Pháp luật Việt Nam về chống thất thoát vốn ngân sách nhà nước trong xây dựng cơ bản Luận văn ThS. Luật

  • Số trang: 76 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 25 |
  • Lượt tải: 0
tailieuonline

Đã đăng 27700 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT --------------------- PHAN ANH TUẤN PHÁP LUẬT VIỆT NAM TRONG VIỆC CHỐNG THẤT THOÁT VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG XÂY DỰNG CƠ BẢN MÃ SỐ: 60 38 50 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Hà Nội – 2007 Khoa Luật - ĐHQGHN Luận văn thạc sĩ luật học MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU .......................................................................................................... 1 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI. ..................................................................................... 1 2. MỤC ĐÍCH, PHẠM VI NGHIÊN CỨU ......................................................... 4 4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU..................................................................... 5 5. KẾT CẤU LUẬN VĂN ...................................................................................... 6 CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ XÂY DỰNG CƠ BẢN ................................... 7 1. KHÁI QUÁT VỀ XÂY DỰNG CƠ BẢN VÀ NGUY CƠ THẤT THOÁT VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC ......................................................................... 7 1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA XÂY DỰNG CƠ BẢN Ở VIỆT NAM ........................................................................................................ 7 1.2 HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI XÂY DỰNG CƠ BẢN ........................................................................................................... 10 1.3. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA LĨNH VỰC XÂY DỰNG CƠ BẢN ....... 11 1.3.1 ĐẶC ĐIỂM CỦA SẢN PHẨM XÂY DỰNG CƠ BẢN ................... 12 1.3.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT XÂY DỰNG CƠ BẢN14 1.3.3 ĐẶC ĐIỂM VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN......................... 17 1.4.VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN........ 18 1.4.1 VỀ MẶT KINH TẾ ............................................................................... 19 1.4.2 VỀ MẶT CHÍNH TRỊ ........................................................................... 20 1.4.3 VỀ MẶT AN NINH, QUỐC PHÒNG,DÂN SINH. ........................... 21 2. THÀNH TỰU TRONG CÔNG TÁC XÂY DỰNG CƠ BẢN Ở VIỆT NAM ......................................................................................................................... 22 2.1 KHÁI QUÁT ............................................................................................. 22 2.2 MỘT SỐ LĨNH VỰC TIÊU BIỂU XÂY DỰNG CƠ BẢN THÀNH CÔNG TRONG NHỮNG NĂM QUA.......................................................... 22 2.2.1 GIAO THÔNG VẬN TẢI..................................................................... 22 2.2.2 XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÔNG TRÌNH ĐIỆN .............................. 23 2.2.3 HỆ THỐNG CÔNG TRÌNH THUỶ LỢI ............................................ 24 Khoa Luật - ĐHQGHN Luận văn thạc sĩ luật học 2.2.4 HỆ THỐNG CÁC NHÀ MÁY, TRƯỜNG HỌC, BỆNH VIỆN VÀ CÁC CÔNG TRÌNH KHÁC .......................................................................... 24 2.3. MỘT SỐ CÔNG TRÌNH TIÊU BIỂU CỦA XÂY DỰNG CƠ BẢN. 25 3. THẤT THOÁT VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN- SỰ XUỐNG CẤP CỦA CÁC CÔNG TRÌNH, BÀI TOÁN ĐANG CẦN LỜI GIẢI ĐÁP .................................................................. 26 3.1 THẤT THOÁT VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN .................................................................................... 26 3.2. SỰ XUỐNG CẤP NGHIÊM TRỌNG CỦA CÁC CÔNG TRÌNH ... 32 4. YÊU CẦU ĐẶT RA ĐỐI VỚI NHÀ NƯỚC VÀ TOÀN THỂ XÃ HỘI NHẰM HẠN CHẾ NHỮNG THẤT THOÁT TRONG LĨNH VỰC XÂY DỰNG CƠ BẢN ..................................................................................................... 37 CHƯƠNG 2: MỘT SỐ CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT VÀ NHỮNG HOẠT ĐỘNG CỤ THỂ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG NHỮNG NĂM QUA NHẰM CHỐNG THẤT THOÁT VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC XÂY DỰNG CƠ BẢN. ............................................................................... 39 2.1. NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT NHẰM CHỐNG THẤT THOÁT VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC XÂY DỰNG CƠ BẢN. .................................................................................................................. 39 2.1.1.1.NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ XÂY DỰNG. ......................................... 39 2.1.1.2.NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC(31,32,33). ............................................................................................ 41 2.1.1.3.NHỮNG VĂN BẢN PHÁP LUẬT MANG TÍNH CHẤT CHUYÊN MÔN CÓ LIÊN QUAN. .............................................................. 43 2.2. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ................................................................................ 43 2.3. KIỂM TRA, GIÁM SÁT,XỬ LÝ VI PHẠM TRONG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN...................................................................................... 44 Khoa Luật - ĐHQGHN Luận văn thạc sĩ luật học 2.4 NHỮNG LỖ HỔNG CÒN TỒN TẠI LÀM CHO HIỆU QUẢ CỦA PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI VIỆC CHỐNG THẤT THOÁT VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN CHƯA ĐƯỢC PHÁT HUY.45 2.4.1.QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN CHƯA PHÙ HỢP........................ 45 2.4.2 VẤN ĐỀ XÁC ĐINH TRÁCH NHIỆM CÁ NHÂN KHI XẢY RA THẤT THOÁT VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG XÂY DỰNG CƠ BẢN ........................................................................................................... 49 2.4.3. SỰ THIẾU HIỆU QUẢ CỦA CƠ QUAN CHỨC NĂNG TRONG VIỆC PHÁT HIỆN, XỬ LÝ VI PHẠM VỀ LĨNH VỰC XÂY DỰNG CƠ BẢN.................................................................................................................. 49 2.2.4. LỖ HỔNG TRONG CƠ CHẾ THU HỒI TÀI SẢN THẤT THOÁT TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN .................................................. 51 2.4.5. CHẾ TÀI ĐỐI VỚI LOẠI TỘI PHẠM NÀY LÀ CHƯA NGHIÊM, CHƯA ĐỦ SỨC RĂN ĐE, GIÁO DỤC, PHÒNG, CHỐNG. .................... 52 CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỀ PHÁP LUẬT PHÒNG CHỐNG THẤT THOÁT VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG XÂY DỰNG CƠ BẢN Ở VIỆT NAM ........................................................................................ 53 3.1.HOÀN THIỆN CÁC QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC, TRONG ĐÓ ĐẶC BIỆT QUAN TÂM CÔNG TÁC KIỂM SOÁT THANH TOÁN VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN. ........................................................................... 53 3.2 BAN HÀNH QUI CHẾ ĐẦY ĐỦ VỀ XÂY DỰNG NÓI CHUNG VÀ CÔNG TÁC XÂY DỰNG CƠ BẢN NÓI RIÊNG ............................................... 62 3.3. XÂY DỰNG MỘT ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC CÓ NĂNG LỰC, TRÌNH ĐỘ, CÓ TINH THẦN TRÁCH NHIỆM CAO TRONG CÔNG VIỆC VÀ CÔNG TÁC ĐẤU TRANH VỚI CÁC SAI PHẠM. ............................................ 63 KẾT LUẬN ............................................................................................................. 68 TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................68 Khoa Luật - ĐHQGHN Luận văn thạc sĩ luật học LỜI NÓI ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài. Trong quá trình xây dựng và, tái thiết đất nước từ năm 1986 đến nay, toàn Đảng, toàn dân ta đã cố gắng tích luỹ, lao động, học tập, phấn đấu nhằm đưa đất nước thoát khỏi tình trạng đói nghèo, lạc hậu, đưa Việt Nam tiến lên sánh vai cùng các cường quốc năm châu. và thực tế những thắng lợi, hiệu quả đạt được có thể coi là câu trả lời hùng hồn nhất chứng minh tính đúng đắn của công cuộc chuyển đổi nền kinh tế quản lý hành chính tập trung quan liêu bao cấp “kinh tế thời chiến” sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý, điều tiết của nhà nước. Và nó đã làm rõ một nhận định mang tính khách quan “Sau 20 năm cải cách, đất nước, con người đều đổi mới”. Là một quốc gia đi lên từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, trải qua hàng thế kỷ dưới ách thực dân phong kiến, chống lại ba đế quốc hùng mạnh Mỹ, Pháp, Nhật; Sự tàn phá của chiến tranh đã làm cho nền kinh tế của Việt Nam suy yếu trầm trọng. Đó cũng là nguyên nhân chính dẫn đến sự phát triển của các ngành, lĩnh vực ở nước ta lạc hậu nhiều năm so với các nước tiên tiến trên thế giới. Là một trong những điều kịên tiên quyết góp phần đưa đất nước phát triển, đi lên, xây dựng cơ bản với những cơ sở vật chất thiết yếu như mạng lưới giao thông, điện, đường, trường trạm…..và các công trình quan trọng khác phục vụ theo yêu cầu riêng của từng ngành, từng lĩnh vực đã được đặt lên vị trí hàng đầu làm bước đột phá tiên phong so với các lĩnh vực khác. Đây là một quyết định đúng đắn trên cơ sở tính toán, cân nhắc dựa trên hai mặt chủ quan và khách quan của đường hướn phát triển kinh tế đất nước. Đáp ứng yêu cầu của Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá, trong giai đoạn từ nay đến năm 2020 và những kế hoạch dài hạn tiếp theo, vai trò của xây dựng cơ bản là rất quan trọng, phục vụ trực tiếp, có vị trí chiến lược đối với mục tiêu thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước. Khoa Luật - ĐHQGHN Luận văn thạc sĩ luật học Chúng ta đã bắt tay xây dựng từ những năm chiến tranh và tới khi hoà bình lập lại thì có điều kiện đẩy mạnh hơn. Có lẽ, không thể phủ nhận những thành tựu, đóng góp mà chúng ta đã đạt được khi tiến hành công cuộc này. Một hệ thống công trình kéo dài rộng khắp trong phạm vi cả nước đã và đang là một trong những điều kiện tiền đề đưa xã hội phát triển đi lên. Bên cạnh những mặt tích cực đó, tồn tại nhiều vấn đề đang được dư luận rất quan tâm. Nhà nước cũng cố gắng thực thi các biện pháp nhằm hạn chế, tiến tới xoá bỏ các vấn đề đó. Nhưng thực tế vẫn còn rất nhiều bức xúc và có thể còn kéo dài trong nhiều năm tới (Thất thoát vốn ngân sách nhà nước trong xây dựng cơ bản là một vấn nạn, một bài toán khó chưa có lời giải đáp thích đáng) và cũng là đề tài của luận văn này. Theo số liệu dự báo của cơ quan có thẩm quyền như Thanh tra nhà nước, Thanh tra chuyên ngành các cơ sở ban ngành, cơ quan công an…và đánh giá của nhiều cá nhân, tổ chức có chuyên môn cho thấy tỷ lệ thất thoát vốn ngân sách nhà nước trong xây dựng cơ bản có thể ước lượng lên tới 30 đến 35% tổng giá trị công trình. Chúng tồn tại trong tất cả các khâu: đấu thầu, thiết kế, thi công, nghiệm thu. Đây không phải là vấn đề riêng Việt Nam quan tâm mà hầu hết các quốc gia trên thế giới đang nỗ lực giải quyết. Sự thất thoát này hiện hữu rõ nét đến mức những người không có chuyên môn cũng dễ dàng nhận ra qua sự tham nhũng, bòn rút trắng trợn, sự xuống cấp nhanh chóng của rất nhiều công trình. Đó không đơn giản là hiện tượng, sự cố không may mà là một sự thất thoát có nguyên nhân từ hệ thống. Có nhiều công trình vừa đưa vào sử dụng đã phải lo sửa chữa do hư hỏng như cầu chui Văn Thánh, Sân vận động Quốc gia Mỹ Đình, Đường cao tốc số 5 Hà Nội – Hải Phòng…mà có lẽ để thống kê ra thì phải tốn rất nhiều giấy mực. Chúng ta không thể không suy nghĩ, khi làm việc với Việt Nam, một chuyên gia danh tiếng của Trung Quốc trong lĩnh vực xây dựng cơ bản nói “ở Trung Quốc, tham nhũng mạnh như vậy mà thất thoát trong xây dựng cơ bản còn tới 15 đến 20% thì ở Việt Nam con số đó phải lớn hơn rất nhiều”. Khoa Luật - ĐHQGHN Luận văn thạc sĩ luật học Ví dụ, trên trên thế giới, tại những nước công nghiệp phát triển như Mỹ, Nga, Nhật,….để thi công 1km đường giao thông quốc gia, với chất lượng địa hình bình thường thì cứ chi phí khoảng 2 đến 2,5 triệu USD. Những nơi cá biệt có thể lên đến 25- 30 triệu USD.(Để làm chưa đầy 1km đường Kim LiênÔ chợ Dừa, nhà nước ta đã chi hết 773 tỷ đồng, tương đương 45 triệu USD (21)) Theo báo cáo giải trình thì số tiền đầu tư lớn như vậy được chi vào rất nhiều công việc như giải phóng mặt bằng, tái định cư và các khâu của xây dựng từ thiết kế đến thi công. Tuy nhiên, đây chỉ là báo cáo do các nhà xây dựng tự biên ra. Còn trên thực tế, có những khoản tiền rất lớn được dùng vào những công việc không mang tính xây dựng. Phát biểu khai mạc tại hội thảo khoa học về thất thoát trong xây dựng cơ bản ngày 10 tháng 11 năm 2005, Thượng tướng, Tiến sỹ Lê Thế Tiệm Thứ trưởng Bộ công an nhấn mạnh “tiêu cực, tham nhũng trong đầu tư xây dựng cơ bản, xảy ở hầu hết các khâu từ lập dự án, khảo sát, thiết kế, đầu tư đến thi công, nghiệm thu quyết toán công trình…diễn biến rất phức tạp và ngày càng nghiêm trọng”. Thứ trưởng cũng cho biết, trong những năm qua, Chính phủ đã đầu tư vốn cho xây dựng cơ bản chiếm khoảng 35%GDP. Trong năm 2001-2005, vốn đầu tư xây dựng cơ bản toàn xã hội khoảng 30 tỷ USD. Trong khi đó, theo đánh giá của Thượng tá Nguyễn Trọng Long Trưởng phòng 6 PC15 Tổng cục cảnh sát Bộ công an: “thất thoát trong xây dựng cơ bản hiện nay đang xảy ra phổ biến ở mức 10 đến 40%”. Các tham luận khác đều nhất trí cho rằng, mức thất thoát trên là có cơ sở. Nếu chúng ta chỉ tính mức thấp nhất là 10%, thì mỗi năm nhà nước mất khoảng 1 tỷ USD. Còn Thượng tá Nguyễn Đức Long, Trưởng phòng cảnh sát điều tra tội phạm kinh tế công an Hà Nội cho biết “hàng năm, vốn đầu tư xây dựng cơ bản lên đến hàng trăm ngàn tỷ đồng.Nếu tỷ lệ thất thoát là 30%, thì số tiền bị mất là quá lớn. Số tiền này đủ nuôi bộ máy hành chính sự nghiệp của cả nước. Vậy, cần chỉ rõ nguyên nhân do đâu. Khoa Luật - ĐHQGHN Luận văn thạc sĩ luật học Vốn dầu tư xây dựng cơ bản hầu hết là từ ngân sách nhà nước, Pháp luật phải trừng trị “những con mọt dân” đang ngày đêm đục khoét trong lòng quốc gia để mưu lợi, tư túi cá nhân. Xuất phát từ việc nhận thức được điều này, nhà nước ta đã và đang thực thi những biện pháp ngăn chặn và đi đến triệt tiêu thực trạng bất cập trên. Cơ sở đầu tiên là pháp luật cần được ưu tiên. Nhưng điều quan trọng hơn là những gì chúng ta đang và sẽ xây dựng phải đạt hiệu quả, chất lượng như mong đợi. 2. Mục đích, phạm vi nghiên cứu Luận văn đề cập chủ yếu tới các vấn đề có liên quan tới xây dựng cơ bản ở nước ta hiện nay và sự cần thiết tại sao phải xem xét một cách nghiêm túc vấn đề thất thoát vốn ngân sách nhà nước trong xây dựng cơ bản, những hạn chế, yếu kém, những lỗ hổng trong công tác phòng chống thất thoát để sử dụng vốn có hiệu quả. pháp luật Việt Nam đã tạo ra lỗ hổng cho nhiều cá nhân, tổ chức rút ruột công trình nhà nước hay lãng phí của công. Những thiếu sót, những điểm cần khắc phục cũng được vạch ra để xem mấu chốt của vấn đề là ở đâu? Trong đó có đối chiếu với một số tình huống thực tế về xây dựng. Bên cạnh đó cũng tìm hiểu và phát hiện những bất cập khi thực hiện qui định của pháp luật về chống thất thoát vốn ngân sách nhà nước trong xây dựng cơ bản. Từ đó làm cơ sở rút ra những đề xuất nhằm giải quyết tốt hơn thực trạng này. Trên cơ sở những ưu điểm đã đạt được, những hạn chế còn tồn tại và đặc điểm là thực trạng thất thoát vốn cho thấy pháp luật và cơ chế thực thi pháp luật hiện nay giải quyết vấn đề này chưa đạt hiệu quả. Với nội dung bài viết, tác giả cũng mạnh dạn đưa ra một số đề xuất trong việc hoàn thiện các văn bản pháp luật về chống thất thoát vốn ngân sách nhà nước trong đầu tư xây dựng cơ bản. 3. Tình hình nghiên cứu Thất thoát vốn ngân sách nhà nước trong xây dựng cơ bản không phải là chủ đề mới,đặc biệt trong hoàn cảnh nước ta đang đẩy mạnh chống tham Khoa Luật - ĐHQGHN Luận văn thạc sĩ luật học nhũng, lãng phí .Tuy nhiên chưa có công trình nghiên cứu tổng thể một cách chuyên biệt và thấu đáo về đề tài này dưới góc độ pháp lý. Về mặt nào đó,trong các bài viết như báo chí, tham luận hay một số tác phẩm cũng có ít nhiều đề cập đến. Không chỉ ở phạm vi trong nước mà trên thế giới cũng coi đây là một chủ đề mang tính nóng và cấp thiết cao. Ví dụ như: Xây dựng cơ bản:Nợ đọng lớn, trả chưa nghiêm ngày 16/11/2004 của Quang Hà. báo Tuổi Trẻ. - Thất thoát đầu tư bị phát hiện kém xa thực tế phỏng vân ông Tạ Hữu Thanh, Phó Ban kinh tế trung ương ngày 16/11/2004. - Báo cáo giám sát của Uỷ Ban Thường Vụ Quốc Hội về quy hoạch.đầu tư, nợ đọng, thất thoát trong đầu tư xây dựng cơ bản ngay 16/11/2004 - Phát biểu khai mạc hội thảo khoa học về thất thoát trong xây dựng cơ bản ngày 10 tháng 11 năm 2005 của Bộ Công An. -Ngân sách bị xúc phạm của Quang Thiện ngày 07/09/2007 đăng trên báo tuổi trẻ. . .vv Đề tài này được tiến hành trong bối cảnh đất nước ta đang thực hiện những biện pháp quyết liệt nhằm hạn chế và đẩy lùi tham ô, lãng phí. Trong đó, lĩnh vực xây dựng cơ bản là một chủ đề nóng bỏng. Quốc hội đã ban hành Luật đấu thầu. Trong đó, hạn chế tối đa chỉ định thầu là điểm nhấn, bên cạnh Luật tiết kiệm chống lãng phí, luật chống tham nhũng…Chính Phủ và các Bộ, Ngành cũng nỗ lực thực thi các biện pháp để đưa vào thực hiện có hiệu quả trong những năm 2005, 2006, Bộ công an đã phối hợp khám phá hàng chục vụ thất thoát vốn trong lĩnh vực xây dựng cơ bản. Điển hình là PMU18 của Bộ Giao thông vận tải, một vụ án đang được dư luận xã hội hết sức quan tâm. Trước sức ép là chấn chỉnh tình trạng này, Việt Nam vẫn chưa thực sự có những biện pháp hiệu quả. 4. Phương pháp nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu tình hình thực tế, các quy chế của pháp luật hịên hành về phòng chống thất thoát vốn ngân sách nhà nước trong đầu tư xây Khoa Luật - ĐHQGHN Luận văn thạc sĩ luật học dựng cơ bản, Luận văn phân tích các diểm thiếu hay yếu ở khâu nào ? Trong luận văn này có sử dụng nhiều biện pháp nghiên cứu, như phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, so sánh, thống kê…Trong đó, chủ đạo là phương pháp phân tích và tổng hợp cùng nhiều thông tin tài liệu tham khảo có giá trị xác thực từ các báo cáo, đề án khoa học, các vụ việc đã được cơ quan có thẩm quyền công bố. 5. Kết cấu luận văn Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục văn bản, tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm ba chương: Chương 1: Khái quát về xây dựng cơ bản Chương 2: Một số chính sách pháp luật và những hoạt động cụ thể của nhà nước trong những năm qua nhằm chống thất thoát vốn ngân sách nhà nước trong đầu tư xây dựng cơ bản Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về phòng chống thất thoát vốn ngân sách nhà nước trong đầu tư xây dựng cơ bản Khoa Luật - ĐHQGHN Luận văn thạc sĩ luật học CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ XÂY DỰNG CƠ BẢN 1. Khái quát về xây dựng cơ bản và nguy cơ thất thoát vốn ngân sách nhà nước 1.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của xây dựng cơ bản ở Việt Nam Đóng vai trò quan trọng trong công cuộc kiến tạo xây dựng đất nước, phát triển kinh tế, xây dựng cơ bản đã và đang khẳng định vị thế của mình không chỉ với quốc gia mà còn có ý nghĩa, vai trò to lớn trong công cuộc thu hút vốn đầu tư nước ngoài, công cuộc hội nhập kinh tế quốc tế. Qua nhiều năm lao động cống hiến, tìm tòi, học hỏi, trưởng thành, xây dựng cơ bản đã chứng minh được sự cần thiết của mình đối với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Mang những đặc điểm riêng về mặt kinh tế, kỹ thuật, xây dựng cơ bản có những nét đặc trưng mà những lĩnh vực khác không có. Những đặc điểm này có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động thực tế, quá trình đầu tư, cũng như việc xây dựng cơ chế quản lý nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng công việc. Có thể nói rằng, xây dựng cơ bản tồn tại và hiện hữu trong hầu khắp các công trình phục vụ hoạt động sống và học tập của con người. Nhận định của các nhà kinh tế “một quốc gia không thể phát triển nếu không quan tâm đúng mức tới xây dựng cơ bản” là hoàn toàn có căn cứ xác đáng. Việt Nam là một quốc gia đi lên từ nền nông nghiệp, cơ sở vật chất kỹ thuật lạc hậu, trải qua 30 năm chiến tranh tàn phá nặng nề thì vấn đề này luôn được ưu tiên, quan tâm ở mức cao nhất có thể. Qua các tài liệu có tính chất xác thực như Báo cáo chi nhân sách nhà nước từ năm 2000 đến 2005 thì mức đầu tư xây dựng cơ bản hàng năm ở nước ta chiếm khoảng trên 30 % GDP. Ví dụ:Năm 2004, tổng chi ngân dách nhà nước là 214176 tỷ thì trong đó chi xây dựng cơ bản là 61746 tỷ chiem khoảng 30 %. Tuy nhiên trong số liệu trên chi ngân sách đầu tư xây dựng cơ bản của lĩnh vực quốc phòng, an ninh chưa dược đưa công khai và nếu tính cả phần Khoa Luật - ĐHQGHN Luận văn thạc sĩ luật học này thì con số thực tế lớn hơn rất nhiều. Đơn cử trong năm năm 2001-2005, vốn đầu tư xây dựng cơ bản trong toàn xã hội là khoảng hơn 30 tỷ USD. Với một quốc gia phát triển, đây không phải là một con số lớn. Nhưng đặt vào hoàn cảnh thực tế của Việt Nam thì đây là một lượng tài sản khổng lồ. Chỉ một dẫn chứng nhỏ đó cũng đủ nói lên tầm quan trọng của lĩnh vực này và sự quan tâm, đánh giá cao của nhà nước, của xã hội đối vơí xây dựng cơ bản. Tiến tới giành thắng lợi mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chúng ta đã bắt tay vào thực hiện những cơ sở nền móng tạo nền tảng cho mỗi bước đi và từng giai đoạn chiến lược. Trong đó, vai trò của xây dựng cơ bản là rất quan trọng phục vụ trực tiếp, có vị trí đặc biệt trong việc thu hút vốn đầu thu trong và ngoài nước. Ngành xây dựng nói chung, trong đó xây dựng cơ bản đóng vai trò xương sống, là một ngành sản xuất vật chất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Nó thực hiện có kế hoạch quá trình tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng, tài sản cố định sản xuất và phi sản xuất bằng hình thức xây dựng mới, xây dựng lại, khôi phục và mở rộng. Qua đó, đáp ứng yêu cầu phát triển cũng như những nhu cầu sinh hoạt cộng đồng, giao lưu quốc tế một cách có kế hoạch, chương trình với tốc độ nhanh, góp phần xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Có lẽ, không phải quá chủ quan khi chúng ta khẳng định không có một quá trình sản xuất hay một hoạt động, sinh hoạt nào của con người có thể diễn ra mà không cần đến những công trình xây dựng cơ bản như đường xá, cầu cống, nhà xưởng, điện nước, công trình công cộng và văn hoá. Góp phần quan trọng cùng với các ngành khác tạo nên những bước tiến, những đột phá, những giá trị mà xây dựng cơ bản đã, đang thực hiện một cách có hiệu quả là một điểm nhấn, một mắt xích không thể thiếu của nền kinh tế quốc dân. Lấy một ví dụ điển hình là để một cơ sở kinh tế, một vùng kinh tế phát triển tốt thì ưu tiên hàng đầu phải là cơ sở hạ tầng kỹ thuật hợp lý, sau đó mới có thể tính đến những bước tiếp theo. Bởi dù cho nơi đó có thuận tiện, ưu đãi Khoa Luật - ĐHQGHN Luận văn thạc sĩ luật học tự nhiên đến đâu mà không có những sản phẩm của xây dựng cơ bản như điện, đường, trường, trạm thi cũng khó có thể tạo ra những bước đột phá mạnh mẽ. Đứng về mặt giá trị của một công trình xây dựng cơ bản nói chung, ta thấy đối với các công trình sản xuất, phần giá trị công tác xây lắp, tứ là sản phẩm trực tiếp của xây dựng thường chiếm 60 đến 80% vốn đầu tư, còn lại là giá trị thiết bị máy móc. Riêng đối với các công trình khác như công trình công cộng, dân sinh, thì mức độ có thể là 90 đến 100 % giá trị.(15,chương1) Ví dụ : Xây dựng đường điện, đường nước, đường giao thông. Qua đó, xây dựng cơ bản góp phần đảm bảo nâng cao năng lực sản xuất mới, có kế hoạch cải tiến cơ cấu trong từng ngành và trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân góp phần xây dựng những mối quan hệ cân đối giữa các ngành, phân bố hợp lý sức sản xuất và nâng cao trình độ trang bị ký thuật trong các ngành, vùng kinh tế. Nó còn tạo ra các điều kiện rất quan trọng cho việc thực hiện thắng lợi cách mạng khoa học kỹ thuật va công nghệ, góp phần cho quá trình lao động sản xuất như tập trung hoá, chuyên môn hoá, hợp tác hoá, liên hợp hoá và góp phần quan trọng vào quá trình điện khí hoá, tự động hoá trong mọi ngành kinh tế, văn hoá đời sống, công nghiệp, đưa các vùng miền trở nên gần gũi mà sự tiện ích của nó mang lại. Chính vì vậy, ngành xây dựng nói chung mà trong đó xây dựng cơ bản là điểm mấu chốt giữ vai trò quan trọng để Đảng và nhà nước lãnh đạo thực hiện đường lối, chính sách trong quá trình xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, như đường lối công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phương châm tự lực cánh sinh, tận dụng sự giúp đỡ của quốc tế để xây dựng nền kinh tế tự chủ, cách mạng khoa học công nghệ, quốc phòng an ninh. Cho đến nay, xây dựng cơ bản vẫn chưa có một khái niệm thực sự rõ ràng, thống nhất. Hầu hết tất cả các bài viết thường chỉ nêu được nội dung của công việc này. Tuy nhiên, có thể hiểu một cách tổng quát “xây dựng cơ bản là hoạt động xây dựng kiến tạo nên những hạng mục công trình kỹ thuật quan trọng thuộc nhiều ngành nghề, lĩnh vực. Là cơ sở vật chất kỹ thuật Khoa Luật - ĐHQGHN Luận văn thạc sĩ luật học của nền kinh tế quốc dân, đồng thời cũng là cơ sở vật chất kỹ thuật cho việc tăng cường khả năng quốc phòng, an ninh đất nước.” 1.2 Hoạt động đầu tư của nhà nước đối với xây dựng cơ bản Xây dựng cơ bản luôn được quan tâm đầu tiên khi thực hiện các phương án qui hoạch xây dựng đúng đắn có liên quan đến những vấn đề chính trị xã hội quan trọng như: nhanh chóng xoá bỏ sự khác biệt nông thôn, thành thị, miền ngược, miền xuôI, tăng cường hợp tác, lưu thông giữa các vùng miền, ngành, củng cố liên minh công nông, củng cố quan hệ sản xuất thoả mãn nhu cầu xã hội và dân sinh. Xây dựng cơ bản là yếu tố then chốt hàng đầu, kiến tạo nên các cơ sở vật chất, kỹ thuật. Nều kinh tế quốc dân càng phát triển thì càng tạo điều kịên và mở ra các cơ hội mới. Đặc biệt, còn cụ thể hoá sự kết hợp giữa kinh tế- dân sinh- quốc phòng- an ninh, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần trong cộng đồng xã hội. Từ những yếu tố trên, chúng ta có thể hiểu xây dựng cơ bản là một bộ phận quan trọng trong lĩnh vực xây dựng, kiến tạo nên những giá trị thiết yếu của cuộc sống cộng đồng như điện, đường, trường, trạm và các công trình khác, góp phần quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế đất nước, phục vụ đời sống cộng đồng, củng cố quốc phòng và an ninh. Xây dựng cơ bản hàng năm chiếm một số vốn khổng lồ. Tử năm 2001 đến nay, lượng vốn đầu tư hàng năm cho công việc này luôn chiếm khoảng hơn 30% GDP cả nước(18). Trong những năm 2005, 2006, mỗi năm nhà nước ta đầu tư hơn 10 tỷ USD (Quyết toán chi ngân sách nhà nước năm 2005). Cùng với lực lượng tham gia lao động chiếm 10 đến 14% dân số toàn quốc. Từ những con số trên, chúng ta có thể hình dung tầm vóc to lớn của lĩnh vực này. Trong hoàn cảnh đất nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu, trải qua nhiều năm chiến tranh, xây dựng cơ bản càng có vị trí quan trọng và nhiệm vụ nặng nề trong việc xây dựng mới, phục hồi và mở rộng cơ sở vật chất kỹ thuật Khoa Luật - ĐHQGHN Luận văn thạc sĩ luật học với công trình “to đẹp hơn, đàng hoàng hơn”. Do vậy, vốn đầu tư xây dựng cơ bản hàng năm được tăng cường, cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành đầu tư xây dựng cơ bản được đầu tư, trang bị ngày càng hiện đại, đội ngũ cán bộ, công nhân càng tăng về số lượng và chất lượng. Từ yêu cầu của thực tế đời sống xã hội, quốc phòng, an ninh… xây dựng cơ bản được đầu tư không tập trung trong một ngành, lĩnh vực hay địa phương nào mà được tiến hành trên diện rộng bao gồm nhiều hạng mục công trình ở trong khắp các ngành nghề. Tuy nhiên, nhà nước ta, nhà đầu tư chủ yếu có xem xét đầu tư khu vực trọng điểm hay không trọng điểm, mức độ đầu tư nhiều hay ít. Đây là một việc làm đúng đắn và cần thiết. Đất nước ta còn nghèo mà đầu tư theo hình thức giàn trải, cào bằng thì việc đáp ứng đủ là rất khó. Có những chỗ tính cấp thiết đầu tư chưa cao, hoặc là mức độ quan trọng ít hơn thì không cần phải đầu tư nhiều. Và ngược lại, những nơi có tính chiến lược thì phải được ưu tiên. Nội dung luận văn chủ yếu đề cập đến thất thoát vốn ngân sách nhà nước trong xây dựng cơ bản. Tuy nhiên, chúng ta cũng nên nói tới đầu tư của tư nhân và nguồn khác ngoài nhà nước. Trong lĩnh vực này, các nhà đầu tư ngoài nhà nước ít quan tâm vì khả năng thu hồi vốn chậm, lượng tiền đầu tư lớn…. nên chỉ xuất hiện ở các công trình mang tính nhỏ lẻ. Dưới góc độ chống thất thoát vốn thì có thể nói, ở các nhà đầu tư ngoài nhà nước là mức độ ít nhất bởi họ có cơ chế quản lý linh hoạt, đặt hiệu quả lên hàng đầu, không mang cơ chế xin cho, và đặc biệt là tính kịp thời của các quyết định quản lý…..Từ đó, chúng ta không thể không đặt ra một câu hỏi trong phần chính của luận văn “tại sao nhà nước với một bộ máy chính quyền hùng hậu, có pháp luật và các công cụ hỗ trợ mạnh lại để tình trạng thất thoát, tham nhũng, lãng phí trở thành quốc nạn?” 1.3. Những đặc điểm của lĩnh vực xây dựng cơ bản Xây dựng cơ bản là một ngành sản xuất vật chất đặc biệt. Nó có đặc điểm chung của ngành sản xuất vật chất. Nhưng nó cũng có những nét riêng biệt của ngành xây dựng. Chính từ những đặc điểm chung và riêng này, nảy Khoa Luật - ĐHQGHN Luận văn thạc sĩ luật học sinh ra những vấn đề kinh tế kỹ thuật và công nghệ có liên quan mật thiết và ảnh hưởng trực tiếp đến qui luật phát triển ngành xây dựng nói chung và xây dựng cơ bản nói riêng. Nó quyết định đến đặc điểm trong việc tổ chức và quản lý đầu tư xây dựng, cấp phát tài chính và hạch toán sản xuất ngành xây dựng. 1.3.1 Đặc điểm của sản phẩm xây dựng cơ bản Là những công trình hay hạng mục công trình đã được hoàn thành đến giai đoạn bàn giao dưới những hình thức xây dựng mới, mở rộng hoặc khôi phục sửa chữa, sản phẩm xây dựng cơ bản có những đặc điểm riêng đáng chú ý(15, chương 1):  Sản phẩm của xây dựng cơ bản gắn với đất đai, địa điểm xây dựng, ví dụ như đường xá, cầu cống, nhà xưởng…Từ những đặc điểm này này sinh những đặc điểm khác. Nó đòi hỏi sản phẩm xây dựng khi sản xuất phải nghiên cứu thật kỹ lưõng việc lựa chọn địa điểm xây dựng sản phẩm đó. Vị trí xây dựng không những quyết định đến giá thành sản phẩm mà còn ảnh hưởng đến hiệu quả công trình sau này. Ở đây, chúng ta có thể thấy ngay rằng, do tính chất qui mô lớn của xây dựng cơ bản nên việc nghiên cứu, chọn vị trí phải là khâu đầu tiên. Do sản phẩm gắn với thực tế địa hình đất đai xây dựng, nếu địa hình tốt, thuận lợi thì chi phí, tốc đọ xây dựng, chất lượng công trình sẽ tốt hơn và ngược lại.  Sản phẩm của xây dựng cơ bản được làm ra theo kế hoạch, đơn đặt hàng đã được yêu cầu trước, những việc làm tiền đề cho sự ra đời của một sản phẩm xây dựng cơ bản có khi đã được chuẩn bị trước vài năm. Ví dụ: Để làm một tuyến đường mới thì trước tiên phải có quyết định xây dựng, thăm dò khảo sát thiết kế rồi mới đến giai đoạn thầu và khởi công xây dựng… Chính đặc điểm này quyết định đến trình tự xây dựng cơ bản và đòi hỏi có một cơ chế quản lý kinh tế riêng. Và ở đây, hợp đồng kinh tế đóng vai trò quan trọng. Nó yêu cầu thêm đến điều kiện làm việc và đời sống người lao động. Khoa Luật - ĐHQGHN Luận văn thạc sĩ luật học  Sản phẩm xây dựng cơ bản có tính riêng lẻ, đơn chiếc, không sản xuất ồ ạt, đại trà. Đặc điểm này đòi hỏi với mỗi công trình xây dựng cơ bản, phải có thiết kế riêng. Do đó, sản phẩm của nó mỗi cái mang một nét cá biệt, nhiều vẻ, phức tạp về phương diện cấu tạo, cách chế tạo và công dụng, ảnh hưởng rất nhiều đến điều kiện xây dựng, phương pháp quản lý. Đó là do mỗi công trình được thi công với qui mô, kích cỡ, điểu kiện địa hình, thời gian, thiết kế rất khác nhau. Và trên cơ sở đó tính gấp rút, quan trọng cũng khác nhau.  Được thi công ngoài trời, trong điều kiện tự nhiên có khối lượng rất lớn và trảI trên diện tích rộng, dài theo tuyến, do đó chi phí lao động, vật tư, máy móc và tiền vốn cho xây dựng cơ bản là rất lớn. Vấn đề ở đây là tồn tại yêu cầu phải tìm ra phương pháp tiết kiệm chi phí lao động xã hội. Xây dựng cơ bản cũng đặt ra cho những người có trách nhiệm những nhiệm vụ nặng nề cho tổ chức thi công và cung ứng vật tư. Ví dụ: Khi thi công đường cao tốc số 5 Hà Nội - HảI Phòng dài 100 km, trên một diện tích lớn và dài, có rất nhiều khó khăn khi cung ứng vật liệu, di chuyển máy móc thiết bị, nhân công lao động. Và bên cạnh đó vẫn phải đảm bảo giao thông thông suốt.  Xây dựng cơ bản còn chịu ảnh hưởng của những yếu tố truyền thống, thói quen, khí hậu hay trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật quốc gia cũng như yêu cầu thực tế của từng thời kỳ có tính dự đoán tương lai và khả năng thực thi của nhà nước. Đây cũng là một đặc điểm rất cơ bản bởi mức độ đầu tư và qui mô lớn không phải lúc nào muốn là làm được thống, thói quen, khí hậu hay trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật quốc gia cũng như yêu cầu thực tế của từng thời kỳ có tính dự đoán tương lai và khả năng thực thi của nhà nước. Đây cũng là một đặc điểm rất cơ bản bởi mức độ đầu tư và qui mô lớn không phải lúc nào muốn là làm được.  Sản phẩm của xây dựng cơ bản tồn tại lâu dài với thời gian, sức phục vụ lớn. Tuy nhiên, những yếu tố ngoại cảnh tác động cũng là một trong những điêu để duy trì lâu hay chóng. Khoa Luật - ĐHQGHN Luận văn thạc sĩ luật học Ví dụ: Sự quá tải của một cung đường làm cho đường nhanh chóng xuống cấp. Từ đó, đòi hỏi các sản phẩm của xây dựng cơ bản cần phải được thi công với chất lượng cao, tránh, loại bỏ những yếu tố rủi ro bất lợi, phải nắm bắt được những tiến bộ kỹ thuật để tính toán và lường trước những công trình làm ra không bị lạc hậu với thời gian sử dụng hay không đủ sức đáp ứng yêu cầu sử dụng. Bên bạnh đó vẫn phải đảm bảo mỹ quan của công trình xây dựng. 1.3.2 Đặc điểm của quá trình sản xuất xây dựng cơ bản Trong nhiều các đặc điểm của một công việc hay một sản phẩm nào đó đều có những đặc điểm chủ đạo, giữ vai trò quyết định đối với các đặc điểm khác. Đối với xây dựng cơ bản, đặc điểm của sản phẩm làm ra quyết định đặc điểm của quá trình sản xuất(15,chương1) :  Do tính chất cố định của sản phẩm xây dựng cơ bản luôn ở trên một địa bàn nào đó dẫn đến một đặc điểm trái ngược đó là sinh ra tính chất di động, tính chất ổn định, luôn biến động theo địa điểm xây dựng và trong cả các giai đoạn của quá trình thực hiện xây dựng công trình. Xuất phát từ đặc điểm là sản phẩm xây dựng cơ bản có khả năng bóc tách từng khâu rất cao. Do đó, ở mỗi khâu, khi xong việc cũng đồng nghĩa với hoàn thành và chỉ còn chịu trách nhiệm với phần đó. Ví dụ: Việc thi công đường cao tốc Hoà Lạc được chia làm các gói thầu, mỗi gói thực hiện một đoạn đường và đơn vị thi công trên gói đó hoàn thành xong đoạn này tiếp tục sang đoạn khác, không thể cố định bởi một chỗ.  Đối với ngành sản xuất công nghiệp khác, công nhân và công cụ lao động hoạt động chủ yếu ở một địa điểm cố định. Còn sản phẩm chế tạo ra di chuyển qua các khâu của dây chuyền sản xuất. Sản phẩm của xây dựng cơ bản thì ngược lại. Công nhân và tư liệu lao động phải di chuyển liên tục để hoàn thành công tác xây lắp ngay trong phạm vi thực hiện một công trình. Thực chất di động này còn vượt ra ngoài khuôn khổ của một địa bàn xây dựng. Sau khi xây dựng xong một công trình, toàn bộ công nhân và tư liệu lao Khoa Luật - ĐHQGHN Luận văn thạc sĩ luật học động phải di chuyển đi nơi khác để tiến hành tiếp công việc. Do đó đặt ra những yêu cầu rất đặc biệt đối với tổ chức thi công và quản lý xây dựng. Nó đòi hỏi mỗi bộ phận trong bộ máy phải có tính chất linh hoạt cao, cơ động trong tổ chức sản xuất, xác định đúng sự tập trung và phân cấp quản lý, qui hoạch vùng hoạt động theo lãnh thổ cho các tổ chức xây dựng, kết hợp quản lý theo ngành và theo địa phương cũng như theo vùng lãnh thổ một cách phù hợp, áp dụng các hình thức tập trung hoá, chuyên môn hoá, hợp tác hoá và liên hợp hoá sản xuất một cách hợp lý.  Do khối lượng và kích thước sản phẩm lớn, thời gian xây dựng kéo dài, có khi lên đến hàng chục năm, nên tất yếu chu kỳ sản xuất của xây dựng cơ bản kéo dài, vốn bỏ ra xây dựng cơ bản rât lớn và nhiều năm trong dạng công trình dở dang, không phát huy được đồng vốn, gây ứ đọng vốn. Điều này đòi hỏi tổ chức thi công phảI tổ chức hợp lý để rút ngắn thời gian thi công, sớm đưa công trình ra hoạt động. Chỉ tiêu này cũng là tiêu chí chủ yếu để đánh giá kết quả sản xuất coi trọng phương châm thi công, tập trung dứt điểm, tổ chức dự trữ vật tư hợp lý, áp dụng chế độ thanh toán và bàn giao nhanh chóng, coi trọng nhân tố thời gian khi tính toán hiệu quả và lựa chọn phương án.  Sản xuất xây dựng cơ bản phải tiến hành theo đơn đặt hàng cụ thể vì sản phẩm xây dựng cơ bản đa dạng, mang nhiều nét cá biệt, phụ thuộc nhiều vào địa phương xây dựng và yêu cầu của những cá nhân, tổ chức sử dụng. Trong nhiều ngành sản xuất khác, người ta có thể sản xuất, cho ra đời hàng loạt sản phẩm mà chưa cần ai biết, nơI nào, đơn vị nào sử dụng cụ thể. Nhưng xây dựng cơ bản thì khác hẳn. Để sản xuất một sản phẩm thì luôn phải dựa vào những yêu cầu, đơn đặt hàng có trước, địa điểm hay người sử dụng cụ thể, thông qua những hợp đồng cụ thể. Ngay đối với các công trình được thiết kế mẫu cũng phải luôn luôn thay đổi ít nhiều khi đem áp dụng vào các điều kiện cụ thể. Đặc điểm này đòi hỏi các tổ chức xây dựng phảI coi trọng công tác hợp đồng cụ thể, chủ động tham gia vào việc xây dựng các phương án Khoa Luật - ĐHQGHN Luận văn thạc sĩ luật học thiết kế và dự toán, coi trọng công tác so sánh các phương án sản xuất trong điều kiện cụ thể, phối hợp tốt giữa việc áp dụng thiết kế mẫu và phương pháp điều chỉnh khi đưa vào thực tế.  Xây dựng cơ bản được tiến hành ngoài trời nền chịu ảnh hưởng nhiều của thời tiết, nhiều công việc nặng nhọc, khối lượng vận chuyển lớn. Và đặc biệt, ảnh hưởng của thời tiết thường làm gián đoạn thi công. Ví dụ: Trời mưa kéo dài có khả năng làm đình trệ hay gây thiệt hại vật chất, chất lượng công trình, làm cho năng lực sản xuất của tổ chức xây dựng không được sử dụng điều hoà trong cả 4 quí, gây khó khăn trong việc lựa chọn trình tự thi công, đòi hỏi phải dự trữ vật tư nhiều hơn, sản xuất xây dựng phải phát triển theo hướng cơ giới hoá với mức độ cao. Các quá trình thi công tại hiện trường và công xưởng hoá việc sản xuất các cấu kiện đúc sẵn, trên cơ sở áp dụng kết cấu lắp ghép, qui trình tổ chức xây dựng phải có một trình tự khai triển công tác hợp lý. Chú trọng nhân tố thời tiết khi lập tổng tiến độ thi công, không để thời gian chết, chú ý cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động.  Cơ cấu quá trình sản xuất xây dựng cơ bản phức tạp. Số đơn vị tham gia công trình thường lớn. Các đơn vị tham gia hợp tác xây dựng trên cùng một địa điểm và thực hiện những phần việc của mình theo trình tự thời gian và không gian khác nhau. Đặc điểm này đòi hỏi các tổ chức xây dựng phảI có trình độ tổ chức phối hợp trong sản xuất, cả về mặt trình tự thời gian và mặt bằng thi công, coi trọng công tác chuẩn bị xây dựng và thiết kế tổ chức thi công, xác định đúng những khâu công tác quyết định toàn bộ tiến trình thi công, coi trọng công tác điều độ thi công…thì mới mang lại hiệu quả kinh tế. Ngoài những đặc điểm trên, sản xuất xây dựng chiu sự tác động khách quan từ các điều kiện cụ thể của địa phương, ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác xây dựng cơ bản.
- Xem thêm -