Đăng ký Đăng nhập
Trang chủ Một số vấn đề cơ bản về chế định hiệu lực của bộ luật hình sự trong pháp luật hì...

Tài liệu Một số vấn đề cơ bản về chế định hiệu lực của bộ luật hình sự trong pháp luật hình sự việt nam luận văn ths. luật

.PDF
91
597
125

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT NGUYỄN XUÂN LƯỢT MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẾ ĐỊNH HIỆU LỰC CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2012 1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT NGUYỄN XUÂN LƯỢT MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẾ ĐỊNH HIỆU LỰC CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM Chuyên ngành: Luật Hình sự Mã số : 60 38 40 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH Lê Văn Cảm HÀ NỘI - 2012 2 MỤC LỤC Trang Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Mở đầu 01 CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIỆU LỰC CỦA 08 ĐẠO LUẬT HÌNH SỰ 1.1. Khái niệm hiệu lực của đạo luật hình sự và các đặc điểm cơ bản của 08 nó 1.2. Nội hàm khoa học của phạm trù “hiệu lực hồi tố” của đạo luật hình 11 sự 1.2.1. Khái niệm “hiệu lực hồi tố của đạo luật hình sự” 11 1. 2. 2. Bản chất xã hội – pháp lý của vấn đề hiệu lực “hồi tố của đạo luật 12 hình sự” 1.2.3. Hiệu lực của đạo luật hình sự về thời gian 17 1.2.4. Hiệu lực của đạo luật hình sự về không gian 23 1.2.5. Hiệu lực của đạo luật hình sự về lãnh thổ 27 1.3. Vấn đề hiệu lực của đạo luật hình sự trong pháp luật hình sự một số 29 nước trên thế giới CHƢƠNG 2: CÁC QUY PHẠM PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 43 CÓ LIÊN QUAN ĐẾN CHẾ ĐỊNH HIỆU LỰC CỦA ĐẠO LUẬT HÌNH SỰ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG 2.1. Giai đoạn từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đến pháp điển hóa lần 43 thứ nhất (1945-1985) 2.2. Trong Bộ luật hình sự năm 1985 46 4 2.2.1 Các quy phạm pháp luật về hiệu lực của đạo luật hình sự trong Bộ 46 luật hình sự năm 1985 2.2.2 Quy định về hiệu lực của Bộ luật hình sự trong Bộ luật hình sự 50 trong các lần sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 1985 2.3. Trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành 51 2.4. Thực tiễn áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự liên quan đến chế 55 định hiệu lực của Bộ luật hình sự 2.4.1 Vấn đề áp dụng chế định hiệu lực của Bộ luật hình sự trong thự tế 55 hiện nay 2.4.2 Một số bất cập, vướng mắc trong quá trình áp dụng chế định hiệu 57 lực của Bộ luật hình sự trên thực tiễn CHƢƠNG 3: VẤN ĐỀ HOÀN THIỆN CÁC QUY PHẠM PHÁP 69 LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM LIÊN QUAN ĐẾN CHẾ ĐỊNH HIỆU LỰC CỦA ĐẠO LUẬT HÌNH SỰ 3.1. Một số quy định cần sửa đổi trong Bộ luật hình sự hiện hành 70 3.2. Bổ sung một số quy định mới trong Bộ luật hình sự hiện hành 73 3. 3. Mô hình lý luận về một số quy phạm pháp luật của chế định hiệu lực 77 của Bộ luật hình sự Việt Nam KẾT LUẬN 81 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 84 5 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Quá trình đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cùng với đó là quá trình nhất thể hóa hội nhập pháp luật đã và đang thực sự diễn ra trên nhiều lĩnh vực, có tác động sâu sắc đến sự phát triển của đất nước ta hiện nay. Trong đó, vấn đề hoàn thiện chính sách pháp luật trong đó có chính sách pháp luật hình sự là một vấn đề luôn được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Điều đó được phản ánh trong các văn kiện Đại hội của Đảng Cộng Sản Việt Nam, cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội trong các kỳ Đại hội vừa qua. Nhằm cụ thể hóa một số chủ chương của Đảng, tại nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính Trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã chỉ rõ: ”hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến lĩnh vực tư pháp hình sự phù hợp với mục tiêu của chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Coi trọng việc hoàn thiện chính sách hình sự” [19] với quan điểm “phải kế thừa truyền thống pháp lý dân tộc, những thành tựu đã đạt được của nền tư pháp xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của ngoài phù hợp với hoàn cảnh nước ta và yêu cầu chủ động hội nhập quốc tế; đáp ứng được xu thế phát triển của xã hội trong tương lai” [19]. Với chủ chương cải cách tư pháp trên, việc nghiên cứu chế định hiệu lực của Bộ luật hình sự trong pháp luật hình sự Việt Nam có ý nghĩa rất quan trọng thể hiện trên các bình diện chủ yếu dưới đây: - Về mặt lý luận, luận văn là công trình nghiên cứu chuyên khảo đề cập riêng đến việc phân tích có hệ thống những nội dung cơ bản của chế định 6 hiệu lực của Bộ luật hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam với những đóng góp về mặt khoa học pháp lý, làm sáng tỏ bản chất pháp lý của chế định hiệu lực của Bộ luật hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam. - Về mặt lập pháp, các kết quả của quá trình nghiên cứu sẽ hỗ trợ, bổ sung cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật. Nó giúp cho chúng ta nhận ra những vấn đề cụ thể nào cần thống nhất; vấn đề nào cần làm sáng tỏ những qui định trong pháp luật hình sự nước ta về chế định hiệu lực của Bộ luật hình sự trong pháp luật hình sự Việt Nam. - Về mặt thực tiễn, kết quả của việc nghiên cứu sẽ cung cấp cho các nhà làm luật, các nhà lý luận, các thẩm phán và những chủ thể hoạt động thực tiễn pháp lý khác những giải pháp để giải quyết các vấn đề xã hội được đặt ra trong đời sống xã hội. Các giải pháp này đôi khi hữu ích hơn những tư tưởng đang bị vây hãm chặt chẽ bởi hệ thống pháp luật quốc gia đang cần cải cách. Đặc biệt, hiện nay những qui định của pháp luật hình sự Việt Nam về hiệu lực của Bộ luật hình sự mặc dù đã được sửa đổi, bổ sung so với Bộ luật hình sự năm 1985, nhưng trong thực tiễn áp dụng Bộ luật hình sự vẫn còn một số điểm khó khăn, vướng mắc, bất cập vẫn chưa được giải quyết. Dựa trên kết quả của việc nghiên cứu chế định hiệu lực của Bộ luật hình sự trong pháp luật hình sự Việt Nam sẽ góp phần xây dựng và hoàn thiện chế định hiệu lực của Bộ luật hình sự trong pháp luật hình sự nước ta hiện nay. Ngay cả trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự gần đây của Quốc Hội khóa XII kỳ họp thứ 5 số 37/2009/QH12 ngày 19 tháng 6 năm 2009 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2010 cũng chỉ sửa đổi, bổ sung và bãi bỏ một số điều trong các quy định tại phần riêng của Bộ luật hình sự năm 1999 mà không sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ các qui định 7 trong phần chung của Bộ luật hình sự nói chung cũng như qui định về chế định hiệu lực của Bộ luật hình sự nói riêng. Vì vậy, việc nghiên cứu chế định hiệu lực của Bộ luật hình sự trong pháp luật hình sự Việt Nam để từ đó đưa ra những giải pháp góp phần hoàn thiện các qui định của pháp luật hình sự trở thành một yêu cầu cấp bách và có ý nghĩa thiết thực về mặt lý luận, mặt lập pháp cũng như thực tiễn áp dụng các qui định của pháp luật hình hình sự ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. 2. Tình hình nghiên cứu Việc chế định hiệu lực của Bộ luật hình sự Việt Nam đã có nhiều tài liệu đề cập đến như giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Phần chung, Khoa luật - Đại Học Quốc gia Hà Nội, Nxb Đại Học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội, 2003; Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, tập 1, Đại Học Luật Hà Nội, Nxb Công An Nhân Dân, Hà nội, 2006; Lê Văn Cảm: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung), Nxb Đại Học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội, 2005; Đinh Văn Quế: Bình Luận Khoa Học Bộ Luật Hình Sự (Phần chung), Nxb Thành Phố Hồ Chí Minh, Thành Phố Hồ Chí Minh, 2006… Những công trình này đã phần nào đề cập đến chế định hiệu lực của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, các công trình này vẫn chưa nghiên cứu một cách có hệ thống và chuyên biệt chế định này. Vì vậy, việc nghiên cứu chế định này có ý nghĩa thiết thực về mặt lý luận cũng như về thực tiễn áp dụng, nhằm đưa ra một cách hệ thống, toàn diện, đầy đủ và chuyên biệt nhất chế định hiệu lực của Bộ luật hình sự Việt Nam. Tác giả chọn đề tài “Một số vấn đề cơ bản về chế định hiệu lực của Bộ luật hình sự trong pháp luật hình sự Việt Nam” để làm luận văn tốt nghiệp cũng nhằm mục đích đó. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8 - Mục đích: Mục đích của luận văn đó là làm sáng tỏ một cách có hệ thống về mặt lý luận những nội dung cơ bản của chế định hiệu lực của Bộ luật hình sự trong pháp luật hình sự Việt Nam, xác định những bất cập trong thực tiễn để đề xuất những giải pháp tiếp tục hoàn thiện chế định trong thời gian tới và nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. - Nhiệm vụ: Với mục đích nghiên cứu trên, luận văn tập trung vào giải quyết những nhiệm vụ sau: Về mặt lý luận: Trên cơ sở nghiên cứu sự phát triển của chế định này trong lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam, đồng thời so sánh chế định hiệu lực của Bộ luật hình sự trong pháp luật hình sự Việt Nam với chế định hiệu lực của Bộ luật hình sự trong pháp luật hình sự của một số nước khác trên thế giới, làm sáng tỏ bản chất pháp lý của chế định hiệu lực của Bộ luật hình sự trong pháp luật hình sự Việt Nam. Về mặt thực tiễn: nghiên cứu việc áp dụng các quy phạm pháp luật của chế định hiệu lực của Bộ luật hình sự trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự nước ta. Trên cơ sở phân tích những thiếu sót, khuyết điểm và những vướng mắc của việc áp dụng pháp luật hình sự liên quan đến chế định hiệu lực của Bộ luật hình sự, đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm góp phần tạo sự nhận thức và áp dụng pháp luật được thống nhất. 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là chế định hiệu lực của Bộ luật hình sự trong pháp luật hình sự Việt Nam qua các thời kỳ và các qui định về 9 chế định hiệu lực của Bộ luật hình sự ở một số nước trên thế giới. Cụ thể là nghiên cứu những vấn đề về chế định hiệu lực của Bộ luật hình sự như: Khái niệm; căn cứ; điều kiện… Luận văn nghiên cứu chế định hiệu lực của Bộ luật hình sự trong pháp luật hình sự Việt Nam dưới góc độ luật hình sự. Luận văn nghiên cứu chế định hiệu lực của Bộ luật hình sự trong pháp luật hình sự Việt Nam trải dài theo suốt chiều dài lịch sử của nước ta kể từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được thành lập năm 1945 cho đến nay. Cụ thể là: Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1985; Các luật sửa đổi, bổ sung năm 1989, năm 1991, năm 1992, năm 1997 Bộ luật hình sự năm 1985; Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự của Quốc Hội khóa XII kỳ họp thứ 5 số 37/2009/QH12 ngày 19 tháng 6 năm 2009 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2010; và một số Bộ luật hình sự của một số nước khác trên thế giới. Đồng thời, luận văn còn nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về chế định hiệu lực của Bộ luật hình sự. 5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm đường lối chính sách của Đảng Cộng Sản Việt Nam và của Nhà nước ta về Nhà nước pháp quyền và hoạt động tư pháp, các học thuyết chính trị pháp lý trên thế giới. Luận văn cũng được trình bày trên cơ sở nghiên cứu Hiến pháp, Bộ luật hình sự Việt Nam, Bộ luật hình sự của một số nước trên thế giới và các tài liệu khác. Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể 10 như phương pháp hệ thống, lịch sử, lôgíc, phân tích, tổng hợp, so sánh luật học. Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, tác giả còn tham khảo ý kiến của các chuyên gia đầu nghành trong lĩnh vực tư pháp hình sự liên quan đến đề tài. 6. Đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn. Luận văn là công trình lần đầu tiên nghiên cứu đi sâu vào phân tích một cách toàn diện, đầy đủ và có hệ thống chế định hiệu lực của Bộ luật hình sự qua các thời kỳ. Đồng thời luận văn cũng tiếp thu có chọn lọc những qui định tiến bộ của pháp luật một số nước trên thế giới phù hợp với pháp luật nước ta để từ đó tìm ra những giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện, hệ thống các qui phạm pháp luật về chế định hiệu lực của Bộ luật hình sự Việt Nam. Điều này được thể hiện qua các kiến giải lập pháp nhằm hoàn thiện chế định hiệu lực của Bộ luật hình sự trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay được tác giả trình bày trong luận văn đó là: - Khái niệm chung nhất về chế định hiệu lực của Bộ luật hình sự; - Các trường hợp được miễn trừ trách nhiệm ngoại giao; - Việc áp dụng các qui định trong các điều ước quốc tế song phương; điều ước quốc tế đa phương; các tổ chức quốc tế mà nước ta tham gia; hay các qui tắc quốc tế khác có liên quan đến chế định hiệu lực của Bộ luật hình sự của nước ta hiện nay. - Vấn đề hồi tố; - Các trường hợp phạm tội ở nước ngoài; 11 - Các trường hợp người phạm tội bị kết án ở nước ngoài, đã thi hành hoặc thi hành một phần hoặc chưa thi hành được miễn chấp hành hình phạt các bản án có hiệu lực của nước ngoài; và một số vấn đề khác; - Đưa ra mô hình lý luận về một số quy phạm pháp luật của chế định hiệu lực của Bộ luật hình sự Việt Nam. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài Phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn này bao gồm 3 chương với kết cấu như sau: Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về hiệu lực của đạo luật hình sự Chương 2: Các quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam có liên quan đến chế định hiệu lực của đạo luật hình sự và thực tiễn áp dụng Chương 3: Vấn đề hoàn thiện các quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam liên quan đến chế định hiệu lực của đạo luật hình sự 12 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIỆU LỰC CỦA ĐẠO LUẬT HÌNH SỰ 1.1. Khái niệm hiệu lực của đạo luật hình sự và các đặc điểm cơ bản của nó 1.1.1. Khái niệm hiệu lực của đạo luật hình sự Trước hết, theo lý luận chung về pháp luật thì “đạo luật hình sự có thể là Bộ luật hình sự hoặc một đạo luật hình sự đơn hành qui định trách nhiệm hình sự đối với một hoặc một số tội phạm nhất định. Bộ luật hình sự được hiểu là Đạo luật hình sự hoàn chỉnh nhất tập hợp đầy đủ các qui phạm pháp luật hình sự”[8, tr. 84]. Như vậy, khi nói tới khái niệm về hiệu lực của Bộ luật hình sự cũng chính là nói tới khái niệm hiệu lực của đạo luật hình sự. Về mặt hình thức thì khái niệm hiệu lực của đạo luật hình sự chưa được qui định cụ thể trong Bộ luật hình sự hiện hành ở nước ta hiện nay. Tuy nhiên, trong khoa học luật hình sự hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm này như sau: Theo từ điển luật học của GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa và PGS.TS Lê Thị Sơn thì hiệu lực của đạo luật hình sự là “giá trị thi hành của đạo luật hình sự theo không gian và thời gian (đạo luật hình sự được áp dụng cho những hành vi phạm tội xảy ra khi nào, ở đâu, do ai thực hiện)” [24]. Theo PTS Võ Khánh Vinh thì “Hiệu lực của đạo luật hình sự là sự hoạt động hiện thực của những quy phạm pháp luật được thể hiện trong đạo luật đó, là sự biểu hiện trong thực tế năng lượng pháp lý của chúng. Sự hoạt động hiện thực, sự biểu hiện trong thực tế năng lượng pháp lý đó của các quy phạm của đạo luật hình sự được khái quát bằng khái niệm hiệu lực pháp lý của đạo luật hình sự. Khái niệm hiệu lực của đạo luật hình sự về cơ bản bao 13 hàm hiệu lực của đạo luật về không gian và hiệu lực của đạo luật về thời gian, tức là khía cạnh làm sáng tỏ các giới hạn về không gian và thời gian về thời gian của việc áp dụng đạo luật hình sự” [39, tr. 57]. GS.TSKH Lê Văn Cảm đưa ra định nghĩa về khái niệm hiệu lực của Đạo luật hình sự:”Hiệu lực của đạo luật hình sự là thời điểm áp dụng một hoặc nhiều quy phạm (chế định) cụ thể của luật hình sự đối với hành vi phạm tội tương ứng được thực hiện bởi chủ thể nhất định trên một lãnh thổ nào đó và trong một thời gian nào đó” [16, tr. 218]. Từ những quan điểm khoa học kể trên về hiệu lực của đạo luật hình sự, chúng tôi có thể đưa ra quan điểm của mình về khái niệm này như sau: Hiệu lực của đạo luật hình sự là sự biểu hiện năng lượng pháp lý của một hoặc nhiều qui phạm cụ thể được qui định cụ thể trong Bộ luật hình sự đối với tội phạm xảy ra trong thực tế trên một lãnh thổ nào đó và trong một khoảng thời gian nào đó. 1.1.2. Các đặc điểm cơ bản về hiệu lực của đạo luật hình sự Từ khái niệm hiệu lực của đạo luật hình sự nêu trên cho thấy, các đặc điểm chính của nó là: Thứ nhất, hiệu lực của đạo luật hình sự biểu hiện năng lượng pháp lý của một hoặc nhiều quy phạm pháp luật cụ thể. Bởi lẽ, Bộ luật hình sự thể hiện những tư tưởng, những quan điểm cơ bản về chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta; do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành, theo trình tự, thủ tục nhất định; và việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự này cũng do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng theo đúng quy định của pháp luật; các quy phạm pháp luật được quy định trong Bộ luật hình sự được mọi người tôn trọng chấp hành, khi có hành vi vi phạm các quy định 14 được quy định trong Bộ luật này có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Trong khái niệm hiệu lực của đạo luật hình sự mà chúng tôi đưa ra ở trên, chúng tôi đã sử dụng khái niệm“năng lượng pháp lý”. Thuật ngữ năng lượng là thuật ngữ thường được sử dụng trong khoa học tự nhiên. Nó nói đến khả năng làm thay đổi trạng thái hoặc thực hiện công năng lên một hệ vật chất. Còn năng lượng pháp lý mà chúng tôi muốn nói đến ở đây, nó thể hiện khả năng, sức lan tỏa, sức mạnh từ bên trong của chính các quy phạm pháp luật cũng như ý thức chấp hành pháp luật của các chủ thể tham gia vào các quan hệ pháp luật. Qua khái niệm này chúng tôi cũng muốn nói đến quy luật về bảo toàn năng lượng trong vật lý học “năng lượng không tự nhiên sinh ra cũng không tự nhiên mất đi mà nó chỉ chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác” cũng giống như những giá trị thực, ý nghĩa thực của các quy phạm pháp luật không thay đổi nó chỉ biến đổi các quy phạm pháp luật từ dạng này sang dạng khác để phù hợp với các điều kiện khách quan ở mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn và mỗi quốc gia khác nhau. Thứ hai, một hoặc nhiều quy phạm cụ thể được quy định tại một hoặc nhiều điều (khoản) tương ứng của pháp luật hình sự thực định. Đặc điểm này thể hiện, chỉ có pháp luật hình sự thực định mới có các quy định pháp luật hình sự mà không có trong các quy định pháp luật khác. Tất cả các chủ thể khi áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự chỉ được căn cứ vào các quy định trong Bộ luật hình sự và các văn bản pháp luật hình sự khác hướng dẫn, giải thích các quy định trong Bộ luật hình sự. Thứ ba, có hành vi xảy ra trong thực tế được coi là tội phạm theo qui định của Bộ luật hình sự. Điều này có nghĩa, hành vi sảy ra trong thực tế tương ứng với hành vi quy định trong pháp luật hình sự được coi là tội phạm. 15 Thứ tư, quy định trong đạo luật hình sự được áp dụng đối với tội phạm thực hiện trên một lãnh thổ nào đó. Thứ năm, quy định trong đạo luật hình sự được áp dụng trong thời gian mà thời hiệu để cơ quan Nhà nước có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự chủ thể của tội phạm theo luật định vẫn còn. 1.2. Nội hàm khoa học của phạm trù “hiệu lực hồi tố” của đạo luật hình sự 1.2.1. Khái niệm “hiệu lực hồi tố của đạo luật hình sự” Hiệu lực hồi tố là một dạng hiệu lực pháp luật của văn bản quy phạm pháp luật. Theo từ điển pháp luật thì hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật là được coi là “tính bắt buộc thi hành của văn bản quy phạm pháp luật trong một giai đoạn nhất định, trên một không gian nhất định và với những chủ thể pháp luật nhất định” [38]. Hiệu lực hồi tố là “hiệu lực trở về trước của một văn bản quy phạm pháp luật trước cả ngày văn bản đó được ban hành, tức là các quy định của văn bản pháp luật đó được áp dụng với cả những hành vi, sự kiện đã xảy ra trước ngày văn bản quy phạm pháp luật đó được ban hành” [38]. Theo chúng tôi, hiệu lực hồi tố có thể được chia thành ba hình thức: một số qui định của pháp luật cũ vẫn được áp dụng để giải quyết sau khi qui đinh pháp luật mới có hiệu lực (thường thấy trong các qui định của pháp luật dân sự như: các qui định về thừa kế, đất đai, hợp đồng dân sự…); hành vi được thực hiện trước khi quy định pháp luật mới có hiệu lực có thể được điều chỉnh bởi quy định pháp luật mới; và hành vi được thực hiện trước khi quy định pháp luật mới có hiệu lực không thể được điều chỉnh bởi quy định pháp 16 luật mới. Pháp luật hình sự hiện hành ở nước ta được qui định theo hai hình thức sau cùng. Cụ thể là: Tại khoản 2 và khoản 3 điều 7 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định “2. Điều luật quy định một tội phạm mới, một hình phạt nặng hơn, một tình tiết tăng nặng mới hoặc hạn chế phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xoá án tích và các quy định khác không có lợi cho người phạm tội, thì không được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành; 3. Điều luật xoá bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng, quy định một hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ mới hoặc mở rộng phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xoá án tích và các quy định khác có lợi cho người phạm tội, thì được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành”. Từ những nhận định trên, theo chúng tôi hiệu lực hồi tố của đạo luật hình được hiểu là: hiệu lực của một hoặc nhiều quy phạm pháp luật hình sự đối với hành vi được pháp luật hình sự quy định là tội phạm đã thực hiện trước khi quy phạm pháp luật hình sự đó có hiệu lực thi hành. 1.2.2. Bản chất xã hội - pháp lý của vấn đề “hiệu lực hồi tố của đạo luật hình sự” Nhìn từ phía Nhà nước - chủ thể có quyền ban hành pháp luật có hiệu lực thi hành đối với mọi người cũng như nhìn từ phía các thành viên xã hội những chủ thể có nghĩa vụ chấp hành pháp luật, xét về mặt thời gian, một văn bản quy phạm pháp luật được ban hành có hiệu lực từ bao giờ, từ mốc thời gian nào là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt. Qua cách thức xác định mốc thời gian, tức là từ thời điểm một văn bản quy phạm pháp luật được ban hành bắt đầu có hiệu lực, nhất là các văn bản 17 quy phạm pháp luật trực tiếp liên quan, có quan hệ đến các quyền tự do, dân chủ của công dân, có thể hình dung ra bản chất nhân dân, thuộc tính dân chủ của một hệ thống pháp luật, cũng là của một chế độ chính trị, nhà nước. Trong các xã hội dân chủ, thông thường văn bản quy phạm pháp luật bắt đầu có hiệu lực thi hành kể từ ngày văn bản đó được công bố, được đăng Công báo hoặc được xác định ngay trong văn bản pháp luật đó và thường ở thời điểm muộn hơn. Ví dụ như: Bộ luật tố tụng hình sự được Quốc hội thông khóa XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003, nhưng theo Nghị quyết về việc thi hành Bộ luật tố tụng hình sự được thông qua cũng tại kỳ họp trên thì hiệu lực thi hành bắt đầu từ ngày 01 tháng 7 năm 2004. Nói một cách ngắn gọn, hiệu lực pháp luật của một văn bản pháp luật là trở về sau, từ ngày hoặc sau ngày văn bản được thông qua, ban hành, công bố, đăng Công báo… Tuy nhiên, trong những trường hợp cá biệt và như Điều 79 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định, có một số trường hợp cần thiết có thể quy định hiệu lực trở về trước cho văn bản quy phạm pháp luật. “Điều 79. Hiệu lực trở về trước của văn bản quy phạm pháp luật 1. Chỉ trong những trường hợp thật cần thiết, văn bản quy phạm pháp luật mới được quy định hiệu lực trở về trước. 2. Không được quy định hiệu lực trở về trước đối với các trường hợp sau đây: a) Quy định trách nhiệm pháp lý mới đối với hành vi mà vào thời điểm thực hiện hành vi đó pháp luật không quy định trách nhiệm pháp lý; b) Quy định trách nhiệm pháp lý nặng hơn”. 18 Bộ luật hình sự quy định về tội phạm và hình phạt – quy định về loại hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng nhất, nguy hiểm đáng kể nhất và loại biện pháp cưỡng chế nhà nước nghiêm khắc nhất. Vì vậy, việc thừa nhận về nguyên tắc có hiệu lực hồi tố hay không là hết sức quan trọng, vì nó thể hiện rõ nét nhất bản chất giai cấp, bản chất chế độ của nhà nước và pháp luật Việt Nam. Để thấy được Bộ luật hình sự có hiệu lực hồi tố hay không, chúng ta có thể nghiên cứu các quy định có liên quan trong Bộ luật hình sự năm 1999: Nói về cơ sở của trách nhiệm hình sự, Điều 2 quy định: “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”. Điều đó có nghĩa là, chỉ người nào thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội, khi và chỉ khi hành vi đó đã bị cấm trong Bộ luật hình sự lúc nó được thực hiện thì mới bị coi là tội phạm và phải chịu hình phạt. Định nghĩa về tội phạm, Điều 8 quy định: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự…”. Trong các dấu hiệu của tội phạm, tính trái pháp luật hình sự thể hiện rất rõ việc không áp dụng hồi tố trong luật hình sự Việt Nam. Việc quy định như trên là là sự thừa nhận nguyên tắc đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền của Liên hiệp quốc: “Không ai bị kết án vì một hành vi mà lúc họ thực hiện luật pháp quốc gia hay luật pháp quốc tế không coi là tội phạm” (Trích khoản Điều 11). Cùng với việc không áp dụng nguyên tắc tương tự, việc không áp dụng hồi tố là sự thể hiện cụ thể của nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong luật hình sự Việt Nam. Về hiệu lực của Bộ luật hình sự về thời gian, Điều 7 quy định: “1. Điều luật được áp dụng đối với một hành vi phạm tội là điều luật đang có hiệu lực thi hành tại thời điểm mà hành vi phạm tội được thực hiện. 19 2. Điều luật quy định một tội phạm mới, một hình phạt nặng hơn, một tình tiết tăng nặng mới hoặc hạn chế phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xoá án tích và các quy định khác không có lợi cho người phạm tội, thì không được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành. 3. Điều luật xoá bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng, quy định một hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ mới hoặc mở rộng phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xoá án tích và các quy định khác có lợi cho người phạm tội, thì được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành”. Như vậy, theo các quy định trên thì luật hình sự Việt Nam hiện hành không thừa nhận nguyên tắc hồi tố. Không nhà nước nào có thể bắt các chủ thể pháp luật phải chịu trách nhiệm về một hành vi, dù là nguy hiểm, mà khi hành vi đó được thực hiện, nó chưa bị cấm! Đó là nguyên tắc được thừa nhận rộng rãi trong luật hình sự quốc tế. Tuy vậy, trong lịch sử luật hình sự Việt Nam, cũng như một số vấn đề áp dụng pháp luật, chúng ta cho phép vận dụng nguyên tắc này. Trước khi Bộ luật hình sự được ban hành (năm 1985), do điều kiện luật hình sự chưa hoàn chỉnh nên luật hình sự Việt Nam còn vận dụng nguyên tắc hồi tố. Việc vận dụng này xuất phát từ sự cần thiết phải bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích của xã hội và công dân. Tuy nhiên, khi xã hội phát triển đến một chừng mực nào đó, kỹ thuật lập pháp hình sự phát triển, yêu cầu của nguyên tắc pháp chế không cho phép áp dụng nguyên tắc hồi tố để xử lý tội phạm, bởi nó khiến người ta không thể biết trước liệu việc mình làm hôm nay có chắc chắn không vi phạm pháp luật hình sự hay không. Ngay cả trong các 20 đạo luật khác, những thay đổi của pháp luật, nếu bất lợi cho đối tượng áp dụng cũng không có hiệu lực hồi tố. Thực hiện nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa, luật hình sự Việt Nam cho phép vận dụng nguyên tắc hồi tố trong trường hợp có lợi cho người phạm tội. Đây chỉ là việc vận dụng nguyên tắc trong một số trường hợp cụ thể được quy định rõ trong Bộ luật hình sự và các văn bản liên quan (Nghị quyết của Quốc hội về thi hành Bộ luật và Thông tư liên tịch hướng dẫn Nghị quyết). Khoản 3 Điều 7 BLHS quy định: “Điều luật xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng, quy định một hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ mới hoặc mở rộng phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và các quy định khác có lợi cho người phạm tội, thì được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành”. Về mặt câu chữ, thì rõ ràng Bộ luật hình sự quy định cả về hiệu lực hồi tố và cấm hồi tố. Vậy tại sao lại nói, luật hình sự Việt Nam cấm hồi tố? Việc cấm hồi tố là quy định về mặt nguyên tắc, còn việc cho phép hồi tố đối với một số trường hợp cụ thể là việc vận dụng nguyên tắc theo hướng có lợi cho người phạm tội. Việc quy định không cho phép có hiệu lực hồi tố là một nguyên tắc có tính pháp lý của một hệ thống pháp luật dân chủ theo tình thần xây dựng nhà nước pháp quyền, có tầm quan trọng đặc biệt, vì nó góp phần tạo lập một trật tự pháp luât đủ tin cậy, đảm bảo xác lập một tâm lý xã hội vững tin vào tư cách hợp pháp của hành vi của mọi chủ thể qua hệ pháp luật, tạo thế ổn định, vững chắc của cả hệ thống quan hệ xã hội được mọi người tham gia, giải tỏa trạng thái bất an, đưa lại sự tin tưởng vào ngày mai của chủ thể quan hệ pháp luật. Trong sự thống nhất với việc cấm hồi tố đó, việc quy 21
- Xem thêm -

Tài liệu liên quan