Tài liệu Truyền thuyết và lễ hội hội chùa dâu

  • Số trang: 103 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 270 |
  • Lượt tải: 3
nguyetha

Đã đăng 8489 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TRẦN XUÂN CHƢƠNG TRUYỀN THUYẾT VÀ LỄ HỘI CHÙA DÂU LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Văn học dân gian HÀ NỘI – 2014 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TRẦN XUÂN CHƢƠNG TRUYỀN THUYẾT VÀ LỄ HỘI CHÙA DÂU Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Văn học dân gian Mã số: 60 22 01 25 Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS. TS. Lê Chí Quế HÀ NỘI – 2014 LỜI CẢM ƠN Em xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo khoa ngữ văn trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội đã dày công đào tạo và giúp đỡ em trong suốt thời gian theo học tại trường. Đặc biệt, em xin gửi lời biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới thầy hướng dẫn khoa học GS.TS Lê Chí Quế đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành luận văn này. Xin trân trọng cảm ơn các đồng nghiệp, người thân, bạn bè đã tạo điều kiện giúp đỡ, góp ý, động viên em trong suốt quá trình thực hiện luận văn. TRẦN XUÂN CHƢƠNG LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan rằng những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và do chính tác giả nghiên cứu, phân tích chƣa đƣợc sử dụng để bảo vệ bất kỳ học vị nào. Hà Nội, ngày 20 tháng 11 năm 2014 TRẦN XUÂN CHƢƠNG MỤC LỤC A. Phần mở đầu. Trang 1: Lý do chọn đề tài......................................................................................... . 4 2. Lịch sử nghiên cứu................................................................................. ....... 7 2.1. Lịch sử nghiên cứu truyền thuyết và lễ hội........................................... .. 7 2.1.1. Lịch sử nghiên cứu truyền thuyết. ...................................................... . 7 2.1.2. Lịch sử nghiên cứu về lễ hội…... ........................................................... 9 2.2. Lịch sử nghiên cứu Truyền thuyết và lễ hội Chùa Dâu...................... . 10 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu............................................................ . 13 3.1. Đối tƣợng nghiên cứu: ....................................................................... ..... 13 3.2. Phạm vi nghiên cứu: .......................................................................... ..... 13 4. Mục đích nghiên cứu:................................................................................ . 13 5. Phƣơng pháp nghiên cứu...................................................................... ..... 14 6. Dự kiến đóng góp của luận văn. ........................................................... .... 15 7. Cấu trúc luận văn. ................................................................................ ..... 15 B. Phần nội dung. Chƣơng 1. Tổng quan đề tài. .................................................................... .... 16 1. Khái niệm về vùng văn hóa Bắc Ninh - Kinh Bắc................................ ... 16 1.1. Khái niệm vùng văn hóa. ........................................................................ 16 1.2. Vùng văn hóa Bắc Ninh - Kinh Bắc. ................................................. .... 17 1.3. Thuận Thành - không gian văn hóa đặc sắc.......................................... 21 1.3.1. Sự hình thành không gian văn hóa Dâu - Luy Lâu......................... .. 22 1.3.2. Đặc điểm tự nhiên............................................................................ ..... 25 1.3.3. Đặc điểm lịch sử xã hội.................................................................... ..... 25 1.3.4. Đặc điểm văn hóa dân gian............................................................. ..... 26 2. Khái niệm về truyền thuyết................................................................... .... 31 3. Khái niệm về lễ hội................................................................................. .... 33 1 Tiểu kết chƣơng 1....................................................................................... .... 35 Chƣơng 2. Truyền thuyết Man Nƣơng và hệ thống Chùa Tứ Pháp......... . 37 1. Giới thiệu về chùa Dâu và hệ thống chùa Tứ Pháp............................... .. 37 1.1. Chùa Dâu.............................................................................................. .... 37 1.2. Chùa Tƣớng.......................................................................................... ... 39 1.3.Chùa Dàn............................................................................................... .... 39 1.4. Chùa Tổ................................................................................................ .... 40 2. Truyền thuyết Man Nƣơng và hệ thồng Tứ Pháp................................. .. 41 2.1: Khảo sát về truyền thuyết Man Nƣơng đƣợc nhân dân kể lại:......... .. 41 2.1.1. Truyền thuyết Man Nƣơng đƣợc ngƣời dân vùng Dâu kể lại:........ . 41 2.1.2. Truyền thuyết Man Nƣơng đƣợc nhà Chùa kể lại:......................... .. 43 2.1.3.Truyền thuyết Man Nƣơng đƣợc ngƣời dân vùng Công Hà kể lại:. . 44 2.2.Khảo sát bằng văn bản......................................................................... .... 45 2.2.1. Truyền thuyết Man Nƣơng đƣợc ghi chép trong bản Cổ Châu Phật bản hạnh:........................................................................................... .... 46 2.2.2. Truyền thuyết Man Nƣơng trong sách Lĩnh Nam chích quái......... . 49 2.2.3. Truyền thuyết Man Nƣơng đƣợc ghi chép trong Thần tích Thần sắc tại Đình Khƣơng Tự.................................................................. ..... 51 2.3. Sự khác biệt của các bản truyện trên:................................................ ... 53 2.4. Giá trị tƣ tƣởng thẩm mỹ qua truyền thuyết Man Nƣơng................. . 55 Chƣơng 3. Lễ hội chùa Dâu...................................................................... ..... 59 1. Nguồn gốc lễ hội chùa Dâu................................................................... ...... 60 2. Thời gian và không gian diễn ra lễ hội.................................................. ... 62 2.1. Thời gian tổ chức lễ hội...................................................................... ..... 62 2.2. Không gian tổ chức lễ hội.................................................................. ...... 62 3. Mô tả lễ hội............................................................................................. ..... 63 3.1. Mô tả nội dung phần lễ ..................................................................... ...... 63 2 3.2. Mô tả nội dung phần hội.................................................................... ..... 67 3.2.1. Hội thi cƣớp nƣớc............................................................................ ..... 67 3.2.2. Hội thi hát quan họ.......................................................................... ..... 69 3.2.3. Hội thi thả chim bồ câu................................................................... ..... 70 3.2.4. Hội thi chơi cờ ngƣời........................................................................ .... 70 3.2.5. Hội thi chọi gà................................................................................... .... 72 3.3. Một số tục lệ trong lễ hội chùa Dâu........................................................ 72 3.3.1. Tục đón đƣờng ở hội Dâu................................................................ .... 72 3.3.2. Tục múa gậy Hồng Côn và Bạch Trƣợng........................................ ... 74 4. Ý nghĩa của lễ hội ................................................................................. ..... 76 4.1. Ý nghĩa hƣớng về cội nguồn............................................................... .... 76 4.2. Ý nghĩa đối với đời sống tâm linh của nhân dân................................ .. 77 4.3. Ý nghĩa đoàn kết sức mạnh cộng đồng............................................... ... 78 4.4. Ý nghĩa bảo tồn và lƣu truyền văn hóa.................................................. 79 C. Kết Luận................................................................................................. .... 81 3 A. PHÂN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài: Văn học dân gian rất phong phú và đa dạng về thể loại, trong đó truyền thuyết đƣợc coi là một thể loại văn học độc đáo và hết sức đặc biệt với đặc trƣng của thể loại truyền thuyết đã cho ta thấy đƣợc những giá trị to lớn trong việc lƣu truyền lịch sự văn hóa dân tộc. Theo GS- Lê Chí Quế truyền thuyết có thế phân chia thành bốn loại: Truyền thuyết lịch sử; truyền thuyết anh hùng; truyền thuyết về các danh nhân văn hóa; truyền thuyết về các nhân vật tôn giáo. 1.1 Có thể nói trong bốn loại truyền thuyết nói trên thì truyền thuyết về các nhân vật tôn giáo không chỉ góp phần lƣu giữ văn hóa dân tộc mà nó còn đi sâu vào đời sống tâm linh của ngƣời Việt Nam. Truyền thuyết về các nhân vật tôn giáo có nguồn gốc từ cơ sở thực tiễn: Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới ẩm, gió mùa, thiên nhiên phong phú và đa dạng. Thời xa xƣa, ngƣời Việt sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nƣớc và khai thác tự nhiên. Vì vậy việc thờ cúng các vị thần tự nhiên để cầu cho mƣa thuận gió hòa đã sớm hình thành và gần gũi với họ. Hơn nữa, Việt Nam là nơi giao lƣu của nhiều tộc ngƣời, nhiều nền văn minh. Hai yếu tố đó đã làm Việt Nam trở thành một quốc gia đa tôn giáo, tín ngƣỡng. Điều đó dẫn đến một đặc điểm của đời sống tín ngƣỡng tôn giáo của ngƣời Việt đó là tính “ hỗn dung tôn giáo”. Trƣớc sự du nhập của tôn giáo ngoại lai, ngƣời Việt không tiếp nhận một cách thụ động mà luôn có sự cải biến cho gần gũi với tƣ tƣởng tôn giáo bản địa ở nƣớc ta trong khi các tôn giáo vẫn phát triển thì tín ngƣỡng dân gian vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của ngƣời dân. Điều này đƣợc thể hiện rõ nhất ở vùng văn hóa Kinh Bắc xƣa, trong đó có Bắc Ninh ngày nay. Bắc Ninh là vùng đất văn hiến với tầng tầng, lớp lớp bề dày văn hóa, vùng đất thiêng hội tụ linh khí non sông. Trong sự đa dạng của bản sắc 4 văn hóa vùng miền Kinh Bắc xƣa ta không thể bỏ qua một dấu ấn về truyền thuyết và lễ hội Chùa Dâu – một trong những ngôi chùa cổ nhất Việt Nam, là cái nôi của trung tâm phật giáo Việt Nam. Do vậy nghiên cứu về truyền thuyết và lễ hội Chùa Dâu là công việc vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn trong việc làm sáng tỏ hơn thể loại truyền thuyết dân gian Việt Nam. 1.2. Trong hoàn cảnh của đất nƣớc Việt Nam hiện nay đang đổi thay từng ngày công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng một đất nƣớc giàu mạnh. Trƣớc tốc độ phát triển của kinh tế hiện nay thì văn hóa truyền thống sẽ dễ bị mai một nếu nhƣ chúng ta không có ý thức gìn giữ và lƣu truyền cho thế hệ sau. Trong sự đa dạng và phong phú của văn hóa truyền thống dân tộc, chúng ta không thể phủ nhận vai trò quan trọng của truyền thuyết và lễ hội ở địa phƣơng, vùng, miền, nó góp phần tạo nên giá trị của văn hóa cổ truyền dân tộc. Cho đến nay số lƣợng các công trình của các nhà khoa học nghiên cứu, sƣu tầm về truyền thuyết đã gặt hái đƣợc những thành tựu đáng kể. Tuy nhiên mảng truyền thuyết và lễ hội ở địa phƣơng nghiên cứu theo góc độ VHDG vẫn còn ít đƣợc quan tâm. Trong xu thế chung ấy truyền thuyết và lễ hội chùa Dâu – Thuận Thành – Bắc Ninh cũng đã thu hút sự chú ý của các nhà khoa học nghiên cứu. Tuy nhiên các công trình nghiên cứu này chủ yếu nghiên cứu theo góc độ lịch sử học, chứ không phải dƣới gó độ VHDG. Hơn nữa trong điều kiện hiện nay xã hội Việt Nam cần có sự tiếp nối nguồn mạch văn hóa truyền thống dân tộc. Có một thời kỳ do những quan điểm lệc lạc, nhiều giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc bị phá bỏ vì coi là mê tín dị đoan. Những năm gần đây đặc biệt sau đại hội Đảng lần thứ VI (năm 1986) với tinh thần đổi mới văn hóa dân tộc, nhiều đền đài, chùa chiền … đƣợc chú ý trùng tu, khôi phục, các lễ hội đƣợc tổ chức long trọng hơn trong đó có lễ hội Chùa Dâu -Thuận Thành - Bắc Ninh. 5 Từ những năm 90 của thế kỷ XX cho đến nay, xu hƣớng nghiên cứu thể loại truyền thuyết trong mối quan hệ với lễ hội ở nhiều địa phƣơng trên phạm vi cả nƣớc đã thu hút sự quan tâm, chú ý của các nhà khoa học và các học giả, hƣớng nghiên cứu này mang lại ý nghĩa rất thiết thực trong việc bảo tồn các di sản văn hóa nói chung và văn học dân gian nói riêng. 1.3. Vì những điều trên, ngƣời viết với tất cả mong muốn đƣợc góp sức mình vào việc bảo tồn và lƣu gữ bản sắc dân tộc. Mặt khác, trong giai đoạn hiện nay khi lễ hội cổ truyền Việt Nam đang ngày càng lôi cuốn nhiều tầng lớp nhân dân tham gia thì một vấn đề đặt ra là: Cần tổ chức và tham gia lễ hội nhƣ thế nào cho đúng với ý nghĩa của loại hình sinh hoạt văn hóa truyền thống này? Chúng ta cần phải có một cái nhìn học thuật để sao cho vừa có sự kế thừa, vừa phát triển mà vẫn giữ đƣợc bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc. Tìm hiểu truyền thuyết và lễ hội Chùa Dâu, giúp chúng ta thêm một lần nữa hiểu sâu về văn học dân gian nói chung và truyền thống nói riêng của dân tộc, vừa là một hiện tƣợng văn học vừa là một hiện tƣợng văn hóa. Là một giáo viên trực tiếp tham gia giảng dạy bộ môn văn học nói chung trong đó có văn học dân gian nói riêng, ở huyện Thuận Thành, nơi tọa lạc Chùa Dâu, thì việc nghiên cứu về truyền thuyết và lễ hội Chùa Dâu là cơ hội để ngƣời viết tích lũy kiến thức về kho tàng truyền thuyết từ đó bồi đắp cho học sinh lòng tự hào về truyên thống quý báu của dân tộc, khơi dậy trong các em ý thức về việc gìn giữ, bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc. Để truyền thống văn hóa của dân tộc đƣợc lƣu truyền một cách rộng rãi, không bao giờ bị mai một. Trên đây là tất cả những lý do khiến ngƣời viết lựa chọn đề tài “Truyền thuyết và lễ hội Chùa Dâu - Thuận Thành - Bắc Ninh”. 6 2. Lịch sử nghiên cứu. 2.1. Lƣợc điểm Lịch sử nghiên cứu truyền thuyết và lễ hội. 2.1.1. Lƣợc điểm Lịch sử nghiên cứu truyền thuyết. Trong khoa học nghiên cứu văn hóa dân gian ở nhiều nƣớc trên thế giới, việc coi truyền thuyết là một thể loại riêng biệt đã trở thành truyền thống. Còn ở nƣớc ta thể loại truyền thuyết xuất hiện khá sớm “thế kỷ XIV, XV” nhƣng thuật ngữ truyền thuyết và vấn đề nghiên cứu truyền thuyết thì ra đời muôn, vào khoảng nửa cuối thế kỷ XX . Giáo sƣ Nguyễn Đổng Chi trong lời tựa “Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam” cho rằng: Truyền thuyết thƣờng dùng để chỉ những câu chuyện cũ những sự việc lịch sự còn đƣợc quần chúng truyền lại nhƣng không đảm bảo về mặt chính xác (có thể do truyền rộng mà sai lệch) và truyền thuyết phần nhiều chƣa đƣợc xây dựng thành truyện. Nó mới chỉ là những câu chuyện còn nếu nó phát triển đến mức hoàn thiện thì tùy theo nội dung nó có thể là cổ tích hoặc thần thoại : hiện nay truyền thuyết Việt Nam tìm đƣợc rất ít ỏi đƣợm khí cổ tích nhiều hơn thần thoại vì thế khi sƣu tầm thì thƣờng xếp lẫn với cổ tích và coi nhƣ truyện cổ tích. Trong giáo trình trƣờng đại học sƣ phạm xuất bản 1961 – 1970 đã đƣa truyền thuyết vào cơ cấu các thể loại văn hóa dân gian nhƣng đã đặt bên cạnh thần thoại. Nhƣ vậy cách sắp xếp truyền thuyết trong hệ thống các thể loại văn bản dân gian có khác nhau nhƣng điểm tƣơng đồng giữa các nhà khoa học Việt Nam là khi nghiên cứu truyền thuyết bao giờ cũng đặt nó trong mối quan hệ với thần thoại và cổ tích. Đáng chú ý hơn cả là công trình truyền thống anh hùng dân tộc trong loại hình tự sự dân gian Việt Nam tập trung những bài nghiên cứu về truyền thuyết đƣợc xuất bản năm 1971. Các tác giả: Tầm Vu, Phan Trần, Đinh Gia 7 Khánh, Nguyễn Ngọc Côn và Kiều Thu Hoạch đã có những đóng góp lớn. Trong đó đặc biệt đáng lƣu ý là truyền thuyết anh hùng trong thời kỳ phong kiến của Kiều Thu Hoạch. Tác giả đã đƣa ra định nghĩa và phân loại truyền thuyết, đồng thời đƣa ra những kiến giải sâu sắc về bản chất thể loại. Đến những năm 1973 trong bài tìm hiều quan hệ giữa thần thoại truyền thuyết và diễn xƣớng tín ngƣỡng phong tục, tác giả Nguyễn Khắc Xƣơng nêu rõ mối quan hệ giữa thần thoại, truyền thuyết và lễ hội “thần thoại, truyền thuyết lƣu truyền bằng miệng trong dân gian đã đƣợc tái hiện cụ thể và sinh động trƣớc dân gian qua nghệ thuật diễn xƣớng hỗn hợp”. Ý kiến của thủ tƣớng Phạm Văn Đồng tuy không chú ý đến định nghĩa truyền thuyết nhƣng nó có ý nghĩa cho các nhà nghiên cứu văn học dân gian . Thủ tƣớng cho rằng : “những truyền thuyết dân gian thƣờng có một cái lõi là sự thật lịch sử mà nhân dân qua nhiều thế hệ đã lý tƣởng hóa, gửi gắm vào đó một tâm tính thiết tha của mình cùng với thơ và mộng, chắp đôi cánh của sức tƣởng tƣợng và nghệ thuật dân gian làm nên tác phẩm văn hóa mà đời con cháu ƣa thích” . Đầu những thập niên 90 cuốn giáo trình “Văn học dân gian Việt Nam” của đại học tổng hợp đƣợc viết lại, Giáo sƣ Lê Chi Quế đã dành một phần viết về truyền thuyết, trong đó Giáo sƣ đã đƣa ra khái niệm và đặc biệt là phân loại truyền thuyết một cách hợp lý, đầy tính thuyết phục hơn. Tác giả Lê Văn Kỳ trong một bài viết năm 1991 mối quan hệ giữa truyền thuyết ngƣời Việt và lễ hội các anh hùng “cũng đã đề cập đến định nghĩa hội, lễ, mối quan hệ giữa hội lễ nhƣ hội lễ Hai Bà Trƣng; Thánh Gióng. Giáo trình văn học dân gian của trƣờng đại học sƣ phạm hà nội dùng cho hệ đào tạo Đại Học từ xa, tác giả Nguyễn Bích Hà biên soạn về phần truyền thuyết. Tác giả đã đề cập đến khái niệm, đặc trƣng, phân loại, nội dung, ý nghĩa của truyền thuyết. 8 Điểm qua các ý kiến nghiên cứu chuyên hoặc không chuyên về thể loại truyền thuyết trong VHDG Việt Nam chúng tôi rút ra một số nhận định sau: Thời kỳ đầu các nhà nghiên cứu đều thống nhất: Truyền thuyết ra đời sau thần thoại nhƣng vẫn có yếu tố song trùng với thần thoại. Mặt khác truyền thuyết và cổ tích cũng có những nét gần gũi nhau. Thời kỳ về sau các nhà nghiên cứu đều coi truyền thuyết là một thể loại riêng của văn học dân gian. Đặc biệt các tác giả đã chứng minh và đi sâu phân tích về đặc trƣng, nội dung, ý nghĩa và phân loại truyền thuyết một cách rõ ràng và độc lập so với thể loại khác trong văn học dân gian. Những năm gần đây có nhiều hƣớng nghiên cứu mới về truyền thuyết trong đó nổi bật là hai hƣớng nghiên cứu: Hƣớng nghiên cứu dựa trên văn bản và hƣớng nghiên cứu truyền thuyết gắn với hoạt động diễn xƣớng đặc biệt, thông qua lễ hội. Trong 2 hƣớng nghiên cứu này chúng ta thấy hƣớng thứ 2 đang ngày càng đƣợc nhiều ngƣời quan tâm hơn và mang lại ý nghĩa thiết thực. Nghiên cứu về Truyền thuyết và lễ hội Chùa Dâu chúng tôi cũng đã kế thừa các hƣớng nghiên cứu này. 2.1.2. Lƣợc điểm Lịch sử nghiên cứu về lễ hội. Trong những năm gần đây các công trình nghiên cứu về tôn giáo, tín ngƣỡng và lễ hội đƣợc quan tâm nhiều hơn, trên các bình diện khác nhau nhƣ: Tôn giáo học, khoa học xã hội, văn học dân gian... Vấn đề lễ hội và tôn giáo tín ngƣỡng đƣợc đề cập ở nhiều mức độ khác nhau. Trong đó có những công trình nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng nhƣ: Lê hội cổ truyền của Viện văn hóa dân gian, Nxb khoa học xã hội (1992). Công trình đề cập đến các vấn đề lễ hội, môi trƣờng liên quan đến sự hình thành lễ hội, lịch sử, cơ cấu, phân loại các biểu hiện và giá trị của hội làng, đồng bằng Bắc Bộ. 9 60 lễ hội truyền thống ở Việt Nam Nxb khoa học xã hội (1992). Đề cập đến sáu mƣơi lễ hội truyền thống ở Việt Nam. Lễ cầu mùa của các dân tộc ở Việt Nam của các tác giả Phan Hữu Dật, Lê Ngọc Thắng, Lê Sĩ Giáo, Lâm Bá Nam, Nxb Văn hóa dân tộc (1993). Công trình đề cập đến lễ cầu mùa của ngƣời kinh, các dân tộc vùng Việt Bắc, Tây Bắc và Bắc Trung Bộ, Trƣờng Sơn - Tây Nguyên. Từ điển hội lễ Việt Nam của Bùi Thiết, Nxb Văn hóa thông tin (2000). Trong đó tác giả đã sƣu tầm, tập hợp hệ thống, chỉnh lí và biên soạn tất cả hội lễ truyền thống, đã từng diễn ra trên khắp lãnh thổ nƣớc ta từ xƣa tới nay. Lễ tục, lẽ hội truyền thống xứ Thanh của Lê Huy Trâm - Hoàng Anh Nhân, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà nội - 2001. Các tác giả đã đƣa quan điểm nhận thức và nghiên cứu lễ hội, nhấn mạnh đến việc quan sát, tiếp cận lễ hội trong sự tổng thể của nó chứ không nên tách phần lễ riêng, phần hội riêng. Đáng kể là công trình gần đây của GS.TS Ngô Đức Thịnh “Về tín ngƣỡng lễ hội cổ truyền” Nxb Văn hóa thông tin Hà Nội 2007. Trong đó đề cập đến các vấn đề “tín ngƣỡng dân gian” của ngƣời Việt, các dân tộc thiểu số với đa sắc diện ở các vùng của đất nƣớc, đề cập đến đạo Mẫu và lên đồng của ngƣời việt, Chăm, Tày, đề cập đến “lễ hội cổ truyền” với môi trƣờng tự nhiên, xã hội, văn hóa, vai trò của “tín ngƣỡng, môi trƣờng nảy sinh, tích hợp, bảo tồn sinh hoạt văn hóa nghệ thuật dân gian ...”. Nhƣ vậy điểm qua các công trình nghiên cứu về lễ hội, chúng ta có thể thấy trong những năm gần đây, đề tài này đã đƣợc các nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu, nhằm khôi phục, gìn giữ bẳn sắc văn hóa của dân tộc. 2.2. Lịch sử nghiên cứu truyền thuyết và lễ hội chùa Dâu. Chùa Dâu là trung tâm phật giáo sớm nhất ở Việt Nam, có vị trí vai trò quan trọng đối với đạo Phật nói chung và tín ngƣỡng của dân tộc Việt Nam 10 nói riêng. Vì vậy “Chùa Dâu” đã thu hút các công trình khoa học nghiên cứu và sƣu tầm. Có thể nói cho đến nay Chùa Dâu vẫn lƣu giữ đƣợc nhiều bản ghi chép lại truyền thuyết và lễ hội trong đó đáng chú ý nhất là 3 cuốn sách đƣợc khắc bằng ván gỗ: Cổ Châu Lục, Cổ Châu Pháp, Cổ Châu Nghi viết tắt, đƣợc in khắc vào năm 1752. Cuốn sách Cổ Châu Pháp Vân Phật Bản Hạnh Ngữ Lục là cuốn sách song ngữ Hán Nôm, còn cuốn Cổ Châu Pháp Vân Phật Bản Hạnh là cuốn truyện thơ lục bát nôm. Hai cuốn này đều nói về sự tích Man Nƣơng đƣợc coi là biên soạn vào khoảng từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 18. Cuốn thứ ba là Cổ Châu Nghi nói về các nghi thức tế lễ. Nhƣ vậy ba cuốn sách này đƣợc xem là những tài liệu cổ xƣa nhất, còn đƣợc lƣu giữ tại nhà Chùa. Trong cuốn sách Lĩnh Nam Chích Quái của Trần Thế Pháp cũng nói về truyện Man Nƣơng nhƣng so với Cổ Châu Pháp Vân Phật Bản Hạnh ngữ lục thì Trần Thế Pháp đã rút ngắn truyện lại còn khoảng một phần ba. Đến đầu đời Lê, khi nền Phật giáo dân tộc phục hƣng mạnh mẽ, phật pháp vân đƣợc nhiều lần thỉnh lễ về Hà Nội để cầu đảo và tôn thờ, Lý Tử Tấn (1378 – 1460) đã viết một bài ký về đức Phật Pháp Vân với nhan đề: Pháp Vân Cổ Tự Bi ký chép trong Toàn việt thi lục và Kiến văn tiểu lục 9, cả 2 đều do Lê Quý Đôn biên soạn. Về mặt chính sử thì Phật Pháp Vân xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1073 dƣới thời vua Lý Nhân Tông, khi vua mới lên ngôi. Đại Việt sử ký bản kỷ toàn thƣ quyển 3 viết: Thái Ninh năm thứ hai, năm Quý Sửu, lúc bấy giờ mƣa dầm bèn rƣớc Phật Pháp Vân về kinh đô để cầu tạnh. Tài liệu Hồng Đức quốc âm thi tập do Phạm Trọng Điềm và Bùi Văn Nguyên phiên âm, chú giải và giới thiệu NXB Văn học, Hà Nội 1982, “Hoàng Việt địa dƣ Chí chép: Chùa (Pháp Vân) ở xã Vạn Kỳ, huyện Gia Bình, trấn Kinh Bắc (tức huyện Gia Lƣơng tỉnh Hà Bắc lúc bấy giờ). Thời Sĩ Vƣơng, 11 một nhà sƣ đi lại với Man Nƣơng ở trong chùa, có mang, sinh con gái, đặt tên là Pháp Vân. Do đấy chùa này cũng gọi là chùa Đại Bi. Trong chùa có thờ hai vị sƣ: Huyền Quang và Pháp Loa là 2 ngƣời sáng lập ra chùa này: Các chi tiết này đều sai lầm. Đặc biệt trong những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu về Chùa Dâu một trong những tác giả có nhiều công trình nghiên cứu nhất phải kể đến tiến sĩ sử học Trần Đình Luyện. Cuốn sách thứ nhất: Luy Lâu lịch sử và văn hóa, sở văn hóa thông tin tỉnh Bắc Ninh 1999, cuốn thứ 2 Lễ Hội Bắc Ninh – sở văn hóa thông tin Bắc Ninh 2003. Đặc biệt trong đó phải kể đến cuốn sách: Chùa Dâu và lễ hội rƣớc phật Tứ Pháp- phòng văn hóa thông tin thể thao huyện Thuận Thành 2000. Trong các cuốn sách này tiến sĩ Trần Đình Luyện đã nghiên cứu rất kỹ về truyền thuyết và lễ hội Chùa Dâu nhƣng chủ yếu nhìn theo góc độ sử học, nghĩa là chú ý văn bản ghi chép nhiều hơn là những câu chuyện đƣợc lƣu truyền trong dân gian. Cuốn sách Chùa Dâu – Cổ Châu, Pháp Vân, Diên Ứng Tự tác giả Nguyễn Quang Khải – NXB Tôn giáo năm 2011, tác giả cũng trích dẫn truyền thuyết chùa Dâu dựa theo bản: Cổ Châu pháp Vân bản hạnh. Cuốn sách: Chùa Dâu lịch sử và truyền thuyết, tác giả: Nguyễn Hữu – NXB Thanh niên 2010. Trong cuốn sách này nhà văn Nguyễn Hữu đã viết khá kỹ càng về lịch sử Chùa Dâu, đặc biệt mô tả kỹ lƣỡng về lễ hội Chuà Dâu. Tuy nhiên vấn đề khảo cứu các văn bản liên quan đến truyền thuyết Man Nƣơng chƣa đƣợc chú ý. Nhƣ vậy vấn đề nghiên cứu về truyền thuyết và lễ hội Chùa Dâu chƣa từng đƣợc nghiên cứu một cách hệ thống đặc biệt chƣa chú ý tới những truyền thuyết đƣợc lƣu truyền bằng miệng trong dân gian hay nói cách khác chƣa nghiên cứu dƣới góc độ văn học dân gian. Đề tài này sẽ phát triển kết quả của 12 các công trình nghiên cứu trƣớc đó và mở rộng thêm tầm giá trị của truyền thuyết và lễ hội Chùa Dâu. 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu: 3.1 Đối tƣợng nghiên cứu: Đối tƣợng nghiên cứu và khảo sát là "truyền thuyết và lễ hội Chùa Dâu", Thanh Khƣơng - Thuận Thành - Bắc Ninh. Đề tài tập trung nghiên cứu các truyền thuyết về Chùa Dâu đƣợc ghi chép bằng văn bản và những truyền thuyết đƣợc lƣu truyền bằng miệng trong dân gian. Đặc biệt chúng tôi cũng đồng thời nghiên cứu truyền thuyết về Chùa Dâu dƣới góc độ diễn xƣớng, đấy là lễ hội, để thấy đƣợc hết giá trị của truyền thuyết này. 3.2 Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tìm hiểu, phân tích, đánh giá các giá trị tƣ tƣởng thẩm mỹ của những truyền thuyết về Chùa Dâu, dƣới góc độ khoa học văn học dân gian trên các phƣơng diện: Giá trị tƣ tƣởng qua nội dung phản ánh, ý nghĩa nghệ thuật qua các mô típ cơ bản, ý nghĩa tín ngƣỡng trong tâm thức của ngƣời dân. Để làm đƣợc điều này, theo đặc trƣng thể loại truyền thuyết luận văn có khảo sát các chi tiết lễ hội Chùa Dâu - Thanh Khƣơng - Thuận Thành - Bắc Ninh. 4. Mục đích nghiên cứu: Luận văn là bƣớc tổng hợp mới về những thành tựu nghiên cứu tìm hiểu "truyền thuyết và lễ hội Chùa Dâu". Luận văn đã hệ thống hóa, khảo sát diện mạo "truyền thuyết và lễ hội Chùa Dâu". Trong khuôn khổ của đề tài, ngƣời viết cũng đi vào phân tích, tổng hợp những đặc điểm, nội dung và nghệ thuật của truyền thuyết. 13 Qua đây những truyền thuyết về Chùa Dâu đƣợc xem xét trong mối quan hệ với nghi lễ và lễ hội đƣợc tổ chức ở địa phƣơng. Từ đấy đánh giá khách quan, không suy diễn cảm tính về truyền thuyết và lễ hội Chùa Dâu. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu: Quá trình nghiên cứu đề tài, đã sử dụng một số phƣơng pháp nghiên cứu cơ bản sau: 5.1 Phƣơng pháp thống kê: Luận văn tập hợp các bản kể về "truyền thuyết và lễ hội Chùa Dâu" Xác định số lƣợng các mô típ, các dị bản để rút ra kết luận cụ thể: 5.2 Phƣơng pháp điền dã: Trực tiếp gặp gỡ và trao đổi với những ngƣời hiểu biết về "truyền thuyết và lễ hội Chùa Dâu" Tìm hiểu, sƣu tầm "truyền thuyết và lễ hội Chùa Dâu" qua các địa phƣơng xung quanh "Tổng Dâu" lƣu truyền. Trực tiếp tham dự lễ hội để tìm hiểu về tín ngƣỡng của ngƣời dân. 5.3 Phƣơng pháp so sánh: Đặt các bản kể trong sự đối sánh với nhau. Thông qua sự phân tích cấu trúc của bản kể, so sánh từng bản kể để tìm ra các mô típ giống nhau và khác nhau. Từ đó tìm hiểu ý nghĩa của các mô típ. 5.4 Phƣơng pháp liên ngành: Giữa truyền thuyết và lịch sử có quan hệ với nhau, do đó có thể vận dụng lịch sử đề nghiên cứu. Đặc biệt vận dụng mối quan hệ giữa văn hóa tín ngƣỡng, tôn giáo để lý giải một số vấn đề có liên quan đến đề tài. 14 6. Dự kiến những đóng góp của luận văn: Luận văn là công trình khoa học đầu tiên đi sâu nghiên cứu các vấn đề chính về "truyền thuyết và lễ hội Chùa Dâu" dƣới góc nhìn văn hóa văn học dân gian. Tổng hợp các mô típ về "truyền thuyết và lễ hội Chùa Dâu" và đánh giá dựa trên cơ sở những tiến bộ khoa học nghiên cứu VHGD hiện nay. Lễ hội Chùa Dâu đƣợc khảo tả chi tiết, cụ thể: Phần lễ, phần hội, qua đó để thấy đƣợc mối quan hệ giữa truyền thuyết và lễ hội. Trên cơ sở kế thừa, tham khảo các tài liệu đã nghiên cứu về "Chùa Dâu" luận văn đóng góp một phần nhỏ vào việc bảo lƣu và phát triển vốn văn học dân gian của địa phƣơng nói riêng và dân tộc nói chung. 7. Cấu trúc của luận văn: Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính đƣợc trình bày trong luận văn. Chƣơng I: Tổng quan về đề tài. Chƣơng II: Truyền thuyết về Chùa Dâu. Chƣơng III: Lễ hội Chùa Dâu. 15 B. NỘI DUNG CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI 1. Khái quát về vùng văn hóa Bắc Ninh - Kinh Bắc 1.1 Khái niệm về vùng văn hóa: Văn hóa là một hiện tƣợng xã hội - lịch sử đƣợc các nhà khoa học nghiên cứu và phân định. Trong quá trình hình thành tồn tại và phát triển của mỗi nền văn hóa của một quốc gia hay một cộng đồng dân tộc thƣờng đƣợc hợp thành bởi các vùng văn hóa với những đặc trƣng, sắc thái riêng, làm thành tích, thống nhất và đa dạng của các nền văn hóa. Khái niệm vùng văn hóa là đặc trƣng cho bản sắc riêng của từng vùng dƣới sự thống nhất đó cùng cội nguồn tạo ra bản sắc chung. Nó làm nên tính đa dạng cho bức tranh văn hóa dân tộc. Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, nhiều vùng miền, theo các nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa đã chia nƣớc ta có khoảng từ 7 đến 9 vùng văn hóa. Với những đặc trƣng và sắc thái riêng làm thành tính thống nhất, tạo nên sự đa dạng và phong phú của văn hóa Việt Nam. Việc phân chia vùng văn hóa không căn cứ vào đơn vị hành chính bản đồ mà căn cứ vào quá trình hình thành các vùng không gian văn hóa do những đặc điểm địa lý và điều kiện lịch sử xã hội của mỗi vùng đã hình thành nên các vùng văn hóa. Theo Ngô Đức Thịnh: "Vùng văn hóa là một vùng lãnh thổ có những tƣơng đồng về mặt hoàn cảnh tự nhiên, dân cƣ sinh sống ở đó. Từ lâu đã có mối quan hệ nguồn gốc và lịch sử, có những tƣơng đồng về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, giữa họ đã đƣa ra những giao lƣu, ảnh hƣởng văn hóa qua lại nên trong vùng đã hình thành những đặc trƣng chung, thể hiện trong sinh hoạt văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của cƣ dân, có thể phân biệt với vùng văn hóa khác” [34, tr85]. 16
- Xem thêm -