Tài liệu Vai trò của chính quyền cấp xã trong xây dựng nông thôn mới ở hà nam hiện nay

  • Số trang: 105 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 410 |
  • Lượt tải: 9
nguyetha

Đã đăng 8489 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ================== NGÔ QUANG DUY VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HÀ NAM HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học Hà Nội - 2014 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ================== NGÔ QUANG DUY VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HÀ NAM HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học Mã số: 60 22 03 08 Người hướng dẫn khoa học: TS Ngô Thị Phượng Hà Nội - 2014 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Ngô Thị Phượng. Các số liệu, tài liệu tham khảo trong luận văn đều trung thực và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng. Hà Nội, ngày tháng năm 2014 Tác giả luận văn Ngô Quang Duy i MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN MỤC LỤC BẢNG QUY ƯỚC CHỮ VIẾT TẮT MỞ ĐẦU .................................................................................................................. 1 1. Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................. 1 2. Tình hình nghiên cứu liên quan tới đề tài .................................................. 3 3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn .......................................................... 8 4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu ................................................ 9 5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................. 9 6. Đóng góp mới của luận văn ....................................................................... 9 7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn ....................................................................... 9 8. Kết cấu của luận văn ................................................................................ 10 NỘI DUNG ............................................................................................................ 11 Chương 1. XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM VÀ CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ Ở HÀ NAM: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG ....11 1.1. Nông thôn Việt Nam trong lịch sử và xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam hiện nay ............................................................................................... 11 1.1.1. Đặc điểm của nông thôn Việt Nam trong lịch sử ........................... 11 1.1.2. Nông thôn mới và những nội dung cơ bản trong xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam hiện nay ................................................................. 20 Nông thôn mới ở Việt Nam ...................................................................... 20 1.1.3. Những yếu tố tác động đến xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam hiện nay............................................................................................................. 28 1.2. Chính quyền cấp xã và chính quyền cấp xã ở tỉnh Hà Nam ............. 32 1.2.1. Đặc điểm của cấp xã và vị trí, vai trò, chức năng của chính quyền cấp xã ........................................................................................................ 32 1.2.2. Khái quát về tỉnh Hà Nam và chính quyền cấp xã ở tỉnh Hà Nam42 Kết luận chương 1 ................................................................................................. 51 ii Chương 2: VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HÀ NAM HIỆN NAY: THỰC TRẠNG, NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP ................................................. 52 2.1. Thực trạng vai trò của chính quyền cấp xã trong xây dựng nông thôn mới ở Hà Nam hiện nay .............................................................................. 52 2.1.1. Vai trò của chính quyền cấp xã trong triển khai, tổ chức thực hiện xây dựng nông thôn mới ở Hà Nam ........................................................ 52 2.1.2. Vai trò của chính quyền cấp xã trong kiểm tra, giám sát quá trình xây dựng nông thôn mới ở Hà Nam ......................................................... 57 2.1.3. Vai trò của chính quyền trong sự phối kết hợp với các Đoàn thể cấp xã trong xây dựng nông thôn mới ở Hà Nam........................................... 62 2.2. Hạn chế và những vấn đề đặt ra đối với chính quyền cấp xã trong xây dựng nông thôn mới ở Hà Nam ................................................................... 67 2.2.1. Hạn chế của chính quyền cấp xã trong xây dựng nông thôn mới ở Hà Nam .................................................................................................... 67 2.2.2. Những vấn đề đặt ra đối với chính quyền cấp xã đối với quần chúng nhân dân trong xây dựng nông thôn mới ở Hà Nam ..................... 76 2.3. Một số giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện tốt hơn vai trò của chính quyền cấp xã trong xây dựng nông thôn mới ở Hà Nam............................. 81 2.3.1. Nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ và quần chúng nhân dân về xây dựng nông thôn mới .......................................................................... 81 2.3.2. Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của chính quyền và các tổ chức trong hệ thống chính trị cấp xã để xây dựng nông thôn mới ................... 84 2.3.3. Nâng cao tính chủ động, sáng tạo của đội ngũ cán bộ cấp xã trong xây dựng nông thôn mới .......................................................................... 87 Kết luận chương 2 ................................................................................................. 91 KẾT LUẬN ............................................................................................................ 93 TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................... 95 iii BẢNG QUY ƯỚC CHỮ VIẾT TẮT CNXH Chủ nghĩa xã hội HĐND Hội đồng nhân dân NĐ – CP Nghị định - chính phủ TBCN Tư bản chủ nghĩa TW Trung ương XHCN Xã hội chủ nghĩa Ủy ban nhân dân UBND iv MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam là một nước nông nghiệp, nông dân chiếm đa số trong dân cư. Trước cách mạng tháng 8 năm 1945, nông dân chiếm hơn 90 % dân số, đến nay nông dân vẫn chiếm khoảng 70% dân số cả nước. Vì vậy, phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn hiện đại có vị trí chiến lược quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời là nền tảng bảo đảm phát triển kinh tế bền vững, ổn định chính trị, an ninh quốc phòng, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn vừa nhằm phát huy vai trò chiến lược của kinh tế nông nghiệp và đội quân chủ lực nông dân đối với xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, làm nền tảng vững chắc cho xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa nhằm nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần và xây dựng người nông dân mới - người nông dân xã hội chủ nghĩa. Qua đó, nâng cao hơn nữa vị thế của giai cấp nông dân trong công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của nông nghiệp, nông dân, nông thôn đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã thường xuyên quan tâm, chăm lo đến vấn đề này. Điều đó được thể hiện thông qua các chỉ thị, nghị quyết của Đảng đối với vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn mà tiêu biểu là Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 05/8/2008 tại Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn với mục tiêu: Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch. Xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ, hệ thống chính quyền cấp xã ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường. 1 Sau gần 30 năm thực hiện đường lối đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã và đang đạt được những thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.., trong đó, nổi lên vấn đề rất quan trọng là xử lý mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị. Đổi mới hệ thống chính trị là một nội dung quan trọng của đổi mới chính trị nhằm thực hiện và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tạo động lực cho đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội, góp phần giữ vững ổn định chính trị ở nước ta. Đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay phải đặc biệt chú trọng tới việc đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương năm khóa IX. Trong hệ thống quản lý bốn cấp ở nước ta, cấp xã thuộc cấp cơ sở, là cấp thấp nhất trong hệ thống chính trị, quản lý địa bàn nông thôn. Cấp xã có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng, gắn liền nông nghiệp, nông thôn và nông dân. Tỉnh Hà Nam hiện nay có 117 đơn vị cấp cơ sở, trong đó có 100 xã, 7 thị trấn, 10 phường. Như vậy, trong số đơn vị cấp cơ sở của tỉnh Hà Nam, cấp xã là chủ yếu, chiếm tới 85% đơn vị cấp cơ sở. Trong quá trình đổi mới đất nước, đặc biệt là đổi mới hoạt động của hệ thống chính trị, hệ thống chính quyền cấp xã ở tỉnh Hà Nam đang tiếp tục được kiện toàn về tổ chức, hoạt động cũng như đội ngũ cán bộ. Trong quá trình triển khai, tổ chức thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới, chính quyền cấp xã có vai trò đặc biệt quan trọng. Mặc dù vậy, hoạt động hệ thống chính quyền cấp xã vẫn còn nhiều hạn chế nhất là trong xây dựng nông thôn mới. Cụ thể là, tổ chức bộ máy của hệ thống chính quyền còn nhiều bất cập, hiệu quả hoạt động còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trong quá trình xây dựng nông thôn mới. Sự phân công và phối hợp giữa chính quyền với tổ chức Đảng, các tổ chức chính trị - xã hội chưa cụ thể, rõ ràng, minh bạch. Công tác tổ chức cán bộ tiến hành còn chậm, chưa kiên quyết. Năng lực và 2 trình độ của cán bộ chưa đáp ứng được chức năng nhiệm vụ. Tình trạng quan liêu, tham nhũng, mất đoàn kết nội bộ vẫn còn xảy ra ở một số nơi. Một bộ phận cán bộ cấp xã thoái hóa, biến chất vừa vi phạm quyền làm chủ của nhân dân vừa tham ô, tham nhũng làm mất lòng tin trong nhân dân. Những hạn chế, yếu kém trên của hệ thống chính quyền đã và đang tác động không nhỏ đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh nói chung và quá trình xây dựng nông thôn mới nói riêng. Điều này đặt ra yêu cầu khách quan cho việc nhận thức đúng đắn vai trò của hệ thống chính quyền cấp xã trong việc xây dựng nông thôn mới. Đồng thời có những quan điểm, giải pháp phù hợp để đổi mới và nâng cao chất lượng của hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn Hà Nam nhằm phát huy những thế mạnh của tỉnh, hạn chế những yếu kém, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống cho nhân dân ở nông thôn. Xây dựng nông thôn mới và hệ thống chính quyền cấp xã ở nông thôn là những vấn đề quan trọng, bức xúc hiện nay, đòi hỏi chúng ta phải nghiên cứu một cách nghiêm túc cả trên lĩnh vực lý luận và thực tiễn để giải quyết kịp thời những khó khăn ở chính cơ sở. Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn vấn đề “Vai trò của chính quyền cấp xã trong xây dựng nông thôn mới ở Hà Nam hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học của mình. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan tới đề tài Trong những năm gần đây, có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn. Các công trình đó được chia thành hai nhóm vấn đề: Thứ nhất, nghiên cứu về chính quyền cấp xã, có một số công trình tiêu biểu sau: "Một số vấn đề về tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong giai đoạn hiện nay ở nước ta", của tác giả Bùi Tiến Quý, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000. Ở công trình này, Tác giả đã trình bày khá rõ cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, vai trò của các bộ phận trong bộ máy chính 3 quyền cấp cơ sở, qua đó cho thấy hoạt động của chính quyền cấp cơ sở ở địa trong giai đoạn hiện nay. "Chính quyền cấp xã và quản lý nhà nước cấp xã" của hai tác giả Thang Văn Phúc và Chu Văn Thành, Viện Khoa học Tổ chức Nhà nước, Ban Tổ chức Cán bộ chính phủ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000. Các tác giả đã khái quát đặc điểm, chức năng của chính quyền cấp xã và vai trò của chính quyền trong việc quản lý nhà nước ở địa phương. Từ đó thấy được chức năng nhiệm vụ của đội ngũ chính quyền cấp xã, tổ chức chính quyền ở địa phương là nơi trực tiếp điều hành quản lý ở nông thôn. "Các giải pháp thúc đẩy cải cách hành chính ở Việt Nam", do tác giả Nguyễn Ngọc Hiến chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001. Cuốn sách tập hợp các bải tham luận của các nhà khoa học và quản lý Nhà nước trình bày trong Hội thảo khoa học về kiến nghị các giải pháp cải cách hành chính giai đoạn 2001- 2005 của Học viện Hành chính quốc gia. Đồng thời, cuốn sách cuãng đã phân tích các tiến trình cải cách hành chính ở nước ta những năm qua, nguyên nhân, những hạn chế, kiến nghị một số giải pháp cơ bản thúc đẩy cải cách hành chính của Việt Nam trong thời gian tới. "Thực hiện quy chế dân chủ và xây dựng chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay", của hai tác giả Nguyễn Văn Sáu và Hồ Văn Thông (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003. Các tác giả đã trình bày, phân tích quy chế dân chủ ở cấp cơ sở việc tổ chức, thực hiện quy chế dân chủ ở cấp cơ sở, đánh giá những kết quả, hạn chế, bất cập trong thực hiện quy chế dân chủ cơ sở trong giai đoạn hiện nay. “Hệ thống chính trị cơ sở - đặc điểm, xu hướng và giải pháp”, của tác giả Vũ Hoàng Công, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, năm 2002. Công trình này đã phân tích một cách khoa học - thực tiễn về đặc điểm của hệ thống chính trị cấp cơ sở đồng thời dự báo xu hướng vận động của hệ thống đó. Từ đó đề xuất nhiều giải pháp có giá trị để phát huy vai trò của hệ thống chính trị cấp cơ sở ở nước ta. 4 “Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn nước ta hiện nay”, của tác giả Hoàng Chí Bảo, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, năm 2005. Công trình này đã đi sâu phân tích đặc điểm của cấp cơ sở, thực trạng cơ cấu tổ chức và của hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn, từ đó đề ra những quan điểm và giải pháp nhằm tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng của hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn… Các công trình nghiên cứu trên đây đã đi vào tìm hiểu những khía cạnh khác nhau của hệ thống chính trị ở cơ sở, phân tích, lý giải về yêu cầu và cách thức tổ chức, hoạt động để đổi mới hệ thống chính trị, thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở. Thứ hai, nghiên cứu về xây dựng nông thôn mới, có một số công trình tiêu biểu như sau: “Những quy định pháp luật và công tác văn hóa xã hội ở cơ sở và xây dựng nông thôn mới”, của tác giả Bùi Văn Thấm, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2003. Công trình nghiên cứu này chủ yếu đề cập và giới thiệu các quy định của Nhà nước về công tác văn hóa xã hội và quy định về nông thôn mới, về việc xây dựng nông thôn mới ở các vùng miền của đất nước, trong đó, nhấn mạnh miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa. “Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam sau hai mươi năm đổi mới - quá khứ và hiện tại” của tác giả Nguyễn Văn Bích, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2000. Cuốn sách này tác giả đã phân tích những sự thay đổi cơ bản trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp và đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội nông thôn Việt Nam sau hơn hai mươi năm đổi mới. “Phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam”, của tác giả Nguyễn Hữu Tiến, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội năm 2007. Cuốn sách là tập hợp các công trình nghiên cứu của tác giả trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội ở nông thôn. Qua đó thấy được những tồn tại và hạn chế của việc phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn Việt Nam hiện nay. 5 “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam hôm nay và mai sau”, của chuyên gia nghiên cứu về nông nghiệp, nông thôn Việt Nam, tác giả Đặng Kim Sơn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2008. Công trình này đã nêu lên thực trạng các vấn đề về nông nghiệp, nông dân, nông thôn hiện nay, những thành tựu cũng như những khó khăn, vướng mắc còn tồn tại. Xuất phát từ thực tiễn đó, tác giả đã đề xuất những định hướng và kiến nghị chính sách nhằm đưa nông nghiệp, nông dân, nông thôn ngày càng phát triển. “Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đối với phát triển nông nghiệp Việt Nam”, của tác giả Nguyễn Từ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2008. Công trình này không chỉ đề cập đến những vấn đề cơ bản về hội nhập kinh tế quốc tế, các hiệp định thương mại khu vực và toàn cầu liên quan đến nông nghiệp nói chung và đến ngành nông nghiệp Việt Nam nói riêng, những ảnh hưởng của hội nhập kinh tế quốc tế đến phát triển nông nghiệp Việt Nam trong thời gian qua, mà còn nêu lên quan điểm và những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nền nông nghiệp nước ta trong xu hướng hội nhập quốc tế. “Xây dựng nông thôn mới những vấn đề lý luận và thực tiễn”, do tác giả Vũ Văn Phúc chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2012. Công trình này là tập hợp các bài viết của các nhà khoa học, lãnh đạo các cơ quan Trung ương, địa phương, các ngành, các cấp về xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam, gồm những vấn đề lý luận chung về nông thôn mới, kinh nghiệm quốc tề về xây dựng nông thôn mới, thực tiễn và kết quả bước đầu trong xây dựng nông thôn mới ở một số địa bàn trên phạm vi cả nước, đặc biệt là các địa bàn thí điểm xây dựng nông thôn mới. “Nhìn lại hơn 3 năm thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới: Kết quả và một số bài học kinh nghiệm” của Phó Thủ tướng, Trưởng ban chỉ đạo Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, Tạp chí Cộng sản, (số 94), năm 2014, tr.8-14. Bài viết đã trình bày những kết quả quan trọng bước đầu trong hơn 3 năm thực hiện Chương trình Mục tiêu 6 quốc gia xây dựng nông thôn mới căn cứ và 19 tiêu chí của nông thôn mới. Đồng thời bài viết cũng khái quát những ưu điểm, hạn chế, vướng mắc từ các cấp chính quyền địa phương, cơ chế, chính sách, văn bản hướng dẫn thực hiện đến nguồn vốn đầu tư cho Chương trình, từ đó, đề xuất một số giải pháp chủ yếu tiếp túc đẩy mạnh thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới trong thời gian tiếp theo… Ngoài các công trình nghiên cứu tiêu biểu trên, vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân và vấn đề xây dựng nông thôn mới còn là tiêu điểm trong nhiều tạp chí như tạp chí Nông thôn mới, tạp chí Xây dựng Đảng, tạp chí Nghiên cứu lý luận… với nhiều bài viết như: Bài viết của tác giả Thanh An đăng trên tạp chí Nông thôn mới số 278 (kỳ 1, tháng 9/2010) với nhan đề “Gỡ thế cho “tam nông” phát triển là cơ hội để nông dân làm giàu”. Bài viết đã đề cập đến các ý kiến khác nhau trong việc tạo hướng đi mới cho nông nghiệp, nông dân Việt Nam hiện nay. Bài viết của tác giả Hải Sơn đăng trên tạp chí Nông thôn mới số 279 (kỳ 2, tháng 9/2010) với nhan đề “Thi đua xây dựng nông thôn mới việc lớn phải làm đến cùng”. Bài viết đã đề cập đến vai trò, tầm quan trọng của việc xây dựng nông thôn mới đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội đất nước. Bài viết của tác giả Nguyễn Văn Đắc đăng trên tạp chí Nông thôn mới số 290 (kỳ 1, tháng 3/2011) với nhan đề: “Kiện toàn Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới từ Trung ương đến cơ sở”. Trong bài viết này, tác giả chủ yếu đề cập đến việc củng cố, kiện toàn ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới từ Trung ương đến cơ sở nhằm nâng cao hiệu quả của công tác xây dựng nông thôn mới ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Bài viết của tác giả Hồng Chương đăng trên tạp chí Xây dựng Đảng số 3/2011 với nhan đề: “Vai trò lãnh đạo của Đảng bộ xã trong việc quy hoạch xây dựng nông thôn mới ở Thái Bình”. Trong bài viết này, tác giả đã đi sâu 7 phân tích vai trò của Đảng bộ xã trên địa bàn tỉnh Thái Bình trong việc quy hoạch xây dựng nông thôn mới… Ngoài ra còn rất nhiều công trình nghiên cứu và bài viết khác về hệ thống chính quyền cấp xã và vấn đề xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiện nay. Các công trình nghiên cứu mặc dù đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau của hệ thống chính trị cấp cơ sở, vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn và vấn đề xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiện nay, tuy nhiên, việc nghiên cứu vai trò của hệ thống chính quyền cơ sở ở từng địa phương vẫn còn rất khiêm tốn. Đặc biệt, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống vai trò của chính quyền cấp xã đối với việc xây dựng nông thôn mới ở Hà Nam. 3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn Mục đích: Từ vị trí vai trò của chính quyến cấp xã, luận văn trình bày thực trạng thực hiện vai trò của chính quyền cấp xã trong xây dựng nông thôn mới ở Hà Nam. Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của chính quyền cấp cơ sở, đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới ở địa phương hiện nay. Nhiệm vụ: Để đạt được mục đích trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau: - Trình bày đặc điểm nông thôn Việt Nam và những nội dung cơ bản trong xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam hiện nay. - Phân tích các yếu tố tác động đến xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam. - Khái quát vai trò của chính quyền cấp xã và vai trò của chính quyền cấp xã ở Hà Nam. - Trình bày thành tựu và hạn chế trong thực hiện vai trò của chính quyền cấp xã trong xây dựng nông thôn mới ở Hà Nam. - Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của chính quyền cấp xã trong việc xây dựng nông thôn mới ở Hà Nam hiện nay. 8 4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Cơ sở lý luận: Luận văn được triển khai nghiên cứu trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò của chính quyền cấp xã. Đồng thời, luận văn cũng kế thừa những kết quả của các công trình nghiên cứu trước về chính quyền cấp xã và vai trò của chính quyền cấp xã đối với việc xây dựng nông thôn mới. Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu logic - lịch sử, phân tích - tổng hợp, so sánh, khảo sát thực tiễn... 5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Vai trò của chính quyền cấp xã trong xây dựng nông thôn mới ở Hà Nam. Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu, khảo sát vai trò của chính quyền cấp xã trong việc xây dựng nông thôn mới từ năm 2009 đến nay ở Hà Nam. 6. Đóng góp mới của luận văn Luận văn làm rõ vai trò của chính quyền cấp xã trong xây dựng nông thôn mới ở Hà Nam, từ đó đề ra một số giải pháp cho việc phát huy hiệu quả việc xây dựng nông thôn mới ở Hà Nam hiện nay. 7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn Ý nghĩa lý luận: Luận văn góp phần làm rõ những khía cạnh lý luận về vai trò của chính quyền cấp xã trong xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam hiện nay. Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc học tập, nghiên cứu và giảng dạy những vấn đề liên quan tới chính quyền cấp xã. Đồng thời có thể làm tài liệu tham khảo để tuyên truyền đối với công tác xây dựng nông thôn mới ở các địa phương, trong đó đưa ra những bất cập của đội ngũ chính quyền cấp xã và một số giải pháp 9 nhằm nâng cao hơn nữa vai trò của bộ máy chính quyền cấp xã trong xây dựng nông thôn mới hiện nay. 8. Kết cấu của luận văn Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 2 chương, 5 tiết. 10 NỘI DUNG Chương 1. XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM VÀ CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ Ở HÀ NAM: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG 1.1. Nông thôn Việt Nam trong lịch sử và xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam hiện nay 1.1.1. Đặc điểm của nông thôn Việt Nam trong lịch sử Theo quan niệm thông thường nông thôn là địa bàn sinh sống của một bộ phận dân cư, chủ yếu làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, tức là nông dân. Nông thôn cũng được dùng để chỉ một khu vực kinh tế trong xã hội kinh tế nông nghiệp. Nghiêng về khía cạnh văn hóa, xã hội, thì nông thôn là một môi trường xã hội, là không gian văn hóa mà ở đó những yếu tố văn hóa, đặc điểm xã hội truyền thống được duy trì khá lâu trong lịch sử. Tuy nhiên, quan niệm chính thức về nông thôn cũng có nhiều ý kiến khác nhau, tùy theo căn cứ và phương pháp nhất định. Theo tổ chức Nông lương Liên Hiệp Quốc (FAO), có hai phương pháp chính định nghĩa nông thôn. Phương pháp thứ nhất, căn cứ vào đặc điểm và dùng phép loại trừ dựa vào khái niệm đối lập với nông thôn là thành thị. Theo đó, thành thị được xác định là tất cả những trung tâm của huyện, tỉnh, thành phố, các vùng còn lại được hiểu là nông thôn. Nông thôn là nơi tập trung hầu hết những lao động chủ yếu là nông nghiệp. Các làng, xã đều có đặc điểm là xa những trung tâm kinh tế xã hội cho nên đời sống kinh tế xã hội của nông thôn thường lạc hậu hơn nhiều so với thành thị. Sự khác biệt lớn giữa thành thị và nông thôn đó là lao động, nghề nghiệp, mức độ thu nhập và về dịch vụ. Về mặt xã hội sự khác biệt giữa nông thôn và thành thị thể hiện trong lối sống, giao tiếp, văn hóa, gia đình, mật độ dân số, nhà ở. Về mặt môi trường nông thôn là môi trường sống gần gũi với tự nhiên. Nhấn mạnh từ góc độ xã hội nông thôn cũng như đô thị đều là những hệ thống xã hội, cộng đồng xã hội có đặc trưng 11 riêng biệt, như những xã hội thu nhỏ, trong đó có đầy đủ các yếu tố, các vấn đề xã hội và các thiết chế xã hội. Phương pháp thứ hai, sử dụng mức độ tập trung dân số, và cũng bằng phép loại trừ để xác định nông thôn. Theo cách này, dân số ở thành thị sống thành cụm quan sát được. Trong một vùng có các hộ gia đình sống gần nhau tạo nên cộng đồng lớn hơn một số nhất định nào đó, ví dụ 2000 người thì được coi là thành thị, khu vực còn lại là nông thôn. Phương pháp này đã đưa ra một giới hạn xác định rõ ràng. Tuy nhiên, giới hạn này rất khác nhau theo từng quốc gia. Theo những phương pháp trên, nông thôn được xác định dựa vào khái niệm đối lập với nó là thành thị và mới chỉ căn cứ vào một vài tiêu chí nhất định. Cách này chưa cho thấy được đầy đủ nội hàm khái niệm nông thôn. Ngoài ra, một số quốc gia sử dụng cách tính mức độ sẵn có của các loại hình dịch vụ để xác định vùng thành thị, phần còn lại là nông thôn. Phương pháp này thích đáng ở quan điểm phân tích nghèo đói, bởi sự thiếu vắng các dịch vụ cần thiết thường đi kèm với đói nghèo. Theo đó, nông thôn là khu vực kém phát triển so với thành thị, là khu vực mà các dịch vụ cần thiết cho nhu cầu của con người thường không đầy đủ. Ở Việt Nam, theo phương pháp thứ nhất để phân định nông thôn và thành thị. Nông thôn, theo quy định về hành chính và thống kê của Việt Nam là những địa bàn thuộc xã (những địa bàn thộc phường hoặc thị trấn được quy định là khu vực thành thị)” [Dẫn theo 50; tr. 121 -122]. Trong điều kiện hiện nay ở nước ta, nhìn nhận dưới góc độ chính trị- xã hội, có thể hiểu nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó phần lớn là nông dân. Tập hợp cư dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường trong một thể chế nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác. Nông thôn Việt Nam là khu vực rộng lớn và đông dân nhất, đa dạng về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội, thành phần tộc người, văn hóa, là nơi bảo 12 tồn, lưu giữ các phong tục, tập quán của cộng đồng người Việt. Trong lịch sử phát triển của dân tộc, nông thôn Việt Nam đã có sự chuyển biến khá toàn diện biểu hiện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Tuy nhiên, trong sự chuyển biến đó, vẫn có thể thấy những yếu tố ổn định, để phân biệt sự khác nhau giữa nông thôn với đô thị (nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn): Thứ nhất, cơ cấu kinh tế ở nông thôn Việt Nam mang tính thuần nông, trình độ cá thể, tiểu nông và kinh nghiệm. Do sự đa dạng về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, thời tiết, nên nông thôn Việt Nam cũng mang tính vùng rõ rệt, Nông thôn vùng miền núi, nông thôn vùng trung du (ven đồi), nông thôn vùng ven song (đồng bằng) và nông thôn vùng ven biển (dọc ven bờ biển Đông và hải đảo). Giữa các vùng nông thôn này có sự khác nhau nhất định trong phương thức lao động sản xuất, sinh sống. Tuy nhiên, bên cạnh sự khác biệt, vẫn có mẫu số chung là kinh tế nông nghiệp - trồng trọt và chăn nuôi, trong đó, trồng trọt có sự vượt trội hơn so với chăn nuôi. Nghề trồng trọt và chăn nuôi là phương thức sinh tồn chủ yếu của cư dân nông thôn Việt Nam. Do vậy, trong tâm thức người Việt cổ thì, thứ nhất canh trì (ao), thứ nhì canh viên (vườn), thứ ba canh điền (ruộng). Ngoài trồng trọt và chăn nuôi, ở một số vùng nông thôn Việt Nam còn có các nghề thủ công, nghề buôn. Tuy vậy, cư dân ở các làng nghề vẫn có ruộng, vườn, ao, chứ không tách hẳn khỏi nghề nông. Nghề nông được đề cao so với công, thương, thậm chí, việc buôn bán có lúc bị coi khinh. Nhìn vào xã hội Việt Nam trong lịch sử, nông thôn lấn át đô thị, đô thị không thoát khỏi sự chi phối của nông thôn. Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp là lao động phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, chịu sự chi phối, ác động bởi những biến đổi của thời tiết. Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là động, thực vật sống, đòi hỏi sự chăm sóc tỉ mỉ với kỹ thuật không hoàn toàn giống với các ngành kinh tế công nghiệp. Mặt 13 khác, trong sản xuất nông nghiệp, đất đai là tư liệu chính, giữ vai trò quyết định. Quy mô đất đai là cơ sở để cơ giới hóa, hiện đại hóa nông nghiệp. Kỹ thuật canh tác nông nghiệp ở Việt Nam nhìn chung kém phát triển cùng với sự phân tán về đất đai là sơ sở nảy sinh tính chất cá thể, sự phân tán trong lao động sản xuất ở nông thôn Việt Nam. Vì vậy khi nói đến nông thôn Việt Nam trong lịch sử, thì không ít người người nghĩ đến hình ảnh con trâu đi trước, cái cày theo sau. Đó cũng là hình ảnh khái quát về cánh thức lao động sản xuất truyền thống của nông dân và ở nông thôn Việt Nam. Với trình độ sản xuất, lao động cá thể, thì tất yếu thói quen, kinh nghiệm, tập quán nhiều đời được sử dụng như nguyên tắc trong lao động sản xuất ở nông thôn Việt Nam. Kinh nghiệm về xem thời tiết, kinh nghiệm trồng trọt, kinh nghiệm chăn nuôi… Những kinh nghiệm này được cư dân khái quát và lưu truyền từ đời này qua đời khác. Tuy nhiên, nguyên tắc này dẫn đến tệ sùng bái kinh nghiệm, cản trở việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào trong quá trình lao động sản xuất. Do vậy, trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng như lao động sản xuất ở nông thôn Việt Nam lạc hậu, trì trệ. Phù hợp với sự phân tán về ruộng đất, trình độ lao động cá thể, phân tán, cách thức tổ chức lao động sản xuất ở nông thôn Việt Nam là tự cấp, tự túc. Sản phẩm làm ra chủ yếu để thảo mãn nhu cầu tiêu dùng của gia đình, địa phương. Các thức tổ chức lao động này chính là một yếu tố kìm hãm sự phát triển của nông thôn Việt Nam trong lịch sử. Trải qua các thời kỳ cách mạng của dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng về phát triển nông nghiệp- nông dân- nông thôn qua chủ trương hợp tác hóa nông nghiệp bậc thâp, bậc cao những năm 60 của thế kỷ XX, đến thực hiện “khoán” trong nông nghiệp và chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, bộ mặt nông thôn Việt Nam ngày càng thay da đổi thịt, cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn bước đầu có sự chuyển dịch gắn liền với 14
- Xem thêm -