Hình tượng thơ và quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ nguyễn trọng tạo

  • Số trang: 59 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 60 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 24000 tài liệu

Mô tả:

Hình tượng thơ và quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Nguyễn Trọng Tạo A-Phần mở đầu I-Lý do chọn đề tài Ngạn ngữ Irắc có một câu rất hay: "Nếu không xây được tác phẩm bạn hãy xây được một trái tim". Nhà văn, nhà thơ Việt Nam không những xây dựng được những tác phẩm hay mà đã xây dựng trong đó những trái tim - những trái tim thực sự - những trái tim nóng bỏng... Có một nhà thơ trên hành trình đến với những sáng tạo mới đã tâm sự: "Tôi không làm thơ theo cách của bạn, cũng như bạn đừng làm thơ theo cách của tôi. Nhưng dẫu sao đi nữa, nhà thơ - người sáng tạo phải dấn bước tới tương lai - dù chỉ là một tương lai ảo. Đôi lúc ảo tưởng lại đưa tới cho ta những sáng tạo mới". Anh đã để lại những ấn tượng sâu sắc với chúng tôi qua những lời bộc bạch này. Gặp Nguyễn Trọng Tạo - một gã có "bộ mặt bông đùa dễ thương" - người đã đem vào thơ "nổi hoài nhớ yên lành", đã diễn giải những từ khúc riêng tư và những đa đoan cháy bỏng của cuộc đời bỗng đâu gieo vào người đọc những tình cảm yêu mến lạ lùng... Chúng tôi đến đây với lòng yêu quý và trân trọng đặc biệt dành cho văn học Việt Nam - nền văn học của quá khứ - hiện tại và tương lai, nền văn học lấp lánh và rực rỡ những ánh hào quang..! Nguyễn Trọng Tạo cũng như bao nhà thơ đương đại khác đã tô điểm cho những ánh hào quang đó. Anh là nhà thơ của "những cái chớp mắt ngàn năm trôi". Nếu đã đọc thơ Nguyễn Trọng Tạo, cảm được cái hồn thơ thân mật, hồn hậu với chất quê đầy mặn mà và sâu lắng đó, chắc chắn bạn sẽ cảm được hơi thở và nhịp đập của một trái tim giàu men say cuộc đời. Tôi nhớ tới một quan niệm: "Chúng ta cứ là chúng ta với tâm hồn và bản ngã thật của chúng ta..."Và với Nguyễn Trọng Tạo, tuy thơ chưa xuất hiện nhiều trên văn đàn, cũng không hẳn đã đến với nhiều bạn đọc nhưng anh đã khơi dậy "tâm hồn và bản ngã thật" của con người. Nếu ai tin vào thơ anh, ấy là sẽ tìm thấy anh ở bất cứ đâu, không riêng ở Việt Nam mà ở Anh, Nga, Pháp hay Ba Lan... Chọn Nguyễn Trọng Tạo, tôi chọn cách để tiếp cận với thế giới nghệ thuật thơ mới mẻ trong dòng văn học đương đại đang chảy xiết. Khai thác tiếng lòng và những đặc trưng thẩm mỹ của một tâm hồn đa mang như Nguyễn Trọng Tạo đã gieo rắc trong tôi hứng thú và niềm say mê thực sự. Bởi nói một cách công bằng thì thơ Nguyễn Trọng Tạo còn là "một vùng đất mới", còn tiềm ẩn những "chất quặng" chưa được đào phá. Khai thác và tìm hiểu "nguồn thơ lạ" này còn thu hút tôi ở chỗ nó là quá trình phụ thuộc chủ yếu vào sự tiếp xúc trực tiếp với tác phẩm và những cảm nhận trực giác của bản thân. Bên cạnh đó xuất phát từ quan niệm của Thi pháp học cho rằng: "Hình thức nào cũng mang một nội dung nhất định và nội dung nào cũng tồn tại trong một hình thức cụ thể", người viết chọn hướng tiếp cận thơ ở phương diện thế giới nghệ thuật. Đồng thời, khai thác đề tài này với bản thân tôi là một cơ hội đào sâu, mở rộng, tìm hiểu thơ Nguyễn Trọng Tạo, từ đó làm nổi bật thế giới nghệ thuật, phong cách thơ anh. Và qua đây tôi muốn khẳng định một tiếng thơ mới, vừa lạ, vừa đầy tài năng và tâm hồn trong nền thơ Việt hiện nay. II-Lịch sử đề tài Với riêng bản thân tôi, hành trình đến với thơ Nguyễn Trọng Tạo là hành trình tự tìm tòi, khám phá trên cơ sở trực tiếp từ tác phẩm và những nhìn nhận cá nhân. Sở dĩ tôi nói như vậy vì thơ Nguyễn Trọng Tạo còn là một "chân trời" mới, một "dư địa" rộng rãi chưa mấy ai khai phá cặn kẽ. Nói đến Nguyễn Trọng Tạo là nói đến một tâm hồn nghệ sĩ đa dạng. Anh đã bước vào nghệ thuật với nhiều phương diện: là một nhà thơ, một nhà phê bình và là một nhạc sĩ. Một khúc hát quan họ, một bài thơ tình, một trang văn hay một trang phê bình giúp bạn có những cảm xúc khác nhau về một Cẩm Ly, một Bảo Chi hay một Tào Ngu Tử...(các bút danh khác của Nguyễn Trọng Tạo). Với cách nhìn nhận công bằng, tôi thấy rằng mặc dù Nguyễn Trọng Tạo đã nhận được không ít lời khen tặng từ bạn đọc nhưng chưa thực sự nhận được sự quan tâm của giới nghiên cứu và phê bình. Quan tâm và viết lời bình cho thơ Nguyễn Trọng Tạo chỉ mới xuất hiện ở một số người, chủ yếu là bạn thơ và những người quen biết anh. Trong đó có thể kể đến Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đăng Điệp, Hoàng Ngọc Hiến, Hoàng Cầm hay Thụy Khê...Và gần đây một số webside văn học đã đăng chuyển nhiều bài viết về anh và thơ anh. Tuy vậy những bài viết này thường thiên về cảm xúc hay ở dạng lời bạt, lời tựa. Như vậy có thể khẳng định thế giới thơ Nguyễn Trọng Tạo còn là một khoảng lặng đang nằm trong sự chờ đợi... Tôi đã mạo muội đến với thơ Nguyễn Trọng Tạo khi những thông tin về cuộc đời và thơ anh thật sự chưa có nhiều trên các phương tiện sách vở, báo chí hay thông tin đại chúng... Ngoài một số tạp chí địa phương, một số bài viết cũng như một số trang web và trên 130 bài thơ mà tôi đã đọc được thì tôi cũng chưa có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với nhà thơ. Nhưng với sự tự tin trên hành trình đi tìm cái đẹp, tin vào cái đẹp, vào niềm yêu thơ ca, tôi nghĩ mình đã thành công khi chọn đề tài này. Bởi chính anh đã đem đến đây một cảm hứng mới lạ đầy chất trí tuệ và tâm hồn... III-Phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu - Để có thể khai thác sâu sắc và hoàn chỉnh đề tài này chúng tôi sẽ nghiên cứu và khảo sát ở các tập thơ là tập hợp sáng tác trong nhiều thời gian của Nguyễn Trọng Tạo, tiêu biểu có: +Đồng dao cho người lớn ( X .bản 1994) +Thơ với tuổi thơ ( X .bản2003) +Thơ trữ tình ( X .bản2002) - Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng một số tác phẩm của Nguyễn Trọng Tạo đăng rải rác trên các báo, tạp chí TW và địa phương như: “Chùm thơ đi Tây” (2004-2005) cùng một số tác phẩm thuộc thể loại khác như văn, trường ca, hay một số sáng tác âm nhạc... - Phương pháp nghiên cứu đề tài này áp dụng cơ bản ở các phương pháp như phưong pháp hệ thống, phương pháp phân tích - tổng hợp và phương pháp so sánh - đối chiếu... IV- Bố cục khóa luận A-Phần mở đầu I-Lý do chọn đề tài II-Lịch sử đề tài III-Phạm vi và phương pháp nghiên cứu đề tài IV-Bố cục khóa luận B-Phần nội dung Chương I- Hình tượng thơ và quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Nguyễn Trọng Tạo I-Hình tượng thơ 1-Khái niệm hình tượng thơ 2-Một số hình tượng thơ biểu trưng trong thơ Nguyễn Trọng Tạo II-Quan niệm nghệ thuật về con người 1-Khái niệm quan niệm nghệ thuật về con ngươi 2-Quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Nguyễn Trọng Tạo Chương II- Không gian và thời gian nghệ thật trong thơ Nguyễn Trọng Tạo I-Không gian nghệ thuật 1-Khái niệm không gian nghệ thuật 2-Không gian nghệ thuật trong thơ Nguyễn Trọng Tạo II- Thời gian nghệ thuật 1-Khái niệm thời gian nghệ thuật 2- Thời gian nghệ thuật trong thơ Nguyễn Trọng Tạo Chương III-Ngôn ngữ và giọng điệu thơ Nguyễn Trọng Tạo I-Ngôn ngữ 1-Khái niệm ngôn ngữ văn học 2- Ngôn ngữ thơ Nguyễn Trọng Tạo II-Giọng điệu 1-Khái niệm giọng điệu tác phẩm văn học 2-Giọng điệu thơ Nguyễn Trọng Tạo C-Phần kết luận D-Tài liệu tham khảo B-Phần nội dung Chương I Hình tượng thơ và quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Nguyễn Trọng Tạo I-Hình tượng thơ 1-Khái niệm hình tượng thơ Chúng ta biết rằng hình tượng nghệ thuật là kết quả của quá trình tư duy nghệ thuật. "Hình tượng nghệ thuật chính là các khách thể đời sống được nghệ sĩ tái hiện một cách sáng tạo trong những tác phẩm nghệ thuật".[7,122] Hay nói cách khác: "Hình tượng văn học nghệ thuật là một bức tranh sống động nhất của cuộc sống được xây dựng bằng ngôn ngữ nhờ trí tưởng tượng, óc sáng tạo và cách đánh giá của người nghệ sĩ". [2,125] Thơ cũng là một loại hình của văn học nghệ thuật. Vậy hình tượng thơ là gì? Dựa trên những quy luật riêng của hoạt động ngôn ngữ, khác với quy luật hoạt động ngôn ngữ trên lĩnh vực văn xuôi ta nhận thấy: "Hình tượng thơ là một bức tranh sống động và tương đối hoàn chỉnh về cuộc sống được xây dựng bằng một hệ thống các đơn vị ngôn ngữ có tính chất vần cộng với trí tưởng tượng, sáng tạo và cách đánh giá của người nghệ sĩ".[1,127] Hiểu một cách đơn giản hình tượng thơ chính là mối quan hệ giữa các bộ phận của câu thơ để phản ánh đối tượng bằng những rung động tình cảm và cách đánh giá riêng của từng nhà thơ. Chính vì thế khi phân tích hình tượng thơ ta có thể đứng ở nhiều góc độ khác nhau. Điều quan trọng khi cảm nhận là phải chú ý ở khả năng tiềm tàng và ở khả năng hiện thực của ngôn ngữ để làm sáng tỏ nội dung và quan niệm của người sáng tác. 2-Một số hình tượng biểu trưng trong thơ Nguyễn Trọng Tạo Nếu như Hoàng Phủ Ngọc Tường là một người "trằm mình trong khuôn mặt cuộc đời cùng với sông nước Huế" thì Nguyễn Trọng Tạo lại là một tâm hồn lang thang, lưu lạc, phiêu du, tự do trước ngã ba cuộc đời. Gôgôn đã từng nói một cấu rất hay: "Hãy mang theo tất cả những cảm xúc của tâm hồn nhân loại. Đừng bỏ nó ở dọc đường rồi sau đó nhặt lên". Tôi không biết với Nguyễn Trọng Tạo, hành trình thơ có phải là hành trình lượm nhặt cảm xúc hay không nhưng chắc chắn rằng những gì mà anh đã đưa đến là những điều sâu lắng và cảm động nhất trong tâm hồn đa đoan của mình. Thế giới hình tượng trong thơ Nguyễn Trọng Tạo là một thế giới đa dạng và nó chính là một trong những biểu trưng cho mục đích nghệ thuật của tác giả. Tôi cho rằng khi xâm nhập vào thế giới đa hình, đa sắc này chúng ta sẽ có cảm giác về một bản lĩnh nghệ thuật mới, một hồn thơ đang tự tìm một điệu hoà vang từ trái tim mình tới trái tim bạn đọc. Thế giới hình tượng thơ Nguyễn Trọng Tạo khá phong phú, có thể là một cái thực, một cái ảo, một bóng hay một hình, có thể cả đời hay cả mộng nhưng tựu chung và nổi bật nhất qua sáng tác của anh tập trung ở hai hình tượng: * Hình tượng nhân vật trữ tình * Hình tượng thiên nhiên 2.1-Hình tượng nhân vật trữ tình Khi Nguyễn Trọng Tạo đến, không biết vô tình hay hữu ý đã tạo ấn tượng như một "con chim sơn ca" cất tiếng hót lảnh lót tự ru mình, ru đời. Nếu Nguyễn Trọng Tạo ví Hoàng Phủ Ngọc Tường là "con chim yến thi sĩ" thì tôi xin được mạo muội ví Nguyễn Trọng Tạo là một "con chim sơn ca" hát những khúc nhạc tình sống động. Nguyễn Trọng Tạo đã phơi bày lòng mình bằng việc ký hoạ nên hình ảnh bản thân ở nhiều góc độ khác nhau. Có thể đó là những vần thơ được hoài thai bằng những cảm xúc bề bộn giữa ý thức và vô thức, ảo và thực, yên lắng và quẫy động…Có thể đó là "tôi", là "anh", là "gã", hay là "em", thậm chí là một tiếng "ới ơi" nào đấy, đồng vọng không rõ. Thế giới nhân vật này không đi ra trực tiếp từ sân khấu rạng rỡ ánh đèn mà từ đời thực, mạnh bạo và tự tin hơn những gì chúng ta nghĩ. 2.1.1- Nổi bật và tiêu biểu cho hình ảnh nhân vật trữ tình trong thơ Nguyễn Trọng Tạo chính là hình tượng tác giả dưới các cách xưng hô khác nhau như "tôi", "ta", "anh"…Có khi là sự hoá thân, có khi là sự vay mượn một câu chuyện nhưng phần lớn "cái tôi" trữ tình này tự bộc bạch những cảm xúc, suy tư về tình yêu, cuộc đời, về con người, xã hội, về quá khứ, tương lai. "Cái tôi" là một hình tượng điển hình của thơ mà chúng ta đã gặp nhiều trong văn học. Đó là "cái tôi" trong Thơ mới: Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất ( Vội vàng – Xuân Diệu ) Hay là "cái tôi" trong thơ Cách Mạng: Tôi là con người của vạn nhà Là em của vạn kiếp phôi pha ( Từ ấy - Tố Hữu ) Hôm nay, chúng ta gặp ở đây một "cái tôi " không quá cũ mà cũng không quá mới nhưng mang cái táo bạo, ngông cuồng cùng trữ tình, sâu lắng khác người: tôi trở lại cơ quan gặp nụ cười ẩm mốc chuột quá nhiều chuột chẳng chịu giảm biên (Tái diễn) "Cái tôi" trong thơ Nguyễn Trọng Tạo có cái khó hiểu, có cái ngất ngưỡng, có cái lưng chừng, khó tìm lối diễn đạt: còn Rock Rap hay còn đêm cổ điển điên cuồng ơi mơ mộng bỏ tôi đi (Đêm cổ điển) Nhiều lúc anh lặng lẽ đem bản thân mình ra làm đối tượng cho mình chiêm cảm, thổn thức cùng nổi đau của bản thân, nhặt nhạnh từng mảnh mình rơi vải. Anh không né tránh "cái tôi" thực của mình, tự tâm để nó bơi giữa dòng nước ngược, thoải mái thốt lên những điều đang dày vò, cắn xé nó với những cảm xúc lạ hay là những cảm xúc dồn nén, kìm kẹp giữa hai bờ trái tim nóng hổi: tôi về khép lại căn phòng thấy trong lồng ngực như không có gì... (Gửi) Nói "không có gì" mà lại như vỡ vụn, nát tan, sau mỗi lần như vậy "cái tôi" dường như can đảm hơn: trái tim đã bỏ tôi đi ai mà nhặt được gửi về dùm tôi (Gửi) Trong những mối quan hệ, trong chiều sâu tâm tưởng, cách quan sát và nhìn nhận của "cái tôi" về cuộc sống ngày càng thấu đáo hơn."Cái tôi" ấy biết nói tiếng nói tha thiết với bạn bè: bạn bè ơi, nếu mà không các bạn những lúc lang thang ta về đâu (Cõi nhớ) "Cái tôi" nhẹ nhàng và tinh tế trong thể hiện sự chiêm nghiệm bản thân: dẫu nhỏ nhoi tôi có một cái tên trong li ti lá thẩm khi ngập nước và khi ngập nắng hoa li vàng mùa hạ chính là tôi... (Hoa li vàng ) "Cái tôi" ấy khi thì buồn thơ thẩn, "đi lang thang", khi thì muốn "lưu lại cúi nhặt giữa mênh mông " một chiếc bóng mình, lại có khi say đắm, mê mải với cuộc đời, khi thu mình "tạ từ da trắng áo hồng" để "về tháp cổ rêu phong một đời"...Một "cái tôi" tự cảm thấy "chẳng hiện đại bao nhiêu so với sự bảo thủ của mình" nên bâng khuâng, mơ màng: tôi thoát khỏi có vần không có vần à ơi không à ơi hủ nút không hủ nút tôi tự do lơ lửng trời cao (Bài thơ bị lỗi ) Hay là "cái tôi" tự lục vấn, tự phán xét mình: Rồi có lúc ta buồn ta lục vấn chính ta Rồi có lúc câu thơ thay đổi chủ nhà (Điều bình thường lạ lẫm ) Đó còn là "cái tôi" nặng tình, nặng lòng với những điều xưa cũ, với hình bóng quê nhà, với tâm thức và ký ức: Tôi đi qua đêm dài đèn mờ vẫn đỏ những tòa thiên nhiên vẫn còn bày đó chợt nhớ lơ mơ hình bóng Thuý Kiều (Phố đỏ ) Một "cái tôi" ngại ngần trước thời gian, trước con người, và trước chính mình, ngại cả những điều bình thường nhất: tôi giờ ngại cả bóng tôi ý thơ chưa cạn, ngó lời đã khô (Ngại xuân) "Cái tôi" tự soi mình, tự soi vào chiếc bóng: thế mà hắn suốt đời kề sát tôi không xoá được tôi đành chào thua hắn tôi đã chào thua khối người như chiếc bóng (Bóng) Dù ở góc độ, bình diện nào đi nữa, dù là niềm vui hay nỗi buồn, dù yêu đời hay yêu người thì "cái tôi" trong thơ Nguyễn Trọng Tạo chính là sự phản chiếu rõ nhất hình tượng tác giả, là cái tôi thiết tha chia sẻ và đồng cảm với con người, cuộc đời. Anh tâm đắc xây dựng hình tượng nhân vật "tôi" một cách tự nhiên, thoải mái mà không sáo rỗng và đồng bóng. 2.1.2- Một hình tượng nhân vật khác mà chúng ta gặp trên suốt chặng đường thơ Trọng Tạo là cặp đôi nhân vật "anh và em". Anh đã thành công trong thi pháp xây dựng nhân vật cặp đôi "anh và em" với tình yêu, và thông qua tình yêu để thực hiện sự đồng điệu với cuộc sống, thể hiện quan niệm về thật giả, về tan - hợp, ra đi - trở về trong cuộc đời mỗi con người: anh trót để ngôi sao bay khỏi cát biếc xanh em, mãi chớp sáng vòm trời điều Có thể đã hóa thành Không thể biển bạc đầu nông nổi tuổi hai mươi (Không đề ) "Anh" và "em" trong thơ Trọng Tạo là hai con người, hai thế giới, hai hình tượng song song có sức hút mãnh liệt dành cho nhau. "Em" là miền yêu, miền nhớ và cũng là miền đau, miền khắc khoải trong "anh". Dù là hai hình tượng vốn dĩ rất cân bằng về tâm hồn và thể xác song dường như do thiên chức và tâm lý của phái nam nên thơ anh thường là những dòng cảm xúc đơn phương, chủ động bày tỏ với em, với kỷ niệm tình yêu: thì ra tháng giêng nhớ em quá thể anh thấy em về giữa miền mộng mị và cái khung tranh chính là khung cửa (Bức tranh giêng ) Nhân vật "em" thường hiện lên qua trí tưởng tượng, niềm mong nhớ hay hoài niệm của nhân vật "anh". Có lẽ vì thế chăng mà "em" ở đây kiêu sa, ẩn hiện khiến cho người đọc cũng như có cảm giác chới với, tiếc nuối tình yêu. Nhân vật "anh" gắn chặt với một cõi nhớ, một cõi nhớ huyễn hoặc, mông lung, chới với, cảm thấy nỗi nhớ mong cứ tích tắc gặm nhấm mình: anh đứng anh ngồi anh thương anh nhớ anh ra anh vào nao nao mắt mở ( Người đang yêu ) Hay là niềm hạnh phúc khi có "em" bên đời thì mùa đông bỗng có nắng ấm, "lá chuối vườn thành bánh nếp thơm" và "anh" luôn tâm niệm một tình yêu chân thành, cao thượng: ta cầu nguyện cho những gì còn mất trên con đường vô định của tình yêu (Tình yêu qua) "Anh" cảm thấy tiếc nuối khi "em" ra đi, khi sự biệt ly đến, tràn ngập không gian là sự xa cách: tôi và em đứng trước biệt ly con chim xám bay về miền núi lạ lèn đá lung lay nổi buồn muôn thưở sau lưng ta hoang vắng nhón chân đi (Chân trời) Hình tượng nhân vật "anh và em" được tác giả đặc tả qua một phương tiện chính: tình yêu và nổi nhớ với nhiều biện pháp đậm - nhạt, xa - gần khác nhau. Nguyễn Trọng Tạo rất ít khi để nhân vật "em" lên tiếng dù em là nhân vật trung tâm gợi cảm hứng cho thơ. "Em" trong thơ anh có khi là một "làn da", một "mái tóc", hoặc là Người Tiên giáng trần hoặc là một "cô gái mười chín đôi mươi", thậm chí là một "bà quả phụ trẻ"… Trải theo chiều dài của tình yêu, ở đây chủ yếu là những tâm tình của "anh" và "em", thổ lộ cùng em niềm yêu, niềm tha thiết, hay nỗi cô đơn, đau đớn… Hình như tâm hồn Nguyễn Trọng Tạo rất nhạy cảm trong câu chuyện giữa "anh" và "em", dù là ở truyện, ở thơ hay ở nhạc: "Lặng nghe người lính hát về loài hoa - mang tên người con gái rất dịu hiền - anh đã yêu, anh đã hẹn, anh đã chờ - anh hẹn anh chờ anh thương màu hoa ấy". (Bài hát 'Hoa cúc biển" - Sáng tác: Nguyễn Trọng Tạo ) Nhân vật "anh và em" hiện hữu trong thơ Trọng Tạo gắn với cảm xúc và mạch thơ anh, đồng thời gắn chặt với một cõi tâm linh đó là "Cõi nhớ". Cõi nhớ chính là sự hòa quyện đậm đặc giữa hoài niệm và cô đơn. Có thể thấy dù ở bình diện nào, trong thực hay trong mộng thơ anh đều bị chi phối bởi "Cõi nhớ"một cõi tâm u hoài, mê mải và sóng sánh, bởi nếu: không nơi để Nhớ - nghèo biết mấy ta như sao lạc giữa ban ngày (Cõi nhớ) Hình tượng cặp đôi "anh và em" là một hình tượng kép rất quen mà chúng ta đã gặp nhiều trong thơ ca, đặc biệt là Thơ mới. Nhưng theo tôi khi đánh giá bình diện này ở Nguyễn Trọng Tạo thì không nên xếp hình thức đó vào một bậc thềm nào nhất định. Bởi tất cả đều rất lung linh, sóng sánh vẻ hoang dại, có khi mơ hồ: cái đêm trăng ấy bỏ buồn bỏ men thương nhớ bỏ hương ái tình bỏ ta tỉnh dậy một mình bỏ em lạc chốn bùng binh sương mờ (Tặng mối tình cuối của Goethe) Với thế giới hình tượng nhân vật trên đây, Nguyễn Trọng Tạo đã dành phần lớn trữ lượng tâm hồn để xây dựng nên. Bởi thế nên mang cái tâm linh thăm thẳm của hồn người, hình tượng nhân vật trữ tình trong thơ anh đã đem theo tiếng lòng về một trời thế sự. Chúng ta đã bắt gặp qua đây những tâm sự về tình yêu, tình quê, tình người và một cuộc sống hiện thực đạt đến mức sinh động, cô đúc. Đồng thời chúng ta cũng ghi nhận sự quả cảm, chân thành của người có "cái chớp mắt ngàn năm trôi" ấy. 2-2 Hình tượng thiên nhiên Đối với con người thi sĩ phương Đông, thiên nhiên là "không gian sống không gian tư tưởng - không gian văn hoá", bởi thế nên nó có một vị trí đặc biệt trong thơ ca. Với Nguyễn Trọng Tạo, thiên nhiên đã là một người bạn tâm giao gắn bó nên anh luôn cố gắng xây đắp nên những hình tượng thiên nhiên vừa hoang dại, vừa gần gũi, thân yêu. Thiên nhiên trong thơ anh tràn đầy màu sắc và rộn ràng âm thanh - một hình tượng huyền ảo, dịu dàng và đầy tâm trạng như một phần tác giả đã hoá thân vào đó. Thông qua mối quan hệ biện chứng giữa cái đẹp của khách thể và tính thẩm mỹ cảm xúc, thiên nhiên được tái tạo không chỉ mang tính nghệ thuật đơn thuần mà còn thể hiện được thế giới quan của nhà thơ. Xét một cách tổng quan, hình tượng thiên nhiên mà Nguyễn Trọng Tạo cảm nhận tập trung ở một số mô típ hình ảnh tiêu biểu, trong đó nổi bật nhất là môtíp cây cỏ hoa lá, môtíp gió và môtíp trăng. Thiên nhiên đã xuất hiện như một bến đỗ để tác giả tìm cho mình chút bình an trong tâm tưởng: trong giấc ngủ ta thấy ta lang thang xa vời những xanh hồng xanh tím ôi thiên nhiên (Mộng du) 2.2.1- Lướt một vòng qua các trang thơ Nguyễn Trọng Tạo, chúng ta có thể dễ dàng bắt gặp ở bất cứ đâu một nhành cây, một ngọn cỏ hay một bông hoa. Ba đối tượng đồng dạng này dường như là một biểu thức quen dùng khi anh diễn đạt một cái gì rất xanh non, tươi thắm mà cũng dễ tàn úa, héo khô: anh nhận cảm bầu trời qua sáu ngón rùng mình mùa xuân tua tủa cỏ non (Cái đẹp sáu ngón) Nhà thơ cảm cái xanh, hồng, tím, đỏ của cây cỏ hoa lá bằng trái tim khác người, cũng giống như "bàn tay sáu ngón" được xem là đẹp vậy. Nhưng trong cách cảm đó, chúng ta lại luôn bắt gặp được cái xanh rung rinh, cái đỏ quyến rủ, cái mơn mởn, mong manh: cây bưởi đơm hoa cây cà kết quả nụ tầm xuân gió đùa xanh nghiêng ngả (Cổ tích thơ tình ) Xuân Diệu - người đặc biệt thành công trong việc nhân hoá thiên nhiên đã viết những câu thơ đạt đến độ điêu luyện trong miêu tả: Hơn một loài hoa đã rụng cành Trong vườn sắc đỏ rủa màu xanh Những luồng run rẩy rung rinh lá Đôi nhánh khô gầy xương mong manh (Đây mùa thu tới - Xuân Diệu) Cái thời rực rỡ và huy hoàng ấy của Thơ mới vẫn còn lại trong chúng ta bây giờ và mãi sau này. Vừa mới đây thôi, Nguyễn Trọng Tạo đã xuất hiện với niềm cảm riêng mà vương vấn chút hương của thi nhân xưa: thông xanh thông xanh thông xanh lưng cỏ mọc xuyên trái tim sỏi đá (Thiên An ) Thụy Khê đã từng nhận xét về Nguyễn Trọng Tạo rằng: "Thơ anh thản nhiên nhẹ nhàng và dễ dàng như những hình tượng đã có sẵn trên cây, anh chỉ việc rung cây là chúng rơi xuống thơ anh". Theo quan điểm đó chúng ta có thể điềm nhiên mà nắm bắt cái hồn của cỏ cây hoa lá trong thơ anh: chỉ còn cỏ mọc bên trời một bông hoa nhỏ lặng rơi mưa dầm (Chia ) Nguyễn Trọng Tạo có thể với tay ngắt một bông hoa, hái một chiếc lá hay bứt một ngọn cỏ rồi tự nhiên đặt vào đó một chữ "tình". Giản đơn chúng trở thành một câu thơ, một bài thơ hay nguồn thơ: hoa li vàng mùa hạ đã xa xôi đường nở trắng một màu hoa trứng cá (Quy Nhơn không đề ) Nhà thơ muốn giữ hương sắc cây cỏ hoa lá thế nên anh đã quan sát chúng tỉ mỉ và khi hoa rụng, thơ cũng như người có cái đau đớn, xót xa: hoa rụng xuống lành nguyên trong cát hoa rụng xuống vàng tươi trong biển nước (Hoa li vàng ) Nhà thơ luôn muốn gắn cho thiên nhiên những linh hồn, anh trân trọng chúng đến mức đặt cho chúng một cái tên viết hoa như tên người: - tôi trở lại dòng sông bờ Cỏ Thi xanh mướt (Tái diễn ) - giữ cho ta Cỏ với trời mây (Cõi nhớ ) Lần theo dòng cảm xúc đó, chúng ta gặp một thế giới phong phú cây cỏ hoa lá: hoa li vàng, hoa mai, hoa đào, hoa hồng; cây thông, cây bàng, cây cam, cây khế; cỏ xanh, cỏ mượt, cỏ non…tràn ngập trong thơ Trọng Tạo Hoa : - hoa li vàng cọ chân anh như nhắc (Không đề) - hoa Tết vườn chùa một cành mai (Huế 2) Cỏ : - cỏ biếc xanh như cỏ đêm nào (Cỏ xanh đêm trước ) - đêm gửi nhoè sương đôi bờ cỏ mượt (Hương Sơn) Ngoài ra còn thấy trong thơ anh những hiện tượng, những loại cây rất lạ: -cây - mười - hai - cành chết rồi sao bóng râm còn mãi trong Thơ ? (Sonnê không định trước) - anh bay theo nhặt lại những lời ca kết thành cây ánh sáng (Cây ánh sáng ) - cây khế nở hoa cam cây bàng nở hoa bưởi (Tự vấn ) Trong những hình tượng này, "cỏ - hoa" chính là hình tượng nhân hóa đặc biệt mà tác giả gửi vào đó bao tâm sự tha thiết về tình yêu. Cỏ mỏng manh, yếu mềm; hoa kiêu sa, quyến rũ hơn trong thơ Nguyễn Trọng Tạo là có lý do riêng của nó. "Hoa" chính là tình yêu, "cỏ" là nhân chứng của tình yêu: thắm tươi và mê đắm hoa ơi ta yêu nàng (Hoa ơi ta yêu nàng ) "Cỏ - hoa" cũng như đau buồn, ngẩn ngơ khi tình yêu biệt ly: - cỏ xanh niềm ngơ ngác ta biệt em lớ ngớ chẳng hẹn gì (Cỏ và mưa) - rồi chẳng biết kiếp này hay kiếp nữa hồn hoa về trong mưa bão phù du (Quỳnh hoa) "Hoa" cũng cảm thấy một nổi nhớ vây quanh mình và lan tỏa trong không gian tĩnh lặng, thêm bồi hồi, thêm khắc khoải: không dưng hoa lý thơm buổi tối chợt nhớ một người không nhớ tuổi (Không dưng) Cây - cỏ - hoa - lá còn mang theo bao tâm sự về cuộc sống, về sự tan vỡ hay chia lìa, về sự cô đơn hay buồn chán của tác giả: cây ơi đi tìm lá non đừng buồn tìm mãi lá non không về (Sônnê) Hay là một lời từ biệt đầy lưu luyến và xốn xang: từ biệt nhé ngọn cỏ rừng tâm tĩnh ta bay theo mây trắng ngổn ngang trời (Thiên An ) Ở Nguyễn Trọng Tạo, là hoa, là cỏ, là cây thật nhưng có khi đó là tâm tưởng, là ảo mộng...như trong: "Biến khúc giao thừa" tác giả viết: "Bài thơ viết về loài hoa nhưng chẳng phải Đào Mai Lan Hồng Cúc. Chẳng phải Xuân hay phải Thu. Và ta gọi đấy là Biến khúc ta. Những Biến Khúc Giao Thừa không lặp lại". Tôi cho rằng tất cả đều là những sáng tạo đáng trân trọng của Nguyễn Trọng Tạo. 2.2.2- Hoàng Ngọc Hiến trên trang bìa của tập: "Đồng dao cho người lớn"(Nguyễn Trọng Tạo) có viết: "Thơ Nguyễn Trọng Tạo là thơ của nhưng cái chớp mắt nghìn năm trôi". Giữa mênh mông của văn học Việt Nam đương đại thì "những cái chớp mắt" của Tạo tuy rất khiêm nhường nhưng cũng đem đến những điều thú vị bất ngờ: mà thuyền vẫn sông mà xanh vẫn cỏ mà đời vẫn say mà hồn vẫn gió (Đồng dao cho người lớn) Cách diễn giải của nhà thơ mang tính lạ hoá, từ "vẫn" lặp lại gợi cái mênh mang, dàn trải đáng yêu. Vì "hồn vẫn say" mà thơ nồng hơi tình, nồng hơi đời, vì "hồn vẫn gió" nên thơ cứ bay mãi, bay mãi trong cõi nhân gian... "Gió" cũng là một hình tượng thiên nhiên được nhà thơ xây đắp bằng hồn, bằng tình. Gió vô hình, vô thức, suốt đời bay không ai nắm bắt được mà Trọng Tạo lại ôm được gió vào lòng rồi thầm thì những điều sâu kín. Nếu như hoa lá cỏ cây là một thiên nhiên có thực thể, có hình hài, màu sắc, sự sống và cái chết thì gió là gì? Nguyễn Trọng Tạo không trả lời về gió theo cách diễn giải của vật lý là hình vuông hay hình tròn? Nên gió vô hình mà trở nên hữu ý: cây thả xuống ta lá vàng gió thả xuống ta mù sương (Mộng du ) Anh cho gió đôi chân, cho gió cánh tay để gió chạy, gió ôm ấp con người, cho gió hơi thở: đường xe gió ú ớ mưa dài mắt mình ngái ngủ như là mắt ai (Người đang yêu) Gió vào thơ mang theo linh hồn, vào thơ với bao đồng cảm, chia sẻ con người trong cuộc sống, trong tình yêu: tôi còn mắc nợ áo dài một làn gió trắng một bài thơ hay (Tôi còn mắc nợ áo dài ) Có khi gió mang nổi nhớ tha thiết về một "mắt biếc", về một "mái tóc", đem theo hoài niệm về một tình yêu đã qua: gió mở cửa những gì hoang vắng cũ tóc em bay xõa bóng đêm về (Chân trời ) Nhà thơ cho "gió" hình hài, giọng nói riêng mà anh rất tỏ tường, am hiểu: thầm thì đêm nghe gió nói nàng là con của Diễm xưa (Diễm xưa ) Cũng có khi "gió" là một khách thể vô tình, một yếu tố khách quan chứng kiến cuộc sống của con người, không hề thay đổi bản chất của nó: những ngọn gió chẳng hề mang tư tưởng cũng dịu mùa hè thôi buốt mùa đông (Cuộc sống ) Lại có khi chính nhà thơ hoá thân vào gió, tự cho mình là gió. Gió vui. Gió buồn. Gió hạnh phúc.Và gió cô đơn. Đều có trong thơ Trọng Tạo: ta là gió thổi đến ngày kiệt sức tự trời cao tan vào giọt mưa. Rơi… (Thiên An) Gió trong tâm thức của Trọng Tạo cũng là một niềm vui bởi đơn giản nó vuốt ve cho thơ, cho thơ những cảm hứng mới. Gió trong thơ Tạo rất lạ, rất mới, khi lạnh lùng, khi dữ dội, khi dịu dàng. Gió có khi ở dạng màu sắc: "gió khi hồng - khi tím - khi xanh lơ" (Cây ánh sáng ) hay là: vẫn dòng sông thuở xa xôi vẫn bờ đê gió xanh ngời trăng khuya (Thơ tình người đứng tuổi) Gió có khi được đếm bằng số lượng và được miêu tả bằng hành động: có năm ngọn gió vuốt ve má nàng có năm cánh sóng phập phồng mơn man (Ru hoa ) Trạng thái hoạt động này của gió suy cho cùng chính là tâm hồn của Nguyễn Trọng Tạo đang khát khao giao hòa với cảnh, với người. Xây dựng hình tượng gió, anh đã thi vị hoá không gian vũ trụ, khiến cho nó trở nên gần gũi và hòa nhập một cách lạ thường 2.2.3- Từ gió đến trời có bao xa, trời và mây thì ôm ấp hòa quyện, mà mây thì lởn vởn quanh trăng, đùa nghịch, ú tìm. Thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trọng Tạo là những hiện tượng tương quan nhau, bởi thế từ cách cảm gió đến trăng có là bao. Cũng như cỏ cây hoa lá, như gió, trăng là một môtíp thiên nhiên khá nổi bật trong thơ Trọng Tạo. Trăng thông qua lăng kính của anh có vẻ đẹp thẳm sâu của hồn người cảm nhận nó và rợn ngợp một màu buồn giăng mắc không gian: buồn như trăng đã lên rằm thương người như đã trăm năm. Tạ từ (Tạ từ) Nhưng trước hết với Nguyễn Trọng Tạo trăng là bạn, là anh em, là thi hứng chan chứa: bạn bè ở Huế đông vui lắm túi đầy thơ đựng túi đầy trăng (Bạn bè ở Huế ) Ta thấy phảng phất đâu đó trong câu thơ trên hình bóng Tản Đà - thi sĩ giao thời giữa thơ cũ và thơ mới. Trước đây, Tản Đà đã từng nói một cách quả quyết rằng: Còn non, còn nước, còn trăng gió Còn có thơ ca bán phố phường (Khối tình con I- Tản Đà ) Trăng là bạn, là tình yêu nên nhiều khi trăng hạnh phúc khiến "biển xanh hiền trăng thi sĩ lên ngôi" mà cũng có khi như nát theo tình, khổ vì tình, cùng yêu, cùng đau với con người: em lộng lẫy mộng mơ giờ nhàu nát bên đường anh là kẻ vớt trăng bao lần trăng vỡ nát (Nghiền ngẫm ) Trăng cũng đưa lại những cảm giác khác như cảm giác khao khát, ước ao một điều gì đó mờ mờ ảo ảo: sao anh bỗng thèm chết dưới trăng đừng ai vớt đừng hoan hô đả đảo (Nghiền ngẫm ) Trăng trong thơ Trọng Tạo có khi là "một mảnh", "một vầng", có khi "một bóng", "một vốc" hay "một rừng": - ném cho nhau một vốc vầng trăng (Hương Sơn) - rừng trăng cây cỏ đứng ngơ (Tặng mối tình cuối của Goethe) Nhà thơ Trần Hoàng Phố từng mơ: "Trăng - tôi muốn bắt lấy trăng" nhưng thực tế chúng ta hiểu điều đó là không tưởng. Trăng vẫn là trăng, là một chủ thể của đêm. Nhưng nếu Trần Hoàng Phố tìm thấy ở trăng sự bình lặng, an lành: "Nỗi bình an dâng lên từ trong đêm sâu thăm thẳm lấp loáng ánh sáng dòng sông trăng"(Ánh trăng - Trần Hoàng Phố), thì với Nguyễn Trọng Tạo, trăng không bình lặng mà chống chếnh và diệu vợi nỗi buồn, niềm cô độc và nỗi trống trải, lúc nào cũng mang đầy tâm trạng: còn gì ngày trước cho anh dáng cây bất khuất trăng cành bóng sương (An ủi) Trăng là một thực thể tự nhiên được nhiều người yêu mến, đặc biệt là giới nghệ sĩ, không loại trừ hội hoạ, âm nhạc, văn xuôi. Vẻ đẹp bàng bạc của nó thường gợi chút buồn trong lòng người, người ở nơi này mà nhớ trăng nơi kia. Thế nên ta mới hay gặp cái điệp khúc "cái đêm trăng ấy" trong thơ Nguyễn Trọng Tạo. Có khi anh còn tự ví những cô gái đẹp, ví người tình như là "mảnh trăng non" với cách nói âu yếm, lãng mạn: này Lan này Hạnh này Duyên trăng non má lúm đồng tiền còn không (Cuối năm ngẫu hứng chợ chiều ) Chúng ta còn bắt gặp một thế giới trăng đầy màu sắc như trăng màu trắng, trăng xanh, trăng vàng…Tất cả đều là một ấn tượng bàng bạc khó quên, gợi bao thứ tình trên đời. Sông núi, mây nước là những tấm gương phản chiếu ánh trăng để chúng ta ngắm nhìn và ngẫm ngợi. Một mối riêng tư hay trăm tình thiên hạ đều gửi vào trăng cái ảo ảnh, huyễn hoặc đó. Trăng khi xưa là bạn của bao thi sĩ thì hôm nay vẫn là bạn, thậm chí là bạn thân của Nguyễn Trọng Tạo. Với anh nếu thế giới không còn trăng nghĩa là: chú cuội cây đa tan xác giữa thiên hà không còn Tết trung thu không còn đêm phá cỗ không còn ánh trăng ngà cho thi sĩ làm thơ… (Thế giới không còn trăng) Những hình tượng trong thơ Nguyễn Trọng Tạo đều giăng mắc nổi buồn mênh mang, vô định, rất trần thế, đời thường nhưng cũng có khi diệu vời, vĩnh hằng. Anh đã giao cảm, thấu hiểu được thiên nhiên, hiểu những rung động thầm bí của thiên nhiên và đem chúng đến với bạn đọc. Khả năng lựa chọn chính xác đối tượng tái hiện được sự giúp sức thành công của những mảng màu sắc đa dạng khiến thơ anh vang động thêm âm hưởng. Những nét chấm phá của nhà thơ đã làm hiển hiện trước mắt người đọc những hình tượng thiên nhiên vừa dân dã mà rất hiện đại. II-Quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Nguyễn Trọng Tạo 1-Khái niệm quan niệm nghệ thuật về con người Con người là cầu nối giữa văn học nghệ thuật và cuộc sống. Vì thế nên con người trở thành đối tượng miêu tả chủ yếu để văn học có một điểm tựa nhìn ra thế giới bên ngoài. Con người lịch sử, con người cá nhân, con người xã hội là trọng tâm đánh giá các mối quan hệ. Do đó người nghệ sĩ phải đi nhiều, hiểu nhiều, phải chọn những phương tiện để bộc lộ mọi mặt trong đời sống của con người. Tuy vậy vấn đề con người trong văn học rất khó có thể đưa ra một định nghĩa đầy đủ và chuẩn xác. Con người là một khái niệm không đơn giản, chúng ta chỉ biết rằng cuộc sống và nghệ thuật được tạo nên từ con người và con người trở thành đối tượng quan trọng hàng đầu của người nghệ sĩ. Tố Hữu từng nhận xét: "Văn học không phải là chuyện văn chương mà là chuyện cuộc sống, trước hết là con người". Còn Giáo sư Trần Đình Sử thì cho rằng: "Quan niệm nghệ thuật về con người thực chất là vấn đề tính năng động của chủ thể nghệ thuật trong việc phản ánh hiện thực, lý giải con người bằng các phát hiện nghệ thuật, về vấn đề và giới hạn, phạm vi chiếm lĩnh đời sống của một hệ thống nghệ thuật, là khả năng thâm nhập của nó vào các miền khác nhau của đời sống". [8,117] Như vậy một tác phẩm văn học muốn tồn tại và tự khẳng định được những nét riêng của mình bao giờ cũng phải lấy điều trên làm "tiêu chí" quyết định. Có thể nói, văn học ra đời không phải góp phần giải thích thế giới mà tham gia cải tạo thế giới, không chỉ miêu tả con người đơn thuần mà thắp sáng lòng nhân ái, lối sống nhân văn trong bản thân một cá nhân. 2- Quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Nguyễn Trọng Tạo. Nguyễn Trọng Tạo, dù nhìn người hay nhìn cảnh thì nỗi buồn cũng là tâm điểm quan trọng, là điểm tựa để các phán đoán trở nên sâu sắc hơn. Trong bài "Ngôi sao buồn", anh viết: niềm vui rồi dễ phai nhanh cuộc đời lắng lại long lanh nổi buồn Cái buồn "lắng lại" từ cuộc đời mà nhà thơ chắt lọc, nắm bắt được chi phối cái nhìn nghệ thuật và cả quan niệm về con người của anh. Con người trong thơ Trọng Tạo chịu ảnh hưởng rất nhiều về cách nhìn này, đó là con người cô đơn và con người đồng hiện bởi quá khứ, hiện tại và tương lai. 2.1- Con người cô đơn Trên Việt Nam.net, mục "tin tức hàng ngày ", có viết: "cảm nhận về nỗi ngang trái trong tình yêu, tiên đoán về tai họa ẩn giấu dưới mỗi bước chân buồn bã của lữ khách cô đơn khiến anh viết nên những bài thơ như khóc…". Đây là một nhận xét hay về Nguyễn Trọng Tạo, giúp người mới đọc thơ anh có thể cảm nhận thoáng qua hay dự cảm về hồn thơ này. Và nó cũng giúp chúng tôi phần nào trong việc trả lời câu hỏi: Nguyễn Trọng Tạo nghĩ gì về con người ? So với dòng chảy vô thủy vô chung của thời gian thì con người là một kiếp sống mong manh, hữu hạn. Nắm bắt rõ quy luật đó, đọc thơ Nguyễn Trọng Tạo mới thấy anh luôn trân trọng và từ tốn với nỗi cô đơn của con người không hiểu hết được thế nào là hạnh phúc và không biết mình cần cái gì trong cuộc sống này ? ngơ ngác giọt nước mắt cuối năm không rõ buồn vui gì xe bỗng chạy trên đường không rõ về chốn nào (Sônnê không định trước) Cái "không rõ" khiến con người ta ý thức được giọt nước mắt rơi vì nỗi cô đơn, cô đơn không biết mình là ai ? mình về đâu ? Sự cân bằng trong câu thơ cũng dường như mất đi, để lại nổi trống trải vô định trên tờ giấy. Chính vì thế mà hành trình thơ của Nguyễn Trọng Tạo qua bao nhiêu năm vẫn là tiếng thăm thẳm của hồn người trong cõi mênh mông của cuộc đời: ` ngày vung vãi đức tin đêm thấy mình cô độc ranh khôn giữa muôn nghìn trở về thành thằng ngốc (Tự vấn) Nhiều khi anh thơ đùa trêu với chính nỗi cô đơn đó: anh cô đơn như quan chẳng có dân anh trống trải như ngai vàng vắng chủ (Cổ tích thơ tình ) Con người cô đơn khi xa xứ, lưu lạc giữa dòng chảy của cuộc đời. Chất quê chảy trong kẻ lưu lạc đã dải phổ cảm xúc cho thơ Tạo, người thổn thức lắm với ý thức vực dậy, khao khát tìm về nơi máu thịt của mình: ngơ ngác giữa phố một thằng nhà quê nhơ thương mộ tổ biết bao giờ về ? (Lưu lạc) Cô đơn là phần sâu nhất trong bản ngã của Nguyễn Trọng Tạo. Cái mầm cô đơn ấy có đủ vị, có cả niềm cay đắng lẫn ngọt ngào. Dưới con mắt của anh, dường như con người cô đơn lắm, cô đơn đến vô cùng, cô đơn trong chính giấc mơ: trong giấc mơ ta thấy ta lang thang đường phố cây thả xuống ta lá vàng (Mộng du ) Nhưng con người cũng cảm thấy cô đơn trước thời đại mới - thời đại xô bồ, đua tranh tiền tài, địa vị, danh vọng...Người thì lạc vào kinh kệ, quyền chức, còn ta thì chới với: ta lạc ngoài ta đi hoài không đến (Lưu lạc) Con người thấm thía nổi bơ vơ khi không tìm thấy điểm tựa, chợt bật khóc "úp tiếng nấc - úp vào núi đồi sa mạc biển xanh". Cảm giác ấy chỉ được thiên nhiên thấu hiểu và an ủi: có một đêm chợt lạnh vầng trăng bay vào khung tranh soi giấc anh nằm lay anh tỉnh dậy ngậm ngùi xa xăm (Bức trang giêng) Tạo là một kẻ mang bản mệnh đa đoan. Càng đa đoan Tạo càng thấy cô đơn. Càng cô đơn thì càng lắng động để trải nghiệm và khóc cười chuyện nhân thế: biết tìm gõ cánh cửa nào vô tình gió lạnh lách vào đáy tim (Không đề cho Đỗ Toàn ) Nỗi cô đơn càng thấm đẫm trên trang thơ thì càng chứng tỏ rằng Nguyễn Trọng Tạo đã biết lắng lại và tự giác ngộ mình trước cõi tham - sân - si trần tục. Đó là cách nhìn của con người đầy ý thức cụ thể và đầy chân thật. Mối tương quan giữa "cái chớp mắt" và "cái ngàn năm" đẩy cảm xúc thơ Trọng Tạo lên tầm mỹ học về nhân sinh qua cái nhìn biết mình, biết đời. Chính vì biết đời nên anh mới thấy cô đơn, khi cô đơn người ta mới hiểu đựơc đời. Rồi một ngày trong cõi vĩnh hằng, trên rêu phong, nhà thơ cúi nhặt một chiếc bóng mình giữa mênh mông: ôi những chiếc lá kim rơi chi mãi nổi buồn heineken heineken tiếng va chạm cô đơn (Thiên An ) Chúng ta biết rằng trong cuộc sống đời tư, Nguyễn Trọng Tạo không mấy thuận lợi vì ít nhất anh cũng đã một lần tan vỡ trong chuyện gia đình. Có phải vậy chăng mà nỗi cô đơn trong thơ tình yêu của anh đã đạt đến độ khôn cùng: chợt đi một đời chợt về cửa khép dưới chân vẫn dép trên đầu trời thanh đời lên chót đỉnh chợt mình mong manh.. (Chợt ) Cách nói "đời lên chót đỉnh chợt mình mong manh" là cách nói độc đáo. Sự đối xứng giữa hai vế mang nghĩa đối lập càng diễn tả sâu sắc hơn nổi cô đơn trong tâm hồn thi sĩ. Anh còn dùng nhiều lối nói độc đáo khác nữa khi diễn tả nổi cô đơn trong tình yêu của con người trong như "con đường Không Tên" "số nhà Lãng Quên": có một chàng Đơn Độc bước trên đường Không Tên có một nàng Hạnh Phúc ở số nhà Lãng Quên (Nỗi nhớ không tên ) Trong số những bài thơ mà Trọng Tạo viết về tình yêu, có thể nói bài "Chia" là bài hay nhất và thể hiện rõ nhất nổi cô đơn của con người. Một câu, một chữ của bài như từng ngấn lệ rơi xuống khiến người đọc cảm thấy hụt dần trong hơi thở của người đang yêu: chia cho em một đời tôi một cay đắng một niềm vui một buồn tôi còn cáí xác không hồn cái chai không rượu tôi còn vỏ chai (Chia) Con người sống vì tình yêu, "chia" cho tình yêu quá nhiều nên khi chỉ còn "cái xác không hồn" mới thấy chếnh choáng, cô độc. Nói như một nhà thơ nữ rằng: Áo cộc bay nô với heo may Đông cập vồ vuốt gáy Giá lạnh yêu ta hơn những người tình mắt cháy Nỗi cô đơn cười ngất giữa trời .. (Giữa đông với cô đơn-Lợi Hồng Diệp) Nguyễn Trọng Tạo đã từng tâm sự: "Bây giờ ít lĩnh vực húy kỵ hơn trước nhà văn có thể múa bút vào nhiều đề tài, nhiều vấn đề. Nhiều đề tài trước dấu đi bây giờ văn chương có thể khai thác. Như vấn đề cuộc sống cô đơn". (Trích Việt Nam.net). Phải chăng khi gửi đến bạn đọc một mẫu hình con người - mẫu cô đơn, Nguyễn Trọng Tạo muốn gửi gắm nỗi nỗi cô đơn của chính mình và phát huy bản chất và chức năng đặc thù của thơ, đặc biệt là luôn giữ được mối dây đồng cảm giữa người viết và người đọc, tạo mối quan hệ khăng khít vững bền. 2.2- Con người đồng hiện quá khứ - hiện tại - tương lai Sở dĩ chúng tôi nói đến con người đồng hiện ở ba mảng thời gian có quan hệ mật thiết này vì trong nhận thức của Nguyễn Trọng Tạo bao giờ cũng đứng ở điểm nhìn hiện tại nhìn về quá khứ và đứng ở hiện tại để hướng đến tương lai. Đây là một cách cảm quan mới mà nhà thơ đã chọn để thể hiện cái nhìn sâu sắc hơn về con người cuộc đời. Nhìn từ chiều lịch đại thì Trọng Tạo thuộc thế hệ các nhà thơ chống Mỹ Trong thơ anh cũng có ít nhiều trang mang hình ảnh người lính, đã có nhiều trang viết về một thời phơi phới tin yêu, một thời thiết tha, tự nguyện. Nhưng phần hay của thơ anh là phần sau - phần thơ thời hậu chiến, là những vấn đề đời thường. Đây là một hình thức "vỡ giọng" - thay đổi tư duy nghệ thuật, quan niệm sáng tác của Nguyễn Trọng Tạo. Anh đã nhìn con người bằng cái nhìn mới mẻ hơn, khám phá con người bằng không gian và thời gian đầy chiêm cảm. Con người không chỉ được khai thác ở trạng thái hiện tại mà xét trong mối tương quan với cả quá khứ và sự liên hệ với tương lai. Dường như với bất kỳ ai, bất cứ đâu trong mỗi người là những mắtxít thời gian, là sự quẫy đạp trong không gian và thời gian: người ta nói : con số không đấy chính là sa mạc người ta nói: quá khứ hiện tại tương lai đồng hiện trên cát mênh mông (Nghiền ngẫm ) Bởi vì Nguyễn Trọng Tạo quan niệm: "gương mặt con người là mảnh đất khám phá không bao giờ biết chán" nên anh đã có cái nhìn toàn diện khi đi vào thế giới nội tâm của con người. Trong thơ anh, con người luôn giằng xé với ký ức, suy tư với hiện tại và trằn trọc với tương lai: không hẹn hò anh trở lại công viên anh trở lại thảm cỏ xanh đêm trước (Cỏ xanh đêm trước ) Hoạt động của con người thì ở hiện tại nhưng tâm tưởng của con người thì ở quá khứ, con người luôn "chạm vào trí nhớ" của mình, không thể lướt qua ký ức một cách thản nhiên. Quá khứ và hiện tại cứ lồng ghép, đan xen, nhập nhằng vào nhau: hoa bằng lăng rắc tím tận bây giờ trên cỏ biếc. Tiếng hoa đài đâu đó
- Xem thêm -