Tài liệu Vai trò của người phụ nữ trong gia đình đô thị hiện nay (qua khảo sát tại quận hai bà trưng, thành phố hà nội)

  • Số trang: 47 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 510 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN KHOA XÃ HỘI HỌC ------ Khoá luận tốt nghiệp Đề tài : Vai trò của người phụ nữ trong gia đình đô thị hiện nay (Qua khảo sát tại quận hai bà trưng, thành phố Hà Nội) Ngành : 100210 Giáo viên hướng dẫn : Th.S Lê Phú Sinh viên thực hiện : Bùi thị Hồng Vân Hà Nội, 11 - 2002 0 LỜI CẢM ƠN Gia đình là sự phản ánh đời sống tinh thần của xã hội trong đó các thành viên cùng lao động, học tập, yêu thương, bình đẳng và dân chủ, quan tâm, chăm sóc nhau cùng tiến bộ. Chính vì vậy, nhiệm vụ của người phụ nữ rất nặng nề với vị trí và vai trò đặc biệt của mình trong gia đình. Đề tài “Vai trò của người phụ nữ trong gia đình đô thị hiện nay” một mặt đưa ra những công việc mà người phụ nữ phải làm trong gia đình và tham gia hoạt động xã hội, mặt khác thông qua đó để thấy được những vất vả mà họ phải gánh chịu. Trong thời gian nghiên cứu, đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót nên tôi rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp. Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của thầy giáo Lê Văn Phú. Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa và các bạn bè đã giúp tôi hoàn thành khoá luận. Xin chân thành cảm ơn. 1 MỤC LỤC III1- LỜI MỞ ĐẦU PHẦN 1 Lý do chọn đề tài Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn Ý nghĩa lý luận Ý nghĩa thực tiễn Mục tiêu nghiên cứu Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu Khách thể nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu Giả thuyết nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu Phương pháp luận Phương pháp nghiên cứu cụ thể Các khái niệm Về vai trò Về gia đình Đô thị Khung lý thuyết PHẦN II - NỘI DUNG Vài nét về địa bàn nghiên cứu Nội dung và kết quả nghiên cứu Người phụ nữ vẫn giữ vai trò chính trong việc nội 4 4 4 6 6 7 8 9 9 9 9 9 10 10 11 13 13 14 16 17 18 18 19 21 2- trợ, chăm sóc con cái Người phụ nữ đã có thể tham gia bàn bạc, quyết 31 1. 2. 2.12.23. 4. 4.14.24.35. 6. 6.16.277.17.27.3 8- định các việc chi tiêu trong gia đình cùng người 3- chồng. Người phụ nữ ngày càng có xu hướng tích cực 37 tham gia các hoạt động bên ngoài xã hội để nâng III12- cao vai trò của mình Kết luận và khuyến nghị Kết luận Khuyến nghị TÀI LIỆU THAM KHẢO 46 46 48 50 2 PHẦN I - MỞ ĐẦU 1- LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI . Gia đình là một tế bào của xã hội. Một gia đình hạnh phúc, ấm no sẽ là nền tảng tốt cho sự phát triển của toàn xã hội. Có thể nói trong gia đình thì người phụ nữ luôn có một vai trò quan trọng. Từ việc nội trợ, chăm lo giáo dục con cái… tất cả đều cần đến bàn tay của người phụ nữ. Ngày xưa vai trò của người phụ nữ chỉ là nội trợ, nuôi dạy con cái mà không tham gia vào các hoạt động xã hội bởi đã có người chồng là “trụ cột gia đình” lo. Còn ngày nay khi mà đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá thì họ đã được khuyến khích tham gia vào các lĩnh vực của đời sống xã hội. Người phụ nữ ngày nay không chỉ lo nội trợ, giáo dục con cái mà còn lao động sản xuất, có mặt trong các hoạt động xã hội. Chính vì vậy mà vai trò của người phụ nữ ngày càng được nâng cao cả ở trong gia đình và bên ngoài xã hội. Họ không chỉ tham gia các hoạt động của xã hội để ngày càng trở nên bình đẳng với nam giới không ngừng nâng cao vị thế xã hội của mình. Trong thời kỳ đất nước chiến tranh có biết bao cô gái thanh niên xung phong đã hi sinh khi tuổi đời còn rất trẻ, và còn biết bao người vợ mất chồng, những bà mẹ mất con… Nhắc lại quá khứ để chúng ta thấy rằng người phụ nữ có vai trò quan trọng trong đời sống như thế đó. Họ sẵn sàng hy sinh tuổi trẻ, chịu đựng nỗi đau mất chồng, mất con vì tự do của dân tộc Việt Nam. Chính vì vậy mà phụ nữ Việt Nam đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá rất cao : “Non sông gấm vóc Việt Nam, do phụ nữ, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp rực rỡ” (1) và “nhân dân ta rất biết ơn các bà mẹ ở cả hai miền Nam - Bắc đã hy sinh đẻ và nuôi dạy những thế hệ anh hùng của nước ta” (2) . Trong kháng chiến chống Mỹ, Người đã phong tặng phụ nữ Việt Nam tám chữ vàng “Phụ nữ Việt Nam dũng cảm, đảmđang, chống Mỹ, cứu nước”. Tuyên (1) (2) (3) Gia đình và người phụ nữ. 3 ngôn độc lập mở ra một kỷ nguyên mới cho toàn dân tộc Việt Nam, cho phụ nữ Việt Nam. Sự nghiệp giải phóng phụ nữ đã bước sang một trong mới với đầy triển vọng và thành tựu. “Lực lượng phụ nữ là một lực lượng rất trọng yếu. Nếu quảng đại quần chúng phụ nữ không tham gia vào những cuộc đấu tranh cách mạng thì cách mạng không thể thắng lợi được”. Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam được chính thức thành lập ngày 20 tháng 10 năm 1946, nối tiếp sự nghiệp củả các hội phụ nữ tiền thân với nhiều tên gọi thích hợp của từng thời kỳ kể từ năm 1930. Tiếp bước quá khứ, phụ nữ ngày nay đang từng bước thể hiện vai trò của mình trong các lĩnh vực của đời sống. Nữ công nhân viên chức nhà nước là lực lượng nòng cốt của phong trào phụ nữ Việt Nam. Họ có mặt ở mọi ngành, trên mọi lĩnh vực kinh tế, khoa học kỹ thuật, văn hoá xã hội, chiếm 47% (3) lao động trong khu vực Nhà nước, chiếm 51,5% (3) lao động trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Các ngành lao động nữ chiếm số đông như giáo dục, y tế, thương mại, công nghiệp nhẹ… tỉ lệ là khoảng 60 - 70% (3) . Một số lĩnh vực mới phát triển như du lịch, dịch vụ, tài chính, ngân hàng… lao động nữ trên 50% (3) . Trongcác hoạt động nghiên cứu khoa học, ngoại giao, quản lý Nhà nước, tỉ lệ nữ cũng có chiều hướng tăng lên, chiếm khoảng 30% (3) . Phụ nữ nông dân chiếm khoảng 70% lao động nữ cả nước, là lực lượng có vai trò đặc biệt quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới. Đa số đã tiếp cận và thích nghi với cơ chế mới, biết ứng dụng khoa học kĩ thuật, công nghệ mới trong sản xuất nông nghiệp và thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn. Những năm gần đây, một số nữ nông dân đã trở thành nhà doanh nghiệp trong khu vực sản xuất nông nghiệp ở nông thộ. Họ là những người đi đầu của phong trào nữ nông dân trong việc Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới. 4 Đội ngũ trí thức tuy số lượng chữ lớn nhưng có vai trò rất quan trọng và đang phát triển về số lượng. Tính đến cuối năm 1996 trong đội ngũ nữ khoa học đã có 237 người được phong Giáo sự, Phó giáo sư, 28 tiến sĩ và 1026 PTS. Có 3 tập thể và 19 cá nhân dược nhận giải thưởng Kovalevskaia. Trong đội ngũ sáng tạo văn hoá nghệ thuật, có một lực lượng nhà văn, nhà thơ, nhà báo, hoạ sĩ, nhạc sĩ, diễn viên các loại hình nghệ thuật… Nhiều tác phẩm của nữ được giải thưởng, nhiều nữ nghệ sĩ đạt danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân, Nghệ sĩ ưu tú. Đặc biệt là trong các ngành dệt, may mặc thì phụ nữ làm chủ doanh nghiệp chiếm tới 80% (3) đã đóng góp đáng kểvào việc tạo ra hàng chục ngàn chỗ làm việc cho phụ nữ, tạo ra những sản phẩm có chất lượng, đứng vững trên thị trường đang cạnh tranh gay gắt. Nhiều phụ nữ đã đảm nhiệm những chức vụ quan trọng trong các cơ quan lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Số nữ Đại biểu Quốc hội khoá X (1997) chiếm tỉ lệ 30,13% (3) . Tất cả những điều này cho thấy rằng Đảng và Nhà nước ta đã khuyến khích phụ nữ, có những chính sách để nâng cao vai trò của người phụ nữ khi họ tham gia vào mọi hoạt động của xã hội. Đề tài “Vai trò của người phụ nữ trong gia đình đô thị hiện nay ” nhằm tìm hiểu vị trí, vài trò của người phụ nữ trong các công việc gia đình hay các hoạt động bên ngoài xã hội, để từ đó có những biện pháp, có những chính sách phù hợp cho người phụ nữ phát huy được phẩm chất, tài năng của mình, góp phần xây dựng gia đình hạnh phúc, xã hội bình đẳng văn minh. Tác giả hy vọng đề tài này sẽ kịp thời đáp ứng nhu cầu nhận thức về vai trò người phụ nữ trong sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước. 2- Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN. 2.1- Ý nghĩa lý luận. 5 “Vai trò của người phụ nữ trong gia đình đô thị hiện nay” là một trong những vấn đề quan trọng của toàn xã hội. Người phụ nữ luôn được ví như là “hậu phương vững chắc” cho người chồng, còn những đứa con thì không thể thiếu được bàn tay chăm sóc của người mẹ. Trước đây quan niệm “trọng nam khinh nữ” đã kìm hãm vai trò của người phụ nữ. Họ luôn luôn phải chịu thiệt thòi về nhiều mặt trong cuộc sống. Nhà nào cũng phải cố đẻ cho bằng được một cậu con trai mà trước hết là để “Nối dõi tông đường”, sau là để trở thành trụ cột kinh tế trong gia đình. Chính vì quan niệm ấy mà người phụ nữ trước đây chỉ quanh quẩn với công việc bếp núc, hầu hạ chồng con. Đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, tầm quan trọng của người phụ nữ trong gia đình cũng dần dần thay đổi. Họ vừa có thể làm tốt công việc nhà lại vừa tham gia được các hoạt động bên ngoài xã hội. Đề tài “Vai trò của người phụ nữ trong giađình đô thị hiện nay” nhằm trình bày một phương thức tiếp cận dựa trên cơ sở triển khai, vận dụng các khái niệm vai trò, gia đình, giới để góp phần làm sáng tỏ việc nghiên cứu vai trò của họ trong bối cảnh xã hội đang có sự chuyển đổi từ nền kinh tế quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, định hướng xã hội chủ nghĩa. 2.2- Ý nghĩa thực tiễn. Cùng với sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước thì vai trò của người phụ nữ trong gia đình cũng có những chuyển biến rõ rệt. Nếu như trước đây người phụ nữ chỉ có biết nội trợ, nuôi dạy con cái, hầu hạ chồng thì ngày nay phụ nữ đã tích cực tham gia vào các hoạt động của xã hội. Nghiên cứu “Vai trò của người phụ nữ trong gia đình đô thị hiện nay” nhằm góp phần hiểu rõ thực trạng, vị trí, vai trò của họ trong quá trình biến đổi xã hội. Cũng từ đó đề tài đưa ra những chính sách phù hợp nhằm nâng cao vai trò và vị trí của người phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội. 6 3. MUC TIÊU NGHIÊN CỨU . -Tìm hiểu vai trò của người phụ nữ trong gia đình với những công việc cụ thể như nội trợ, chi tiêu, chăm sóc chồng con. -Tìm hiểu sự phân công giữa vợ và chồng trong các công việc chung của gia đình. -Sự tham gia của người phụ nữ vào các hoạt động xã hội để nâng cao vị trí, vai trò của mình. 4. ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ, PHẠM VI NGHIÊN CỨU. 4.1- Đối tượng nghiên cứu. Vai trò của người phụ nữ trong gia đình đô thị hiện nay. 4.2- Khách thể nghiên cứu. Những người phụ nữ và các thành viên trong gia đình. 4.3- Phạm vi nghiên cứu. Nghiên cứu các hộ gia đình một cách ngẫu nhiên thuộc quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. 5. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU. -Người phụ nữ vẫn giữ vai trò chính trong các công việc nội trợ, chăm sóc con cái. -Người phụ nữ đã có thể tham gia bàn bạc và quyết định việc chi tiêu trong gia đình cùng người chồng. -Phụ nữ ngày càng có xu hướng tích cực tham gia các hoạt động xã hội để nâng cao vai trò của mình. 6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU . 6.1- Phương pháp luận. 6.1.1- Lý thuyết về xã hội hoá. 7 Các nhà khoa học đều thống nhất tại một điệm : Xã hội hoá là một quá trình, có nghĩa là xã hội hoá có bắt đầu, có diễn biến và có kết thúc. Nhà xã hội học người Mĩ Neil Smelser đã viết : “Xã hội hoá là quá trình mà trong đó cá nhân học cách thức hành động tương ứng với vai trò của mình”. Còn Fichter (nhà xã hội học người Mĩ) lại cho rằng : “Xã hội hoá là một quá trình tương tác giữa người này với người khác, kết quả là một sự chấp nhận những khuôn mẫu hành động và thích nghi với những khuôn mẫu hành động đó”. Nhà khoa học người Nga G. Andreeva cho rằng : “Xã hội hoá là quá trình hai mặt. Một mặt cá nhân tiếp nhận kinh nghiệm xã hội bằng cách thâm nhập vào môi trường xã hội, vào hệ thống các quan hệ xã hội. Mặt khác cá nhân tái sản xuất một cách chủ động hệ thống các mối quan hệ xã hội thông qua chính việc họ tham gia vào các hoạt động xã hội và thâm nhập vào các mối quan hệ xã hội”. Ở đây, trong đề tài này người phụ nữ hoà nhập trong các môi trường xã hội hoá. Họ không những hoàn thiện mình mà còn góp phần xây dựng các chuẩn mực, giá trị trong gia đình và ngoài xã hội. 6.1.2- Quan điểm về giới. Quan điểm giới khẳng định và đánh giá cao vai trò của người phụ nữ. Quan điểm này cho rằng để đạt đến bình đẳng nam nữ cần thay đổi cơ chế phân công lao động hiện đang quá nhấn mạnh đến mức khác biệt về giống giữa phụ nữ và nam giới. Vào những năm 1970 người ta đã tìm cách đưa các vấn đề của phụ nữ vào các chính sách phát triển nhưng nhìn chung, các nhà nghiên cứu cũng như các nhà làm chính sách đã không thấy hết được vai trò kinh tế to lớn của phụ nữ. Nhà kinh tế người Đan Mạch là Ester Boserup với cuốn “Vai trò của người phụ nữ trong phát triển kinh tế” (1970) được 8 coi là người đầu tiên đặt lại vấn đề về cách nhìn nhận vai trò của người phụ nữ. Điểm hạn chế của cách tiếp cận này là coi phụ nữ như một nhóm đặc thù và những giải pháp được đưa ra cũng là những giải pháp đặc thù. Trong đề tài này quan điểm tiếp cận giới đòi hỏi việc thu nhập các chỉ số, chỉ báo về mặt định lượng và định tính của nam nữ, cùng với số liệu tình hình chung hai giới. Từ đó sẽ có căn cứ khoa học để phân tích, so sánh, đánh giá cụ thể, chính xác tình hình nam nữ, chỉ rõ nguyên nhân của thực trạng, phương hướng và biện pháp cụ thể để tạo ra sự tiến bộ cho hai người trong quá trình phát triển của một quốc gia, một xã hội. 6.1.3- Quá trình đô thị hoá Các nhà khoa học thuộc nhiều bộ môn đã nghiên cứu quá trình đô thị hoá và đưa ra không ít định nghĩa cùng với những đánh giá về quy mô, tầm quan trọng và dự báo tương lại của quá trình này. Trong số đó có một định nghĩa về quá trình đô thị hoá khá phổ biến và đã từng được biết đến trong một thời gian dài. Cơ sở của nó là cách tiếp cận nhân khẩu học và địa lý kinh tế. Theo định nghĩa này, quá trình đô thị hoá chính là “sự di cư từ nông thôn vào thành thị, là sự tập trung ngày càng nhiều dân cư sống trong những vùng lãnh thổ địa lý hạn chế được gọi là các đô thị”. Đó cũng là quá trình gia tăng tỉ lệ dân cư đô thị trong tổng số dân của một quốc gia. Dấu hiệu này nhiều khi được xem là dấu hiệu duy nhất để đánh giá trình độ đô thị hoá của một quốc gia hay một khu vực. Để bổ sung, còn có thêm các chỉ báo về số lượng, kiểu loại, quy mô của mạng lưới các đô thị hiện có. Trong đề tài “Vai trò của người phụ nữ trong gia đình đô thị hiện nay” thì các gia đình được phỏng vấn đa số là gia đình hạt nhân. Điều này phù hợp với xu thế mới khi mà các gia đình tự có xu hướng tách rời gia đình cha mẹ đẻ tạo lập một cuộc sống riêng. Đó chính là những biến 9 đổi về chất lượng trong đời sống đô thị và quá trình đô thị hoá. Và như vậy cùng với quá trình đô thị hoá này thì vai trò của người phụ nữ trong gia đình cũng dần dần biến đổi cho phù hợp với công cuộc đổi mới của đất nước. Chính họ sẽ là những người phụ nữ hiện đại “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”, tự nâng cao vai trò, vị trí của mình không chỉ trong gia dình mà cả ngoài xã hội. 6.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể. Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi : Triển khai nghiên cứu 100 hộ gia đình ngẫu nhiên thuộc quận Hai Bà Trưng, Hà Nội nhằm thu thập thông tin theo yêu cầu và mục đích của cuộc nghiên cứu . Phương pháp phỏng vấn sâu : Tiến hành phỏng vấn 5 người phụ nữ để tìm hiểu sâu hơn về những vấn đề, khía cạnh mà ta thấy cần thiết trong cuộc nghiên cứu. Phương pháp quan sát : Kết hợp với các phương pháp khác, trong quá trình nghiên cứu tại địa phương ta có thể quan sát được thái độ, cử chỉ, lời nói, hành động của các khách thể mà ta thấy cần thiết cho cuộc nghiên cứu này. Phương pháp phân tích tài liệu : Dựa vào các tạp chí, những bài báo, khoá luận, số liệu… để giúp cho ta phân tích, đánh giá được vai trò của người phụ nữ trong gia đình đô thị hiện nay. 7. CÁC KHÁI NIỆM. 7.1- Khái niệm về vai trò Theo ý nghĩa chung nhất thì “Vai trò là một tập hợp các mong đợi, các quyền và những nghĩa vụ được gán cho một địa vị cụ thể mà địa vị là một sự xác định vị trí xã hội trong mộ cơ cấu xã hội”. 10 Nhà xã hội học người Mĩ là Broom cho rẳng “Vai trò là cái mà cá nhân phải làm” tức là nó xác định các hành vi của con người được xem là phù hợp hay không phù hợp với một địa vị mà người ta chiếm giữ. Có hai loại vai trò là vai trò hình thức và vai trò cá nhân. Vai trò hình thức là vai trò xã hội do quyền lực của vị thế xã hội tạo ra. Mô hình hành vi của vị thế chỉ giới hạn ở phạm vi quyền lực của vị thế đó. Vai trò cá nhân là vai trò xã hội do uy tín cá nhân tạo ra. Uy tín cá nhân phụ thuộc vào năng lực hành vi xã hội của mỗi cá nhân nó chứa đựng những tri thức, kỹ năng lao động, đạo đức, tình cảm, sự đoàn kết thương yêu lẫn nhau. 7.2- Khái niệm về gia đình. Anguste Comte (nhà Xã hội học người Pháp) coi gia đình là một nhóm xã hội cơ bản và quan trọng nhất mang tính lịch sử trong quá trình tiến triển của xã hội. Karl Marx (nhà xã hội học người Đức) cho rằng gia đình là mối liên hệ, thông qua đó và nhờ đó mà thực hiện việc tái sản xuất con người và cơ cấu của việc tái sản xuất con người. Hai nhà xã hội học người Mĩ là Burgess và Locke cho rằng “Gia đình là một nhóm người đoàn kết với nhau bằng những mối liên hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nhận con nuôi tạo thành một hộ đơn giản tác động lẫn nhau trong vai trò tương ứng của họ, là người chồng, người mẹ, người vợ, anh em và chị em tạo ra một nền văn hoá chung”. Tác giả người Liên Xô Khar chep lại nói “Gia đình là một hệ thống cụ thể lịch sử của các quan hệ qua lại giữa vợ chòng, cha mẹ, con cái, là một nhóm xã hội nhỏ mà các thành viên gắn bó với nhau bởi các quan hệ anh em thân thuộc, bởi cộng đồng sinh hoạt, trách nhiệm, đạo đức và sự cần thiết xã hội của nó được ấn định bởi nhu cầu của xã hội trong việc tái tạo dân số về tinh thần và sức khoẻ”. 11 Một số nhà khoa học nghiên cứu về gia đình ở Việt Nam cho rằng : “Gia đình là một thiết chế xã hội (xét trên quan điểm có sự thừa nhận, phê chuẩn của xã hội đối với các quan hệ hôn nhân gia đình) đồng thời cũng là một nhóm nhỏ xã hội, có sự tổ chức nhất định về mặt lịch sử, các thành viên của nhóm gia đình liên hệ với nhau bởi trách nhiệm qua lại về đạo đức. Gia đình : Là khái niệm được sử dụng để chỉ một nhóm xã hội hoàn thành trên cơ sở các quan hệ hôn nhân (quan hệ tính giao vào quan hệ tình cảm) và quan hệ huyết thống nảy sinh từ quan hệ hôn nhân đó (cha mẹ, con cái, ông bà, họ hàng nội ngoại). Gia đình có thể hiểu như một đơn vị xã hội vi mô, nó chịu sự chi phối của xã hội song có tính ổn đinh, độc lập tương đối. Nó có quy luật phát triển riêng với tư cách là một thiết chế xã hội đặc thù. Những thành viên gia đình được gắn bó với nhau về trách nhiệm và quyền lợi kinh tế, văn hoá, tình cảm một cách hợp pháp, được nhà nước thừa nhận và bảo vệ. Các khái niệm về gia đình rất đa dạng, dưới góc độ xã hội học gia đình có thể được hiểu như sau : Gia đình là một cộng đồng được thiết chế hoá và hình thành trên cơ sở hôn nhân, trách nhiệm pháp luật và đạo đức giữa vợ chòng con cái và các thành viên ruột thịt cùng chung sống với nhau trong khoảng thời gian không hạn định. 7.3. Khái niệm đô thị. Đô thị là một điểm dân cư hiện đại, là nơi tập trung những dân cư có những hoạt động phi nông nghiệp (chiếm 80%), thực hiện các chức năng sản xuất công nghiệp, giao thông vận tải, dịch vụ, là nơi tập trung chức năng quản lý hành chính của một địa phương. Đó còn là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học của một vùng lĩnh thổ nhất định. 12 8. KHUNG LÝ THUYẾT Biến đổi tình hình kinh tế - chính trị - xã hội Cộng đồng Giađình Vai trò của người phụ nữ Hoạt động xã hội Chăm sóc, nuôi dạy con cái 13 Nội trợ PHẦN II - NỘI DUNG I. VÀI NÉT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU Hà Nội là thủ đô của cả nước, với vị trí là trung tâm văn hoá, chính trị xã hội. Hà Nội là nơi tập trung các cơ quan đầu não của Trung ương Đảng, Nhà nước, các đoàn thể xã hội, các đại sứ quán của trên 150 nước, các tổ chức quốc tế… Hiện nay Hà Nội có 7 quận nội thành : Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Ba Đình, Đống Đa, Thanh Xuân, Tây Hồ, Cầu Giấy; có 4 huyện ngoại thành : Gia Lâm, Thanh Trì, Đông Anh, Sóc Sơn chia thành các quận trung tâm, các quận ven và thị trấn trung tâm huyện. Mật độ dân số trung bình toàn tp là 2835 người/km 2 . *Nguồn lao động : Mật độ số dân thành thị ở Hà Nội đứng thứ hai sau thành phố Hồ Chí Minh. Số dân thành thị chiếm gần 60% dân số toàn thành phó. Lực lượng cán bộ khoa học kỹ thuật lớn mạnh nhất nước, nơi đây tập trung các cơ quan khoa học đầu ngành với trên 200 viện khoa học, gần 600 trung tâm nghiên cứu và thực nghiệm quốc gia, có 26 trường đại học và 5 trường cao đẳng với trên 8000 cán bộ giảng dạy nghiên cứu, mỗi năm đào tạo cho đất nước khoảng gần một vạn cán bộ có trình độ đại học. *Kinh tế : Trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường Hà Nội có tốc độ tăng trưởng kinh tế liên tục và đều đặn trong thời kỳ từ năm 1991 đến nay. Trong những năm gần đây, Hà Nội được ưu tiên và tập trung đầu tư trên tất cả mọi lĩnh vực cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Với chính sách đô thị hoá, mở rộng Hà Nội gắn với sự phát triển công nghiệp mở mang các ngành dịch vụ, xây dựng các cơ sở hạ tầng. Sự tăng trưởng kinh tế Hà Nội trong những năm gần đây đạt ở mức độ cao so với cả nước. Thời kỳ 1991 - 1996 GDP tăng bình quân 14 11,7%, GDP bình quân đầu người là 680 USD/năm. Giá trị sản lượng công nghiệp tăng 14,2% năm. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng công nghiệp tăng lên 32%, nông nghiệp còn 5,1% và dịch vụ thương mại du lịch tăng 6,9%. Quận Hai Bà Trưng là một trong những quận tập trung nhiều người di cư từ nông thôn ra thành phố. Diện tích của Quận là 12,8km 2 , dân số 306,2 nghìn người, mật độ 23921 người/km 2 .Hiện nay quận có nhiều công trình mới xây dựng đã và đang hình thành trên trục đường Giải phóng (quốc lộ 1). Một “làng” đại học phía Nam thành phố đã hình thành bên cạnh Bộ Giáo dục và đào tạo như các trường Đại học Bách Khoa, Đại học Xây dựng, Đại học Kinh tế quốc dân… II. NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU . Lịch sử dân tộc Việt Nam ghi nhận từ thời xa xưa, vai trò của giới phụ nữ Việt Nam trong trách nhiệm công dân và trách nhiệm người mẹ như một hình tượng ghi đậm dấu ấn được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, một hình tượng thiêng liêng, hình tượng được tôn thờ. Trong chiến tranh rất nhiều phụ nữ đã tham gia chiến đấu, hy sinh tuổi trẻ và sức lực vì sự độc lập của dân tộc. Khó có thể kể hết những vất vả, gian khổ mà họ phải chịu trong bom lửa đạn, thậm chí những vết thương còn hằn trên người họ khi trái gió trở trời. Sự hy sinh của người phụ nữ là vô cùng to lớn. Chẳng thế mà đã có rất nhiều bà mẹ Việt Nam được phong tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” vì những đóng góp cho Tổ quốc. Ngày nay phụ nữ chiếm 58% (4) dân số và trên 50% (4) lao động của đất nước. Trên diễn đàn chính trị như Quốc hội số đại biểu nữ chiếm 26,22%. Trong nhiều ngành như nông nghiệp, giáo dục, y tế, công nghiệp nhẹ, tài chính… phụ nữ cũng luôn chiếm ưu thế từ 50% (4) đến 75% (4) . Đội ngũ trí thức và lao động kỹ thuật nữ ngày càng tăng lên, họ (4) Tạp chí Tư tưởng văn hoá tháng 4/2002. 15 đang có mặt ở nhiều vị trí chính trị, kinh tế trọng yếu của đất nước. Đây là một bước tiến đáng kể về bình đẳng giới, về tạo quyền năng cho phụ nữ trong xã hội. Phụ nữ đã thực sự đóng góp sức mình vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Trong gia đình vai trò của người phụ nữ lại càng quan trọng hơn bao giờ hết. Phần lớn nhận thức xã hội đều ý thức được vị trí quan trọng của người phụ nữ trong gia đình với thiên chức của người vợ, người mẹ, người quản lý nuôi dưỡng xã hội nhỏ bé nhưng quan trọng bậc nhất là gia đình, điều hoà sự hoà nhập của gia đình mình với cộng đồng xã hội. Cho dù hiện nay người phụ nữ có thể đảm đương nhiều trọng trách ngoài xã hội, có thể điều hành nàh máy, công ty lớn hay lãnh đạo những tổ chức xã hội chính trị, có trình độ học vấn cao như tiến sĩ, thạc sĩ, đảm đưởng cả trách nhiệm làm kinh tế cho gia đình thì họ vẫn cần biết tề gia nội trợ, biết nuôi dạy con cái chăm ngoan, biết lo cho chồng, lo cho sức khoẻ của mình, chăm chút nhan sắc để làm đẹp cho chồng con, cho xã hội. Có thể thấy vai trò của người phụ nữ trong mỗi gia đình là vô cùng quan trọng và cần thiết. Họ đang ngày càng khẳng định vị trí của mình trong xã hội và vai trò làm vợ, làm mẹ của mình trong gia đình. Qua khảo sát các hộ gia đình ngẫu nhiên ở tại quận Hai Bà Trưng, Hà Nội về “Vai trò của người phụ nữ trong gia đình đô thị hiện nay” chúng tôi thu được những kết quả như sau : 1. Người phụ nữ vẫn giữ vai trò chính trong việc nội trợ, chăm sóc con cái. Công việc gia đình được đề cập ở đây là một số công việc căn bản của mỗi gia đình nhằm hướng vào nuôi dưỡng và chăm sóc các thành viên trong gia đình. Công việc này thường được thực hiện chủ yếu trong phạm vi gia đình và thường do người phụ nữ hoặc những người không giữ vai trò quan trọng đóng góp kinh tế cho gia đình thực hiện. 16 Từ xưa đến nay người ta vẫn thường gọi các việc nội trợ gia đình là những việc vặt. Mặc dù được đánh giá thấp nhưng qua khảo sát đời sống của các hộ gia đình ta thấy vai trò của công việc gia đình là vô cùng quan trọng và đó là một khối lượng lớn các công việc, tiêu tốn nhiều thời gian và sức lực của người thực hiện. Bảng 1 - Người giữ vai trò nội trợ chính trong gia đình. Người nội trợ chính Số người Tỷ lệ % Vợ 70 70,0 Chồng 2 2,0 Cả hai 15 15,0 Người khác 13 13,0 Tổng 100 100 Nhìn vào bảng số liệu này ta thấy rằng trong gia đình người làm nội trợ chính là người vợ với tỉ lệ 70,0%, trong khi đó người chồng chỉ có 2,0%, cả vợ và chồng là 15,0%, còn người khác là 13,0%. Điều này cho thấy cho dù là gia đình truyền thống hay gia đình hiện đại thì người phụ nữ vẫn luôn đóng một vai trò quan trọng trong việc nội trợ và dường như việc nấu ăn, giặt giũ là chỉ dành cho người vợ mà thôi. Con số 70,0% cho ta thấy người phụ nữ luôn có bổn phận phải chăm lo cho gia đình, hầu hạ chồng con từ cái ăn, cái mặc. Việc nội trợ của người phụ nữ tưởng chừng như đơn giản nhưng thực ra là mất rất nhiều công sức. Nào là mua bán thực phẩm, nấu ăn, giặt giũ, dọn dẹp nhà cửa… đã chiếm một lượng thời gian đáng kể. Muốn cho chồng, con được ngon miệng thì người vợ phải biết được chồng hay con mình thích ăn món ăn nào nhất và quan trọng hơn cả là người vợ phải biết nấu ăn ngon thì mới làm cho bữa cơm hấp dẫn. Hay như muốn cho chồng, cho con luôn luôn được mạnh khoẻ thì nhà cửa lúc nào cũng phải ngăn nắp, gọn 17 gàng, sạch sẽ. Các công việc này tưởng là không có gì quan trọng nhưng thực ra lại rất cần thiết cho mỗi người phụ nữ trong mỗi gia đình. Chính vì vậy mà hầu như gia đình nào người nội trợ chính luôn là người vợ. 2% là con số người chồng giữ vai trò nội trợ chính trong gia đình. Có thể thấy răng tỉ lệ này là quá khiêm tốn. Sở dĩ người chồng không quan tâm tới việc nội trợ đó là vì họ nghĩ rằng công việc này là của người vợ, còn vai trò chính của họ là gánh vác kinh tế. Từ xưa người đàn ông luôn được coi là trụ cột trong gia đình nên họ chỉ lo kiếm tiền nuôi vợ con và việc nội trợ thì đã có bàn tay người phụ nữ. Vì lẽ đó mà trong 100 người phụ nữ thì đã có tới 83 người trả lời rằng người chồng là trụ cột kinh tế trong gia đình. Qua đây ta có thể thấy quan niệm người chông lo kinh tế, người vợ lo chăm sóc gia đình và nội trợ là quan niệm có trong xã hội truyền thống nhưng vẫn còn hiển hiện trong cuộc sống ngày nay. Số người trả lời cả hai vợ chồng đều giữ vai trò nội trợ trong gia đình là 15%. Con số này không phải là lớn nhưng thực sự là một điều đáng quan tâm trong mỗi gia đình hiện nay. Sự nghiệp đất nước đang từng ngày tác động tới mỗi gia đình, người đàn ông trong mỗi gia đình cũng đã chia sẻ, gánh vác việc nội trợ cho người vợ để người vợ ngoài việc nội trợ có thêm thời gian hoạt động xã hội. Có thể thấy rằng đa số các cặp vợ chồng trẻ hiện nay luôn giúp đỡ lẫn nhau trong việc nội trợ. Qua phỏng vấn sâu, chị Quỳnh (25 tuổi, nhân viên văn phòng) cho biết : “Hai vợ chồng đều đi làm cơ quan nên khi nào chi về muộn thì đã có anh ấy làm giúp một số việc như đi chợ, dọn dẹp nhà cửa. Tuy là việc nhỏ nhưng chị cảm thấy rất vui, thoải mái khi anh ấy cũng biết gánh vác cùng vợ việc nhà. Chị cho rằng đây chính là sự bình đẳng trong gia đình”. 18 Còn lại là 13% người khác giư vai trò giúp việc nội trợ trong gia đình. Người khác ở đây ta có thể hiểu là ông hay bà, hoặc là con cái, hoặc là người giúp việc. Nếu là trong gia đình ba thế hệ (gồm có ông bà, cha mẹ, con cái) thì chuyện người bà hay con cái làm nội trợ khi bố mẹ đi làm là phổ biến bởi người già ít khi chịu ngồi yên. Còn con cái ngoài giờ học cũng có thể giúp bà nấu nướng, quét dọn. Nều là gia đình khá giả thì thuê người làm để họ đỡ đần việc nhà khi mà cả hai vợ chồng đều không có thời gian cho chợ búa cơm nước. Hiện nay việc thuê người giúp việc là rất phổ biến trong các gia đình. Người giúp việc chủ yếu từ nông thôn nên quan hệ giữa chủ và người làm cũng có nhiều bất cập. Chính vì vậy mà công việc nội trợ dù thế nào đi chăng nữa vẫn rất cần bàn tay của người phụ nữ. Việc nội trợ trong mỗi gia đình là khác nhau nhưng nhìn chung công việc tưởng như đơn giản này lại chiếm khá nhiều thời gian, đặc biệt là đối với các gia đình khó khăn về kinh tế. Bảng số liệu dưới đây cho thấy. 19
- Xem thêm -