Tài liệu Yếu tố văn hóa dân gian trong sáng tác của một số nhà thơ thuộc phong trào thơ mới (nguyễn bính, anh thơ, đoàn văn cừ)

  • Số trang: 288 |
  • Loại file: DOCX |
  • Lượt xem: 39 |
  • Lượt tải: 0
okyeuniterd

Tham gia: 20/08/2016

Mô tả:

Yếu tố văn hóa dân gian trong sáng tác của một số nhà thơ thuộc phong trào Thơ mới (Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ) BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA NGỮ VĂN  KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Ngành Sư phạm Văn YẾU TỐ VĂN HÓA DÂN GIAN TRONG SÁNG TÁC CỦA MỘT SỐ NHÀ THƠ THUỘC PHONG TRÀO THƠ MỚI (NGUYỄN BÍNH, ANH THƠ, ĐOÀN VĂN CỪ) Người thực hiện: Hồ Trọng Việt K38.601.171 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Điệp Tp. Hồ Chí Minh, Tháng 5 – 2016 2 Yếu tố văn hóa dân gian trong sáng tác của một số nhà thơ thuộc phong trào Thơ mới (Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ) LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Điệp đã nhận lời và hướng dẫn em tận tình. Những lời góp ý và động viên chân thành của cô trong suốt quá trình em lên ý tưởng, hình thành đề cương, viết bài hoàn chỉnh là động lực giúp em hoàn thành khóa luận. Bên cạnh đó, em cũng muốn gửi cảm ơn đến các thầy cô ở thư viện trường Đại học Sư Phạm Tp.HCM và thư viện Khoa học Tổng hợp Tp.HCM đã giúp đỡ em trong quá trình tìm kiếm tài liệu. Em cũng chân thành cảm ơn cô Tạ Thị Hà Thanh, là giáo viên hướng dẫn em ở trường THPT Nguyễn Công Trứ đã luôn tạo mọi điều kiện tốt nhất cho em để em có thể chu toàn công việc thực tập và bảo đảm viết khóa luận đúng hạn. Em xin chúc các thầy cô luôn dồi dào sức khỏe, đạt nhiều thành công tốt đẹp trong công việc. Trân trọng Hồ Trọng Việt 3 MỤC LỤC DẪN NHẬP NỘI DUNG CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ SỞ 1.1 Giới thuyết các khái niệm............................................................................ 19 1.1.1 Khái niệm văn hóa...........................................................................19 1.1.2 Khái niệm văn hóa dân gian.............................................................21 1.1.3 ác thành tố văn hóa dân gian............................................................22 1.2 Mối quan hệ giữa văn hóa dân gian và văn học viết...................................26 1.2.1 luận về mối quan hệ giữa văn hóa và văn học..................................26 1.2.2 Ảnh hưởng của văn hóa dân gian đối với một số tác giả văn học viết27 1.2.2.1. Đối với một số tác giả trên thế giới........................................27 1.2.2.2. Đối với một số tác giả ở Việt Nam........................................29 1.3. Đôi nét về phong trào Thơ mới và vị trí của ba nhà thơ trong phong trào Thơ mới..................................................................................................38 1.3.1 Đôi nét về phong trào Thơ mới........................................................38 1.3.2 ị trí của ba nhà thơ trong phong trào Thơ mới..................................42 1.4 Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ - cuộc đời và sự nghiệp..................43 1.4.1 Nguyễn Bính....................................................................................43 1.4.2 Anh Thơ...........................................................................................45 1.4.3 Đoàn Văn Cừ...................................................................................46 CHƯƠNG 2. VĂN HÓA DÂN GIAN TRONG THƠ NGUYỄN BÍNH, ANH THƠ, ĐOÀN VĂN CỪ NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG 2.1 Tín ngưỡng dân gian.................................................................................... 49 2.2 Phong tục tập quán dân gian........................................................................ 54 2.3 Lễ hội dân gian............................................................................................ 71 2.4 Nghệ thuật dân gian..................................................................................... 79 2.5 Tri thức dân gian......................................................................................... 89 2.6 Ngữ văn dân gian........................................................................................ 95 CHƯƠNG 3. VĂN HÓA DÂN GIAN TRONG THƠ NGUYỄN BÍNH, ANH THƠ, ĐOÀN VĂN CỪ NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT 3.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật................................................................... 101 3.2 Nghệ thuật xây dựng kết cấu..................................................................... 107 3.3 Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ.................................................................... 111 3.4 Nghệ thuật chọn lựa hình ảnh.................................................................... 126 3.5 Nghệ thuật sử dụng thể thơ........................................................................ 130 KẾT LUẬN.................................................................................................................. 137 TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................................ 140 PHỤ LỤC.................................................................................................................... 146 1. Lí do chọn đề tài DẪN NHẬP Văn hóa được xem như là nguồn mạch sáng tạo và khám phá văn chương. Hiện nay, do có sự mở rộng trong quan niệm và các phương diện tiếp cận, văn chương không chỉ được nhìn nhận dưới góc độ tư tưởng, triết học, mỹ học…mà còn được đặt trong mối quan hệ với văn hóa. Góc nhìn văn hóa đòi hỏi nhà nghiên cứu phải đặt tác phẩm không chỉ trên diện rộng mà còn nằm ở chiều sâu, trong mối liên hệ với các hoạt động khác nhau của con người, dựa vào các qui luật và giá trị thường hằng chi phối cuộc sống con người trong lịch sử. Trên cơ sở đó, với việc đi sâu khám phá nội hàm văn hóa ẩn chứa trong lớp vỏ ngôn từ, các nhà nghiên cứu có thể bóc tách hết vẻ đẹp của tác phẩm từ nhiều khía cạnh khác nhau. Do vậy, việc vận dụng những quan điểm và thành tựu của văn hóa để lí giải văn học được xem là hướng nghiên cứu khoa học và khá phổ biến hiện nay. Trong cuốn “Thi pháp văn học Nga cổ”, ĐX.Likhatrop đã lí giải vì sao phải nghiên cứu thi pháp văn học Nga cổ nói riêng và thi pháp văn học nghệ thuật nói chung: “Qúa trình văn hóa của mỗi dân tộc, không chỉ là quá trình biến cải, tạo nên cái mới mà 1 còn là quá trình giữ gìn cái cũ, quá trình tìm thấy cái mới trong cái cũ” . Đúng vậy, không riêng ở Nga, bất cứ nền văn học nào trên thế giới cũng đều chịu ảnh hưởng và chi phối bởi nguồn mạch dân gian. Các nhà nghiên cứu đã chứng minh sự ảnh hưởng của văn hóa dân gian mỗi dân tộc đối với các tác gia lớn trên thế giới như: Shakespeare (Anh), Tagore (Ấn Độ), Pushkin (Nga), Ngô Thừa Ân, Bồ Tùng Linh (Trung Quốc), Kawabata (Nhật Bản)…Ở Việt Nam, các tác giả từ trung đại đến hiện đại đều có sự tiếp thu một cách nhất định đối với “vốn văn học cổ” của dân tộc: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương…Trở về với văn hóa dân gian là xu hướng chung của lịch sử văn học và thi pháp văn học không chỉ ở Việt Nam mà còn trên thế giới. Trong phong trào Thơ mới, bên cạnh các nhà thơ chịu ảnh hưởng của văn hóa Pháp thì vẫn còn đó các nhà thơ lặng lẽ trở về với ngôi làng ẩn sau lũy tre, với hương 1 Dẫn theo Nguyễn Xuân Kính (1992), Thi pháp ca dao, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội thơm của đồng quê, với bến đò ngày mưa…Họ đã học tập, kế thừa tinh hoa văn hóa dân tộc để tạo nên phong cách nghệ thuật của mình. Nặng lòng hơn cả là Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ. Ba nhà thơ quay lại với truyền thống dân tộc trong cả nội dung sáng tác và phương thức biểu hiện. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của ca dao với Nguyễn Bính và công nhận “Nguyễn Bính – nhà thơ của đồng quê”, “Nguyễn Bính – nhà thơ chân quê”…Tuy nhiên, chưa có công trình nào đặt ba tác giả Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ trong sự đối sánh để thấy được mức độ ảnh hưởng, xu hướng tiếp thu và đặc điểm phong cách riêng biệt của mỗi nhà thơ khi cùng chịu ảnh hưởng chung nguồn mạch dân gian. Lý do thứ tư xuất phát từ nhu cầu chủ quan của người viết. Bản thân người viết cũng là người nặng ân tình với vùng quê xứ Nghệ của mình. Có lẽ với người con xa quê, yêu những giá trị thuộc về văn hóa truyền thống thì nghiên cứu yếu tố văn hóa dân gian trong thơ của Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ là cơ hội để đồng cảm, để được sống lại những khoảnh khắc tuổi thơ thật đáng trân quý. Bên cạnh đó, đây cũng là ba nhà thơ có những tác phẩm, đoạn trích được lựa chọn đưa vào chương trình Ngữ Văn cấp THCS và THPT, nghiên cứu ba tác giả cũng là dịp để hiểu sâu hơn về phong cách sáng tác của họ, phục vụ tốt cho yêu cầu của thực tiễn giảng dạy. 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2.1. Nghiên cứu về văn hóa dân gian trong thơ Nguyễn Bính  Từ góc độ nội dung Thơ Nguyễn Bính như chiếc giếng khơi, càng đào sâu càng tìm được nhiều điều mát ngọt. Có nhiều công trình nghiên cứu về chất dân gian trong thơ của ông nhưng sự đánh giá của Hoài Thanh – Hoài Chân trong cuốn “Thi nhân Việt Nam” (1942) đến nay vẫn được xem là ý kiến cơ bản nhất, mở đầu cho lịch sử nghiên cứu về thơ Nguyễn Bính: “Thơ Nguyễn Bính đã đánh thức người nhà quê vẫn ẩn náu trong lòng ta. Ta bỗng thấy vườn cam bụi chuối là hoàn cảnh tự nhiên của ta và những tính tình đơn giản của dân quê là những tính tình căn bản của ta” [55, 336-337]. Nguyễn Bính là một nhà thơ nằm trong giai đoạn 1932 – 1945 – giai đoạn có sự ảnh hưởng của văn hóa Pháp ít nhiều vào thơ dù trong ý thức của các nhà thơ luôn muốn quay trở về với nguồn cội. Hoài Thanh – Hoài Chân cũng đã “phàn nàn” về điều này: “Đáng trách chăng giữa những bài giống hệt ca dao người bỗng chen vào một đôi lời quá mới. Ta thấy khó chịu như khi vào một ngôi chùa có những ngọn đèn điện trên bàn thờ Phật. Cái lối gặp gỡ ấy của hai thời đại rất dễ trở nên lố lăng” [55, 338]. Đây cũng là cơ sở để ta thấy được cảm hứng tư tưởng của Nguyễn Bính, trong thơ ông luôn có sự đấu tranh: một mặt, bất đồng với phong trào Âu hóa và mặt khác là ý thức trân trọng ngợi ca những giá trị văn hóa tinh thần. Có thể nói, những nhận định của Hoài Thanh – Hoài Chân là tiền đề để đi sâu khai thác chất dân gian trong thơ Nguyễn Bính. Năm 1996, trong lời tựa cuốn Thơ tình Nguyễn Bính, Kiều Văn đã đặt lên bàn cân giữa Nguyễn Bính và các nhà thơ trong phong trào Thơ mới để xác định bản sắc riêng trong thơ Nguyễn Bính. Ông cho rằng giữa cái hào hoa lãng tử của Thế Lữ, cái bay bổng của Xuân Diệu, cái điên rồ vật vã của Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính “mang nặng mối tình đằm thắm với xứ quê, người quê”. Tác giả cũng nhận định thơ Nguyễn Bính đã đặc tả một cách chân xác quê hương và con người Việt Nam về: lí trí lẫn tình cảm, tính cách nết na lẫn lời ăn tiếng nói, cách sống cách yêu…Nhận định này của tác giả Kiều Văn cũng đồng thời là hướng gợi mở để người nghiên cứu dùng nếp cảm, nếp nghĩ, nếp yêu mang đậm sắc thái dân gian của người xưa để cắt nghĩa thơ Nguyễn Bính. [77, 7-8] Năm 1996, trong bài viết Nguyễn Bính, nhà thơ chân quê – chân tài, Hà Minh Đức khẳng định thơ của Nguyễn Bính có sự tiếp thu của văn hóa dân gian. Tuy có nhiều chất mộng mơ, lãng mạn nhưng không giống với các nhà thơ lãng mạn đương thời như Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư. Cuộc sống làng quê và đề tài quê hương níu chân Nguyễn Bính: “Thơ Nguyễn Bính ẩn chứa đằng sau những câu chữ giản dị mộc mạc theo một câu hát, một làn điệu ca dao, ẩn chứa đằng sau những hình ảnh thân quen, những tình ý mộc mạc chân quê, cái hồn quê như có tự muôn đời”. [35, 115] Trong Hoài niệm quê hương trong thơ Nguyễn Bính (1996), Đoàn Đức Phương cùng quan điểm với Hà Minh Đức khi cho rằng: “Đọc thơ Nguyễn Bính người ta như sống lại những ngày Tết cổ truyền, những ngày hội xuân, những ngày hội làng, những đêm hát chèo những buổi lễ chùa, những nét tín ngưỡng tôn giáo và những phong tục tập quán, lớp học thầy đồ, những trò vui dân dã, cách ăn mặc và nếp sống xa xưa, giấc mơ quan trạng…” [3, 219]. Trong bài viết Nguyễn Bính – thi sĩ của đồng quê (1998), Hà Minh Đức nhận xét: “Trong những bài thơ của mình, Nguyễn Bính đã miêu tả được văn hóa của làng quê. Cộng đồng làng xóm tồn tại từ ngàn đời đã sản sinh ra nền văn hóa của riêng nó”. Theo ông, đó là “những nề nếp phong tục tập quán, thế giới tâm linh qua tín ngưỡng tôn giáo và cách xử sự trong quan hệ giữa người với người. Đó cũng là nền thẩm mĩ đượm màu dân tộc, giản dị chân quê trong sinh hoạt hằng ngày, lòng hiếu thảo, giấc mơ quan trạng. Tình yêu thề bồi tình cảm gia đình sâu nặng. Cho đến những ngày hội xuân những đêm hát chèo, buổi lễ chùa, lớp học thầy đồ…Tất cả đều là những bộ phận nhỏ của văn hóa làng quê. Chính tầng văn hóa này đã thâu giữ sâu kín hồn quê và thơ Nguyễn Bính khai thác thành công nếp văn hóa lành mạnh, giàu chất thẩm mĩ” [3, 135]. Tác giả Đoàn Hương trong bài viết Nguyễn Bính – thi sĩ nhà quê (2000) cũng nhận định Nguyễn Bính: “là người đem nhiều nhất những mã ngôn ngữ của đời sống dân dã vào thơ Việt Nam hiện đại. Những giậu mồng tơi, giăng sáng, vườn chè, trống chèo, hoa xoan, hoa bưởi, hoa cam, cánh buồm nâu, vườn dâu, vườn cam, tất cả đã vào trong thơ Nguyễn Bính một cách trữ tình, duyên dáng như ca dao”. [35, 162]. Bên cạnh đó, bà còn có những phát hiện mới mẻ, đó là mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống, giữa văn hóa làng xã với văn hóa quốc gia “một mảng đề tài khác mà nhà thơ không chú tâm lắm nhưng đã đem lại bộ mặt tinh thần riêng cho thơ ông, đó là sự chuyển tải nghệ thuật đời sống làng quê Việt Nam vào đời sống văn hóa chung của dân tộc” [3, 194] Như vậy, về mặt nội dung Nguyễn Bính đã đưa vào thơ những đề tài bình dị, dân dã, cũng như cách cảm, cách nghĩ của dân gian. Ông luôn có ý thức suy tôn cái đẹp thuộc về nguồn cội như những giấc mộng đẹp, cuộc tình quê đẹp, cảnh quê hữu tình. Ở mức độ khái quát, các bài nghiên cứu cơ bản đã khẳng định thơ Nguyễn Bính có dấu vết của văn hóa dân gian trên phương diện nội dung.  Từ góc độ nghệ thuật Về thể thơ, năm 1968 trong cuốn Việt Nam thi nhân tiền chiến, phần viết về tác giả Nguyễn Bính, Nguyễn Tấn Long so sánh với nguồn mạch Thơ mới và nhận ra thơ Nguyễn Bính có “mạch thơ như nguồn nước chảy tuôn, tác giả đã sử dụng thơ lục bát tạo âm điệu nhẹ nhàng êm dịu, buồn lâng lâng len sâu vào tiềm thức, khơi dậy niềm xúc cảm nghẹn ngào” [30, 281] Trong bài viết Thi pháp dân gian trong Thơ mới Nguyễn Bính (1995), Nguyễn Quốc Túy đã khẳng định “Ngôn ngữ trong thơ Nguyễn Bính trước hết là ngôn ngữ của ca dao, dân ca, của thơ ca dân gian nói chung. Và rộng hơn là ngôn ngữ trong đời sống hằng ngày của quảng đại quần chúng nhân dân được Nguyễn Bính chọn lọc, mài giũa và tinh luyện”. [35, 294]. Trong bài viết Thơ Nguyễn Bính với nghệ thuật biểu hiện đậm đà sắc thái văn hóa dân gian (1996), Đoàn Đức Phương đã khảo sát một cách khái quát vài đặc điểm nghệ thuật thơ Nguyễn Bính trên các phương diện: giọng điệu thơ, thể thơ lục bát, thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật, ngôn ngữ…để thấy sắc thái dân gian đã tạo nên bản sắc dân tộc đậm đà, cũng một là trong những yếu tố tạo nên sức sống thơ Nguyễn Bính. Đoàn Đức Phương khẳng định: “Có thể nói, đến với Nguyễn Bính là đến với những hình thức dân gian dân tộc, đến với những giá trị văn hóa truyền thống của quảng đại nhân dân”. [35, 315]. Là người rất am hiểu về Nguyễn Bính, năm 1998 trong bài viết Nhà thơ và thế giới nghệ thuật trong thơ Nguyễn Bính, Hà Minh Đức đã tỏ ra rất tinh tế khi nhận xét về mối quan hệ giữa thơ Nguyễn Bính với những câu ca dao: “Chất dân gian trong thơ Nguyễn Bính đẹp và gợi cảm. Tác giả đã làm sống lại vẻ đẹp của ca dao trong nguyên 10 thể của nó và có những cách tân sáng tạo […] Thực ra Nguyễn Bính không trở về với ca dao theo lối mô phỏng, viết những cái giống như ca dao mà quan trọng hơn là tìm được sự hòa hợp giữa hồn quê hương trong ca dao với những ý tưởng và tình cảm của cuộc đời mới. Nguyễn Bính, nếu nói theo cách của các nhà nghiên cứu thì đã chọn được trong thi pháp của ca dao những đặc điểm, yếu tố thích hợp với thời kì hiện đại” [35, 258]. Tiếp tục ý kiến của Hà Minh Đức, Đoàn Hương trong bài viết Nguyễn Bính – thi sĩ nhà quê (2000) nhận định: “Chính cái thi pháp thơ của thơ ca dân gian đã mang đến sự phóng khoáng và sức mạnh cho bút pháp của Nguyễn Bính…Có lẽ ở thế kỉ này, Nguyễn Bính là một trong những nhà thơ thành công lớn khi đem thi pháp của thơ ca dân gian vào trong thi ca hiện đại”. [4, 200]. Chất văn hóa dân gian trong thơ Nguyễn Bính biểu hiện ở rất nhiều khía cạnh, nhiều góc độ khác nhau, cả trên phương diện nội dung lẫn phương diện nghệ thuật. Đó là do ý thức muốn tìm về cội nguồn dân tộc, về những nét văn hóa truyền thống của nhà thơ. Các ý kiến đánh giá thơ Nguyễn Bính của những nhà nghiên cứu đi trước là kết quả của tâm huyết và trí tuệ, đã gợi mở cho người viết nhiều vấn đề khi làm đề tài này. Tuy vấn đề văn hóa dân gian trong thơ Nguyễn Bính đã được một số nhà nghiên cứu đề cập đến nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau mà các tác giả chỉ mới dừng ở mức độ khái quát hoặc chưa có sự so sánh, đối chiếu với những tác giả khác. Do đó, người viết sẽ đi vào tìm hiểu cụ thể vấn đề trên. 2.2. Nghiên cứu về văn hóa dân gian trong thơ Anh Thơ Anh Thơ đến với làng Thơ mới với giải khuyến khích của Tự Lực Văn Đoàn cho tập thơ Bức tranh quê của mình năm 1939. Nhận xét về tập thơ của bà, Nhất Linh cho rằng: “Bức tranh quê của cô Anh Thơ là một tập ba mươi bài thơ. Bài nào cũng mười hai câu. Tác giả đã tả cảnh thôn quê từ đầu năm cho đến Tết. Mùa nọ sang mùa kia. Tác giả nhất định tả cảnh theo thời tiết. Nhất định dùng một thể thơ giống nhau. Tự đặt mình vào con đường khó khăn, hình như để cốt tỏ rõ sự tài tình và khéo léo của mình. Lối ấy làm 11 cho tập thơ kém vẻ linh hoạt, thành ra nặng nề, uể oải từ đầu đến cuối cứ đều đều một giọng” [76, 52] Hoài Thanh – Hoài Chân trong cuốn Thi nhân Việt Nam (1942) lại cho rằng: “Anh Thơ từ lâu đã chuyên lối tả cảnh, mà lại tả những cảnh rất tầm thường: một phiên chợ, một đứa bé quét sân, một vài mụ đàn bà ngồi bắt chấy. Thơ của người biệt hẳn ra một lối” [55, 186]. Sau này, có nhiều người cho rằng, thơ Anh Thơ chỉ toàn tả cảnh, thiếu tình. Nhưng Hoài Thanh – Hoài Chân đã phản bác: “Có kẻ sẽ cho Anh Thơ là người vô tình. Nhưng có thiếu nữ nào hai mươi tuổi mà lại vô tình?” [55, 186]. Trong bài phỏng vấn với Hoàng Trung Thông, khi được hỏi vì sao trong thơ bà ít nói về tình yêu, Anh Thơ cũng đã cho rằng: “Tình yêu đâu chỉ có tình yêu nam nữ. Yêu con, yêu chồng, yêu quê hương cũng là tình yêu”. [69, 17 – 18]. Anh Thơ dạo ấy chưa chồng, chưa con nên tình yêu với bà sâu đậm và sắc nét nhất vẫn là tình yêu quê hương, yêu làng quê thôn xóm. Nguyễn Quốc Túy trong cuốn Thơ mới – bình minh thơ Việt Nam hiện đại (1995) khẳng định cội nguồn văn hóa dân gian đã là chất liệu kiến tạo nên hồn thơ Anh Thơ: “Sở dĩ các nhà Thơ mới: Anh Thơ, Bàng Bá Lân, Đoàn Văn Cừ có được cái nhìn đằm thắm tươi duyên, cái hồn hậu, phác thực của tâm hồn Việt Nam chính là họ chịu ảnh hưởng nhiều của văn hóa dân gian nói chung và của ca dao nói riêng…” [76, 63]. Như vậy, thơ Anh Thơ không chỉ là bức tranh quê thuần túy mà còn ẩn chứa trong đó nhiều phong tục tập quán, hội hè, những nếp sinh hoạt văn hóa dân gian đậm chất cổ truyền dân tộc. Kể từ sau Cách mạng tháng tám, cũng như nhiều nhà làm văn nghệ khác, Anh Thơ chuyển từ đề tài phong tục, thiên nhiên làng quê sang đề tài phản ánh hiện thực cuộc sống nóng bỏng của kháng chiến. Hàng loạt tác phẩm ra đời đánh dấu sự trưởng thành trong ngòi bút của bà: Kể chuyện Vũ Lăng (1957), Đảo Ngọc (1963), Theo cánh chim câu (1965)…Có thể nói, Anh Thơ bén duyên với thi ca từ những vần thơ viết về làng quê, ấn tượng ấy để lại sâu đậm nên những tác phẩm sau này, mặc dù ngòi bút của bà đã già dặn hơn nhưng người ta vẫn nhớ nhiều hơn về Anh Thơ – thi sĩ của làng quê. 2.3. Nghiên cứu về văn hóa dân gian trong thơ Đoàn Văn Cừ Được xếp vào nhóm các nhà thơ “tả chân” cùng với Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ đã đến với thi đàn Việt Nam bằng những vần thơ đậm sắc màu và đường nét về làng quê và các phong tục tập quán của dân tộc. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu một cách chuyên sâu về thơ Đoàn Văn Cừ nói chung cũng như về vấn đề văn hóa dân gian trong thơ ông còn hạn chế. Có chăng là những bài viết nhỏ lẻ, rải rác chưa có hệ thống. Với Đoàn Văn Cừ, cũng như Nguyễn Bính và Anh Thơ, những nhận định về phong cách của ông trong cuốn Thi nhân Việt Nam (1942) của Hoài Thanh – Hoài Chân vẫn là những nhận định mang tính chất mở đầu và định hướng cho các bài viết về Đoàn Văn Cừ sau này. Hoài Thanh – Hoài Chân khẳng định làng quê trong thơ ông là làng quê đầy rẫy sự sống và sắc màu tươi vui. Có những tập tục quen thuộc của dân tộc như chợ Tết, đám hội…Hai ông cũng cho rằng Đoàn Văn Cừ không chỉ biết nhận xét rất tinh mà hồn thơ ông cũng rất phong phú: “Trong các nhà thơ đồng quê, không ai có ngòi bút dồi dào mà rực rỡ như Đoàn Văn Cừ” [55, 176]. Trong bài viết Cảm quan văn hóa dân gian trong thơ Tết, thơ hội hè đình đám của Đoàn Văn Cừ (1995), Cao Xuân Thử đã xác định vị trí riêng biệt của Đoàn Văn Cừ so với các nhà thơ cùng thời: “Đoàn Văn Cừ là người tiêu biểu hơn cả trong các nhà văn nhà thơ cùng thời với mình, đã thể hiện rõ rệt nhất nhân sinh quan và thế giới quan thuần khiết của nền văn hóa dân gian đình đám, hội hè, tết nhất.” [47, 137]. Ông cũng cho rằng, thơ Đoàn Văn Cừ đã bén rễ sâu với tầng tục ngữ, thành ngữ của ngôn ngữ dân tộc như “vui như Tết”, “vui như hội”, “sang như cơm cỗ”, “đông như trẩy hội”…[47, 139]. Đặc biệt, ông phát hiện ra Đoàn Văn Cừ chú ý nhiều tới đám đông, các hành động, cử chỉ của các nhân vật, thi sĩ cố gắng tạo nên nhiều người đông đúc…điều đó được tác giả lí giải xuất phát từ ý thức và cảm quan dân gian. “Cảm quan này trước hết lấy sự đa dạng và phong phú của sự xuất hiện nhiều người, nhiều màu sắc, nhiều hoạt động…làm chuẩn mực thẩm mĩ về một cuộc sống no đủ, vui tươi, một cuộc sống đầy sinh lực, mãi mãi sinh trưởng, mãi mãi căng đầy sức trẻ…” [47, 140] Năm 1997, nhóm tác giả trong cuốn Văn học Việt Nam (1900 – 1945) cho rằng: “Trong thơ Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ, Hằng Phương…ta thấy hiện lên cánh đồng quê xứ Bắc với những thôn Đoài, thôn Đông, những bến đò ngày mưa, gốc đa quán chợ, cổng làng nắng mai…những mái nhà tranh, những giậu mồng tơi xanh rờn, những rặng hoa xoan tím mùa xuân, những hàng phượng đỏ mùa hạ…” [11, 571]. Đồng quan điểm với tác giả Cao Xuân Thử, trong bài viết Ấn tượng thị giác từ thôn ca của Đoàn Văn Cừ năm 2014, Lý Hoài Thu cũng khẳng định thơ Đoàn Văn Cừ như một tự sự nhỏ, hướng đến tâm lí cộng đồng mà ít phần riêng tư, cá nhân. Tác giả còn so sánh Đoàn Văn Cừ với hai thi sĩ đồng hương khác là Nguyễn Bính và Nguyễn Khuyến. “Thơ Nguyễn Khuyến nhiều tâm sự, nỗi niềm nhưng trầm mặc và lắng đọng. Đoàn Văn Cừ là nhà thơ thuộc phong trào Thơ mới, trẻ tuổi và trẻ lòng. Những nét vẽ trong thơ ông giàu cảm xúc, truyền tải phong vị dân gian thuần khiết, hồn nhiên và tươi sáng. Mỗi bài thơ là một cuốn “phim mi-ni”, một bức tranh với nhiều gam màu nổi bật và đường nét sinh động về cảnh quê lẫn hồn quê đất Việt”. Và cuối cùng, nhận định vị trí của tập thơ “Thôn ca” của Đoàn Văn Cừ, bà cho rằng: “Hơn nửa thế kỉ trôi qua kể từ ngày tập thơ ra đời, “Thôn ca” đã lưu giữ được rất nhiều giá trị văn hóa truyền thống và cái “nhịp nhàng” của đời sống dân quê thời xưa. Chính vì vậy, trên thi đàn dân tộc nửa đầu thế kỉ XX, “Thôn ca” có một vị trí không thể thay thế và nhà thơ Đoàn Văn Cừ vẫn mãi là một gương mặt độc đáo của phong trào Thơ mới và rộng hơn là thơ Việt Nam hiện đại.” [65] Sau khi khảo sát một số bài viết và công trình nghiên cứu của những tác giả trước về những vấn đề có liên quan đến đề tài, người viết rút ra một số nhận xét sau:  Các bài viết và công trình nghiên cứu với tính chất riêng biệt về từng tác giả đã đề cập một cách trực tiếp sự ảnh hưởng của văn hóa dân gian với thơ của Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ. Tuy nhiên, nếu như Nguyễn Bính có số lượng công trình nghiên cứu trước đó khá đồ sộ thì Anh Thơ và Đoàn Văn Cừ lại là những tác giả mà công trình nghiên cứu về họ còn khá ít ỏi. Nghiên cứu về sự ảnh hưởng của văn hóa dân gian với thơ Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ trên phương diện so sánh cũng chưa có công trình nào trước đó đề cập đến. Từ những điều trên, người viết nhận thấy đề tài Yếu tố văn hóa dân gian trong sáng tác của một số nhà thơ thuộc phong trào Thơ mới (Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ) là một đề tài khá mới mẻ, góp phần giúp người đọc hiểu hơn về phong cách sáng tác của ba tác giả, đồng thời hiểu sâu sắc hơn qui luật ảnh hưởng của văn hóa đối với văn học.  Vì vậy, với những gợi ý và định hướng mang tính chất khái quát làm tiền đề của các tác giả trước đó, người viết mong muốn góp thêm tiếng nói khiêm nhường trong việc nghiên cứu các yếu tố văn hóa dân gian trong thơ của Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ. Từ những điểm chung, nét riêng, chỉ ra sự độc đáo của từng tác giả trong việc kế thừa, tiếp thu văn hóa dân gian và qui luật chung của sự ảnh hưởng qua lại giữa văn hóa và văn học. 3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng Nghiên cứu yếu tố văn hóa dân gian trong thơ của ba nhà thơ trên hai phương diện: nội dung và hình thức nghệ thuật. 3.2. - Phạm vi nghiên cứu 90 bài thơ của Nguyễn Bính trong cuốn Thơ tình Nguyễn Bính, tác giả Kiều Văn tuyển chọn – giới thiệu năm 1996, NXB Đồng Nai. - 146 bài thơ của Anh Thơ trong cuốn Tuyển tập Anh Thơ, của tác giả Ngọc Trai sưu tầm, tuyển chọn năm 1987, NXB Văn học. - 100 bài thơ của Đoàn Văn Cừ trong cuốn Tuyển tập Đoàn Văn Cừ, tác giả Nguyễn Bao tuyển chọn năm 1992, NXB Văn học. 4. Phương pháp nghiên cứu Với đề tài này, người viết lựa chọn và sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:  Phương pháp so sánh, đối chiếu để thấy được nét chung, nét riêng của mỗi tác giả khi cùng chịu ảnh hưởng của văn hóa dân gian.  Phương pháp nghiên cứu liên ngành để vận dụng các quan điểm và thành tựu văn hóa nói chung, đặc biệt là văn hóa dân gian vào việc tìm hiểu, lí giải thơ của ba tác giả trên hai phương diện: nội dung và nghệ thuật để có cái nhìn toàn diện và sâu sắc nhằm làm rõ vấn đề nghiên cứu.  Phương pháp phân tích, tổng hợp được người viết sử dụng sau khi tiếp cận văn bản, dùng phương pháp này để phân tích đưa ra những luận điểm mang tính chất tổng hợp về sự ảnh hưởng của văn hóa dân gian với thơ của họ và từ đó người viết rút ra những nhận xét chung mang tính khái quát, tiêu biểu về vai trò, tác dụng của các yếu tố này trong thơ ba nhà thơ.  Phương pháp thống kê được người viết sử dụng để khảo sát hiện tượng lặp lại ở một số yếu tố văn hóa dân gian trong thơ ba nhà thơ. Từ đó, người viết dựa vào tần số xuất hiện của các yếu tố đó để hệ thống và khái quát hóa lên thành những đặc điểm riêng biệt và ổn định trong thơ ba nhà thơ. Những phương pháp này sẽ được vận dụng một cách linh hoạt trong quá trình nghiên cứu. 5. Đóng góp của khóa luận  Góp phần khảo sát và lí giải một cách hệ thống, khách quan về sự ảnh hưởng của văn hóa dân gian với thơ của Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ, qua đó góp phần khẳng định cách tiếp cận văn học từ góc độ văn hóa dân gian là một trong những hướng nghiên cứu cần thiết trong nghiên cứu văn học hiện nay.  Giúp các bạn sinh viên trong học tập, nghiên cứu và đánh giá về những đóng góp của ba thi sĩ trong tiến trình văn học dân tộc. Đồng thời, là tư liệu tham khảo cho việc giảng dạy về ba tác giả trong chương trình Ngữ Văn THCS và THPT.  Góp một phần tiếng nói nhỏ bé, khiêm nhường trong việc giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa cổ truyền của cha ông, bảo vệ sự trong sáng, giàu đẹp của ngôn ngữ dân tộc trong giai đoạn hiện nay. 6. Cấu trúc của khóa luận Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận gồm 3 chương:  Chương 1: Những vấn đề cơ sở (30 trang) Trong chương 1, người viết sẽ trình bày khái quát các quan niệm khác nhau về văn hóa cũng như văn hóa dân gian, mối quan hệ giữa văn hóa và văn học, từ đó lựa chọn cho mình một quan niệm nhất quán để tiến hành khảo sát, nghiên cứu. Chương 1 là sơ sở, nền tảng xác định những vấn đề cơ sở lí luận cũng như cung cấp một cái nhìn tổng quát về ba tác giả và ảnh hưởng của văn hóa dân gian đến thơ của họ.  Chương 2: Văn hóa dân gian trong thơ Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ nhìn từ phương diện nội dung (52 trang) Trong chương 2, người viết tập trung tìm hiểu những biểu hiện của các yếu tố văn hóa dân gian trong thơ của Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ ở phương diện nội dung. Người viết sẽ đi vào phân tích, đánh giá, chú ý tìm hiểu 6 yếu tố văn hóa dân gian: tín ngưỡng, phong tục tập quán, lễ hội, nghệ thuật, tri thức, ngữ văn trong thơ của ba nhà thơ để từ đó có cái nhìn bao quát, toàn diện và sâu sắc hơn về sự ảnh hưởng của văn hóa dân gian đến thơ của họ. Qua đó, người viết chỉ ra tác dụng, giá trị của các yếu tố văn hóa dân gian trong thơ của ba nhà thơ.  Chương 3: Văn hóa dân gian trong thơ Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ nhìn từ phương diện nghệ thuật (36 trang) Trong chương 3, người viết tìm hiểu yếu tố văn hóa dân gian trong thơ Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ từ phương diện nghệ thuật. Dựa trên các yếu tố như: nghệ thuật xây dựng nhân vật, kết cấu, ngôn ngữ, hình ảnh, thể thơ trong thơ ba nhà thơ, ta sẽ có thêm cơ sở khẳng định mối quan hệ giữa văn hóa dân gian không chỉ với nội dung mà còn trên phương diện nghệ thuật. Từ đó góp phần khẳng định được vẻ đẹp của văn hóa dân gian trong thơ, góp phần nâng cao hiệu quả nghệ thuật của câu thơ Ngoài ra, khóa luận còn có phần phụ lục với 11 mục ( 85 trang) thống kê sự lặp lại của các yếu tố văn hóa dân gian trong thơ ba nhà thơ.  Phụ lục 1: Bảng thống kê yếu tố tín ngưỡng dân gian trong thơ ba nhà thơ  Phụ lục 2: Bảng thống kê yếu tố phong tục tập quán dân gian trong thơ ba nhà thơ  Phụ lục 3: Bảng thống kê yếu tố lễ hội dân gian trong thơ ba nhà thơ  Phụ lục 4: Bảng thống kê yếu tố nghệ thuật dân gian trong thơ ba nhà thơ  Phụ lục 5: Bảng thống kê yếu tố tri thức dân gian trong thơ ba nhà thơ  Phụ lục 6: Bảng thống kê yếu tố ngữ văn dân gian trong thơ ba nhà thơ  Phụ lục 7: Bảng thống kê nhân vật cô gái – chàng trai trong thơ ba nhà thơ  Phụ lục 8: Bảng thống kê biện pháp ẩn dụ trong thơ ba nhà thơ  Phụ lục 9: Bảng thống kê biện pháp so sánh trong thơ ba nhà thơ  Phụ lục 10: Bảng thống kê yếu tố ngôn ngữ: thành ngữ, tục ngữ, ca dao trong thơ ba nhà thơ  Phụ lục 11: Bảng thống kê hình ảnh chỉ cảnh vật làng quê trong thơ ba nhà thơ CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ SỞ 1.1. Giới thuyết các khái niệm 1.1.1. Khái niệm văn hóa Trên thế giới, có đến gần 500 định nghĩa khác nhau về văn hóa. Từ những năm 90 của thế kỉ XX, những vấn đề văn hóa từ xác định khái niệm đến cấu trúc, loại hình và biểu tượng đã được các nhà nghiên cứu quan tâm một cách khá toàn diện. Ở Việt Nam, nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa ra đời: Trần Ngọc Thêm viết “Cơ sở văn hóa Việt Nam” (1995), hai năm sau đó Trần Quốc Vượng (chủ biên) viết “Cơ sở văn hóa Việt Nam” (1997), Đoàn Văn Chúc viết “Văn hóa học” (1997), Phan Ngọc “Bản sắc văn hóa Việt Nam” (1998), Chu Xuân Diên “Cơ sở văn hóa Việt Nam” (1999)… Trần Quốc Vượng quan niệm: “Văn hóa…là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người […] để từ đó hình thành một lối sống, một thế ứng xử, một thái độ tổng quát của con người đối với vũ trụ, thiên nhiên và xã hội, là cái vai trò của con người trong vũ trụ đó, với hệ thống những chuẩn mực, những giá trị, những biểu tượng, những quan niệm…tạo nên phong cách diễn tả tri thức và nghệ thuật của con người”. [80, 35-36]. Trong “Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam”, Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [58, 25] Với hai khái niệm này, Trần Quốc Vượng và Trần Ngọc Thêm đã đề cập đến các giá trị mà con người đã tạo nên trong quá trình sống. Tác động đến tự nhiên, con người tạo ra các giá trị vật chất (ăn, mặc, ở, đi lại). Tác động đến xã hội, con người tạo ra các giá trị tinh thần (tôn giáo, đạo đức, triết học, văn học nghệ thuật). Tác động đến bản thân
- Xem thêm -