (TRIPS); mở rộng phạm vi áp dụng của luật thương mại quốc tế sang lĩnh vực dịch vụ thông qua Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS); dỡ bỏ hạn chế đối với đầu tư nước ngoài. 8 -9Lúc đầu, GATT được xem như một thoả thuận tạm thời nhằm giải quyết các vấn đề thuế XNK và thương mại phát sinh trong khoảng thời gian trước khi thành lập và công bố một bản Hiến chương chính thức của tổ chức thương mại quốc tế ( International Trade Organnization – ITO). Nhưng vào năm 1950, Thượng viện Hoa Kỳ, đã bác bỏ Hiến chương ITO và công nhận hiệp định GATT. Kể từ đó, Hiệp định GATT đã được đổi mới và tu chỉnh nhiều lần cho phù hợp với hoàn cảnh thương mại quốc tế trở nên ngày càng đa dạng và phức tạp. 1.3.2/ Mục đích – nguyên tắc Mục đích của GATT thông qua các cuộc đàm phán để mở đường cho mậu dịch tự do, giảm thiểu những hạn chế, ràng buộc có tính chất bất công và bất hợp lý, làm thiệt hại đến quyền lợi của các quốc gia. Những nguyên tắc cơ bản hoạt động của GATT là: + Khuyến khích và phát triển quan hệ thương mại đa phương giữa các quốc gia trên nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử. + Sự giảm bớt thuế XNK phải được thực hiện thông qua đàm phán. + Loại bỏ các quota nhập khẩu. + Loại bỏ những điều quy định giới hạn khác có tính chất ưu đãi nước này và không ưu đãi nước khác, đồng thời cho phép hướng đến một nền thương mại quốc tế có tính chất tự do. 1.3.3/ Nội dung cơ bản GATT bao gồm 38 điều khoản, tập trung chủ yếu vào 4 phần dưới đây: Phần 1: Các quy chế về chế độ tối huệ quốc ( Most Favoured Nation) và các nhượng bộ thuế XNK. Phần 2: Các nguyên tắc, quy chế và tiêu chuẩn pháp lý để điều chỉnh hệ thống chính sách thương mại. Phần 3: Các thủ tục liên quan đến hoạt động của GATT, Phần 4: Các điều kiện tham gia của các nước đang phát triển và GATT. 9 - 10 Ngoài ra còn có phần phụ chương bao gồm các nhận xét, thuyết minh và các điều kiện bổ sung phù hợp với các điều khoản của hiệp định, được coi là bộ phận của văn kiện, cơ sở của hiệp định. 1.4/. Xu hướng tất yếu trong quá trình hội nhập kinh tế hiện nay 1.4.1/ Hội nhập kinh tế quốc tế là một tất yếu khách quan Không thể có một quốc gia nào trên thế giới tồn tại độc lập, phát triển có hiệu quả mà không có mối quan hệ nào với các quốc gia khác trên thế giới, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế. Mỗi quốc gia luôn chứa đựng trong mình một tiềm năng kinh tế nhất định, nhưng không phải đã đầy đủ và hoàn thiện. Có quốc gia có lợi thế so sánh về mặt này nhưng lại yếu mặt khác. Nếu không hội nhập thì điểm mạnh của mỗi quốc gia sẽ không được phát huy một cách hiệu quả nhất và đồng thời không khắc phục, bổ khuyết được những điểm yếu, hạn chế.. 1.4.2/ Hội nhập kinh tế phải gắn liền với cắt giảm thuế XNK Cần phân biệt hội nhập kinh tế quốc tế với quan hệ kinh tế quốc tế. Quan hệ kinh tế quốc tế là mối quan hệ kinh tế lẫn nhau giữa hai hoặc nhiều nước, là tổng thể các mối quan hệ đối ngoại của các nước. Biểu hiện cụ thể của quan hệ kinh tế quốc tế là việc trao đổi buôn bán giữa các nước nhằm khai thác lợi ích của thương mại quốc tế. Tuy nhiên, trong mối quan hệ này, mỗi nước là một thị trường riêng biệt và thị trường này được bảo vệ bởi công cụ thuế XNK do nhà nước qui định. Nhà nước sẵn sàng can thiệp và can thiệp sâu vào hoạt động kinh tế thông qua chính sách thuế XNK để bảo vệ nền sản xuất nội địa khi cần thiết. Vì vậy, những lợi ích của thương mại quốc tế có khi chưa được khai thác một cách triệt để. Trong điều kiện hiện nay, các nước ngày càng thấy được tầm quan trọng và lợi ích của thương mại quốc tế thì quan hệ kinh tế quốc tế đã được nâng lên một tầm cao mới, đó là hội nhập kinh tế quốc tế. Hội nhập kinh tế cũng là những quan hệ kinh tế mà kết quả là tạo ra các thị trường thương mại tự do mang tính khu vực (như AFTA, APEC, NAFTA...) và thế giới (WTO). Cơ sở của hội nhập kinh tế dựa trên sự tự nguyện cam kết cắt giảm, xoá bỏ hàng rào thuế XNK vốn ngăn cản tự do thương mại. Bất kỳ một nước nào muốn tham 10 - 11 gia vào các tổ chức kinh tế khu vực và quốc tế đều phải trải qua giai đoạn đàm phán để cắt giảm thuế XNK với các nước thành viên. Do đó, ta có thể nói rằng, nếu hội nhập kinh tế quốc tế là một tất yếu khách quan thì việc cắt giảm, xóa bỏ các hàng rào thuế XNK cũng là một quá trình tất yếu trong xu hướng hội nhập của mỗi nước. Và hiện nay, các nước đều xây dựng cho mình một lộ trình cắt giảm thuế XNK phù hợp với những nguyên tắc và cam kết của các tổ chức kinh tế quốc tế. 1.5./ Các nhân tố ảnh hưởng Căn cứ theo hướng dẫn tại Thông tư số 79/2009/TT-BTC ngày 20/04/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn phương pháp tính thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu: Căn cứ số lượng từng mặt hàng thực tế xuất khẩu, nhập khẩu ghi trong Tờ khai hải quan, trị giá tính thuế và thuế suất từng mặt hàng để xác định số tiền thuế phải nộp theo công thức sau: Số lượng đơn vị Số tiền thuế xuất khẩu, thuế nhập Trị giá tính từng mặt hàng thực = khẩu phải nộp tế xuất khẩu, nhập x khẩu ghi trong Tờ khai hải XNK thuế tính trên một đơn vị hàng hóa Thuế x suất của từng mặt hàng Nguồn thu thuế xuất nhập khẩu được ảnh hưởng bởi 05 nhân tố sau: - Theo công thức trên, 03 nhân tố là số lượng đơn vị nhập khẩu, thuế suất nhập khẩu và giá nhập khẩu; giả sử trong điều kiện giá tính thuế của hàng hóa nhập khẩu không thay đổi thì 02 nhân tố ảnh hưởng còn lại đó là lượng hàng nhập khẩu và thuế suất của mặt hàng nhập khẩu. - Ngoài 03 nhân tố nêu trên, Chính phủ Việt Nam còn áp dụng thêm 02 chính sách thuế đánh trên hàng hoá khâu nhập khẩu là thuế tiêu thụ đặt biệt và thuế giá trị gia tăng nhằm tránh việc giảm số thu NSNN quá nhanh khi cắt giảm thuế theo lộ trình. 11 - 12 - Bên cạnh đó, mức độ ý thức và tuân thủ chấp hành tốt pháp luật của các doanh nghiệp cũng là 01 trong các nhân tố hạn chế việc thất thu ngân sách nhà nước. Trong trường hợp thực hiện các cam kết cắt giảm thuế XNK đối với hàng hóa nhập khẩu (thuế XNK chỉ là 01 trong 05 nhân tố ảnh hưởng đến thuế NSNN). Việc cắt giảm thuế suất XNK theo lộ trình cam kết chắc chắc số thu thuế từ NSNN sẽ giảm, tuy nhiên khi cắt giảm thuế XNK sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho khối lượng hàng hóa nhập khẩu tăng cao dẫn đến kim ngạch nhập khẩu tăng cao ( kim ngạch tăng ở đây 01 phần do chính sách thuế XNK thuận lợi nhưng phần lớn số kim ngạch tăng là do kinh tế của Việt Nam phát triển), như vậy trong trường hợp số lượng hàng hóa nhập khẩu cao hơn mức thuế suất giảm trung bình theo lộ trình cam kết thì NSNN không giảm theo như nhiều nhận định mà có chiều hướng tăng. 1.6./ Mô hình liên hiệp thuế quan tạo mậu dịch Theo các lý thuyết về tự do thương mại, có thể phân tích tác động của các quốc gia nhỏ khi gia nhập tổ chức thương mại thế giới theo mô hình liên hiệp thuế quan tạo mậu dịch và là quốc gia nhỏ nên việc nhập khẩu hàng hóa không làm ảnh hưởng giá thế giới. Có thể xem tác động của thuế XNK thông qua mô hình cơ bản sau đây ( Xem hình 1.1). Hình 1.1 – Tác động của thuế XNK. Giá Sx E J G H S1+T B A C M N S1 Dx Q1 Q2 Q3 12 Q4 Số lượng - 13 Lúc đầu, Chính phủ đánh thuế vào hàng hóa nhập khẩu, biểu đồ S1+T là đường cung hàng nhập khẩu khi có thuế, S1 là đường cung co giãn hoàn toàn trong tình trạng mậu dịch tự do. Với mức giá có thuế nhập khẩu, sản lượng hàng hóa tiêu thụ sẽ là Q3, trong đó sản phẩm trong nước là Q2, nhập khẩu ( Q3-Q2), nhà nước sẽ thu được khoản thuế tương ứng hình chữ nhật MNHJ. Khi cắt giảm thuế theo cam kết, nhà nước mất đi khoản thu này. Lúc này, do giá hàng hóa nhập khẩu giảm làm số sản phẩm tiêu thụ tăng lên Q4, trong đó Q1 là sản xuất trong nước, còn (Q4-Q1) là nhập khẩu từ nước ngoài. Lợi ích người tiêu dùng ở nước nhập khẩu nhờ liên hiệp thuế quan tự do thương mại là AGHB, trong đó AGJC biểu thị cho việc giảm lợi tức hoặc thặng dư nhà sản xuất, trong khi MNHJ biểu thị cho phần thuế mất đi. Hai tam giác CJM và BHN là lợi ích tĩnh, trong đó: CJM là phần sản phẩm phúc lợi từ việc tạo lập mậu dịch, kết quả của việc di chuyển sản xuất từ các nhà sản xuất kém hiệu quả nước nhập khẩu sang các nhà sản xuất hiệu quả hơn ở quốc gia xuất khẩu; BHN là phần lợi ích tiêu dùng từ việc tạo lập mậu dịch và kết quả việc gia tăng tiêu thụ (Q4-Q3) ở quốc gia nhập khẩu. Việc đánh thuế XNK sẽ tạo nguồn lợi cho chính phủ, nhà sản xuất trong nước cũng thu được lợi ích do được bảo hộ, giảm thuế, áp lực cạnh tranh từ bên ngoài, tuy nhiên người tiêu dùng sẽ bị thiệt hại do phải mua hàng nhập khẩu với giá cao trên thị trường trong nước; đồng thời xã hội bị thiệt hại một phần do một số nguồn lực bị sử dụng lãng phí (mất không) và một phần nữa do có một khối lượng hàng hóa nhập khẩu với giá cao không sử dụng được. Nếu bãi bỏ thuế XNK thì những khoản lợi ích bị giảm xuống, chuyển từ nhà sản xuất, chính phủ và phần mất trắng của xã hội sẽ rơi vào tay của người tiêu dùng. Theo cách xem xét này, lợi ích của xã hội tăng lên mặc dù lợi ích của các chủ thể có sự tăng giảm khác nhau. Đây cũng là nguyên nhân để các nước muốn tiến hành đàm phán và đi đến thống nhất cắt giảm thuế XNK, tăng cường buôn bán và đẩy mạnh tự do hóa thương mại. Do đó, có thể thấy việc tham gia vào xu hướng tự do hóa thương mại làm thay đổi cơ bản lợi ích cục bộ của các chủ 13 - 14 thể nghĩa là có thể gây ra những xáo trộn nhất định song lại mang lại lợi ích to lớn về lâu dài. Hình 1.2 – Đường cong Laffer. Nguồn thu thuế nhập khẩu Max Min 0% 25% 50% Theo hình 1.2, theo phân tích cân bằng cục bộ về tác động của thuế XNK đối với một nước nhỏ, diện tích hình chữ nhật MNJH đo lường nguồn thu của chính phủ từ thuế XNK. Rõ ràng khi mức thuế XNK bằng 0 thu nhập từ thuế XNK của chính phủ bằng 0. Điểm cần lưu ý là mức thu nhập của chính phủ lớn nhất khi mức thuế XNK phù hợp chứ không phải khi chính phủ đánh thuế XNK lớn nhất. Việc đánh thuế XNK quá cao có thể dẫn đến tình trạng trốn thuế thậm chí chấm dứt hẳn việc nhập khẩu và hạn chế lớn sự hội nhập của nền kinh tế quốc gia vào nền kinh tế thế giới. 1.7./ Tỷ lệ bảo hộ thật sự ( The rate of Effective Protection - ERP) Một quốc gia nhập khẩu nguyên liệu thô thì không đánh thuế hoặc đánh thuế rất ít so với đánh thuế vào sản phẩm cuối cùng với mục đích sản xuất trong nước và tạo công ăn việc làm cho dân chúng. Khi thuế XNK đánh trên nhập lượng nguyên liệu sẽ làm tăng giá cung sản xuất trong nước gia tăng. Mối tương quan giữa thuế đánh trên sản phẩm ( thuế XNK danh nghĩa) và thuế XNK đánh trên nhập lượng nguyên liệu được xác định bằng tỷ lệ bảo hộ thực sự. 14 - 15 Trong khi thuế XNK danh nghĩa là cần thiết đối với người tiêu dùng vì nó chỉ định giá cả sản phẩm cuối cùng là bao nhiêu do thuế XNK làm tăng lên thì tỷ lệ bảo hộ thật sự lại cần thiết đối với nhà sản xuất vì nó chỉ định sự bảo hộ ở mức nào để họ có thể cạnh tranh lại với hàng nhập khẩu. Công thức tính tỷ lệ bảo hộ thật sự theo 02 công thức sau: * Công thức 1: g= t – a i ti 1 - ai Trong đó: - g: tỷ lệ bảo hộ thật sự - t: thuế XNK danh nghĩa - ai: tỷ lệ giữa giá trị nhập lượng nguyên liệu với giá trị sản phẩm cuối cùng khi không có thuế XNK - ti:thuế XNK đối với nhập lượng nguyên liệu * Công thức 2: g = ( VAd – VAw)/ VAw (2) Trong đó: - VAd là chênh lệch giá do có ảnh hưởng thuế XNK. - VAw là giá tự do thương mại không có thuế XNK. Ý nghĩa của việc bảo hộ: - Khi các nhà sản xuất trong nước được bảo hộ bằng thuế XNK, thu nhập từ vốn và lao động đang sử dụng trong khu vực được bảo hộ tăng lên; thị trường sẽ phân bổ các nguồn lực từ các khu vực khác sang khu vực được bảo hộ. - Bảo hộ hiệu dụng về thực chất là trợ giá cho các nhà sản xuất trong nước của khu vực đó. - Khuyến khích các nguồn lực chi phí cao chuyển sang khu vực được bảo hộ; tạo ra những biến dạng giữa các ngành kinh tế trong nước. - Sẽ không có hiệu quả khi nền kinh tế đang khai thác các nguồn lực có chi phí cao của mình để sản xuất những thứ có thể mua được với giá rẻ hơn từ 15 - 16 thị trường thế giới và ngay cả khi lao động trên vốn hiếm hoi có thể hữu dụng hơn trong khu vực khác. - Việc mở rộng của ngành kinh tế được bảo hộ có thể gây thiệt hại cho những thành phần nghèo khổ của xã hội nếu khu vực được bảo hộ là thị trường hàng xa xỉ. - Nếu bảo hộ tiếp tục diễn ra lâu dài, các ngành sản xuất trong nước sẽ tiến tới họat động kém hiệu quả. Khi ERP bằng không, các ngành kinh tế họat động hiệu quả, tiết kiệm chi phí và còn dùng cả các sản phẩm phụ của mình; trong trường hợp được bảo hộ động cơ khuyến khích để làm việc này không còn nữa. 1.8./ Kinh nghiệm của một số nước về việc thực hiện quá trình hội nhập quốc tế 1.8.1/ Kinh nghiệm của Trung Quốc Sau 15 năm đàm phán kiên trì và gian khổ, ngày 11 tháng 12 năm 2001, Trung Quốc đã chính thức gia nhập WTO. Đến nay, với Trung Quốc, bàn về cái lợi cái hại, thời cơ và thách thức của việc gia nhập WTO không còn nhiều ý nghĩa nữa. Nhưng đối với quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam thì việc xem xét Trung Quốc đã làm gì để giành cái lợi, tránh cái hại, đón bắt thời cơ, vượt qua thách thức, thúc đẩy kinh tế phát triển lại có ý nghĩa tham khảo to lớn. Một số kinh nghiệm có thể rút ra từ thực tiễn gia nhập WTO của Trung Quốc, đó là: - Về cải cách và hoàn thiện luật pháp, Trung Quốc coi việc cải cách và hoàn thiện luật pháp là nội dung XNK trọng nhất trong toàn bộ tiến trình gia nhập WTO. Tiếp đó là định ra được một lộ trình cải cách và hoàn thiện thích hợp vừa có thể đáp ứng yêu cầu của WTO vừa có thể bảo vệ quyền lợi và lợi ích chính đáng của cả đất nước, cũng như của doanh nghiệp nội địa. Do những quy tắc của WTO được xây dựng trên cơ sở các nguyên tắc của kinh tế thị trường, nên việc cải cách và hoàn thiện hệ thống pháp luật cho phù hợp với WTO cũng chính là đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế thị trường. 16 - 17 Muốn đẩy nhanh tiến độ lập pháp và nâng cao chất lượng lập pháp, kinh nghiệm Trung Quốc cho thấy cần phải thực hiện chế độ ủy thác pháp luật, tức là ngoài việc trao quyền cho các bộ ngành hữu quan, nên giao cho những tổ chức và cá nhân (nếu có thể) am hiểu và có trình độ pháp luật cao cùng soạn thảo. Trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật thì việc thanh lọc, sửa đổi, bổ sung các văn bản về hành chính là phức tạp nhất. Kinh nghiệm của Trung Quốc trong xử lý vấn đề này là đưa ra một số nguyên tắc như “ban ngành nào ban hành thì ban ngành đó giải quyết” nhưng dưới sự điều phối của một cơ quan chức năng. - Về cải cách chính sách kinh tế vĩ mô, bài học quan trọng lớn nhất của Trung Quốc trong tiến trình gia nhập WTO chính là chủ động cải cách chính sách kinh tế vĩ mô gắn liền với cải cách thể chế. Bởi vì, theo Trung Quốc, mức độ sẵn sàng gia nhập WTO phụ thuộc rất lớn vào sự vững mạnh của thể chế kinh tế vĩ mô và “sự chuyển đổi chức năng của Chính phủ”. Nếu Chính phủ không có những động thái tích cực để thích ứng với thể chế thị trường, vẫn duy trì tư duy, cách làm và công cụ cũ thì khó có thể chủ động đối phó với quá trình tự do hoá và hội nhập kinh tế, thậm chí còn trở thành lực cản cho tiến trình này. - Về biện pháp hạn chế những tác động tiêu cực tới các ngành kinh tế chủ chốt, Trung Quốc một mặt đẩy mạnh công cuộc cải cách cơ cấu nền kinh tế, đặc biệt là cải cách hệ thống tài chính - tiền tệ. Mặt khác, Trung Quốc cũng luôn cố gắng tận dụng những điều khoản tự vệ của WTO để bảo hộ một cách hợp lý những ngành trọng yếu của nền kinh tế. Những ngành nhạy cảm như tài chính, ngân hàng… được Trung Quốc tự do hoá một cách tuần tự, với những bước đi thích hợp, phù hợp với điều kiện cụ thể trong nước cũng như với nguyên tắc cơ bản của WTO. - Về biện pháp hạn chế những tác động tiêu cực tới các vấn đề xã hội, kinh nghiệm Trung Quốc cho thấy, nguồn gốc trực tiếp tác động tiêu cực đến các vấn đề xã hội khi Trung Quốc gia nhập WTO là sự khác biệt trong cơ cấu việc làm và trình độ nguồn nhân lực. Việc tự do hoá di cư lao động và đầu tư mạnh mẽ cho giáo dục tại khu vực nông thôn là giải pháp cơ bản đang được áp 17 - 18 dụng để hạn chế tác động tiêu cực tới xã hội, do việc Trung Quốc gia nhập WTO. Tóm lại: Việc gia nhập WTO của Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả khả quan. Tuy nhiên, quá trình này vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra cần phải giải quyết. Để giải quyết những vấn đề còn tồn tại đó, đòi hỏi Chính phủ phải có hệ thống giải pháp đồng bộ trên nhiều khía cạnh. Trung Quốc đã gia nhập WTO và đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Những kinh nghiệm của Trung Quốc trong thực hiện gia nhập WTO là tài liệu tham khảo hữu ích cho Việt Nam trong tiến trình gia nhập WTO. 1.8.2/ Kinh nghiệm của Thái Lan Thái Lan là một trong năm nước sáng lập ra ASEAN (8/1967) đã duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong suốt hơn hai thập kỷ vừa qua. Những nguyên nhân dẫn đến sự thành công của Thái Lan phải nói đến trước hết: họ đã khôn khéo thực hiện một đường lối ngoại giao ôn hòa nhằm bảo vệ chủ quyền dân tộc và chủ trương chuyển hướng chiến lược phát triển kinh tế từ thay thế nhập khẩu sang hướng vào xuất khẩu, chủ động mở cửa để hội nhập với nền kinh tế thế giới. Trước năm 1960, Thái Lan là một nước nông nghiệp lạc hậu. Sau 1960, chính phủ chú trọng đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, khuyến khích đầu tư tư nhân. Thời kỳ này, Thái Lan theo đuổi chính sách công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu nên họ đã áp dụng chế độ thuế XNK có khả năng bảo hộ cho sự phát triển của các ngành công nghiệp trong nước. Hai cuộc khủng hoảng dầu lửa và khủng hoảng nợ diễn ra đã làm lộ rõ những hạn chế của chính sách phát triển kinh tế theo hướng thay thế nhập khẩu. Một sự chuyển hướng chiến lược từ thay thế nhập khẩu sang hướng về xuất khẩu mà nội dung cơ bản của nó là tích cực thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, ưu tiên đặc biệt cho sự phát triển các ngành công nghiệp xuất khẩu, lấy ngoại thương làm động lực phát triển cho toàn bộ nền kinh tế... đã giúp Thái Lan đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. 18 - 19 Khoảng từ giữa thập kỷ 90 trở lại đây, nền kinh tế thế giới đã có những biến đổi sâu sắc, một số sản phẩm chứa hàm lượng lao động của Thái Lan đã mất dần khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới. Phần lớn trong số đó (như các sản phẩm dệt, may, giày dép, thực phẩm, đóng hộp...) là những sản phẩm xuất khẩu truyền thống của Thái Lan. Để khắc phục thực trạng đó, trong quá trình hội nhập với nền kinh tế thế giới hiện nay, chính phủ Thái Lan đã đưa ra chương trình nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu nhằm tiếp tục duy trì và phát triển những lợi thế so sánh của mình. Chương trình đó gồm hai nội dung chính: Một là, thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu công nghiệp từ sử dụng hàm lượng lao động cao sang sử dụng hàm lượng công nghệ cao. Hai là, khuyến khích sự phát triển và áp dụng công nghệ hiện đại nhằm làm tăng phần giá trị gia tăng trong các ngành công nghiệp sử dụng hàm lượng lao động cao. Những nét nổi bật trong sự phát triển kinh tế của Thái Lan thời gian vừa qua bao gồm: - Thứ nhất, Thái Lan luôn duy trì được một tỉ lệ tăng trưởng GDP thực tế khoảng 9% suốt thời kỳ 1984 – 1994. - Thứ hai, Thái Lan đã thiết lập được những mối quan hệ kinh tế với nhiều nền kinh tế của các nước trong khu vực và thế giới. - Thứ ba, để đẩy nhanh quá trình hội nhập, Thái Lan đã sớm trở thành thành viên của các tổ chức quốc tế như IMF, WTO.... Chính vì vậy, Thái Lan đã nhận được sự hỗ trợ của IMF để vượt qua khủng hoảng tài chính – tiền tệ Châu Á. Đồng thời là thành viên của WTO, Thái Lan có nghĩa vụ phải thúc đẩy nhanh quá trình tự do hóa thương mại, nghĩa vụ này đồng thời là một nội dung quan trọng trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Thái Lan. Bên cạnh những thành công nêu trên , quá trình hội nhập kinh tế cũng đưa thái Lan tới những thách thức mới, Nền kinh tế Thái Lan ngày càng phụ thuộc vào nền kinh tế thế giới, nhất là sự phụ thuộc vào nguồn cung cấp nguyên liệu đầu vào cho các ngành công nghiệp xuất khẩu. Do đó, Thái Lan khó tránh được hậu quả mỗi khi có những biến động lớn của thị trường các yếu tố đầu vào cho công nghiệp. 19
- Xem thêm -