Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra Luận văn ThS. Luật

  • Số trang: 111 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 36 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 27372 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT ---------------- ĐỖ ĐỨC THỌ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGƯỜI CÓ THẨM QUYỀN CỦA CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG GÂY RA CHUYÊN NGÀNH : LUẬT DÂN SỰ MÃ SỐ : 60 38 30 LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: TS. Phạm Công Lạc HÀ NỘI - 2006 NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN 1. BLDS : Bộ luật dân sự 2. BTTH : Bồi thường thiệt hại 3. TNDS : Trách nhiệm dân sự 4. THTT : Tiến hành tố tụng 5. TAND : Tòa án nhân dân 6. VKSND : Viện kiểm sát nhân dân 7. TNBTTH : Trách nhiệm bồi thường thiệt hại MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền tiến hành tố tụng gây ra trong khi thi hành công vụ được quy định ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Một mặt nó phản ánh trình độ phát triển, tính dân chủ của một quốc gia, mặt khác, là công cụ để bảo đảm pháp chế trong hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng. Vì vậy, việc xây dựng một cách đầy đủ, đồng bộ, thống nhất những quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền tiến hành tố tụng gây ra là cơ sở để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, phát huy dân chủ, nâng cao lòng tin của nhân dân vào hệ thống các cơ quan tư pháp, góp phần duy trì và giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hôi. Nghị quyết số 388/2003/NQ – UBTVQH11 của Uỷ ban thường vụ quốc hội được ban hành 17/3/2003 nhằm cụ thể hóa quy định của Hiến pháp, Bộ luật dân sự, Bộ luật tố tụng hình sự về việc bồi thường thiệt hại và khôi phục danh dự cho người bị bắt, bị giam giữ, bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án trái pháp luật. Việc ban hành Nghị quyết được sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân, góp phần củng cố lòng tin của nhân dân đối với Nhà nước nói chung và các cơ quan tiến hành tố tụng nói riêng, hơn nữa sau ba năm thực hiện Nghị quyết 388 đã có tác động tích cực, tạo ra chuyển biến quan trọng trong nhận thức và hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, từ đó nâng cao trách nhiệm của người tiến hành tố tụng trong hoạt động tố tụng hình sự, chất lượng công tác khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự được nâng lên, số vụ việc để xảy ra oan, sai giảm đáng kể. Thực tiễn công tác giải quyết việc bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra theo Nghị quyết 388 cho thấy còn có nhiều hạn chế trong việc ban hành văn bản hướng dẫn thi hành 1 nghị quyết cũng như trong nhận thức và việc giải quyết bồi thường cho người bị oan, đặc biệt là trong việc quy định rõ căn cứ xác định trách nhiệm giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, giữa người tiến hành tố tụng vói thủ truởng cơ quan tiến hành tố tụng, cách xác định thiệt hại, tính toán mức bồi thường, nhất là việc tính toán thiệt hại về tinh thần. Xuất phát từ thực trạng trên cho thấy cần phải có một văn bản pháp luật có hiêu lực pháp lý cao hơn quy định về vấn đề này. Những bất cập trên cho thấy cần phải ban hành Luật nhà nước về bồi thường thiệt hại nhằm xây dựng một cơ chế, chính sách và cơ sở pháp lý chặt chẽ cho việc bồi thường thiệt hại đối với những trường hợp bị oan, sai do các cơ quan tiến hành tố tụng gây ra Với những lý do nêu trên, việc nghiên cứu “ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra” không chỉ có ý nghĩa lý luận, giá trị thực tiễn mà còn là vấn đề mang tính thời sự trong giai đoạn cải cách tư pháp hiện nay 2.Mục đích nghiên cứu Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn của Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra, đưa ra kiến nghị nhằm góp phần xây dựng pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 3.Phạm vi nghiên cứu Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguời có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra là vấn đề phức tạp không những về mặt lý luận mà cả thực tiễn pháp lý. Vì vậy, Luận văn nghiên cứu giới hạn ở những vấn đề lý luận và thực tiễn của Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền tiến hành tố tụng gây ra Luận văn cũng đi vào phân tích thực trạng việc áp dụng Nghị quyết 388 trên thực tế, từ đó đề xuất phương hướng hoàn thiện pháp luật về TNBTTH do ngưòi tiến hành tố tụng gây ra chủ yếu theo quy định của Nghị quyết 388. 2 3 4. Phƣơng pháp nghiên cứu Luận văn được thực hiện dựa trên phương pháp nghiên cứu tổng hợp theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin cùng với khoa học lý luận về nhà nước và pháp luật Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học khác như: phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê Cơ cấu của Luận văn Luận văn được kết cấu gồm: Lời nói đầu Chương 1: Khái niệm chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra Chương 2: Cơ sở pháp lý của trách nhiệm bồi thường thiệt hại và pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra Chương 3: Thực trạng giải quyết bồi thường thiệt hại và phương hướng hoàn thiện pháp luật Kết luận Vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền tiến hành tố tụng gây ra là vấn đề phức tạp. Mặc dù cố gắng rất nhiều nhưng do hạn chế về thời gian và những yếu tố khác nên khó tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế trong Luận văn này, do vậy rất mong nhận được sự sư góp ý, hướng dẫn của các thầy cô và bạn bè để luân văn này đuợc hoàn thiện hơn nữa 4 CHƢƠNG 1 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI DO NGƢỜI CÓ THẨM QUYỀN CỦA CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG GÂY RA 1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC TRƢNG, ĐIỀU KIỆN CỦA TRÁCH NHIỆM BTTH NGOÀI HỢP ĐỒNG Chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một nội dung quan trọng trong pháp luật dân sự, có liên quan tới nhiều mặt của đời sống xã hội , tác động tới quyền tự do, dân chủ của công dân, mục tiêu công bằng xã hội, xuất phát từ tầm quan trọng này, chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng với tư cách là một chế định độc lập của luật dân sự Việt Nam hiện đại được quy định tại chương chương XXI Bộ luật dân sự năm 2005. Điều 604 – Bộ luật dân sự năm 2005 quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là “Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc các chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường” Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là trách nhiệm phải bù đắp những tổn thất về vật chất hoặc tinh thần của người gây thiệt hại đối với người bị thiệt hại phát sinh không từ hợp đồng. Theo nguyên tắc chung khi một chủ thể có hành vi vi phạm thì phải gánh chịu một hậu quả pháp lý xấu. Hậu quả pháp lý này sẽ do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng. Trong quan hệ dân sự, hậu quả pháp lý là hậu quả về tài sản do vậy pháp luật cho pháp các bên tự nguyện thực hiện trách nhiệm đó. Trường hợp không tự nguyện thực hiện thì người bị vi phạm có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biên pháp cưỡng chế để bảo đảm quyền lợi cho mình. 5 Tuy nhiên, để hiểu rõ hơn về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng việc xem xét đặc điểm cũng như điều kiện phát sinh trách nhiệm ngoài hợp đồng hết sức quan trọng. * Đặc trƣng của trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng: Cũng giống như trách nhiệm dân sự nói chung trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng cũng mang những đặc điểm chung của trách nhiệm pháp lý. - Cơ sở thực tế của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là những vi phạm pháp luật, ở đâu có vi phạm pháp luật, ở đó có trách nhiệm pháp lý. Không có vi phạm pháp luật thì không thể có trách nhiệm pháp lý - Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thể hiện sự lên án của Nhà nước, xã hội và là một chế tài mang tính trừng phạt đối với chủ thể gây thiệt hại thông qua việc buộc họ phải gánh chịu những hậu quả bất lợi do hành vi vi phạm của mình, đặc điểm này giải thích lý do tại sao cấu thành của trách nhiệm bồi thường thiệt hại có nội dung chủ yếu là khôi phục những thiệt hại đã xảy ra. - Cơ sở pháp lý của việc truy cứu trách nhiệm pháp luật là quyết định có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền: Điều này xuất phát từ đặc điểm không tách rời giữa trách nhiệm pháp lý và nhà nước, có nghĩa là nhà nước thông qua các cơ quan, người có thẩm quyền mới có thẩm quyền xác định một cách chính thức hành vi nào là vi phạm pháp luật và áp dụng biện pháp trách nhiệm pháp lý đối với chủ thể gây ra thiệt hại đó. - Ngoài ra, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng còn mang đặc tính của trách nhiệm dân sự là trách nhiệm tài sản nhằm khôi phục lại tình trạng tài sản của người bị thiệt hại do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng. Từ những đặc trưng pháp lý trên cho thấy về cơ bản trách nhiệm bồi thương thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh không phải từ hợp đồng mà chủ yếu từ hành vi vi phạm pháp luật 6 * Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là những yếu tố, những cơ sở để xác định trách nhiệm bồi thường, người phải bồi thường, người được bồi thường và mức độ bồi thường, nếu thiếu một trong những điều kiện đó thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại sẽ không được đặt ra. Bộ luật dân sự không quy định cụ thể các điều kiện làm phát sinh trách nhiệm, xuất phát từ những quy định, những nguyên tắc của pháp luật nói chung và pháp luật dân sự nói riêng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có những điều kiện sau: - Có thiệt hại xảy ra Thiệt hại được hiểu là sự giảm bớt những lợi ích vật chất hay tinh thần của một người do có sự kiện gây thiệt hại của người khác được xác định bằng một khoản tiền cụ thể. Thiệt hại đồng thời mang ý nghĩa pháp lý và xã hội. Nhìn từ góc độ xã hội, thiệt hại động chạm và làm ảnh hưởng đến những quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ. Còn góc độ pháp lý của thiệt hại, hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức Dưới góc độ xã hội thiệt hại động chạm và làm ảnh hưởng đến những quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ, còn dưới góc độ pháp lý, thiệt hại tự nó cho thấy hành vi trái pháp luật đã xâm phạm đến các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, cũng như của nhà nước, ý nghĩa này làm cho thiệt hại trở thành tiền đề quan trọng để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việc phân loại thiệt hại có ý nghĩa quan trọng hoạt động xét xử của Toà án, Toà án có thể căn cứ vào loại thiệt hại để áp dụng các biện pháp, chế độ khác nhau để khắc phục những thiệt hại xảy ra hoặc áp dụng những biện pháp cần thiết khác để bảo đảm quyền lợi cho các đương sự. Thiệt hại có thể phân loại thành: 7 + Thiệt hại về tài sản: Đây là hậu quả của hành vi trái pháp luật do chủ thể có lỗi gây ra mà biểu hiện cụ thể là mất tài sản, giảm sút tài sản, những chi phí để ngăn chặn, hạn chế, sửa chữa, thay thế, những lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác công dụng của tài sản. + Thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ là hậu quả của hành vi trái pháp luật do chủ thể có lỗi gây ra làm phát sinh thiệt hại về vật chất bao gồm chi phí cứu chữa, bồi thường, chăm sóc, phục hồi chức năng bị mất, thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút do thiệt hại về tính mạng, sức khỏe. + Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm hại: Đây chính là các giá trị nhân phẩm của chủ thể này bị chủ thể khác xâm phạm từ hành vi trái pháp luật, từ đó kéo theo hàng loạt các thiệt hại khác bao gồm chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm hại - Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật Một trong những điều kiện để xác định trách nhiệm bồi thuờng thiệt hại theo quy định của Bộ luật dân sự là phải có hành vi xâm phạm quyền dân sự, hiểu theo nghĩa rộng đó chính là hành vi trái pháp luật. Trong bộ luật dân sự Việt Nam năm 1995 mặc dù không có điều luật nào quy định cụ thể khái niệm hành vi vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, theo quy định tại điều 609 có thể hiểu hành vi trái pháp luật là hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc các chủ thể khác” Hành vi gây thiệt hại thường được thể hiện dưới dạng hành động, chủ thể đã thực hiện hành vi mà đáng ra không được thực hiện các hành vi đó, Tuy nhiên, không phải tất cả các hành vi gây thiệt hại cho người khác đều là hành vi trái pháp luật, 8 Hành vi gây thiệt hại có thể là hành vi hợp pháp nếu người thực hiện hành vi đó theo nghĩa vụ mà pháp luật hoặc nghề nghiệp buộc họ phải thực hiện hành vi đó. Trong truờng hợp này nguời gây thiệt hại không phải bồi thường; người gây thiệt hại không phải bồi thường trong trưòng hợp phòng vệ chính đáng, trong tình thế cấp thiết hoặc có sự đồng ý của người bị thiệt hại ( khoản 1 điều 613; Điều 614 BLDS). Tuy nhiên, nếu vượt quá giới hạn của phòng vệ chính đáng, vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết, thì người gây ra thiệt hại vẫn phải bồi thường thiệt hại. Một trong những điều kiện để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của Bộ luật dân sự là phải có hành vi xâm phạm quyền dân sự. Hiểu theo nghĩa rộng, đó chính là hành vi trái pháp luật. Thông tư 173/UBTP ngày 23/3/1972 của Tòa án nhân dân tối cao thì hành vi trái pháp luật trong quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng “có thể là một việc phạm pháp về hình sự, một vi phạm pháp luật về dân sự, một sự vi phạm đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước hoặc một vi phạm quy tắc sinh hoạt xã hội” Trong Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005, mặc dù không có điều luật nào quy định cụ thể khái niệm hành vi trái pháp luật. Tuy nhiên, theo quy định tại điều 609 có thể hiểu hành vi trái pháp luật là “hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc các chủ thể khác” Nghị quyết 01/2004/NQ - NĐTP hướng dẫn: “Hành vi trái pháp luật là những xử sự cụ thể của con người được thể hiện thông qua hành động hoặc không hành động trái với quy định của pháp luật” Hành vi trái pháp luật là những xử sự cụ thể cuả con người được thể hiện thông qua hành động hoặc không hành động trái với quy định của pháp luật 9 Trong luật hình sự, hành vi là biểu hiện cơ bản của mặt khách quan của tội phạm. Những biểu hiện khách quan của mặt khách quan chỉ có ý nghĩa khi có hành vi trái pháp luật. Không thể nói đến hậu quả của tội phạm cũng như những biểu hiện khách quan khác như công cụ, phương tiện, địa điểm, thời gian… khi không có hành vi trái pháp luật. Những biểu hiện của mặt chủ quan như lỗi, mục đích, động cơ cũng luôn gắn với một hành vi khách quan cụ thể Trong luật dân sự, hành vi gây thiệt hại (hành vi khách quan) là nguyên nhân gây ra sự biến đổi tình trạng những đối tượng tác động và do vậy là nguyên nhân gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội (khách thể). Hành vi gây thiệt hại là cầu nối giữa người gây thiệt hại (chủ thể) đối với đối tượng tác động tức các quan hệ xã hội(khách thể). Không thể có người gây thiệt hại khi không có hành vi gây thiệt hại, hành vi gây thiệt hại có thể được thực hiện bằng hành động hoặc không hành động. Hành động hay không hành động đều là biểu hiện của con người ra ngoài thế giới khách quan, được ý thức kiểm soát, ý chí điều khiển và đều có khả năng làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động, gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ Hành động gây thiệt hại là một hình thức của hành vi gây thiệt hại, nó trực tiếp tác động đến đối tượng làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng, gây thiệt hại cho khách thể. Hành động gây thiệt hại có thể chỉ là một tác động đơn giản xảy ra một lần trong một thời gian ngắn hoặc có thể là tổng hợp nhiều tác động khác nhau, hay là giống nhau, nhưng được lặp đi, lặp lại liên tục trong một thời gian dài. Hành động gây thiệt hại có thể là tác động trực tiếp của chủ thể vào đối tượng gây thiệt hại hoặc có thể là tác động gián tiếp của chủ thể vào đối tượng thông qua công cụ, phương tiện gây thiệt hại. Không hành động gây thiệt hại là một hình thức của hành vi gây thiệt hại, nó làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động, gây thiệt 10 hại cho khách thể bằng việc chủ thể không làm một việc pháp luật quy định bắt buộc phải làm mặc dù có đầy đủ những điều kiện để làm việc đó. Với sự phân tích trên cho thấy hành vi gây thiệt hai có các đặc điểm sau: - Hành vi gây thiệt hại là hoạt động có ý thức và ý chí. Điều đó có nghĩa là khi nói đến hành vi gây thiệt hại của một người thì phải hiểu đó là hành vi có ý thức và ý chí. Không thể có hành vi gây thiệt hại mà những biểu hiện bên ngoài của nó không được ý thức của chủ thể kiểm soát hay không được ý chí của họ điều khiển. - Hành vi gây thiệt hại phải là hành vi trái pháp luật. Điều đó có nghĩa là hành vi gây thiệt hại đó phải là hành vi mà pháp luật cấm thực hiện. Nếu hành vi đó mà pháp luật không cấm thực hiện thì người thực hiện hành vi dù gây thiệt hại vẫn không phải bồi thường - Có lỗi của ngƣời gây ra thiệt hại Theo quy định tại điều 604 Bộ luật dân sự Việt Nam „Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại phải bồi thường”. Từ quy định này cho thấy, một chủ thể sẽ không phải gánh chịu trách nhiệm dân sự nếu hành vi gây thiệt hại của họ không có lỗi. Điều đó cũng có nghĩa là không thể chỉ căn cứ vào thiệt hại và hành vi gây thiệt hại để buộc một người phải gánh chịu trách nhiệm dân sự. Do đó việc xác định lỗi của người gây thiệt hại có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Lỗi là thái độ tâm lý của một người đối với hành vi trái pháp luật của mình, nếu nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình song vẫn cố tình xử sự và như vậy buộc họ phải chịu trách nhiệm về sự lựa chọn của mình. Người có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại buộc phải chịu trách nhiệm dân sự khi họ có lỗi. Xác định lỗi của người gây thiệt hại không chỉ có ý nghĩa quan 11 trọng khi quyết định họ phải có TNBTTH mà còn có ý nghĩa quyết định khi xác định mức BTTH. Về mặt hình thức lỗi thể hiện dưới dạng cố ý hoặc vô ý. - Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc không mong muốn, nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra. - Vô ý gây thiệt hại là một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây ra thiệt hại mặc dù phải biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được. Lỗi trong trách nhiệm dân sự có thể là lỗi suy đoán tức là hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật nên người thực hiện hành vi đó bị suy đoán là người có lỗi. Điều này đươc thể hiện ở khoản 3 Điều 606 Bộ luật Dân sự “Nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong vịêc giám hộ, thì không phải lấy tài sản của mình đề bồi thường”. Quy định này của pháp luật xuất phát từ đặc thù cơ bản của ngành luật dân sự là các đuơng sự tự định đoạt, tức là tự yêu cầu toà án giải quyết các yêu cầu của mình, tự thay đổi yêu cầu của mình, tự rút yêu cầu của mình. Do đó khi họ đưa yêu cầu của mình ra trước toà án thì ho phải có các chứng cứ để chứng minh yêu cầu, nguyện vọng của mình là đúng. Bên có hành vi gây thiệt hại không cần phải chứng minh lỗi của mình, họ chỉ phải chứng minh cho yêu cầu của họ hoặc đưa ra chứng cứ chứng minh rằng lỗi đó không phải do họ thực hiện. Vấn đề lỗi trong trách nhiệm dân sự có những đặc điểm khác với lỗi trong trách nhiệm hình sự. Trong trách nhiệm hình sự, hình thức lỗi và mức độ lỗi có ý nghĩa quan trọng trong việc định tội danh và quyết định hình phạt nên bắt buộc phải có sự phân biệt chi tiết các mức độ lỗi khác nhau. Trong trách nhiệm dân sự, nguyên tắc xuyên suốt là bồi thường “toàn bộ” thiệt hại xảy ra nhằm khôi phục lại tình trạng ban đầu của đối tượng bị tác động, việc phân loại lỗi ít khắt khe hơn. 12 Trong trách nhiệm dân sự do gây thiệt hại vấn đề hình thức lỗi, mức độ lỗi ảnh huởng rất ít đến việc xác định trách nhiệm thậm chí người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi (khoản 3 Điều 623 BLDS). Tuy nhiên, có trường hợp người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của họ hoặc thiệt hại do lỗi cố ý của người bị thiệt hại, thì không phải bồi thường. - Có mối liên hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật Trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ phát sinh khi thiệt hại xảy ra do kết quả trực tiếp, tất yếu của hành vi trái pháp luật. Đó là mối quan hệ vận động nội tại mà về nguyên tắc, nguyên nhân phải xảy ra trước kết quả trong khoảng thời gian xác định và hành vi hành vi trái pháp luật là hành vi nguyên nhân trực tiếp hoặc là nguyên nhân có ý nghĩa quyết định đối với thiệt hại xảy ra Trên thực tế, việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra là một vấn đề rất khó khăn. Bởi vì, thông thường mối quan hệ này bị tác động qua lại bởi các yếu tố xã hộ khác như điều kiện, hoàn cảnh thực thực hiện hành vi hay trạng thái sức khoẻ của chính người bị hại. Do vậy, muốn xác định đúng đắn mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra, cần phải chú ý một số đặc điểm sau: - Về mặt thời gian, hành vi trái pháp luật phải xảy ra trước hậu qua nguy hiểm cho xã hội về mặt thời gian, tức là hành vi trái pháp luật chỉ được coi là nguyên nhân gây ra thiệt hại khi nó xảy ra trước, có trước thiệt hại. Thiệt hại xảy ra là sự nối tiếp về mặt thời gian của hành vi trái pháp luật - Hành vi trái pháp luật độc lập hoặc trong mối tổng hợp với một hoặc nhiều hiện tượng khác phaỉ chứa đựng khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả ngy hiểm cho xã hội - Hậu quả nguy hiểm đã xảy ra phải đúng là sự hiện thực hoá khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả của hành vi trái pháp luật – hoặc là khả năng trực tiếp làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động hoặc là khả năng để sự biến đổi đó tiếp tục diễn ra không bị ngăn chặn. 13 Mối quan hệ nhân quả có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định trách nhiệm BTTH , nhưng trên thực tế, việc xem xét và đánh giá mối quan hệ nhân quả đảm bảo khách quan, toàn diện để rút ra kết luận chính xác là rất phức tạp, khó khăn. Một mặt, thiệt hại có thể có rất nhiều nguyên nhân, vậy, xác định nguyên nhân nào là chủ yếu, trực tiếp là hết sức quan trọng và cần thiết. 1.2. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG VÀ NGƢỜI CÓ THẨM QUYỀN CỦA CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG 1.2.1 Cơ quan tiến hành tố tụng. Cơ quan tiến hành tố tụng là cơ quan nhà nước, độc lập thực thi quyền tư pháp trong giải quyết các vụ việc theo thủ tục tố tụng do luật định nhằm bảo vệ pháp luật và pháp chế XHCN, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, nhà nước. Quá trình tố tụng hình sự được phân chia thành các giai đoạn tố tụng khác nhau. Tương ứng với các giai đoạn tố tụng đó, có những cơ quan nhất định được pháp luật quy định thực hiện những hoạt động tố tụng cụ thể trong giai đoạn đó. Các cơ quan đó được gọi là các cơ quan tiến hành tố tụng. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định các cơ quan tiến hành tố tụng gồm có: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án. Các cơ quan tiến hành tố tụng có chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn riêng nhưng hoạt động trong mối liên hệ mật thiết với nhau, phối hợp trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, nhằm kịp thời phát hiện chính xác và xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm Cơ quan điều tra Theo pháp lệnh tổ chức và điều tra hình sự năm 2004 hệ thống cơ quan điều tra gồm : cơ quan điều tra trong công an nhân dân, cơ quan điều tra trong quân đội nhân dân, cơ quan điều tra của viện kiểm sát nhân dân tối cao Cơ quan điều tra trong công an nhân dân gồm có : Cơ quan cảnh sát điều tra bộ công an, cơ quan cảnh sát điều tra công an cấp tỉnh, cơ quan điều 14 tra công an cấp huyện, Cơ quan An ninh điều tra bộ công an, cơ quan an ninh điều tra công an cấp tỉnh Cơ quan điều tra trong quân đội nhân dân gồm có: Cơ quan điều tra Hình sự Bộ quốc phòng; cơ quan điều tra hình sự quân khu và tương đương; cơ quan điều tra hình sự khu vực; cơ quan an ninh điều tra quân khu và tương đương. Viện kiểm sát nhân dân tối cao có cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao và cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương. Cơ quan điều tra có nhiệm vụ tiến hành điều tra tất các tội phạm, áp dụng mọi biện pháp do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định để xác định tội phạm và người đã thực hiện hành vi phạm tội, lập hồ sơ đề nghị truy tố; tìm ra nguyên nhân, điều kiện phạm tội và yêu cầu các cơ quan tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa. Với nhiệm vụ và vai trò quan trọng như trên nên trong hoạt động điều tra, các cơ quan điều tra luôn phải tuân thủ các nguyên tắc của pháp luật tố tụng như: mội hoạt động điều tra tuân theo các quy định của pháp luật, hoạt động điều tra phải tôn trọng sự thật, tiến hành một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, phát hiện nhanh chóng, chính xác mọi hành vi phạm tội, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và những chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người có hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Trong toàn bộ quá trình điều tra việc giám sát, kiểm tra, kiểm sát đối với hoạt động điều tra rất quan trọng bởi lẽ, kết quả điều tra là cơ sở để truy tố, xét xử người có hành vi phạm tội, việc điều tra sai sẽ dẫn đến việc truy tố, xét xử sai. Luật tố tụng Hình sự và pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự đã quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan điều tra và điều tra viên đồng thời đưa ra cơ chế kiểm sát của kiểm sát viên đối với hoạt động điều tra nhằm đảm bảo hoạt động của các cơ quan điều tra, của các cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra phải 15 tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự nhằm tránh những oan,sai có thể xảy ra. Bên cạnh hệ thống cơ quan điều tra chuyên trách. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 còn quy định khá cụ thể hệ thống các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và nhiệm vụ quyền hạn cụ thể của các cơ quan này như: Bộ đội biên phòng; lực lượng cảnh sát biển; hải quan; kiểm lâm; các cơ quan khác của công an nhân dân, quân đội nhân dân được giao nhiệm tiến hành một số hoạt động điều tra. Quy định của pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 đã cho thấy sự đổi mới trong mô hình tổ chức và hoạt động của cơ quan điều tra, so với những quy định trước đây, tuy nhiên những quy định trong Pháp lệnh này vẫn chưa bảo đảm được sự tập trung, thống nhất trong hệ thống cơ quan điều tra Công an nhân dân( Cơ quan cảnh sát điều tra, cơ quan an ninh điều tra) và trong Quân đội nhân dân( cơ quan điều tra hình sự, cơ quan an ninh điều tra). Do đó việc xây dựng cơ chế nhằm tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan điều tra là hết sức cần thiết nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp của hệ thống cơ quan điều tra trong đấu tranh phòng và chống tội phạm. Viện kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Theo quy định tại điều 137 Hiến pháp 1992, điều 1 luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2002, thì Viện kiểm sát có nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, góp phần đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, bộ luật tố tụng hình sự đã quy định cụ thể quyền hạn và nhiệm vụ của Viện kiểm sát trong tố tụng tại các điều luật. Theo luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân 2002, thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra những vụ án hình sự biện pháp mà Viện kiểm sát trực 16 tiếp quyết định: như quyết định khởi tố bị can, quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ các biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam, phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định của cơ quan điều tra, quyết định của cơ quan điều tra, quyết định truy tố bị can, đọc cáo trạng, thực hiện việc luận tội. Kiểm sát các hoạt động tư pháp bao gồm: Kiểm sát việc khởi tố, điều tra, bắt giam giữ, xét xử án hình sự, kiểm sát việc giải quyết các vụ án Dân sự, hành chính, kinh tế, lao động… Với tư cách là cơ quan kiểm sát, Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, truy tố người vi phạm ra trước cơ quan xét xử và kiểm sát hoạt động bắt, giam, giữ, thi hành án, bảo đảm mọi hành vi vi phạm pháp luật phải được phát hiện kịp thời và tội phạm phải bị truy tố trước pháp luật; đồng thời việc bắt để tạm giam, tạm giữ và chế độ giam giữ phạm nhân phải đúng pháp luật, tránh oan sai và đặc biệt là tôn trọng nhân phẩm con người. Toà án Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Theo Điều 162 Hiến pháp 1992, Điều 1 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2002, thì Tòa án có nhiệm vụ xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình. lao động, kinh tế, hành chính và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật để bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân. Hệ thống toà ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm các Tòa án sau đây: 1. Tòa án nhân dân tối cao; 2. Các tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; 3. Các tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; 4. Các tòa án quân sự; 5. Các tòa án khác do luật định. 17 Trong tình hình đặc biệt, Quốc hội có thể quyết định thành lập Tòa án đặc biệt. Toà án Việt Nam áp dụng một hệ thống xét xử gồm hai cấp. Trong trường hợp một bên đương sự không chấp nhận phán xét của tòa sơ thẩm thì có thể đề nghị xét xử phuc thẩm. Phán quyết của tòa phúc thẩm là phán quyết cuối cùng và phải được thi hành. Nếu như sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, bằng chứng mới lại được tìm ra thì một bên đương sự có thể đề nghị với Chánh án Tòa án nhân dân hoặc Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh trở lên theo thẩm quyền phù hợp xem xét theo thủ tục tái thẩm hoặc nếu phát hiện ra có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng thì một bên đương sự có thể đề nghị xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm. Theo trình tự tố tụng thì hoạt động xét xử của Toà án là giai đoạn quan trọng nhất bởi vì chỉ tòa án mới được quyền kết tội một người. Do đó, căn cứ vào những hành vi vi phạm pháp luật, chỉ có tòa án mới có quyền phán xét một công dân có tội hay không có tội và nếu có tội, chỉ tòa án mới có quyền áp dụng các chế tài hình sự. Theo quy định tại điều 1 Luật tổ chức toà án nhân dân 2002 , thì toà án nhân dân tối cao, các Toà án nhân dân địa phương, các Toà án quân sự và các Toà án khác do luật định là các cơ quan xét xử của nước Công hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Toà án, với tư cách là cơ quan xét xử của Nhà nước có thẩm quyền tuyên bố một người là có tội hay vô tội, do đó hoạt động xét xử của tòa án liên quan trực tiếp tới sinh mệnh, quyền tự do của con người, trong toàn bộ hoạt động của mình toà án phải hoạt động có hiệu quả, bảo đảm tính độc lập, khách quan và vô tư. Tính độc lập, khách quan và vô tư phải trở thành nguyên tắc xuyên suốt, nguyên tắc nền tảng trong hoạt động thực hiện chức năng xét xử của toà án. Trong hoạt động của mình, toà án không chịu bất kỳ một tác động nào từ phía cơ quan lập pháp cũng như hành pháp. đảm bảo rằng phán quyết của Toà án không chỉ nhân danh quyền lực nhà nước mà còn phải nhân danh công lý. Xét xử phải đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt 18
- Xem thêm -