Tài liệu An toàn và bảo mật thông tin trên linux hệ thống bảo mật và phát hiện xâm nhập mạng (nids)

  • Số trang: 77 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 82 |
  • Lượt tải: 0
pipingdesigner

Đã đăng 235 tài liệu

Mô tả:

1.Lời nói đầu: Linux đã tạo ra một sự bùng nổ trong lĩnh vực tin học và ngày càng trở nên phổ biến hiện nay. Rất nhiều các công ty, tổ chức trên thế giới chấp nhận Linux như là một platform cho sản phẩm của họ, cũng như nhiều công ty, ISPs sử dụng máy chủ Linux như là các Internet gateway. Vấn đề an toàn an ninh cho hệ thống Linux ngày càng trở nên quan trọng và bức thiết hơn. Tài liệu này sẽ có một cái nhìn tổng quát về an toàn hệ thống và những hướng dẫn giúp tăng cường mức độ an toàn cho hệ thống Linux. Kể từ khi Linux được phát triển một cách rộng rãi và nhanh chóng, đặc biệt là trong các giao dịch kinh doanh quan trọng, an ninh là một vấn đề quyết định sự sống còn của Linux. Với hàng trăm công cụ bảo vệ sẵn có, người dùng Linux được trang bị tốt hơn để ngăn chặn và duy trì một hệ thống an toàn. Linux không những hoạt động tốt mà cũn cú những tính năng và sản phẩm liên quan cho phép xây dựng một môi trường tương đối an toàn. 1.1 Những nguy cơ an ninh trên linux Linux và các ứng dụng trờn nó có thể không ít các lỗ hổng an ninh hơn những hệ điều hành khác. Theo quan điểm của một số chuyên gia máy tính, Linux có tính an toàn cao hơn các hệ điều hành của Microsoft, vỡ cỏc sản phẩm của Microsoft không được xem xét kỹ lưỡng và chặt chẽ bằng các sản phẩm mã nguồn mở như Linux. Hơn nữa, Linux dường như là "miễn nhiễm" với virus máy tính (hiện tại đó cú xuất hiện một vài loại virus hoạt động trên môi trường Linux nhưng không ảnh hưởng gì mấy đến người dùng Linux). Nhưng một hệ thống Linux được cấu hình không tốt sẽ tệ hơn nhiều so với một hệ thống Microsoft được cấu hình tốt !!! Khi có được một chính sách an ninh tốt và hệ thống được cấu hình theo đúng chính sách đú thỡ sẽ giúp bạn tạo được một hệ thống an toàn (ở mức mà chính sách của bạn đưa ra). Nhưng sự an toàn không phải là thứ có thể đạt được như một mục tiêu cuối cùng. Đúng hơn đó là tập hợp của những cách cài đặt, vận hành và bảo trì một hệ điều hành, mạng máy tính, ... Nó phụ thuộc vào các hoạt động hàng ngày của hệ thống, người dùng và người quản trị. Bạn phải bắt đầu từ một nền tảng ban đầu và từ đó cải thiện tính an toàn của hệ thống của bạn nhiều nhất có thể được mà vẫn đảm bảo các hoạt động bình thường của hệ thống. 1.2 Xem xét chính sách an ninh Kết nối vào Inernet là nguy hiểm cho hệ thống mạng của bạn với mức an toàn thấp. Từ những vấn đề trong các dịch vụ TCP/IP truyền thống, tính phức tạp của việc cấu hình máy chủ, các lỗ hổng an ninh bên trong quá trình phát triển phần mềm và nhiều nhân tố khác góp phần làm cho những hệ thống máy chủ không được chuẩn bị chu đáo có thể bị xâm nhập và luôn tồn tại những nguy cơ tiềm tàng về vấn đề an toàn trong đó. Mục đích của một chính sách an toàn hệ thống là quyết định một tổ chức sẽ phải làm như thế nào để bảo vệ chính nó. Để có được một chính sách an ninh hiệu quả, người xây dựng các chính sách này phải hiểu và có thể kết hợp tất cả các thông tin, yêu cầu, ...Khi một tình huống xảy ra nằm ngoài dự kiến, chẳng hạn một sự xâm nhập trái phép vào hệ thống của bạn, câu hỏi lớn nhất là "sẽ phải làm gì đây ?" Những sai sót trong chính sách an ninh không chỉ liên quan đến những kẻ xâm nhập, mà còn liên quan đến những vấn đề bình thường như thời tiết, thiên tai, cháy, nổ, hư hỏng thiết bị,... Do vậy, việc thiết lập một chính sách an ninh tốt cho việc giải quyết những sự cố phải được lên kế hoạch kỹ lưỡng, được xem xét và chứng nhận bởi người có quyền hạn trong công ty. Một chính sách an ninh tốt nên bao gồm các vấn đề sau : o Chính sách phục hồi dữ liệu khi có sự cố o o o o o Chính sách phục hồi hệ thống trong trường hợp hư hỏng thiết bị Chính sách, cách thức điều tra những kẻ xâm nhập trái phép Chính sách, cách thức điều tra khi công ty bị cáo buộc xâm nhập vào các hệ thống khác Cách thức, quy trình và nơi thông báo sự xâm nhập trái phép từ bên ngoài hay gây ra bởi các nhân viên của mình. Chính sách an ninh về mặt vật lý của hệ thống Chính sách bảo mật: Một điều quan trọng cần phải chỉ ra là bạn không thể thực hiện việc an toàn và bảo mật hệ thống nếu bạn chưa xác định được là cần phải bảo vệ những gì, và cho ai. Do vậy bạn cần phải có một chính sách bảo mật - đó là danh sách những gì mà bạn cho phép quan tâm đến và cũng như những gì mà bạn không cho phép quan tâm đến và dựa trên cơ sở đó bạn có thể có bất kỳ quyết định nào về việc bảo mật một cách chính xác. Chính sách cũng nên xác định rõ việc đáp lại của bạn các đối với vi phạm về việc bảo mật và an toàn. Bạn cũng nên để ý rằng những gì được đề ra khi xây dựng một chính sách bảo mật sẽ phụ thuộc vào việc bạn đưa ra các định nghĩa về bảo mật. Sau đây là các câu hỏi sẽ cung cấp một số các chỉ dẫn tổng thể liên quan: - Làm thế nào bạn phân biệt được các thông tin là nhạy cảm và bí mật? - Hệ thống cú nờn chứa đựng các thông tin nhạy cảm và bí mật không? - Chính xác là bạn cần phải đề phòng ai? - Những người sử dụng từ xa có thật sự cần thiết truy cập tới hệ thống của bạn không? - Mật khẩu và giải pháp mã hóa đã đủ bảo vệ hệ thống chưa? - Bạn có cần phải truy cập Internet không? - Bạn muốn cho phép hệ thống của bạn có thể được truy cập từ Internet bao nhiêu lần? - Bạn sẽ làm gì khi phát hiện ra một sự vi phạm trong việc bảo mật của bạn? 2 Giới thiệu chung: 2.1 Ai đang phá hoại hệ thống: Có hai từ để chỉ kẻ xâm nhập hacker và cracker. Một hacker là chỉ người thích vào một hệ thống nào đó. Một hacker tốt bụng (benign hacker) là người thích tự xâm nhập vào máy của mình để hiểu rõ những gì đang diễn ra bên trong và nó đang hoạt động như thế nào. Một hacker hiểm độc (malicious hacker) là người thích vào hệ thống của người khác. Benign hacker muốn ngăn chặn tất cả các cuộc phá hoại của các hacker và từ đó ra đời khái niệm cracker. Thật không may, đã không giống như người ta mong muốn, và trong tất cả các trường hợp người ta đều dùng một từ để chỉ đó là kẻ xâm nhập „intruder‟. Kẻ xâm nhập có thể chia làm 2 loại: Từ bên trong và bên ngoài. Từ bên ngoài: outsiders: Xâm nhập từ bên ngoài mạng, tấn công webserver, chuyển thư spam qua mailserver, … chúng cũng có thể tấn công fire wall để tấn công những máy bên trong mạng. Kẻ xâm nhập từ bên ngoài có thể đến từ internet, đường dial-up, physical breakins, hoặc từ một đối tác (vender, customer, reseller,…) Từ bên trong „insiders‟ Kẻ xâm nhập có một tài khoản hợp pháp trong hệ thống mạng và muốn tăng quyền ưu tiên của mình để phục vụ những mục đích khác nhau. 2.2 Những kẻ xâm nhập vào hệ thống của ta như thế nào -Physical Intrusion: Nếu kẻ xâm nhập có được kết nối vật lý đến hệ thống ( họ có thể sử dụng bàn phím hay là một phần nào đó của hệ thống) và họ có thể vào trong hệ thống. - System Intrusion Kiểu tấn công này xảy ra khi kẻ đột nhập đó cú một tài khoản trên hệ thống, nếu hệ thống không có những chỗ vá bảo mật mới nhất. - Remote Intrusion hacker sẽ xâm nhập vào hệ thống thông qua mạng. Kẻ xâm nhập không cần một đặc quyền nào. Có rất nhiều cách tấn công kiểu này. Kẻ xâm nhập sẽ khó khăn hơn rất nhiều khi có một firewall. Chú ý là hệ thống phát hiện xâm nhập mạng có liên quan rất chặt với xâm nhập từ xa. 2.3 Tại sao kẻ xâm nhập có thể vào được hệ thống của chúng ta Phần mềm luôn có lỗi. Những người quản trị hệ thống và các lập trình viên theo dõi và nắm được tất cả các lỗi có thể có. Còn những kẻ xâm nhập chỉ cần tìm một lỗi để có thể xâm nhập vào hệ thống. 2.3.1 Những lỗi phần mềm Tràn bộ đệm Hầu như tất cả các lỗ hổng bảo mật đều do lỗi này. Một ví dụ điển hình là các lập trình viên đều đặt 256 ký tự cho trường username login. Bình thường thỡ cỏc lập trình viên sẽ nghĩ không có ai chọn username quá như vậy cả. Nhưng các hacker sẽ nghĩ, chuyện gì xảy ra nếu tôi nhập vào quá giới hạn đó ? Những ký tự thêm vào sẽ đi đâu ? họ sẽ gửi 300 ký tự bao gồm cả mã thực thi trên server và thế là họ đã vào được. Hacker đó tỡm những lỗi như vậy bằng rất nhiều cách. Đầu tiên phải kể đến là mã nguồn cho rất nhiều dịch vụ đều cú trờn mạng. Hacker sẽ nghiên cứu những mã nguồn và tìm lỗi tràn bộ đệm. Thứ hai là hacker có thể xem chính những chương trình đó mặc dù đọc mã assembly là rất khó. Thứ ba là hacker có thể kiểm tra bằng rất nhiều dữ liệu ngẫu nhiên. Vấn đề này chủ yếu gặp khi những chương trình được viết bằng ngôn ngữ C/C++, rất hiếm trong những chương trình viết bằng Java. Unexpected combinations Chương trình thường được xây dựng dựa trên rất nhiều lớp mã, và hệ điều hành có thể coi là lớp dưới cùng. Kẻ xâm nhập có thể vào các dữ liệu có thể không có ý nghĩa với lớp này nhưng mà lại có ý nghĩa với lớp khác. Ngôn ngữ nổi tiếng về xử lý dữ liệu vào của người dùng là PERL. Chương trình viết bằng PERL thường gửi dữ liệu vào này đến các chương trình xa hơn. Một cách hacker thường gặp là vào dữ liệu giống như : “| mail < /etc/passwd” Mã này sẽ thực thi bởi vì PERL sẽ hỏi hệ điều hành chạy chương trình thêm vào cùng với các dữ liệu đó. Tuy nhiên hệ điều hành đã chạy chương trình mail và password file đã được gửi cho kẻ xâm nhập. Unhandled input Hầu hết các chương trình được viết để vào dữ liệu bằng tay. Và các lập trình viên không tính đến chuyện gì xảy ra nếu nó không đúng là như vậy. Race conditions tất cả các hệ thống ngày nay đều xử lýđa nhiệm và đa luồng. Họ có thể chạy nhiều chương trình một lúc. Sẽ nguy hiểm nếu hai chương trình cùng truy nhập vào cùng một dữ liệu trong cùng một thời điểm. race condition xảy ra khi chương trình A đọc 1 file vào bộ nhớ, và thay đổi nó ở trong bộ nhớ. Tuy nhiên trước khi A ghi lại file thì chương trình B đã thực thi xong quá trình thay đổi file . Bây giờ thỡ chương trình A ghi lại file và tất cả các thay đổi của B sẽ bị mất. Vì vậy cần phải có thứ tự nối tiếp thích hợp, race condition cũng rất hiếm khi xảy ra. Kẻ xâm nhập thường phải thử hàng nghìn lần trước khi có thể vào được hệ thống. 2.3.2 Cấu hình hệ thống : những cấu hình ngầm định: Hầu hết các hệ thống đều được gửi đến cho khách hàng với cấu hình ngầm định, một cấu hình dễ sử dụng. Thật không may, dễ sử dụng đồng nghĩa với dễ xâm nhập. Lazy administrators Có một con số đáng kinh ngạc những máy hoặc hệ thống mà không có mật khẩu cho root hay administrator. Đó là điều đầu tiên mà kẻ xâm nhập sẽ thử khai thác. Hole creation Hầu như tất cả các chương trình đều được cấu hình để chạy ở chế độ không bảo mật. Đôi khi người quản trị vô tình tạo lỗ hổng cho hệ thống của mình. Người quản trị nên tắt tất cả mọi dịch vụ mà không sử dụng tới, cấp các quyền cho các user vừa đủ cho các công việc của họ. Trust relationships Kẻ xâm nhập thường khai thác các liên kết tin tưởng trên mạng. 2.3.3 Password cracking Really weak passwords khi pass quá đơn giản để đoán ra khi mà người đú có quan hệ với bạn. Ví dụ đa số người dùng lấy mật khẩu là tên của mình, tên vợ, tên người yêu, hay số nhà, số điện thoại, … tất cả đều thể hiện mật khẩu của bạn quá "yếu". Dictionary attacks tấn công dựa vào các từ có trong từ điển. Hacker có thể thử lần lượt các từ có trong từ điển và cỏc hoán đổi cho đến khi đúng password. Brute force attacks tương tự kiểu tấn công sử dụng từ điển. Nó sử dụng tất cả các khả năng kết hợp của các ký tự. 3 Giải pháp an ninh: 3.1 Mật khẩu : 3.1.1Bảo mật BIOS - Đặt mật khẩu khởi động: Có một lời khuyên rằng bạn nên vô hiệu hóa việc khởi động (booting) từ ổ đĩa mềm đồng thời đặt các mật khẩu (password) trờn cỏc đặc tính của BIOS. Bạn có thể xem xét tài liệu hướng dẫn về BIOS của bạn hay xem nó khởi động ở lần kế tiếp như thế nào. Việc vô hiệu hóa khả năng khởi động từ các ổ đĩa mềm và có cài đặt một mật khẩu để truy cập tính năng BIOS sẽ cải tiến tính an toàn bảo mật hệ thống của bạn. Điều này sẽ làm cho một số người không mong đợi cố gắng thay đổi tính năng BIOS để cho phép khởi động từ ổ đĩa mềm hay khởi động từ máy server luôn bị nhắc nhở mật khẩu. 3.1.2Chọn một mật khẩu (password) đúng: Điểm bắt đầu cho một chuyến tham quan về Linux General Security là mật khẩu. Nhiều người lưu giữ các thông tin và các tập tin đáng giá của họ trên một máy tính, và chỉ có một việc là ngăn chặn những người khác khi muốn xem các thông tin hay tập tin đú thỡ yêu cầu gõ vào một chuỗi dài tám ký tự hoặc nhiều hơn thường được gọi là một mật khẩu. Không như mọi người đã nghĩ, không thể có một mật khẩu nào không giải được. Với thời gian và công sức, tất cả mật khẩu đều có thể được đoán ra, kể cả việc dựng cỏc mưu mẹo trong cuộc sống hay áp lực. Dùng những mưu mẹo trong cuộc sống để có được các mật khẩu và các phương pháp truy cập khác vẫn là cách phổ biến nhất và dễ nhất để giành được quyền truy cập tới các tài khoản và cỏc mỏy server. Chạy một chương trình bẻ khóa mật khẩu mỗi tuần một lần dựa trên hệ thống của bạn là một ý tưởng hay. Việc này giúp bạn tìm và thay thế các mật khẩu mà nó dễ dàng được đoán ra hay có hiệu lực kém. Cũng thế, một cơ chế kiểm tra mật khẩu là nờn cú để loại bỏ những mật khẩu kém hiệu lực khi lần đầu tiên chọn một mật khẩu hay thay đổi một mật khẩu cũ. Chúng ta không nên chấp nhận một mật khẩu mới với chuỗi ký tự là các từ dễ hiểu, hoặc là tất cả các ký tự đều có định dạng in hay thường giống nhau, hoặc không chứa đựng các số hay các ký tự đặc biệt. Chúng ta nên tuân theo các nguyên tắc sau để tạo mật khẩu một cách hiệu quả: - Có chiều dài ít nhất là sáu ký tự, được ưa chuộng nhất là tám ký tự trong đó có ít nhất một ký tự số hay ký tự đặc biệt. - Chúng phải không tầm thường, một mật khẩu tầm thường là một mật khẩu dễ dàng đoán ra và nó thường dựa trên tên, họ, nghề nghiệp hoặc một số đặc biệt cá nhân khác của người sử dụng. - Chúng nên có hiệu lực trong một giai đoạn, yêu cầu thay đổi mật khẩu mới sau một thời gian đã định. - Chúng nên được hủy bỏ hay tạo lại sau khi có một số lần thử không thành công. Chiều dài mật khẩu: Chiều dài của mật khẩu tối thiểu có thể chấp nhận đựoc mặc định khi bạn cài đặt hệ thống Linux là 6. Điều này nói lên rằng khi một người sử dụng mới thì được phép truy cập trờn mỏy server, chiều dài mật khẩu của người sử dụng đó sẽ có tối thiểu là 6 ký tự và nó bao gồm các ký tự, ký số, ký tự đặc biệt v.v... Như thế vẫn chưa đủ mà nó phải là 8. Để ngăn chặn những người có tư tưởng không chú trọng đến bảo mật và bắt buộc họ phải dựng chiờu dài password tối thiểu 8 ký tự, người quản trị hệ thống cũng có thể hiệu chỉnh tập tin quan trọng "/etc/login.defs" và thay đổi dòng sau trở thành: PASS_MIN_LEN 6 trở thành PASS_MIN_LEN 8 "login.defs" là tập tin cấu hình cho chương trình login. Bạn nên xem xét lại hay thay đổi nội dung tập tin này cho phù hợp với hệ thống riêng biệt của bạn. Đây là nơi mà bạn đặt các cài đặt chính sách bảo mật khác (giống như sự mặc định hết hạn của mật khẩu hay chiều dài tối thiểu mật khẩu có thể chấp nhận). 3.1.3 Default password Các nhà sản xuất hay các sản phẩm đều luôn có những mật khẩu ngầm định lúc đầu, nếu người quản trị chưa thay đổi chúng thì sẽ là kẽ hở để các hacker có thể thử đầu tiên. Chúng thường là:root root, root system, sys sys, sys system, daemon daemon, uucp uucp, tty tty, test test, unix unix, unix test, bin bin, adm adm, adm admin, admin adm, admin admin, sysman sysman, sysman sys, sysman system, sysadmin sysadmin, sysadmin sys, sysadmin system, sysadmin admin, sysadmin adm, who who, learn learn, uuhost uuhost, guest guest, host host, nuucp nuucp, rje rje, games games, games player, sysop sysop, root sysop, demo demo, … 3.1.4 Tăng tính an toàn của mật khẩu và mó hoỏ: Mật khẩu trên hệ thống *nix được lưu trong file /etc/passwd, một file chứa cỏc tờn người sử dụng, UIDs, GIDs, và các mật khẩu được mó hoỏ cho người sử dụng trên hệ thống. Ngoài ra, file này còn lưu các thông tin khác, như tên đầy đủ của người sử dụng, đường dẫn thư mục, hay hệ thống shell. Bất kỳ ai truy cập hệ thống cũng có thể hiển thị nội dung của file /etc/passwd. Điều này tạo ra khả năng phá hoại với các user và những kẻ tấn công có thể tạo ra các lỗ hổng bảo mật để nhận được một bản sao của file mật khẩu này. Các hệ thống *.nix thường sử dụng thuật toán mó hoỏ (như thuật toán DES) để tạo ra các bảng băm mật khẩu. DES sử dụng thuật toán mó hoỏ 56 bit. Với thuật toán này, DES đã được sử dụng như thuật toán mó hoỏ phổ biến trước đây. Tuy nhiên, theo thời gian, khi phần cứng phát triển và giá thành thiết bị rẻ đi, thuật toán này đã trở nên dễ dàng giải mã và tạo lại mã. Vì vậy, với các hệ thống tốc độ nhanh sẽ việc crack các mật khẩu không phải quỏ khú.Vớ dụ: l0phtCrack có thể sử dụng để crack các mật khẩu của Windows, chương trình crack của Alec Mufet có thể sử dụng để crack mật khẩu hệ thống *.nix. Việc phỏ mó đó được phát triển theo thời gian, được viết từ năm 1991 và hiện tại nó đó được phát triển đến phiên bản 5.0a. Việc phỏ mó có thể được cấu hình để tương thích với bất kỳ môi trường nào; các file cấu hình có thể được sửa đổi hỗ trợ cho các định dạng file mật khẩu khác nhau, loại thuật toán mó hoỏ khác nhau, ... Việc phỏ mó sử dụng danh sách từ điển như nền tảng cho việc phỏ mó; cỏc file từ điển này cũng có thể được cấu hình lại một cách dễ dàng. Nói chung, để liệt kê danh sách cấu trúc thư mục cho việc thử chương trình, bạn cũng có thể cấu hình tập từ điển hay các luật tạo mã như một phần trong việc phỏ mó. Cỏc luật này có thể bao gồm các phương thức như gắn trước hay sau các ký tự vào các từ chuẩn, gấp đôi hay đảo ngược các từ, thay đổi các ký tự từ thường sang hoa ..., hay thay thế một từ này bằng một từ khác. Vậy làm cách nào để bảo vệ các mật khẩu trên hệ thống *.nix trong khi file /etc/passwd là file có thể đọc và sự phát triển ồ ạt của các công cụ crack mật khẩu. Một vài phương thức cải thiện mật khẩu đã được thực hiện cho phương thức an toàn mật khẩu trong hệ thống *.nix. Đầu tiên được giới thiệu là loại mật khẩu bóng (shadow password). Việc chứa các bảng băm mật khẩu trong file đọc được /etc/passwd không an toàn, vì vậy các bảng băm này được đưa vào trong một file riêng rẽ, file /etc/shadow. File này chỉ có thể đọc bởi quyền root và vì vậy có khả năng bảo mật tốt hơn. Hai file này được sử dụng cùng nhau để cung cấp việc chứng thực cho user. Các file mật khẩu búng đó trở nên thông dụng và được sử dụng mặc định cho rất nhiều hệ thống *.nix như Sun Solaris. Tuy nhiên, chúng không phải là mặc định của toàn bộ các hệ thống. Chẳng hạn với Red Hat Linux, việc sử dụng mật khẩu bóng được lựa chọn trong các bước cài đặt hệ thống. Các mật khẩu búng nờn được sử dụng ở bất cứ đâu trong hệ thống. Thứ hai, một số phiên bản của *.nix hiện tại cung cấp thuật toán mó hoỏ tốt hơn, (có thể sử dụng tuỳ chọn trong mó hoỏ), sử dụng thuật toán bảng băm MD5 thay thế cho DES. Passwd là lệnh mặc định sử dụng cho việc thay đổi mật khẩu trờn cỏc hệ thống *.nix. Lệnh này cũng hỗ trợ việc kiểm tra tính an toàn tối thiếu đối với các mật khẩu của người sử dụng nhưng không hỗ trợ tính năng đòi hỏi người sử dụng thay đổi mật khẩu của họ sau một khoảng thời gian. Ví dụ lệnh passwd trong Sun Solaris hỗ trợ tính năng trên, và cũng tạo ra các kiểm tra sau:     Độ dài tối thiểu, mà nhà quản trị có thể chỉ định (mặc định là 6 ký tự). Chú ý rằng bất chấp độ dài mật khẩu, chỉ có 8 ký tự đầu được xem cho mục đích chứng thực. Phải chứa ít nhất 2 ký tự (hoa hoặc thường) và một số hay biểu tượng. Không thể là tên, đảo ngược tên truy cập hệ thống, hay bất cứ việc dịch chuyển ký tự từ tên truy cập hệ thống. Các mật khẩu mới phải có ít nhất 3 ký tự khác so với mật khẩu cũ. npasswd, được viết bởi Clyde Hoover, thực hiện các kiểm tra sau:      Kiểm tra từ vựng (độ dài tối thiểu); không cho phép các ký tự lặp lại hay các mẫu mật khẩu thông thường như các con số thường gặp; đòi hỏi mật khẩu là sự pha trộn giữa con số, ký tự, biểu tượng Kiểm tra file passwd (không cho phép lấy thông tin từ file passwd). Kiểm tra từ điển (không cho phép các mật khẩu được tạo từ các từ được tìm thấy trong các file từ điển cấu hình). Kiểm tra thời điểm (tuỳ chọn - không cho phép sử dụng các mật khẩu đã được sử dụng gần đây). Kiểm tra địa phương (tuỳ chọn - site cấu hình - các kiểm tra chỉ định; mặc định là không cho phép nhiều tên hostname trong file .rhosts). Anlpasswd của viện nghiên cứu quốc gia Argonne về chuyên ngành thuật toán và khoa học máy tính, là một chương trình viết bằng ngôn ngữ Perl. Sự cải thiện chính của nó là hỗ trợ cho môi trường NIS và kiểm tra các mật khẩu user chống lại danh sách từ điển với khoảng 13 tỷ từ khi được tạo bởi chương trình crack. Passwd+, được viết bởi Matt Bishop, là một chương trình rất phức tạp, mà giúp bạn cấu hình một số kiểm tra (dựa trên mô hình mẫu, xâu, số hay ký tự). Mỗi mật khẩu phải thoả mãn toàn bộ các kiểm tra này.Nếu lựa chọn thay thế passwd với các giá trị này (nhìn chung là một ý tưởng tốt) cần cần xem xét một số điểm. Đầu tiên, kiểm tra liệu các giá trị passwd của bạn có hỗ trợ sử dụng mật khẩu bóng; ngoài các file mật khẩu bóng, bạn phải dựa vào độ mạnh của thuật toán mó hoỏ và độ lớn của mật khẩu (ví dụ như loại bỏ các mật khẩu yếu) để bảo vệ bạn. Thứ hai, nếu bạn đang chạy NIS hay NIS++, đảm bảo rằng phần mềm hỗ trợ chỉ một môi trường; không phải toàn bộ. Các mật khẩu búng cú thuật toán mó hoỏ mạnh, và có bộ lọc mật khẩu tốt hơn, cung cấp tính năng bảo vệ tốt hơn bằng cách tạo ra độ khó hơn cho kẻ tấn công duy trì và crack mật khẩu của người sử dụng. 3.1.5 Các mối đe doạ khác và các giải pháp Các mật khẩu tại hệ thống hiện tại có thể được bảo mật tốt hơn, nhưng mối đe doạ vẫn tồn tại. Điều này đặc biệt đúng với trong các môi trường hệ thống *.nix, có rất nhiều mối đe doạ này dựa trên các chương trình TCP/IP và các giao thức mà không xây dựng các thuật toán mó hoỏ hay cơ chế bảo vệ khác. Ví dụ: telnet và các lệnh r* (rsh, rlogin,..) gửi các mật khẩu dưới dạng text. Việc bảo vệ các mật khẩu được mó hoỏ được chứa trên hệ thống sẽ không còn ý nghĩa nhiều khi bạn truyền các mật khẩu này dưới dạng text qua mạng. Các giao thức không bảo mật nên được đặt với các giao thức bảo mật thay thế. Sử dụng secure shell - ssh, mà các thông tin được mó hoỏ truyền tới đầu cuối, được thiết kế thay đổi telnet và rsh; secure copy (scp) có thể được sử dụng để thay thế ftp và rcp. OpenSSH là một sản phẩm miễn phí được phát triển như một phần trong toàn bộ dự án OpenBSD. Nó gồm có ssh, scp và các công cụ ssh. Các giá trị BSD (OpenBSD, FreeBSD, BSDi) và một số các phiên bản Linux (Debian, SuSE, RedHat, Mandrake). Hiện tại, OpenSSH có thể được sử dụng như phần thêm vào cho mỗi hệ thống *.nix. Các giải pháp khác Do sự đa dạng đối với mật khẩu của các hệ thống *.nix cả ngay trong hệ thống và khi truyền thông, một số phương pháp khỏc đó được thực hiện để làm tăng tính an toàn cho mật khẩu. Một trong những phương pháp thông dụng nhất là mô tả các mật khẩu sử dụng một lần và sau đó được hủy bỏ. Các hệ thống này có 2 thuận lợi sau:   Chúng hướng tới thực thi các truyền thông mật khẩu mang tính bảo mật, hầu hết sử dụng việc mó hoỏ trong khuôn dạng của một giao thức dạng challenge/response, vì vậy các mật khẩu không bao giờ được truyền trên mạng. Vì mật khẩu được sử dụng chỉ một lần, thậm chí nếu chúng bị lấy đi bởi kẻ tấn công, nó cũng không thể sử dụng lại. Các hệ thống mật khẩu sử dụng 1 lần (OTP - Once-Time Password) có thể được thực hiện bởi phần cứng - như là các thẻ smart card - hay trong phần mềm. Trong khi các giải pháp thương mại tồn tại, chúng ta hãy xét đến một số các chương trình dạng miễn phí. S/KEY, một trong những hệ thống dựa theo mô hình OTP, được viết bởi Bellcore (hiện tại viết bởi Telcordia) và được phát triển như một phần mềm mã nguồn mở. Bellcore gần đây đã bắt đầu phát triển phiên bản thương mại, nhưng phiên bản miễn phí vẫn được cung cấp. Khi S/KEY trở thành sản phẩm thương mại, phần mã nguồn mở của chương trình này vẫn được quan tâm và phát triển thành sản phẩm OPIE. Cả S/KEY và OPIE sử dụng một hệ thống challenge/response. Trong mỗi trường hợp, mật khẩu của người sử dụng được chứa, trong dạng mẫu được mó hoỏ, trờn hệ thống máy chủ. Mỗi hệ thống sử dụng bộ mã tạo mật khẩu chung dựa theo thông tin người sử dụng cung cấp lúc ban đầu và liên kết với một số tuần tự. Mật khẩu đầu tiên của người sử dụng được tạo bằng cách đặt thông tin của người sử dụng đó qua một thuật toán bảng băm (như thuật toán MD4 cho S/KEY, MD5 cho OPIE) với số N mật khẩu được tạo. N là số lần trong dãy bảng băm để người sử dụng có thể truy cập. Mật khẩu kế tiếp được tạo bằng cách giảm N đi 1 và đặt thông tin đó trong bảng băm số N-1, và tiếp tục như vậy. Với mục đich chứng thực, khi một người sử dụng đăng nhập vào hệ thống, anh ta sẽ gửi tên truy nhập của anh ta tới máy chủ. Máy chủ sẽ trả lời theo phương thức challenge, bao gồm tạo số tuần tự của người sử dụng. Sau khi người sử dụng gõ mật khẩu và gửi tới máy chủ, nếu mật khẩu trùng với mã mà máy chủ đã tạo trước đó một khoảng thời gian, người sử dụng đó được chấp nhận truy cập hệ thống. (Chú ý rằng, mật khẩu này chỉ có giá trị trong một khoảng thời gian nhất định. Và trong khoảng thời gian này, người sử dụng sẽ không thể đang nhập lại nếu hệ thống không được thiết lập lại hay khởi tạo lại). S/KEY và OPIE đã thực sự được thiết kế để bảo vệ các kẻ tấn công như replay attack, vì thông tin mật khẩu chỉ có giá trị cho mỗi phiên làm việc, nó không thể bị lây bởi một công cụ mạo danh hay sử dụng lại tại thời điểm khác. Tuy nhiên, một thông tin mó hoỏ yếu cũng có thể làm hệ thống như S/KEY hay OPIE có thể có lỗ hổng như một mật khẩu yếu. Vì vậy, ban đầu, chúng ta cần quay lại nơi mà chúng ta xuất phát: đú chớnh là sử dụng các mật khẩu có độ dài đủ lớn. 3.1.6 Các công cụ: An toàn của mật khẩu trờn cỏc hệ thống *.nix bao gồm 3 khía cạnh chính: Đầu tiên, bạn phải tạo các mật khẩu và các bảng băm với độ khó cho các kẻ tấn công khó có thể phỏ mó được. Bạn có thể thực hiện điều này sử dụng các file mật khẩu, như hạn chế quyền truy cập hơn là thay đổi file chuẩn /etc/passwd file. Thứ hai, bạn phải mó hoỏ mật khẩu khi truyền tin. Thay thế các giao thức sử dụng việc chứng thực dạng text với các dạng chứng thực được mó hoỏ. Thứ ba, đảm bảo rằng thuật toán mó hoỏ, bản thân nó là an toàn. Không có phương thức mó hoỏ nào là hoàn hảo; Để sử dụng thuật toán mó hoỏ mạnh nhưng nơi có thể (MD5 hay MD4 hay thủ tục mó hoỏ crypt). Thậm chí khi bạn sử dụng thuật toán mó hoỏ, cỏc mật khẩu mạnh vẫn là phương thức tốt nhất bảo vệ việc phỏ mó hay đoán mật khẩu. Cuối cùng, việc kiểm tra các mật khẩu của bạn (ví dụ: với quyền truy cập) là một trong những cách tốt nhất để nâng cao độ an toàn cho hệ thống của bạn. Các công cụ như Crack rất hữu ích không chỉ cho những kẻ tấn công mà còn cho cả những người quản trị an toàn hệ thống. Toàn bộ các công cụ được liệt kê trong bảng sau: Công cụ kiểm tra Phiên bản hiện tại Có sẵn tại Môi trường chạy Crack 5.0a Trung tâm nghiên cứu giáo dục thuộc trường đại học Purdue (CERIAS) *nix; Solaris, Linux, FreeBSD, NetBSD, OSF, and Ultrix anlpasswd 2.3 Có rất nhiều Website cung cấp, gồm cả server FTP của CERIAS *nix Thuộc trường đại học Texas tại Austin và tại một số website khác BSDI, FreeBSD, NetBSD, SunOS, UNIX, and Ultrix Trường đại học Dartmouth và một số website khác. Địa chỉ download: *nix npasswd passwd+ 5.0a ftp://ftp.dartmouth.edu/pub/security/ S/KEY OPIE Bellcore FTP site FTP của site Bellcore, theo địa chỉ: 1.1 (phẩn ftp://thumper.bellcore.com/pub/nmh/ mềm miễn phí) 2.32 The Inner Net (http://www.inner.net/opie) AIX, BSDI, DG-UX, Digital UNIX/Alpha, FreeBSD, HPUX, IRIX, Linux, NetBSD, OpenBSD, SCO, Solaris, SunOS, and Ultrix *nix 3.2 Cấu hình hệ thống 3.2.1 Tài khoản root: Tài khoản root là được gán quyền nhiều nhất trên một hệ thống Unix. Taì khoản "root" không có một hạn chế bảo mật nào. Điều này có nghĩa là hệ thống cho rằng bạn biết những gì bạn đang làm, và sẽ thực hiện chính xác những gì bạn yêu cầu - không có câu hỏi nào được đặt ra về những điều đú. Chớnh vì vậy, nó rất rễ dàng với một câu lệnh nhập sai có thể sẽ xóa sạch tất cả các tập tin hệ thống. Vì vậy khi sử dụng tài khoản này bạn phải tuyệt đối cẩn thận tránh những lỗi lầm đáng tiếc. Để phục vụ cho các lý do bảo mật không cần phải log-in vào máy server của bạn như là "root". Hơn nữa, nếu bạn không có làm việc trờn mỏy server của bạn, thì đừng nên vào và ra khỏi hệ thống như là "root"điều này là rất dở. Đặt thời gian time-out login cho tài khoản root: Mặc dù được lưu ý là không nên vào hệ thống với account là "root" và logout khi không làm việc trờn mỏy server, tuy nhiên vẫn có những người quản trị hệ thống vẫn còn lưu lại màn hình login như "root" hay quên ra khỏi hệ thống (logout) sau khi kết thúc công việc của họ hoặc rời khỏi các máy trạm không cùng với tài khoản nào. Để giải quyết vấn đề này ta tạo một bash shell tự động logout sau khi không được dùng trong một khoảng thời gian. Để thực hiện điều đó, bạn phải đặc biến đặc biệt của Linux được đặt tên là "TMOUT" tới thời gian tính bằng giây không có thao tác nào được nhập vào trước khi logout. Chỉnh sửa tập tin profile của bạn "vi /etc/profile" và thờm dũng sau vào một nơi nào đó bên dưới dòng chứa "HISTFILESIZE=" trong tập tin này: TMOUT=7200 Giá trị mà chúng ta nhập vào cho biến "TMOUT=" là được tính bằng giây và biểu thị 2 giờ (60*60=3600*2=7200 giây). Điều quan trọng là hãy ghi chú rằng nếu bạn quyết định đặt dũng trờn vào trong tập tin "/etc/profile", khi đó việc tự động logout sau 2 giờ nếu không có các hành động nào sẽ được áp dụng cho tất cả mọi người sử dụng trên hệ thống. Nếu bạn thích điều khiển việc tự động logout chỉ cho một user cụ thể nào đó bạn có thể đặt biến này trong tập tin riêng ".bashrc" của họ. Sau khi tham số này đã được đặt lại trên hệ thống, bạn phải logout và login lại lần nữa (như root) cho việc thay đổi có tác dụng. 3.2.2 Tập tin "/etc/exports" Nếu bạn đang xuất ra các hệ thống tập tin dùng dịch vụ NFS, thì bảo đảm cấu hình tập tin "/etc/exports" với hạn chế truy cập tối đa. Điều này có nghĩa là không dùng các ký tự đại diện (wild-cards), không cho phép root truy xuất ghi, và chỉ mount dưới dạng chỉ đọc khi có thể.Soạn thảo tập tin exports (vi /etc/exports) và thêm vào: Lấy một ví dụ: /dir/to/export host1.mydomain.com(ro,root_squash) /dir/to/export host2.mydomain.com(ro,root_squash) Trong đó "dir/to/export" là thư mục mà bạn muốn xuất ra (export), host#.mydomain.com là máy được phép login và thư mục, tùy chọn nghĩa là mount chỉ đọc và tùy chọn là không cho phép root truy xuất ghi trong thư mục này.Để việc thay đổi này có tác dụng bạn sẽ cần chạy lệnh sau trên máy trạm của bạn: [root@deep] # /usr/sbin/exportfs -a Ghi chú: Bạn nên nhớ rằng, mặc định có một dịch vụ NFS có sẵn trên hệ thống có thể có một rủi ro về bảo mật. 3.2.3 Vô hiệu hóa việc truy cập chương trình console Trong một môi trường an toàn nơi mà chúng ta chắc chắn rằng console được bảo mật bởi vì các mật khẩu cho BIOS và LILO đã được thiết lập và tất cả các công tắc nguồn và reset của hệ thống đã bị vô hiệu hóa, nó có thể có lợi để vô hiệu hóa hoàn toàn tất cả các console-equipvalent truy xuất tới các chương trình như tắt hẳn hệ thống (shutdown), khởi động lại hệ thống (reboot), và treo hệ thống (halt) cho những người sử dụng hợp lệ trờn mỏy server của bạn. Để làm việc này , chạy dòng lệnh sau: [root@deep /]# rm -f /etc/security/console.apps/ Trong đó (servicename> là tên của chương trình mà bạn muốn vô hiệu hóa truy cập console-equivalent. Tuy nhiên, trừ khi bạn dùng xdm, hãy cẩn thận không xóa tập tin xserver hoặc là không ai ngoài root có thể khởi động hệ thống xserver. (Nếu bạn luụn dựng xdm để khởi động xserver, root là người sử dụng duy nhất cần để khởi động X, trong trường hợp này, bạn thật sự muốn xóa tập tin xserver. Như ví dụ sau: [root@deep /]# rm -f /etc/security/console.apps/halt [root@deep /]# rm -f /etc/security/console.apps/poweroff [root@deep /]# rm -f /etc/security/console.apps/reboot [root@deep /]# rm -f /etc/security/console.apps/shutdown [root@deep /]# rm -f /etc/security/console.apps/xserver (nếu xóa bỏ,chỉ root là người có thể khởi động X). Việc này sẽ vô hiệu hóa console-equivalent truy cập tới các chương trình halt, poweroff, reboot và shutdown. Một lần nữa, chương trình xserver chỉ áp dụng khi mà bạn đã cài đặt giao diện Xwindow trên hệ thống của bạn. Ghi chú: Nếu cài đặt theo các bước của chương trình, thì giao diện Xwindow không được cài đặt trờn mỏy server và tất cả cỏc tõpj tin được mô tả sẽ không xuất hiện trong thư mục " / etc / security". do vậy đừng chú ý các bước trên. Vô hiệu hóa tất cả truy cập console Thư viện Linux-PAM được cài đặt mặc định trên hệ thống của bạn cho phép các người quản trị hệ thống chọn cách để các ứng dụng xác nhận những người sử dụng như thế nào, vi dụ như truy cập console. truy cập tập tin và chương trình. Để vô hiệu hóa tất cả các truy cập này cho những người sử dụng, bạn phải đánh dấu # vào đầu tất cả cỏc dũng cú tham chiếu tới pam_console.so trong thư mục "/etc/pam.d" (nghĩa là bạn chuyển cỏc dũng đú thành ghi chú (comment line). Đoạn script sau sẽ thực hiện mánh lới một cách tự động. Đăng nhập như "root", tạo tập tin script disabling.sh (gõ disabling.sh) và thờm cỏc dũng sau vào bên trong: # !/bin/sh cd /etc/pam.d for i in * ; do sed '/[^#].*pam_console.so/s/^/#/' < $i > foo $$ mv foo $i done Làm script này có thể thực thi với lệnh sau và thi hành nó: [root@deep [root@deep /]# chmod 700 disabling.sh /]# ./disabling.sh Việc này sẽ đánh dấu là dòng ghi chú (comment line) lên tất cả cỏc dũng tham chiếu đến "pam_console.so" trong tất cả các tập tin nằm trong thư mục /etc/pamd. Sau khi script được thi hành, có thể xóa nó khỏi hệ thống. 3.2.4 Tập tin "/etc/inetd.conf" Inetd cũng được gọi là "super server", sẽ nạp một chương trình mạng dựa trên một yêu cầu từ một hệ thống mạng. Tập tin "inetd.conf" báo cho inetd biết cổng (port) nào dùng để lắng nghe và server nào khởi động cho mỗi port. Việc đầu tiên cần xem xét là khi mà bạn đặt hệ thống Linux của bạn lên bất kỳ mạng nào thỡ cỏc dịch vụ (service) nào mà bạn cần đưa ra. Các dịch vụ mà bạn không cần đưa ra nên vô hiệu hóa và gỡ bỏ, như vậy bạn sẽ có rất ít điều lo ngại về nó, và những kẻ tấn công sẽ cú ớt cơ hội để tìm kiếm lỗ hổng trên hệ thống của bạn. Nhìn vào tập tin "/etc /inetd.conf" để xem những dịch vụ nào mà nó được cung cấp bởi chương trình inetd của bạn. Vô hiệu hóa những gì mà bạn không cần bằng cách thêm một dấu # ở ngay đầu dòng, và sau đó gửi đến tiến trình inetd của bạn một lệnh SIGHUP để cập nhập nó tới tập tin "inetd.conf" hiện hành. Bước 1. Thay đổi các quyền hạn trên tập tin này là 600. [root@deep /]# chmod 600 /etc/inetd.conf Bước 2. Bảo đảm rằng người sở hữu là root. [root@deep /]# stat /etc/inetd.conf File: "/etc/inetd.conf" Size: 2869 Filetype: Regular File Mode: (0600/-rw--------) Uid: ( 0/ root) Gid: ( 0/root) Device: 8,6 Inode: 18219 Links: 1 Access: Web Sep 22 16:24:16 1999(00000.00:10:44) Modify: Mon Sep 20 10:22:44 1999(00002.06:12:16) Change: Mon Sep 20 10:22:44 1999(00002.06:12:16) Bước 3.` Chỉnh sửa tập tin inetd.conf (vi /etc/inetd.conf) và vô hiệu hóa các dịch vụ như sau: ftp, telnet, shell, login, exec, talk, imap, pop-2, finger, auth, v.v.. trừ khi bạn có kế hoạch dựng nó. Nếu nó bị tắt thỡ nó sẽ bớt rủi ro. #ftp stream tcp nowait root /usr/sbin/tcpd in.ftpd -l -a #telnet stream tcp nowait root /usr/sbin/tcpd in.telnetd #shell stream tcp nowait root /usr/sbin/tcpd in.rshd #login stream tcp nowait root /usr/sbin/tcp in.rlogind #exec stream tcp nowait root /usr/sbin/tcpd in.rexecd #comsat dgram udp wait root /usr/sbin/tcpd in.comsat #talk dgram udp wait root /usr/sbin/tcpd in.talkd #ntalk dgram udp wait root /usr/sbin/tcpd in.ntalkd #dtalk stream tcp wait nobody /usr/sbin/tcpd in.dtalkd #finger stream tcp nowait root /usr/sbin/tcpd in.fingerd #cfinger stream tcp nowait root /usr/sbin/tcpd in.cfingerd #systat stream tcp nowait guest /usr/sbin/tcpd /bin/ps -auwwx #netstat stream tcp nowait guest /usr/sbin/tcpd /bin/netstat -f inet #auth stream tcp nowait nobody /usr/sbin/in.identd in.identd -| -e -o # End of inetd.conf Ghi chú: Đừng quên gửi tới tiến trình inetd một tín hiệu SIGHUP (killall -HUP inetd) sau khi thực hiện các thay đổi trên tập tin inetd.conf. Các dịch vụ kích hoạt trên một host được chọn phụ thuộc vào các chức năng mà bạn muốn host cung cấp. Các chức năng có thể hỗ trợ dịch vụ mạng được chọn, các dịch vụ khác được host trên máy tính này, hay việc phát triển và bảo trì của hệ điều hành và các ứng dụng. [root@deep /]# killall -HUP inetd Bước 4: Một biện pháp bảo mật nữa mà bạn có thể áp dụng để bảo mật tập tin "inetd.conf" là đặt nó không thay đổi, dùng lệnh chattr. Để đặt tập tin không thay đổi gì, thi hành lệnh sau: [root@deep /]# chattr +i /etc/inetd.conf Việc này sẽ ngăn chặn bất kỳ sự thay đổi (xảy ra bất ngờ hay trong các trường hợp khác) với tập tin "inetd.conf". Một tập tin với thuộc tính không thay đổi "i" sẽ làm cho tập tin không thể hiệu chỉnh, xóa hay đổi tên, không có mối liên kết nào có thể được tạo cho tập tin này và không dữ liệu nào có thể được ghi đến nó. Chỉ có một người có thể đặt hay xóa thuộc tính này là super-user root. Nếu bạn muốn hiệu chỉnh tập tin inetd.conf bạn sẽ cần phải gỡ bỏ cờ hiệu không được thay đổi : - Để gỡ cờ hiệu không được thay đổi, đơn giản thi hành lệnh sau: [root@deep /]# chattr -i /etc/inetd.conf 3.2.5 TCP_WARPPERS Mặc nhiên Red Hat Linux cho phép tất cả các yêu cầu dịch vụ. Dùng TCP_WARPPERS thực hiện bảo mật cỏc mỏy server của bạn để chống sự xâm phạm từ bên ngoài thì đơn giản và dễ dàng hơn rất nhiều những gì bạn suy nghĩ. Từ chối tất cả các host bằng cách đặt "ALL:ALL@ALL, PARANOID" trong tập tin "/etc/hosts.deny" và đồng thời liệt kê tường minh danh sách các host đáng tin cậy đã được phép truy cập tới máy của bạn vào trong tập tin "/etc/hosts.allow". Đây là cách cấu hình an toàn tốt nhất. TCP_WRAPPERS được điểu khiển từ hai tập tin và việc tìm kiếm dừng lại ở lần thấy đầu tiên. /etc/hosts.allow /etc/hosts.deny - Quyền truy cập được gán khi một cặp (daemon, client) xứng hợp với một mục trong tập tin /etc/hosts.allow. - Bằng không, quyền truy cập bị từ chối khi một cặp (daemon, client) xứng hợp với một mục trong tập tin /etc/hosts.deny. - Còn lại, quyền truy cập sẽ được gán. Bước 1: Soạn thảo tập tin hosts.deny (vi /etc/hosts.deny) và thêm vào cỏc dũng sau: Access is denied by default. # Deny access to everyone. ALL: ALL@ALL, PARANOID # Matches any host whose name does not # match its address, see bellow Điều này có ý nghĩa cho tất cả các dịch vụ, tất cả các vị trí, do vậy bất kỳ dịch vụ nào đều bị ngăn chặn lại, trừ khi chúng được phép truy cập một cách tường minh bởi các mục trong tập tin allow. Ghi chú: Về tham số "PARANOID"; Nếu có ý định muốn chạy các dịch vụ telnet hoặc ftp trờn mỏy server, đừng quên thêm vào tờn mỏy client và địa chỉ IP trong tập tin " / etc / hosts" trên server hay có thể chờ đợi trong nhiều phút cho việc tìm kiếm DNS tới thời gian time out, trước khi có được một dấu nhắc login. Bước 2: Soạn thảo tập tin hosts.allow (vi /etc/hosts.allow) và giả sử thêm vào dòng sau: # Host được ủy quyền rõ ràng thì được liệt kê trong tập tin allow. # Như ví dụ sau: sshd: 208.164.186.1 gate.openna.com Đối với máy client: 208.164.186.1 là địa chỉ IP và gate.openna.com host của một trong client của bạn được phép dùng dịch vụ sshd. Bước 3" Chương trình tcpdchk là trình kiểm tra cấu hình tcpd wrapper. Nó thăm dò cấu hình tcp wrappepr và báo về tất cả các vấn đề hiện có hay vấn đề tiềm ẩn mà nó tìm ra được. - Sau khi việc cấu hình hoàn tất, chạy chương trình tcpdchk. [root@deep /]# tcpdchk Ghi chú: Các thông điệp lỗi trông giống như thế này: warning: / etc / hosts.allow, line 6: can't verify hostname: gethostbyname(win.openna.com) failed. Nếu nhận kiểu thông điệp lỗi này, hãy kiểm tra trong tập tin cấu hình DNS để biết sự tồn tại của hostname. Đừng để hiển thị các tập tin thông tin hệ thống. Nếu không muốn hiển thị các tập tin thông tin hệ thống khi mọi người log-in từ xa, ta có thể thay đổi tùy chọn telnet trong tập tin "/etc/inetd.conf" trông giống như thế: telnet stream tcp nowait root /usr/sbin/tcpd in.telnetd -h Thêm vào cờ hiệu "-h" ở cuối dòng lệnh sẽ cho daemon không hiển thị bất kỳ thông tin hệ thống nào và chỉ hiện dấu nhắc login cho người sử dụng. Mẹo vặt này chỉ cần thiết nếu dùng một telnet daemon trờn mỏy server (khuyờn dựng SSH). 3.2.6 Tập tin "/etc/host.conf" Linux sử dụng một thư viện phân giải để lấy một địa chỉ IP tương ứng với một host name. Tập tin "/etc/host.conf" chỉ rõ cỏc tờn được phân giải như thế nào. Các mục trong tập tin "etc/host.conf" để bảo các thư viện phân giải các dịch vụ nào cần dùng, và sắp theo thứ tự nào để phân giải cỏc tờn. Soạn thảo tập tin host.conf (vi /etc/host.conf) và thêm vào cỏc dũng sau: # Lookup names via DNS first then fall back to /etc/hosts. order bind,hosts # We have machines with multiple IP addresses. multi on # Check for IP address spoofing. nospoof on Tùy chọn order chỉ rõ thứ tự của các dịch vụ. Ví dụ mẫu này chỉ rõ ràng như việc phân giải đầu tiên nên tham khảo các name server để phân giải một tên (name) và sau đó kiểm tra tập tin "/etc/hosts". Để đạt hiệu quả cao và bảo mật tốt hơn thì nên đặt thư viện phân giải theo thứ tự đầu tiên là kiểm tra name server (bind) sau đó tập tin hosts (hosts) cho việc thực thi và bảo mật được tốt hơn trên tất cả cỏc mỏy server. Dĩ nhiên phải có phần mềm DNS/BIND được cài đặt sẵn hay việc cấu hình sẽ không làm việc. Tùy chọn multi xác định một host trong tập tin "/etc/hosts" có thể có nhiều địa chỉ IP (multiple interface ethN). Các host mà có nhiều hơn một địa chỉ IP được biết đến là multiomed, bởi vì sự hiện diện của nhiều địa chỉ IP bao hàm rằng host có nhiều giao tiếp mạng. Lấy một ví dụ, một Gateway Server sẽ luôn có nhiều địa chỉ IP và phải có tùy chọn này được đặt là ON. Tùy chọn nospoof chỉ rõ hãy cẩn thận không được phép ngụy trang trờn mỏy này. IP-Spoofing là mụt thành tích bảo mật chói lọi, nó làm việc bởi các mẹo văt máy tính trong một mối quan hệ đáng tin cậy mà bạn là một người nào đó mà thật sự không phải vậy. Trong loại hình tấn công này, một máy được cài đặt như một server hợp pháp và khi đó sinh ra các kết nối và các loại hoạt động mạng khác tới các hệ thống đầu cuối hợp pháp, các server khác hay các hệ thông lưu trữ dữ liệu lớn. Tùy chọn này phải được đạt ON cho tất cả các loại server. 3.2.7 Tập tin "/etc/services" Các số cổng (port number) được dùng cho các dịch vụ chuẩn được đưa ra trong RFC 1700 "Assigned Numbers". Tập tin "/etc/services" cho phép các chương trình server và client để chuyển đổi tên dịch vụ tới các số port này. Danh sách này thì được lưu giữ trong mỗi host trong tập tin "/etc/services". Chỉ người sử dụng "root" là được phép thay đổi nội dung tập tin này và rất hiếm khi phải chỉnh sửa tập tin "/etc/services" để tạo sự thay đổi kể từ khi nó đó chứa đựng nhiều tên dịch vụ tương ứng tới các số port. Để cải tiến việc bảo mật, chúng ta có thể làm tập tin này trở nên không bị chỉnh sửa (immunize) để ngăn chặn việc xóa hay thêm vào các dịch vụ mà không được ủy quyền. - Để định cho tập tin "/etc/services" không thay đổi, dùng lệnh: [root@deep /]# chattr +i /etc/services 3.2.8 Tập tin "/etc/securetty" Tập tin "/etc/securetty" cho phép bạn chỉ rõ các thiết bị TTY nào mà người sử dụng "root" được phép login vào. Tập tin "/etc/securetty" được đọc bởi chương trình login (thường là "/bin/login"). Định dạng của nó là một danh sách cỏc tờn thiết bị tty được phép và đối với tất cả các thứ khỏc thỡ được chú giải hoặc không xuất hiện trong tập tin này, đăng nhập với root thì không được phép. Vô hiệu hóa bất kỳ tty mà bạn không cần đến bằng cách đặt dấu chú giải (#) cho chúng (dấu # ở đầu dòng). Chỉnh sửa tập tin securetty (vi /etc/securetty) và đặt dấu chú giải lờn cỏc dũng sau: tty1 #tty2 #tty3 #tty4 #tty5 #tty6 #tty7 #tty8 Có nghĩa là root chỉ được phép login vào tty1. Đây là lời khuyên của chúng tôi, cho phép "root" chỉ login vào mụt thiết bị tty và dùng lệnh "su" để chuyển sang "root" nếu bạn cần nhiều quyền hơn. Các thiết bị phải log-in như "root" 3.2.9 Các tài khoản đặc biệt: Có một điều quan trọng là cần vô hiệu hóa tất cả các tài khoản mặc định của nhà sản xuất mà không dùng trong hệ thống (một số tài khoản tồn tại mặc nhiên ngay cả khi không cài đặt các dịch vụ liên quan trờn mỏy server). Việc này nên được kiểm tra sau mỗi lần nâng cấp hay cài đặt phần mềm mới. Linux cung cấp các tài khoản này cho các hoạt động hệ thống khỏc nhau,cú thể không cần nếu các dịch vụ không được cài đặt trên hệ thống server. Nếu không cần các tài khoản nào, thỡ xóa chúng. ta có càng nhiều tài khoản thì việc truy cập hệ thống sẽ dễ dàng hơn. Để xóa người sử dụng trên hệ thống, dùng lệnh: [root@deep /]# userdel username - Để xóa nhóm người sử dụng trên hệ thống của bạn, dùng lệnh: [root@deep /] # groupdel groupname Bước 1: Gừ các lệnh sau trờn mỏy terminal của bạn để xóa các người sử dụng được liệt kê bên dưới: [root@deep /]# userdel adm [root@deep /]# userdel Ip [root@deep /]# userdel sync [root@deep /]# userdel shutdown [root@deep /]# userdel halt [root@deep /]# userdel news [root@deep /]# userdel uucp [root@deep /]# userdel operator [root@deep /]# userdel games (Xóa user này khi không dùng X Window). [root@deep /]# userdel gopher [root@deep /]# userdel ftp (Xóa user này khi không dùng ftp anonymous server). Ghi chú: Mặc định, lệnh "userdel" sẽ không xóa một thư mục home của người sử dụng. Nếu muốn thư mục home của các tài khoản cũng được xóa, thì phải thêm tùy chọn "-r" vào lệnh userdel. Bước 2: Gừ các lệnh sau trờn mỏy terminal để xóa nhúm các người sử dụng được liệt kê bên dưới: [root@deep /]# groupdel adm [root@deep /]# groupdel Ip [root@deep /]# groupdel news [root@deep /]# groupdel uucp [root@deep /]# groupdel games (Xóa group này khi khong dùng X Window). [root@deep /]# groupdel dip [root@deep /]# groupdel ppusers [root@deep /]# groupdel popusers (xóa group này khi không dùng pop server cho email). [root@deep /]# groupdel slipusers Bước 3: Thêm các người sử dụng cần thiết vào hệ thống: [root@deep /]# useradd admin [root@deep /]# passwd admin Bước 4: Bit không thay đổi có thể được dùng để ngăn chặn việc xóa ngẫu nhiên hay ghi chồng lên một tập tin cân được bảo vệ. Nó cũng ngăn chặn một ai đó tạo một biểu tượng liên kết tới tập tin này, mà nó là nguồn tấn công xoay quanh việc xóa "/etc/passwd", "/etc/group" hay "/etc/gshadow". - Để đặt bit không thay đổi trờn cỏc mật khẩu và cỏc nhúm tập tin , dùng lệnh sau: [root@deep /[# chattr +i /etc/passwd [root@deep /[# chattr +i /etc/shadow [root@deep /[# chattr +i /etc/group [root@deep /[# chattr +i /etc/gshadow Ghi chú: Trong tương lai, nếu có ý định thêm hay xóa các người sử dụng, tập tin passwd, các nhóm người sử dụng, hay các tập tin group, thì phải gõ bỏ bit không làm thay đổi trên tất cả các tập tin đó, nếu không sẽ không thể thay đổi được gì. Nếu như ta cũng có dự định cài đặt một chương trình RPM sẽ tự động thêm một người sử dụng mới vào các tập tin passwd hay group đã đặt bit không thay đổi, ta sẽ nhận được một thông điệp lỗi suốt quá trình cài đặt, khi không gỡ bỏ bit không làm thay đổi từ các tập tin đó. 3.2.10 Ngăn chặn bất kỳ người sử dụng nào chuyển thành root bằng lệnh "su". Lệnh su cho phép trở thành những người sử dụng tồn tại trên hệ thống, Ví dụ có thể trở thành "root" tạm thời và thi hành các lệnh như một super-user "root". Nếu không muốn bất kỳ ai chuyển thành root hay hạn chế "su" với một số người sử dụng nào đó, ta thêm vào hai dòng như sau vào đầu tập tin cấu hình "su" trong thư mục "/etc/pam.d". Nờn giới hạn những người được phép chạy lệnh "su" để thành tài khoản root. Bước 1: Soạn thảo tập tin su (vi /etc/pam.d/su) và thêm vào hai dòng sau vào phía trên đầu tập tin: auth sufficient /lib/security/pam_rootok.so debug auth required /lib/security/pam_wheel.so group=wheel Sau khi thêm vào cỏc dũng trờn, tập tin "/etc/pam.d/su" sẽ trông giống như thế này: #%OAM-1.0 auth sufficient /lib/security/pam_rootok.so debug auth required /lib/security/pam_wheel.so group=wheel auth required /lib/security/pam_pwdb.so shadow nullok account required /lib/security/pam_pwdb.so password required /lib/security/pam_cracklib.so password required /lib/security/pam_pwdb.so shadow use_authtok nullok session required /lib/security/pam_pwdb.so session optional /lib/security/pam_xauth.so Có nghĩa là chỉ có những người sử dụng là thành viên của nhóm "wheel" có thể dùng lệnh su chuyển thành root; nó cũng bao gồm logging.Chỳ ý rằng nhóm "wheel" là một tài khoản đặc biệt trên hệ thống mà cũng có thể được dùng cho mục đích này. Không thể dùng bất kỳ tờn nhúm để thực hiện mánh khóe này. Mánh khóe này được kết hợp với việc chỉ rõ các thiết bị TTY nào mà root được phép login vào sẽ cải tiến rất nhiều việc bảo mật trên hệ thống. 3.2.11 Securing Your Files Bảo mật từ cấp độ quyền truy cập file. Khi không muốn sự tò mò từ những người khác, ta có thể tạo file mặt nạ để có quyền bảo mật file tối đa. Tất nhiên việc bảo mật này chỉ có ý nghĩa khi có nhiều hơn một người sử dụng trong hệ thống. Khi có rất nhiều người sử dụng thì chỉ để quyền đọc ghi và không để bất kỳ quyền nào cho các user khác. 3.2.12 Bảo vệ thư mục trên web server Nhiều web servers, trong đó có Apache thường dùng file .htaccess để bảo vệ các thư mục trên web server. Nếu một thư mục nào đó trên web server có lưu file .htaccess, khi duyệt qua thư mục này, web server sẽ popup một hộp thoại yêu cầu nhập username và mật khẩu. Chỉ khi nào nhập vào một username và mật khẩu đúng, ta mới có thể xem được trong thư mục đú cú những gì. Danh sách các username và mật khẩu của .htaccess thường được lưu trong file .htpasswd. Tại sao phải dùng dấu chấm ở trước trong tên file '.htaccess'. Các file có tên bắt đầu là một dấu chấm '.' sẽ được các web servers xem như là các file cấu hình. Các file này sẽ bị ẩn đi(hidden) khi bạn xem qua thư mục đã được bảo vệ bằng file .htaccess Bước 1: chuẩn bị username và mật khẩu cho .htaccess [đt@localhost /]# htpasswd -c ./users vicki New password: tyt Re-type new password: tyt Adding password for user vicki -c để tạo file mới Sau khi chạy dòng lệnh trên, trong thư mục hiện tại sẽ xuất hiện file users với nội dung như sau: vicki:JNSQVx3F3/n0c File lưu username và mật khẩu có dạng như sau: : : ... :   Password thường được mã hóa bằng thuật toán DES(Data Encryption Standard). DES được dùng rất phổ biến trên Unix/Linux(*nix), đặc biệt là trong các files /etc/passwd hoặc /etc/shadow. DES rất khó bị crack. Ngoài cách encrypt password bằng htpasswd như trên, cũng có thể dùng Perl code sau để encrypt: ... $encpass = &encrypt($password); ... sub encrypt { my($plain) = @_; my(@salt); @salt = ('a'..'z', 'A'..'Z', '0'..'9', '.', '/'); srand(time() ^ ($$ + ($$ << 15)) ); return crypt($plain, $salt[int(rand(@salt))] . $salt[int(rand(@salt))] ); } Bước 2: tạo 1 file .htaccess với nội dung như sau: AuthName "Khu vực cấm" AuthType Basic AuthUserFile /somepaths/users require user vicki # nếu bạn đang dùng Apache Server, hóy thờm cỏc dũng sau vào # để ngăn chặn users download các files .htaccess & .htpasswd Order allow,deny Deny from all Order allow,deny Deny from all AuthName "Khu vực cấm" // tiêu đề của hộp thoại sẽ được popupAuthUserFile /var/www.users // đường dẫn đầy đủ đến file lưu username & mật khẩurequire user vicki // danh sách cỏc username được phép AuthUserFile /var/www.users // đường dẫn đầy đủ đến file lưu username & mật khẩu require user vicki // danh sách các username được phép Bước 3: tạo 1 thư mục trên web server, chẳng hạn như 'security', upload file .htaccess vào thư mục này, chmod 644 cho file .htaccess và users. Thử upload vài files khác vào 'security' Bước 4: mở trình duyệt web và vào thư mục 'security', http://localhost/security/ sẽ nhận được một hộp thông báo yêu cầu nhập username & password. Thử dùng username=vicki & password=tyt, sẽ thấy được các files trong 'security' directory. Hack .htaccess & .htpasswd 1/ Một số người sơ ý không chmod đúng cho files .htaccess và .htpasswd. Vì vậy hacker có thể dễ dàng download chúng về máy tính của mình. Sau đó hacker tìm một công cụ crack DES bằng tự điển như John the Ripper hoặc CrackJack để crack file .htpasswd 2/ Sử dụng các công cụ hack tự động hacker có thể sử dụng WWWHack (http://www.wwwhack.com/) hoặc Brutus (http://www.hoobie.net/brutus) để hack các websites được bảo vệ bằng files .htaccess và .htpasswd. Đây là các công cụ tấn công bằng tự điển gọn nhẹ nhưng đa năng, có hổ trợ proxy, rất dễ sử dụng. Tuy nhiên, nếu password quỏ khú hoặc tốc độ đường truyền của websites không tốt, phải hàng giờ để WWWHack hoặc Brutus hoàn thành nhiệm vụ. WWWHack và Brutus làm việc như thế nào? DES(Data Encryption Standard) dường như rất khó bị crack, chỉ có một cách duy nhất và cũng là dễ nhất là dùng tự điển. WWWHack và Brutuslàm việc gần giống như nhau. Chúng sẽ chọn một password bất kì trong tự điển, sau đó gởi đến website. Nếu nhận được HTML status code 401 Authorization Required, "Access Denied", "Enter your password again" có nghĩa là password không đúng, chúng sẽ thử lại với một password khỏc cú trong tự điển. Nếu nhận được HTML status code 200 OK, ... có nghĩa là password đúng, hay nói cách khác là đã bị crack. 3.2.13 XWindows Security Motivation / introduction. Tính bảo mật của XWindows rất kém. Trên một mạng máy tính Unix, bất cứ ai cũng có thể kết nối và mở một màn hình X, đọc các cú gõ phím, chụp trạng thái màn hình, chạy các ứng dụng không đợc bảo vệ...Dù rằng đấy là những sự việc được cảnh báo nhiều trong thế giới bảo mật Unix. How open X displays are found. Làm thế nào để mở một cửa sổ XWindows từ xa? Nếu Server không bị Disabled XWindows thì ta chỉ việc gõ lệnh: $ xhost + Cụ thể có thể kết nối đến một Server đơn lẻ với màn hình XWindows bằng lệnh: $ xhost + ZZZ.ZZZ.ZZZ.ZZZ Z là địa chỉ IP hay Hostname của Server mà bạn Connect. Sự điều khiển truy nhập có thể được chấp nhận khi phát lệnh: $ xhost - Trong câu lệnh trên không có Host, nhưng một kết nối đến local-host có thể được thiết lập. NÕu Display chạy ở trạng thái "xhost -". Thì ta đang ở trạng thái an toàn từ những chương trình, cũng như hướng tới những màn hình XWindows chưa được bảo vệ. Bạn có thể kiểm tra sù truy nhập của màn hình X của bạn bằng cách gõ "xhost" từ Shell lệnh. Mặc định các Server chạy X đều bị vô hiệu hoá quyền điều khiển truy nhập. DÔ dàng phát hiện ra các Server nào đang chạy X bằng vô số các Tool trên Internet (NSS). The localhost problem Chạy màn hình X với sự điều khiển truy nhập được cho phép bởi lệnh "xhost -" sẽ bảo vệ từ XOpenDisplay thông qua Port 6000, đã cũng chính là cách mà các Hacker có thể qua mặt các hệ thống bảo vệ. Nếu bạn có thể đăng nhập vào mục tiêu cần tấn công, thì bạn có thể kết nối tới X của local-host. Cách này thật đơn giản, chỉ bằng vài dòng lệnh bạn có thể dump xuống được trạng thái màn hình X của Host cần tấn công:
- Xem thêm -