Tài liệu Vai trò của phụ nữ trong phát triển cộng đồng (nghiên cứu trường hợp tại xã đông ngạc, huyện từ liêm, thành phố hà nội)

  • Số trang: 92 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 547 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC Xà HỘI & NHÂN VĂN ------------------------------------ NGUYỄN HỒNG LINH VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG (Nghiên cứu trường hợp tại xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội) LUẬN VĂN THẠC SỸ Xà HỘI HỌC Hà Nội - 2010 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC Xà HỘI & NHÂN VĂN ------------------------------------ NGUYỄN HỒNG LINH VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG (Nghiên cứu trường hợp tại xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội) Chuyên ngành : Xã hội học Mã số : 60 31 30 LUẬN VĂN THẠC SỸ Xà HỘI HỌC Người hướng dẫn khoa học: TS. Võ Thị Mai Hà Nội - 2010 MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU ....................................... 4 1. Lý do chọn đề tài ..................................... 5 2. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn .............................. 6 3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu. ........................... 7 4. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu. ................... 8 5. Phương pháp nghiên cứu ................................ 8 6. Giả thuyết nghiên cứu, các biến số và khung phân tích. ............ 8 PHẦN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU .......................... 11 CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC TRẠNG VAI TRÒ PHỤ NỮ TRONG PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG ....................... 11 1.1. Một số khái niệm, quan điểm và lý thuyết về vai trò của phụ nữ trong phát triển cộng đồng..................................... 11 1.1.1. Các khái niệm chủ chốt ............................. 11 1.2. Quan điểm của Mác - Lênin về phụ nữ và vai trò của phụ nữ trong phát triển cộng đồng ....................................... 15 1.2.1. Quan ®iÓm cña §¶ng ta vÒ vai trß, vị thế của phô n÷, vµ b×nh ®¼ng giíi trong phát triển cộng đồng .................................................. 16 1.3. Mét sè lý thuyÕt vÒ vai trò của phụ nữ trong ph¸t triÓn céng ®ång .............................. 19 1.3.1.Lý thuyết chức năng – cơ cấu .......................... 20 1.3.2. Lý thuyÕt, quan điểm giới và phụ nữ trong phát triển cộng đồng ............................... 21 1.3.3. Quan điểm của các nhà xã hội học về cộng đồng. ............. 23 1 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG .................................. 27 2.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu vai trò của phụ nữ trong phát triển cộng đồng………………………………………………………………………….28 2.2. Đặc điểm chung về vai trò phụ nữ trong phát triển cộng đồng. ...... 31 2.3. Những nhân tố tác động tới vai trò của phụ nữ trong phát triển cộng đồng ........................................... 35 2.2.1 Các nhân tố đặc điểm cá nhân với vai trò của phụ nữ .......... 35 2.2.2. Một số nhân tố khách quan tác động đến vai trò phụ nữ trong phát triển cộng đồng ........................................... 42 2.4Thực trạng về vai trò của phụ nữ trong phát triển cộng đồng tại xã Đông ngạc -Huyện Từ Liêm - Hà Nội. ............................ 44 2.3.1. Vai trò của phụ nữ trong việc tham gia, thực hiện các dự án phát triển cộng đồng ........................................... 49 2.3.2. Vai trò của phụ nữ trong xây dựng đời sống văn hóa cộng đồng ... 54 2.3.3. Vai trò của phụ nữ trong việc thực hiện Luật bình đẳng giới trong cộng động .............................................. 57 2.5. Những vấn đề đặt ra đối với việc nâng cao vai trò phụ nữ trong phát triển cộng đồng ........................................... 60 CHƯƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG ................. 68 3.1. Giải pháp chung .................................... 68 3.2. Những giải pháp cụ thể ............................... 73 3.2.2.Giải pháp nhằm nâng cao sự tham gia của chị em phụ nữ trong lĩnh vực kinh tế ............................................. 74 3.2.3.Giải pháp nhằm nâng cao sự tham gia của chị em phụ nữ trong lĩnh vực văn hoá, xã hội. ....................................... 75 2 KẾT LUẬN ......................................... 77 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................... 82 PHỤ LỤC ........................................... 85 3 DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 1: Độ tuổi phụ nữ xã Đông Ngạc tham gia các dự án phát triển cộng đồng. .................................................................................................... 33 Biểu đồ 2: Mức độ tham gia của chị em phụ nữ thôn Đông Ngạc với các hoạt động phát triển cộng đồng ........................................................................... 35 Biểu đồ 3: Trình độ học vấn của chị em xã Đông Ngạc ............................... 37 Biểu đồ 4: Cơ cấu nghề nghiệp của phụ nữ xã Đông Ngạc .......................... 39 Biểu đồ 5: Tỷ lệ sinh con của phụ nữ xã Đông Ngạc ................................... 49 Biểu đồ 6: Mức độ tham gia vào các dự án phát triển cộng đồng .................. 52 DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 1: Vai trò của phụ nữ trong việc thực hiện hoạt động tại cộng ............. 53 Bảng 2: Một số nội dung bất bình đẳng ....................................................... 55 Bảng 3: số liệu về mức độ các biện pháp nhằm thu hút sự tham gia của chị em phụ nữ Xã Đông Ngạc ................................................................................. 68 4 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế việc nâng cao vai trò, năng lực của con người nói chung và của phụ nữ trong phát triển cộng đồng nói riêng ngày càng trở nên quan trọng và cấp thiết vì phát triển cộng đồng là một đặc trưng của phát triển xã hội, là một quá trình giúp tăng trưởng kinh tế, xã hội và cũng là nơi hoàn thiện các giá trị chân, thiện, mỹ… Có thể thấy, sự đổi mới về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội gắn liền với sự thay đổi một cách cơ bản vai trò của phụ nữ trên nhiều lĩnh vực của cuộc sống như trong gia đình, ngoài xã hội, và trong phát triển cộng đồng... Tuy nhiên, đây là một thách thức to lớn đối với vai trò của phụ nữ ở khu vực nông thôn. Bởi vì, tình trạng trọng nam khinh nữ trong sinh hoạt cộng đồng làng - xã kéo dài quá lâu trong lịch sử là lực cản to lớn trong quá trình đổi mới và phát triển cộng đồng nông thôn. Mà phụ nữ là một nhóm xã hội lớn, có mặt ở nhiều giai tầng, giai cấp khác nhau trong tính đa dạng của các hoạt động xã hội nhất là hoạt động lao động. Phụ nữ đã có những đóng góp đáng kể trong sự tiến bộ của xã hội. Tuy nhiên chưa nơi nào trên trái đất phụ nữ được hoàn toàn bình đẳng với nam giới. Phụ nữ ở trong điều kiện xã hội đang đấu tranh cho công bằng và bình đẳng, do đó sự phát triển, sự tiến bộ xã hội cũng chính là sự phát triển và tiến tới công bằng, bình đẳng giới. Cũng trong thời kỳ đổi mới, nhờ quán triệt quan điểm giải phóng phụ nữ của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ và thực hiện luật bình đẳng giới, phụ nữ nói chungvà phụ nữ trong cộng đồng nông thôn nói riêng có điều kiện và cơ hội phát huy vai trò làm chủ và tính tích cực công dân trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Ở Việt Nam, khoảng trên 72% dân số Việt Nam sống ở nông thôn, phụ nữ chiếm 50,86% dân số và 5 50,9% lực lượng lao động xã hội (số liệu thống kê năm 2006 của TCTK) Cũng như nhiều nơi trên thế giới, phụ nữ Việt Nam chiếm số đông trong những người thất học, đói nghèo, bệnh tật, bạo lực tệ nạn xã hội đe doạ. Họ ít có các cơ hội điều kiện để vui chơi, học hành và hưởng thụ các thành quả lao động của chính họ. Đó chính là những thiệt thòi trong xã hội, những thua thiệt trong cuộc sống, những tổn thương trong xã hội mà người phụ nữ phải gánh chịu đầu tiên. Đây chính là những rào cản ảnh hưởng đến sự phát triển của phụ nữ. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vai trò của phụ nữ trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, gia đình, nhưng chưa có nhiều nghiên cứu chuyên sâu từ góc độ xã hội học về vai trò của phụ nữ trong phát triển cộng đồng. Xuất phát từ thực tế trên, một đề tài nghiên cứu chuyên sâu về vai trò của phụ nữ trong phát triển cộng đồng là rất cần thiết trước hết là đáp ứng yêu cầu thực hiện tốt Luật Bình đẳng giới nói riêng, sự nghiệp giải phóng phụ nữ nói chung và đồng thời góp phần phát triển chuyên ngành xã hội học về giới ở Việt Nam. Qua đó hy vọng kết quả nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ thực trạng, nguyên nhân của thực trạng bất bình đẳng giới trong phát triển cộng đồng và trên cơ sở đó sẽ đề xuất giải pháp nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát triển cộng đồng nói riêng, trong phát triển kinh tế - xã hội nói chung. 2. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 2.1. Ý nghĩa lý luận Thông qua nghiên cứu về vai trò của phụ nữ trong phát triển cộng đồng để : - Góp phần làm rõ hơn các khái niệm cơ bản, quan điểm lý thuyết về vai trò của phụ nữ trong phát triển cộng đồng và khả năng vận dụng các quan điểm lý thuyết xã hội học về giới nói chung, về vai trò của phụ nữ trong phát 6 triển cộng đồng nói riêng phù hợp với công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam ngày nay. 2.2. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả của nghiên cứu này sẽ cung cấp thêm luận cứ thực tiễn cho việc điều chỉnh hoặc thay đổi chính sách nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát triển cộng đồng; tư vấn cho người dân nói chung, phụ nữ nói riêng thay đổi khuôn mẫu hành vi phù hợp luật bình đẳng giới trong đời sống xã hội. Bên cạnh đó, đề tài cũng rút ra những bài học kinh nghiệm trong lĩnh vực phát triển cộng đồng nói chung và phụ nữ trong phát triển cộng đồng nói riêng và đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ, nâng cao bình đẳng giới đối với phụ nữ mà đặc biệt là phụ nữ nông thôn. 3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu. 3.1. Mục đích nghiên cứu. Đề tài nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và mô tả thực trạng vai trò của phụ nữ trong phát triển cộng đồng qua các hoạt động tại địa phương như các dự án tại cộng đồng, tham gia luật bình đẳng giới, và hoạt động xây dựng đời sống văn hóa tại cộng đồng. Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát triển cộng đồng. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu. - Làm rõ các khái niệm cơ bản về vị thế, vai trò của phụ nữ trong cộng đồng và phát triển cộng đồng, các quan điểm, lý thuyết và tầm quan trọng của vai trò phụ nữ trong phát triển cộng đồng hiện nay - Khảo sát, phân tích thực trạng vai trò, nhân tố ảnh hưởng, nguyên nhân bất cập, hạn chế đến vai trò phụ nữ trong phát triển cộng đồng ở nước ta hiện nay. - Đưa ra một số giải pháp, khuyến nghị giải pháp nhằm góp phần nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát triển cộng đồng trong giai đoạn hiện nay. 7 4. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu. 4.1. Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Vai trò của phụ nữ trong phát triển cộng đồng 4.2. Khách thể nghiên cứu: Khách thể nghiên cứu của đề tài là: - Phụ nữ xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội - Cán bộ lãnh đạo (bí thư, chủ tịch), đảng viên, nhân dân, các tổ chức đoàn thể như hội phụ nữ, đoàn thanh niên...tại xã Đông Ngạc – Từ Liêm- Hà Nội.. 4.3. Phạm vi nghiên cứu : - Đề tài tiến hành nghiên cứu trường hợp tại xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội thời gian nghiên cứu, khảo sát từ tháng 9 năm 2009 đến .tháng 6 năm 2010 5. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp ®Þnh tÝnh (phỏng vấn sâu): 10 trường hợp là: chủ tịch xã, chủ tịch hội phụ nữ, 4 phụ nữ đã tham gia hoạt động các dự án phát triển cộng đồng và 4 phụ nữ chưa tham gia vào các hoạt động phát triển cộng đồng; - Thảo luận nhóm: 5 thảo luận nhóm tương ứng với 5 lĩnh vực là nhóm làng nghề, nhóm tự quản, nhóm phụ nữ làm việc trong cơ quan nhà nước, nhóm phụ nữ làm việc phi nông nghiệp, nhóm phụ nữ thuần nông; - Phương pháp định lượng: Điều tra khảo sát 250 phiếu hỏi. - Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu sẵn có; - Phương pháp so sánh, đối chứng (theo khung SWOT, tức là điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức trong phát triển). 6. Giả thuyết nghiên cứu, các biến số và khung phân tích. 8 6.1. Giả thuyết nghiên cứu - Vai trò của phụ nữ hiện nay được thể hiện trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội như lĩnh vực, như kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, y tế, ...nhưng vai trò của phụ nữ trong phát triển cộng đồng chưa phát triển mạnh mẽ và sâu rộng. - Vai trò của phụ nữ trong phát triển cộng đồng cộng đồng phụ thuộc vào những yếu tố: trình độ học vấn, lứa tuổi, nghề nghiệp, thu nhập (mức sống), đặc điểm gia đình ( tình trạng hôn nhân, số con…) -Vai trò của phụ nữ trong phát triển cộng đồng sẽ được nâng cao hơn nếu hệ thống chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước về phụ nữ tiếp tục được đổi mới, hoàn thiện, hệ thống thông tin – giáo dục - truyền thông về vai trò của phụ nữ được đẩy mạnh, các cấp quản lý ( cấp cơ sở) chú trọng hơn đến vai trò của phụ nữ thì phụ nữ sẽ phát huy tốt hơn vai trò của mình trong phát triển cộng đồng. 6.2. Khung phân tích. HỆ THỐNG ĐƯỜNG LỐI, CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC Hệ thống chính sách của Đảng và nhà nước về vai trò phụ nữ VAI TRÒ trong phát triển cộng đồng CỦA PHỤ Sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể địa phương đến phụ nữ TRONG Vai trò tham gia dự án phát triển xóa đói giảm nghèo. NỮ PHÁT TRIỂN Vai trò thực hiện luật bình đẳng giới tại cộng đồng. CỘNG ĐỒNG X©y dùng ®êi sèng v¨n ho¸ tại céng ®ång. Đặc ĐĐtrưng cá nhân phụ nữ trong phát triển cộng đồng 9 ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - VĂN HOÁ- Xà HỘI CỦA ĐỊA 6.3. Tương quan giữa các biến - Biến phụ thuộc: Vai trò phụ nữ trong phát triển cộng đồng, bao gồm: 1- Vai trò tham gia thực hiện các dự án phát triển của làng - xã, 2- Vai trò tham gia lãnh đạo, quản lý các dự án phát triển của làng - xã, 3- Vai trò thực hiện luật bình đẳng giới trong phát triển cộng đồng, 4 – Vai trò truyền thông. - Biến độc lập: Đặc trưng cá nhân bao gồm các yếu tố: trình độ học vấn, tuổi, nghề nghiệp, thu nhập của phụ nữ. - Biến can thiệp: Những nhân tố ảnh hưởng như: 1- Bối cảnh kinh tế chính trị- xã hội, 2- Hệ thống chính sách của Đảng và nhà nước về phụ nữ,3Sự quan tâm chú trọng đến phụ nữ của hệ thống cấp cơ sở. 10 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC TRẠNG VAI TRÒ PHỤ NỮ TRONG PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG 1.1. Một số khái niệm, quan điểm và lý thuyết về vai trò của phụ nữ trong phát triển cộng đồng. 1.1.1. Các khái niệm chủ chốt Vị thế: Vị thế xã hội (địa vị xã hội) được định nghĩa là vị trí xã hội được thừa nhận mà một cá nhân đã nắm giữ được trong xã hội. Hay, địa vị (vị thế) là một sự xác định vị trí xã hội trong một cơ cấu xã hội [13,tr207] hoặc có thể hiểu “ vị thế là một vị trí xã hội của một người hay một nhóm người trong kết cấu xã hội, được sắp xếp, thẩm định hay đánh giá của xã hội” [10,tr 65]. Mỗi vị thế quyết định chỗ đứng của một cá nhân nào đó trong xã hội và mối quan hệ của cá nhân đó với những người khác. Do đó, vị thế xã hội là một đạng biểu hiện địa vị xã hội của con người. Vị thế xã hội được hình thành trong kết cấu xã hội, được sắp xếp, thẩm định hay đánh giá của xã hội trong một điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể, điều đó có nghĩa là mỗi một con người đều có địa vị của mình trong những nhóm và trong xã hội mà anh ta là một thành viên, tương ứng với mỗi vị thế là những quyền lợi và nghĩa vụ xác định. Vai trò: Mô tả vai trò như sự diễn đạt động lực, đưa những vị thế vào cuộc sống và theo ông, vai trò là những lối ứng xử đã được quy định sẵn và áp đặt tương ứng với vị thế cụ thể, do đó chúng ta chiếm giữ các( địa vị) vị thế nhưng chúng ta đóng các vai trò [13, tr208] .Khái niệm vai trò xã hội dùng để chỉ chức năng xã hội, mô hình hành vi được xác lập một cách khách quan bởi vị thế xã hội của cá nhân trong hệ thống các quan hệ xã hội hoặc hệ thống 11 quan hệ cá nhân. Nói cách khác, vai trò xã hội là một tập hợp các mong đợi, các quyền và những nghĩa vụ gán cho một địa vị cụ thể. Những mong đợi này xác định các hành vi của con người được xem như là phù hợp và không phù hợp đối với người chiềm giữ một địa vị [13,tr208] Giới là một khái niệm mới xuất hiện nửa đầu thế kỷ XX và mới được sử dụng rộng rãi ở phong trào phụ nữ thuộc các nước Phương Tây và ở nước ta vào những năm 1980 [3,tr23]. Cho đến nay nhất là từ khi xuất hiện Luật bình đẳng giới, thuật ngữ giới đã trở nên khá quen thuộc đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội. Khái niệm giới đã làm rõ sự khác biệt giữa nam và nữ trên hai khía cạnh: 1. sinh học (giới tính); 2. văn hóa- xã hội ( giới). Giới (gender): Chỉ mối quan hệ và tương quan giữa địa vị xã hội của phụ nữ và nam giới trong một bối cảnh xã hội cụ thể [3,tr 21]. Nói cách khác, nói đến giới là nói đến sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới từ góc độ xã hội. Giới còn là thuật ngữ để chỉ vai trò xã hội, hành vi ứng xử xã hội và những kỳ vọng liên quan đến nam và nữ. Khái niệm giới còn dùng để chỉ những quan niệm, những suy nghĩ đã được thống nhất trong xã hội với một nền văn hoá cụ thể về những gì là phù hợp, là thông thường của mọi người về tính nam hay tính nữ có ở hai giới tính đàn ông và đàn bà [29,tr9-15] Giới tính ( sex): Chỉ sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới về mặt sinh học. Sự khác biệt này chủ yếu liên quan đến chức năng tái sản xuất giống nòi và do các yếu tố tự nhiên quy định. Hoặc có thể hiểu, giới tính là sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt sinh học, bao gồm sự khác nhau về giải phẫu ( kích thước, hình dạng cơ thể…), đặc điểm và chức năng sinh lý của cơ thể người ( hoạt động hormon, chức năng của các bộ phận). Chính vì sự khác nhau về mặt sinh học nên giới tính có đặc trưng cơ bản là: bẩm sinh, đồng nhất, không biến đổi và khó thay đổi. 12 Các vai trò giới: Hàng ngày, phụ nữ và nam giới thường phải làm những công việc khác nhau để thể hiện vai trò của mình. Căn cứ vào từng chức năng công việc mà mỗi giới thực hiện, có thể nhóm thành ba loại vai trò: vai trò sản xuất, vai trò tái sản xuất và vai trò cộng đồng. - Vai trò giới trong sản xuất: bao gồm những công việc do nam giới và phụ nữ làm nhằm tạo ra thu nhập bằng tiền hoặc bằng hiện vật. Phụ nữ và nam giới thực hiện những vai trò khác nhau trong sản xuất, kinh doanh. - Vai trò giới trong tái sản xuất: bao gồm những hoạt động tạo ra nòi giống, duy trì và tái sản xuất sức lao động. Phụ nữ và nam giới thực hiện những vai trò khác nhau trong quá trình tái sản xuất xã hội. - Vai trò giới trong đời sống cộng đồng: Bao gồm các hoạt động do phụ nữ và nam giới thực hiện ở cấp cộng đồng nhằm duy trì, bảo dưỡng các nguồn lực khan hiếm của cộng đồng, đồng thời thực hiện các nhu cầu chung của cộng đồng. Phụ nữ và nam giới thực hiện những vai trò khác nhau trong cộng đồng. Vai trò cộng đồng có thể chia làm hai loại: + Vai trò tham gia cộng đồng: Bao gồm các hoạt động chủ yếu do phụ nữ thực hiện ở cấp cộng đồng, làng bản, tổ dân phố như là sự mở rộng vai trò tái sản xuất của mình. Đây thường là những công việc tự nguyện không được trả công và thường làm vào thời gian rỗi. + Vai trò lãnh đạo cộng đồng: Bao gồm các hoạt động ở cấp cộng đồng thường trong thể chế, chính trị của quốc gia. Những công việc này thường được trả công trực tiếp bằng tiền hoặc gián tiếp bằng tăng thêm vị thế và quyền lực. Cộng đồng: ( community) là một khái niệm đã có một quá trình phát triển lâu dài với nhiều tuyến nghĩa, được sử dụng rộng rãi để chỉ nhiều đối tượng có những đặc điểm tương đối khác nhau về quy mô, đặc tính xã hội. [28,tr45], cộng đồng là hình thức chung sống trên cơ sở sự gần gũi của các 13 thành viên về mặt cảm xúc, hướng tới sự gắn bó đặc biệt mật thiết ( gia đình, tình bạn cộng đồng yêu thương) được chính họ tìm kiếm và vì thế con người được cảm thấy có tính cội nguồn. Cộng đồng là một nhóm người sống trong cùng một làng/xã hoặc là những người hàng xóm láng giềng lân cận và do đó được tổ chức thành một thực thể cộng đồng hoặc một thực thể xã hội hóa [22,tr22] Như vậy, khái niệm cộng đồng có thể hiểu theo nhiều nghĩa, nghĩa rộng: cộng đồng chỉ những tập hợp người, các liên minh rộng lớn như “ cộng đồng thế giới, cộng đồng Châu Âu, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài… Hẹp hơn, căn cứ vào đặc điểm về sắc tộc, chủng tộc hay tôn giáo, cộng đồng có thể được áp dụng cho một kiểu/hạng xã hội. Hẹp hơn nữa, cộng đồng sử dụng cho các hình thức xã hội cơ bản là gia đình, làng, hay một nhóm xã hội nào có những đặc tính chung về lý tưởng xã hội, lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp. Tuy nhiên trong đa số trường hợp khái niệm cộng đồng được sử dụng chủ yếu để chỉ các cộng đồng địa phương, và đặc biệt là ở cấp cơ sở, tức là ở cấp phường xã và ở cả quy mô thôn/xóm/làng/bản. Loài người nói chung đều là các kiểu cộng đồng xã hội dựa trên các cơ sở cộng đồng khác nhau. Năm 1956, Liên hiệp quốc đã đưa ra định nghĩa : Phát triển cộng đồng là những tiến trình qua đó nỗ lực của dân chúng kết hợp với nỗ lực của chính quyền để cải thiện các điều kiện kinh tế, xã hội, văn hoá của các cộng đồng và giúp các cộng đồng này hội nhập và đồng thời đóng góp cho quốc gia [26,tr21] Trong khuôn khổ luận văn này tác giả tiếp cận Phát triển cộng đồng theo hướng nghĩa như sau: Phát triển cộng đồng là sự phát triển của toàn bộ đời sống kinh tế chính trị - xã hội, văn hoá của cả một cộng đồng xã hội với sự tham gia của các thành viên cá nhân, gia đình và các tổ chức của cộng đồng đó, và chủ thể 14 của sự phát triển cộng đồng là phụ nữ mà đề tài này sẽ cần làm rõ các vai trò của họ. 1.2. Quan điểm của Mác - Lênin về phụ nữ và vai trò của phụ nữ trong phát triển cộng đồng Lênin đã phát triển quan điểm giải phóng phụ nữ, thực hiện nam nữ bình đẳng trong thời đại mới. Ông bác bỏ luận điểm xuyên tạc chủ nghĩa Mác Lênin về tình yêu, hôn nhân và gia đình, đồng thời vạch trần bộ mặt thật của chế độ tư bản. Theo Lênin, dưới chế độ tư bản, trong các gia đình lao động, dù quan hệ vợ chồng có được xây dựng trên tình thương yêu giai cấp thì người phụ nữ, vừa bị nền sản xuất tư bản làm cho kiệt sức và mụ mẫm, vừa phải gánh vác những công việc nội trợ vụn vặt, nặng nề nên cũng không thể vươn lên bình đẳng cùng nam giới. Lênin đã chỉ cụ thể: “ dưới chế độ tư bản thì phụ nữ, tức là một nửa nhân loại, phải chịu hai tầng áp bức. Nữ công nhân và nông dân đều bị tư bản áp bức và ngoài ra, họ còn bị giam trong cảnh “ nô lệ gia đình”[36,tr 38-39]. Từ phân tích những bất công trong xã hội tư sản, Lênin kêu gọi phụ nữ đứng lên làm cách mạng để giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và tự giải phóng mình. Việc đầu tiên sau khi giai cấp vô sản nắm chính quyền, chính quyền Xô viết phải xóa bỏ quyền tư hữu về tư bản và ruộng đất. Đồng thời, xoá bỏ mọi sự bất bình đẳng giữa nam và nữ trước pháp luật sao cho, trong pháp luật mới người ta không còn thấy một chút dấu vết gì về việc phụ nữ bị đối xử bất bình đẳng. Sau đó, tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ tham gia hoạt động chính trị và hoạt động sản xuất. Theo Lênin, bình đẳng nam nữ sẽ chỉ nằm trên giấy nếu phụ nữ không có quyền tham gia những công việc quyết định vận mệnh của đất nước mình, do đó nhà nước Xô viết phải mạnh dạn đưa phụ nữ vào những cơ quan quản lý nhà nước, xây dựng củng cố chính quyền và phải giáo dục chính trị cho phụ nữ. Tuy nhiên, một yếu tố quan trọng để đưa lại bình đẳng cho phụ nữ ở ngoài xã hội chính 15 lại là việc đang đè lên lưng họ, làm cho họ nghẹt thở, mụ mẫm và nhục nhằn. Lênin đã khẳng định: Không thể nào đảm bảo được tự do thực sự, không thể nào xây dựng được ngay cả chế độ dân chủ chứ đừng nói đến chủ nghĩa xã hội nữa, nếu phụ nữ không tham gia công tác xã hội, đội dân cảnh, sinh hoạt chính trị, nếu không giải thoát phụ nữ khỏi tình cảnh làm cho người ta mụ mẫm đi, tức là công việc nội trợ và bếp núc [36,tr 38- 39] Bớt gánh nặng công việc gia đình để phụ nữ có thêm nhiều thời gian học tập, lao động ngoài xã hội giúp họ vừa làm tròn trách nhiệm của gia đình và trách nhiệm với xã hội là một bước tiến lớn của V.I. Lênin trong việc thực hiện lý tưởng giải phóng phụ nữ ở nước Nga. Cách mạng tháng mười thành công không chỉ mở ra kỷ nguyên dành độc lập cho các dân tộc bị áp bức mà còn mở đầu cho cuộc đấu tranh giải phóng phụ nữ trên toàn thế giới. Cho đến nay luận điểm của Lênin về phụ nữ và vai trũ của phụ nữ vẫn còn giá trị về mặt lý luận, luận điểm của Lênin thêm môt lần nữa khẳng định cho chúng ta thấy phụ nữ muốn khẳng định mình, muốn bình đẳng với nam giới họ cần phải trở thành lực lượng lao động xã hội để có được vị thế kinh tế, từ đó họ mới có điều kiện để cải thiện địa vị của mình trong gia đình và ngoài xã hội, có như vậy công cuộc giải phóng phụ nữ mới có khả năng trở thành hiện thực. 1.2.1. Quan điểm của Đảng ta về vai trò, vị thế của phụ nữ, và bình đẳng giới trong phát triển cộng đồng Ngay từ khi thành lập, Đảng ta đã thể hiện rõ quan điểm của mình về phụ nữ, vai trò, vị thế của phụ nữ, và bình đẳng giới trong phát triển cộng đồng. Trong Luận cương chính trị của Đảng cộng sản Đông dương, Đảng đã đánh giá cao khả năng cách mạng của phụ nữ Việt Nam cũng chú trọng đến vai trò của phụ nữ và việc tổ chức vận động phụ nữ “ lực lượng phụ nữ là một lực lượng rất trọng yếu. Nếu quảng đại quần chúng phụ nữ không tham gia 16 vào những cuộc đấu tranh cách mạng thì cách mạng không thắng lợi được. Nghị quyết của “ Trung ương toàn thể hội nghị” của Đảng cộng sản Đông Dương tháng 10 năm 1930 về phụ nữ đã nhận định: phụ nữ chiềm một lực lượng không nhỏ trong những người khổ cực. Họ bị bóc lột vì bị bó buộc trong phong tục, không có một chút tự do. Vì thế: “ Phải làm cho quần chúng phụ nữ lao khổ tham gia vào những cuộc đấu tranh cách mạng của công nông, đó là điều cốt yếu nhất, nếu phụ nữ đứng ngoài cuộc đấu tranh cách mạng của công nông thì sẽ không bao giờ đạt mục đích giải phóng phụ nữ được [27,tr48] Đảng cộng sản Việt Nam sớm có những đánh giá đúng đắn về vai trò của phụ nữ trong sự nghiệp cách mạng nên chúng ta đã sớm có được những phương thức thích hợp để huy động và khích lệ họ phát huy được vai trò, khả năng cách mạng và truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam. Bên cạnh đó, Đảng ta luôn luôn quán triệt quan điểm xem giải phóng phụ nữ là một mục tiêu và nội dung quan trọng của công tác đổi mới và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Sự quan tâm của Đảng ta về công tác phụ nữ không chỉ thể hiện qua các Nghị quyết, chỉ thị mà đã được cụ thể hoá bằng các văn bản pháp luật, các chính sách do Nhà nước ban hành nhằm bênh vực và bảo vệ quyền chính đáng của phụ nữ, bảo vệ quyền bình đẳng giữa nam và nữ trên tất cả mọiế phương diện học tập, nghiên cứu, lao động, hoạt động xã hội, sinh hoạt gia đình- Trong hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ban hành năm 1946 đã tuyên bố với thế giới rằng phụ nữ Việt Nam đứng ngang hàng với nam giới để hưởng các quyền tự do: “ Tất cả quyền bình đẳng trong nước là của nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, trai gái, giàu nghèo, giai cấp tôn giáo”, “ Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hoá”, “ Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” . Tiếp theo đó đến các hiến pháp năm 1959, 1980 17 nguyên tắc bình đẳng giới được nhấn mạnh, mở rộng và khẳng định trong điều 63. Hiến pháp sửa đổi bổ sung năm 1992: “ Công dân nam và nữ có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, xã hội và gia đình. Nhà nước và xã hội tạo điều kiện để phụ nữ nâng cao trình độ mọi mặt, không ngừng phát huy vai trò của mình trong xã hội”.. Luật hôn nhân và gia đình của nước ta ban hành năm 1959 cũng đã nhấn mạnh quyền tự do hôn nhân, nguyên tắc một vợ, một chồng, vợ chồng cùng bình đẳng, bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em: “ Vợ chồng có nghĩa vụ và quyền lợi như nhau đối với tài sản chung. Việc mua bán, trao đổi, cầm cố, vay mượn và chuyển nhượng những tài sản có giá trị lớn phải có sự thoả thuận của cả hai vợ chồng”. Luật lao động của nước Việt Nam công bố ngày 5/7/1994 khẳng định việc: “ Nhà nước bảo đảm quyền làm việc của phụ nữ bình đẳng về mọi mặt với nam giới” như “ tạo mọi điều kiện để lao động nữ phát huy khả năng của mình”, bảo hộ các chế độ làm việc, sử dụng lao động nữ và chế độ liên quan đến thai sản trong quá trình lao động” Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam cũng kêu gọi khuyến khích sự bình đẳng giới trong lao động, tuyển dụng, giáo dục, y tế, và trao quyền cho phụ nữ trong việc lãnh đạo và tham gia các chương trình phát triển quốc gia. Kêu gọi củng cố vai trò phụ nữ trong gia đình và xã hội. Vì vậy, nâng cao vai trò, địa vị của phụ nữ được nhìn nhận như là một vấn đề về quyền con người, nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển và giảm tình trạnh bất bình đẳng, đặc biệt là bất bình đẳng giới. Sự kiện không thể không nói đến là quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật bình đẳng giới vào ngày 29/10/2006. Sự kiện này đả khẳng định quyết tâm những quy định về bình đẳng giới trong các lĩnh vực của đời sống gia đình và xã hội. Các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới, trách nhiệm của cơ 18
- Xem thêm -