Tài liệu Tìm hiều việc dùng từ thuần việt và hán việt trong tục ngữ việt nam

  • Số trang: 118 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 2352 |
  • Lượt tải: 1
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

MỤC LỤC MỞ ĐẦU............................................................................................... 1 Chương 1............................................................................................... 3 CƠ SỞ LÝ THUYẾT PHỤC VỤ CHO LUẬN VĂN .............................. 3 1.1. Cách hiểu về tục ngữ ở Việt Nam.................................................... 3 1.1.1 Hiểu về tục ngữ ............................................................................ 3 1.1.2. Phân biệt tạm thời giữa tục ngữ và thành ngữ hiện nay ................. 5 1.2. Cách hiểu về từ ngữ thuần Việt và Hàn - Việt trong luận văn ................8 1.2.1. Từ thuần Việt và nguồn gốc tiếng Việt ......................................... 8 1.2.2. Từ Hán Việt ............................................................................... 13 Chương 2............................................................................................. 23 TÌNH HÌNH SỬ DỤNG TỪ HÁN VIỆT VÀ THUẦN VIỆT TRONG TỤC NGỮ ........................................................................................... 23 2.1. Sơ bộ về đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa của tục ngữ ....................... 23 2.1.1. Cấu trúc của tục ngữ .................................................................. 23 2.1.2. Ngữ nghĩa của tục ngữ………………………………………………26 2.2. Tình hình sử dụng từ Hán Việt và thuần Việt trong tục ngữ Việt trên cứ liệu thu thập tục ngữ Việt…………………………………………………..27 2.2.1. Tình hình sử dụng từ Hán Việt trong tục ngữ Việt ...................... 28 2.2.2. Tình hình sử dụng từ thuần Việt trong tục ngữ Việt.................... 34 2.3. Tiểu kết. ....................................................................................... 42 Chương 3: ............................................................................................. 43 NHẬN XÉT VỀ NÉT VĂN HÓA DÂN TỘC QUA TỪ NGỮ HÁN VIỆT VÀ TỪ NGỮ THUẦN VIỆT TRONG TỤC NGỮ TIẾNG VIỆT (SO SÁNH VỚI TỤC NGỮ TIẾNG HÁN) ....................................................................... 43 3.1. Hiểu biết văn hóa qua từ ngữ Hán Việt và từ ngữ thuần Việt trong tục ngữ ...................................................................................................... 43 3.1.1. Khái niệm văn hóa ..................................................................... 43 4 3.1.2. Quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa. ........................................... 45 3.2. Nét văn hóa dân tộc thể hiện qua từ ngữ thuần Việt trong tục ngữ Viêt 48 3.2.1 Hình ảnh con người được thể hiện qua từ ngữ thuần Việt trong tục ngữ (So sánh với tục ngữ tiếng Hán). ................................................... 48 3.2.2. Hình ảnh giới tự nhiên thể hiện qua từ ngữ thuần Việt trong tục ngữ Việt (So sánh với tục ngữ tiếng Hán). ........................................... 53 3.3. Tiểu kết ........................................................................................ 62 KẾT LUẬN ......................................................................................... 63 TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................... 64 5 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài. Văn hóa và ngôn ngữ có mối liên hệ chặt chẽ và không thể tách rời. Ngôn ngữ là phương tiện chuyên chở văn hóa và văn hóa chứa đựng trong ngôn ngữ. Chính vì vậy người ta đã nói rằng ngôn ngữ là kết tinh của văn hóa dân tộc, nhờ ngôn ngữ và văn tự mà văn hoá mới được lưu truyền. Trong tương lai nền văn hóa luôn nhờ vào ngôn ngữ để phát triển. Do điều kiện tự nhiên khác nhau nên đã tạo cho mỗi vùng đất một lối sống và tư tuy khác nhau. Những yếu tố này, do vậy, góp phần hình thành nền văn hóa riêng của từng vùng đất. Cho nên, mỗi nền văn hóa có nét đặc sắc riêng thể hiên đặc trưng cho mỗi dân tộc. Ngôn ngữ tục ngữ là một loại ngôn ngữ thể hiện phong phú văn hoá dân tộc. Nó không đơn thuần là hình thức tư duy bên ngoài. Nó mô tả cách tư duy trừu tượng trong nhận thức của mỗi dân tộc. Mỗi dân tộc mô tả sự vật khác nhau do họ có nhận thức và cách tư duy khác nhau. Giống như thành ngữ và ca dao, tục ngữ cũng do nhân dân lao động sáng tạo ra. Ngôn ngữ tục ngữ, đó là những câu nói dân gian ngắn gọn, ổn định, có nhịp điệu, hình ảnh, thể hiện kinh nghiệm của nhân dân về mọi mặt (tự nhiên, lao động sản xuất, xã hội). Nó là cách nhân dân vận dụng ngôn ngữ vào trong đời sống hàng ngày, là kết quả suy nghĩ thể hiện trong lời ăn tiếng nói hằng ngày của họ. Vì vậy, đề tài "Tìm hiểu việc sử dụng từ thuần Việt và Hán Việt trong tục ngữ Việt Nam" sẽ giúp người nước ngoài hiểu thêm về văn hoá Việt Nam. Cho nên, là một người Trung Quốc học tiếng Việt, việc tìm hiểu từ ngữ tục ngữ tiếng Việt không chỉ giúp ích rất nhiều cho chúng tôi biết thêm nhiều từ tiếng Việt mà còn giúp cho chúng tôi hiểu biết thêm về văn hóa Việt Nam được thể hiện trong tục ngữ. 2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài. 6 - Về khoa học: Giúp người nước ngoài nhận biết về nguồn gốc lớp từ sử dụng trong tục ngữ Việt Nam. - Về thực tiễn: Giúp cho học viên nước ngoài học tốt tiếng Việt và văn hoá Việt Nam. 3. Phƣơng pháp nghiên cứu Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp miêu tả trong ngôn ngữ học. Để có tư liệu phục vụ cho việc miêu tả, luận văn cũng sẽ sử dụng thủ pháp thống kê để thu thập tư liệu và phân tích so sánh (trong đó có so sánh với tục ngữ tiếng Hán). 4. Tƣ liệu nghiên cứu Tư liệu nghiên cứu là những câu tục ngữ trong một số tác phẩm tục ngữ đã xuất bản ở Việt Nam. Đó là tác phẩm của Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang, Phương Tri (1993), Tục ngữ Việt Nam (in lần thứ 2), Nxb Khoa học Xã hội, H. Còn tục ngữ của Trung Quốc lấy từ Xu Zong Cai, Ying Jun Ling (2004), Từ điểm Tục ngữ (Su Yu Ci Dien), Nxb Quán sách in Thương vụ, Trung Quốc. Từ những câu tục ngữ trên, chúng tôi sẽ thống kê những từ ngữ thuần Việt và Hán - Việt để làm tư liệu miêu tả trong luận văn. 5. Bố cục luận văn Ngoài phần Mở đầu và Kết luận và Phụ lục, luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý thuyết phục vụ cho luận văn Chương 2: Tình hình sử dụng từ thuần Việt và Hán Việt trong một số câu tục ngữ Chương 3: Nét văn hóa dân tộc thể hiện trong tục ngữ tiếng Việt (có so sánh với tục ngữ tiếng Hán) 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT PHỤC VỤ CHO LUẬN VĂN 1.1 Cách hiểu về tục ngữ ở Việt Nam 1.1.1 Hiểu về tục ngữ Tục ngữ là những câu nói hoàn chỉnh, đúc kết kinh nghiệm của nhân dân về thiên nhiên và lao động sản xuất, về con người và xã hội. Tục ngữ thiên về trí tuệ nên thường được ví von là "trí khôn dân gian". Trí khôn đó rất phong phú mà cũng rất đa dạng nhưng lại được diễn đạt bằng ngôn từ ngắn gọn, xúc tích, dễ nhớ, giàu hình ảnh và nhịp điệu. Có thể coi tục ngữ là văn học nói dân gian nên thường được nhân dân vận dụng trong đời sống sinh hoạt, giao tiếp cộng đồng và xã hội hay hẹp hơn như lời ăn tiếng nói và khuyên răn. Với các đặc thù như ngắn gọn, dễ nhớ, giàu hình tượng, giàu nhịp điệu, gần gũi với mọi người mà tục ngữ là một loại hình văn hóa dân gian có mối quan hệ mật thiết nhất với lời ăn tiếng nói của nhân dân. Về nội dung, tục ngữ là những nhận định sau những kinh nghiệm của con người về lao động, sản xuất, về cuộc sống trong gia đình, xã hội. Nội dung ấy vừa phong phú, vừa vững chắc, vì nó đã được đúc kết qua nhiều thế hệ của con người. Ví dụ: Quá mù ra mưa Đông sao thì nắng, vắng sao thì mưa Vỏ quýt dày có móng tay nhọn Cái sảy nảy cái ung Cõng rắn cắn gà nhà Tục ngữ được hình thành từ cuộc sống thực tiễn, trong đời sống sản xuất và đấu tranh của nhân dân, do nhân dân trực tiếp sáng tác. Nó được tách ra từ tác phẩm văn học dân gian hoặc ngược lại; được rút ra tác phẩm văn học bằng con đường dân gian hóa những lời hay ý đẹp hoặc từ sự vay mượn nước ngoài. 8 Giữa hình thức và nội dung, tục ngữ có sự gắn bó chặt chẽ, một câu tục ngữ thường có hai nghĩa: nghĩa đen và nghĩa bóng. Tục ngữ có tính chất đúc kết, khái quát hóa những nhận xét cụ thể thành những phương châm, chân lý. Hình tượng của tục ngữ là hình tượng ngữ ngôn được xây dựng từ những biện pháp so sánh, nhân hóa, ẩn dụ... Đa số các câu tục ngữ đều có vần, gồm 2 loại: vần liền và vần cách. Các kiểu ngắt nhịp thường dựa vào cơ sở: trên yếu tố vần, trên cơ sở vế, trên cơ sở đối ý, theo tổ chức ngôn ngữ thơ ca... Sự hòa đối là yếu tố tạo sự cân đối, nhịp nhàng, kiến trúc vững chắc cho tục ngữ. Hình thức đối: đối thanh, đối ý. Thường thường tục ngữ có thể có 1 vế, chứa 1 phán đoán, nhưng cũng có thể gồm nhiều vế, chứa nhiều phán đoán. Qua các tài liệu sáng tác văn học và trước tác văn học ở Việt Nam, trong tình hình thư tịch như hiện nay, cho phép khẳng định các công trình nghiên cứu về tục ngữ đã bắt đầu xuất hiện ở khoảng đầu thế kỷ XIX, được biên soạn bằng cả chữ Nôm và chữ quốc ngữ. Điển hình là các công trình bằng chữ Nôm như “Nam phong nữ ngạn thi” của Ngô Đình Thái (thế kỷ 19), “Đại nam quốc túy ” của Ngô Giáp Đậu (thế kỷ 19), và một số tác phẩm khuyết danh như “Khẩu sử ký”, “Phong ngôn tục ngữ”,….Các công trình bằng chữ quốc ngữ thì rất phong phú: “Tục ngữ, cổ ngữ, gia ngôn” của Huỳnh Tịnh Của (xuất bản năm 1897), “Sách truyện biến ngôn và tục ngữ thường dùng cùng phép lịch sự” (khuyết danh, năm 1907), “Nam ngạn chính cẩm” của Phạm Quang San (2 tập, năm 1918), “Tục ngữ cách ngôn” của Hàn Thái Dương (năm 1920), “Phong dao, ca dao, phương ngôn, tục ngữ ” của Nguyễn Văn Chiểu (năm 1936),…Đây mới chỉ là các công trình đã được đăng lên báo chí, còn trên thực tế thì số lượng các công trình nghiên cứu về tục ngữ có thể còn nhiều hơn. 9 Công trình sưu tập tục ngữ công phu nhất, có nội dung phong phú nhất trong thời kỳ này phải kể đến “Tục ngữ phong dao” của Nguyễn Văn Ngọc, xuất bản lần đâu năm 1928. Riêng tập 1 của bộ sách này đã giới thiệu khoảng 6500 câu tục ngữ và thành ngữ, cho tới hiện nay ở Việt Nam nó vẫn được coi là một trong những công trình sưu tập tục ngữ Việt Nam có qui mô lớn nhất. Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, có thêm một số các tác phẩm sưu tập, biên soạn tục ngữ có qui mô như tác phẩm của Nguyễn Văn Ngọc, như “Tục ngữ và dân ca Việt Nam” của Vũ Ngọc Phan được xuất bản lần đầu năm 1956, sau đó bộ sách này được đổi tên là “ Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam” vào năm 1971 ở lần in thứ 7, có sửa chữa và bổ sung; một tác phẩm đồ sộ khác là “ Hợp tuyển văn học Việt Nam” tập 1 được xuất bản năm 1972, tác phẩm này đã tuyển chọn giới thiệu 365 câu tục ngữ, v.v... Những cách hiểu về tục ngữ và con số thống kê trên đây đã được ông Chu Xuân Diên trình bảy trong cuốn “Tục ngữ Việt Năm”. Chúng hoàn toàn đồng ý cách hiểu về tục ngữ này, vì cách hiểu này có thể cho người nước ngoài dễ hiểu hơn. Vậy chúng nhờ cách hiểu này làm cơ sở lý thuyết để chúng ta nghiên cứu đề tài của chúng ta. 1.1.2 Phân biệt tạm thời giữa tục ngữ và thành ngữ hiện nay Tất cả các công trình sưu tập trên đã đóng góp vào việc bảo tồn và giới thiệu được một phần quan trọng vốn tục ngữ cổ truyền của dân tộc Việt Nam. Trước tiên quan sát phương pháp biên soạn của các công trình này, hầu hết các tác phẩm giới thiệu trên đây đều không giới thiệu riêng biệt giữa tục ngữ và ca dao, thành ngữ, đặc biệt là không phân biệt với thành ngữ. Tục ngữ và thành ngữ ít khi được người ta xem xét một cách rạch ròi như là hai loại hình sáng tạo dân gian khác nhau, thể hiện rõ nét nhất là phần đông đều quan niệm rằng Tục ngữ và Thành ngữ đều là những hiện tượng ngôn ngữ. Nguyễn Văn Tố trong bài “ Tục ngữ ta đối với tục ngữ Tàu và tục ngữ Tây” [5:19] hầu như không phân biệt tục ngữ và thành ngữ vì ông viết “ …. Tục ngữ là câu thành ngữ 10 nói đã quen trong thế tục, nhiều câu nghĩa lý thâm thúy, ý tứ cao xa; câu nào từ đời xưa truyền lại gọi là ngạn ngữ, cũng có khi gọi là tục ngạn. Nhưng dù là ngạn ngữ, tục ngữ hay tục ngạn thì nghĩa cũng gần giống nhau….” [5:19] Quan niệm mơ hồ, coi tục ngữ cũng như thành ngữ đều là những hiện tượng ngôn ngữ như vậy có liên quan tới khuynh hướng chọn cách trình bày tục ngữ theo những tiêu chí hoàn toàn có tính chất hình thức. Đó là cách trình bày tục ngữ theo trật tự ABC của các chữ cái đầu câu và theo trật tự số chữ ít nhiều của mỗi câu. Những người biên soạn tục ngữ sau đó nhận thấy rằng cách trình bày theo những tiêu chí hoàn toàn có tính chất hình thức chưa phản ảnh được bản chất của tục ngữ; do đó một số người đã tìm đến với cách trình bày tục ngữ theo những tiêu chí nội dung, theo đề tài của tục ngữ. Cách trình bày này ngày càng được các nhà sưu tập, biên soạn tục ngữ Việt Nam áp dụng rộng rãi, chứng tỏ tục ngữ ngày càng được xem xét như là một hiện tượng ý thức xã hội chứ không phải chỉ xem xét như là một hiện tượng ngôn ngữ. Một số ví dụ điển hình như “Tục ngữ ca dao dân ca” của Vũ Ngọc Phan, “Ca dao, ngạn ngữ Hà Nội” của Triệu Dương, Phạm Hòa, Tảo Trang, Chu Hà…. Khuynh hướng xem xét tục ngữ như là một hiện tượng ý thức xã hội không những thể hiện trong cách trình bày của những công trình sưu tập, biên soạn tục ngữ mà còn bộc lộ càng rõ hơn trong lĩnh vực nghiên cứu lý luận về tục ngữ. Và có ý nghĩa hơn cả là những cố gắng đi tìm sự phân biệt giữa tục ngữ và thành ngữ. Trong quá trình đi tìm sự khác nhau giữa tục ngữ và thành ngữ, thì ý kiến của Dương Quảng Hàm trong “Việt Nam văn học sử yếu” xuất bản lần đầu năm 1943 [17] là một trong những ý kiến được chú ý, ông viết “Một câu tục ngữ tự nó phải có ý nghĩa đấy đủ, hoặc khuyên răn hoặc chỉ bảo điều gì; còn thành ngữ chỉ là những lời nói có sẵn để ta tiện dùng mà diễn đạt một ý gì hoặc tả một trạng thái gì cho có màu mè” [17, 15], với cách nói này thì tục ngữ được coi là một hiện tượng ý thức xã hội mà thành ngữ chỉ là một hiện 11 tượng ngôn ngữ. Nhưng Vũ Ngọc Phan vẫn nhận xét rằng định nghĩa như vậy cũng vẫn chưa được rõ lắm, vì chưa đề ra được các tiêu chí cụ thể để phân biệt tục ngữ với thành ngữ. Sau đó, trong “Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam”, Vũ Ngọc Phan đã viết như sau “Tục ngữ: Là một câu tự nó diễn trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lý, có khi là một sự phê phán. Còn thành ngữ: Là một phần câu sẵn có, nó là một bộ phận của câu, mà nhiều người đã quen dùng, nhưng tự riêng nó không diễn được một ý trọn vẹn” [41, tr31]. Ở đây rõ ràng sự phân biệt tục ngữ với thành ngữ được dựa trên hai tiêu chí là: sự khác nhau trong nội dung và kết cấu ngữ pháp của tục ngữ và thành ngữ. Sau đó người ta còn đi sâu hơn nữa trong việc phân tích ranh giới giữa tục ngữ và thành ngữ ở các ngành khoa học khác nhau. Ví như Nguyễn Văn Mệnh trong một bài luận bàn về "Ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ", sau khi phân tích “Về nội dung…thành ngữ giới thiệu một hình ảnh, một hiện tượng, một trạng thái, mộ tính cách, một thái độ,..” còn tục ngữ “…đi đến một nhận định cụ thể, một kết luận chắc chắn, một kinh nghiệm sâu sắc, một lời khuyên răn, một bài học về tư tưởng, đạo đức….” và sau đó tác giả kết luận: "Có thể nói nội dung của thành ngữ mang tính chất hiện tượng, còn nội dung của tục ngữ nói chung là mang tính chất qui luật. Từ sự khác nhau cơ bản về nội dung dẫn đến sự khác nhau về hình thức ngữ pháp, về năng lực hoạt động trong chuỗi lới nói….Về hình thức ngữ pháp, mỗi thành ngữ chỉ là một cụm từ, chưa phải là một câu hoàn chỉnh. Tục ngữ thì khác hẳn. Mỗi tục ngữ tối thiểu là một câu”.[39, 13] Thế nhưng đầu năm 1973, cũng trên Tạp chí Ngôn ngữ, Cù Đình Tú lại thử đưa ra một cách lý giải mới về sự phân biệt giữa tục ngữ và thành ngữ. Theo ông thì những ý kiến của Nguyễn Văn Mệnh vẫn chưa thật xác đáng vì “.. xét về nội dung thì tục ngữ cũng như thành ngữ đều là sự đúc kết kinh nghiệm, là kết tinh trí tuệ của quần chúng, đều từ sự khái quát hóa hiện thực 12 để rút ra bản chất qui luật mà có”. Theo ông thì cần phải có một tiêu chí khác để xác định ranh giới giữa hai loại hình này: “Thành ngữ là một hiện tượng ngôn ngữ. Tục ngữ xét về một mặt nào đó cũng là một hiện tượng ngôn ngữ. Giải quyết các hiện tượng ngôn ngữ cần phải dựa vào những căn cứ ngôn ngữ học. Một trong những thành tựu của ngôn ngữ học hiện đại là chỉ ra sự khác nhau và mối quan hệ giữa kết cấu và chức năng. Theo chỗ chúng tôi suy nghĩ, sự khác nhau cơ bản giữa thành ngữ và tục ngữ là sự khác nhau về chức năng... ” [51, 39-40] . Cách lý giải và những tiêu chí trong bài Góp ý kiến về phân biệt thành ngữ với tục ngữ đưa ra, là một đóng góp mới trong quá trình nhận thức ngày càng sâu sắc về bản chất của tục ngữ và thành ngữ. Cách lý giải này đứng ở góc độ của ngành ngôn ngữ học để giải quyết vấn đề, cho nên ta lấy lý giải này làm cơ sở cho sự phân biệt thành ngữ với tục ngữ: đó là những sự khác nhau về cấu tạo ngữ pháp và về vị trí trong lời nói của thành ngữ và tục ngữ. 1.2 Cách hiểu về từ ngữ thuần Việt và Hán -Việt trong luận văn Việt Nam và Trung Quốc có quan hệ bền vững, mật thiết từ xa xưa. Đất nước Việt – Trung gắn liền với nhau, văn hóa giao lưu không ngừng tạo nên nền tảng văn hóa giống nhau. Ngôn ngữ là phương tiện chuyên chở văn hóa và văn hóa chứa đựng trong ngôn ngữ. Nhưng tại sao kho từ vựng tiếng Việt có tỷ lệ từ Hán – Việt rất lớn và nền văn hóa Việt Nam có những nét giống nhau với Trung Quốc, trong khi đó tiếng Việt không cùng nguồn gốc với tiếng Hán? 1.2.1 Từ thuần Việt và nguồn gốc tiếng Việt Về vấn đề nguồn gốc tiếng Việt. Từ xưa đến nay có rất nhiều ý kiến khác nhau về nguồn gốc của tiếng Việt. - Đầu tiên phải nói đến ý kiến của Taberd. Ông cho rằng tiếng Việt có nguồn gốc từ tiếng Hán. Bởi trong vốn từ vựng tiếng Việt thì có tới 75% là có gốc Hán. Thế nhưng 75% vốn từ gốc Hán đấy, khi đi vào ngôn ngữ Việt thì nó đã bị Việt hóa. Vậy nên quan điểm này chưa chính xác. Yếu tố Hán trong 13 tiếng Việt chỉ mang tính chất vay mượn chứ không có ý nghĩa là nguồn gốc. Vậy nên quan điểm này không chính xác [7,68-69] - Quan điểm thứ hai cho rằng tiếng Việt thuộc họ ngôn ngữ Nam Đảo. Tuy nhiên quan điểm này cũng chưa được chứng minh chặt chẽ. Nó chỉ mang tính giả thiết [7,73-78]. - Ý kiến thứ ba cho rằng tiếng Việt là một ngôn ngữ thuộc họ ngôn ngữ Thái. Bởi vì về mặt từ vựng, ngữ pháp và thanh điệu tiếng Việt với tiếng Thái đều có sự tương ứng như nhau. Khác với các ngôn ngữ Mon-Khmer tiếng Việt và tiếng Thái có nhiều thanh điệu, về mặt ngữ pháp có giá trị hình thái học. Ý kiến này được Henry Maspéro đề xuất vào đầu thế kỉ 20, và trong một thời gian dài, nó đã chi phối quan niệm về phân loại nguồn gốc ngôn ngữ của các nhà ngôn ngữ trên thế giới. Tuy nhiên, những luận điểm của trên của Maspéro không phải là không có hạn chế. Và những hạn chế đó sau này đã được A.G. Haudricourt chỉ ra một cách thuyết phục qua hai bài báo được ông lần lượt công bố vào năm 1953 và 1954 mang tựa đề: “Về nguồn gốc Nam Á của tiếng Việt” và “Về nguồn gốc các thanh trong tiếng Việt” [7,92-105]. Họ Nam Á là một họ ngôn ngữ khá lớn, bao gồm những ngôn ngữ được phân bố trên một khu vực rộng lớn, bao gồm phần đông bắc Ấn Độ, một phần Miến Điện, vùng Nam Trung Quốc, một phần Malaixia, phần lớn Cămpuchia và phần lớn Việt Nam. - Qua hai bài báo của mình A.G. Haudricourt đã chứng minh và khẳng định nguồn gốc tiếng Việt thuộc họ Nam Á bằng những lập luận chặt chẽ về từ vựng, ngữ pháp và thanh điệu. Trong sách “Giáo trình lịch sử tiếng Việt (sơ thảo)” của GS.TS Trần Trí Dõi, [7, 105-111], ông cho biết lập luận về nguồn gốc tiếng Việt của A.G. Haudricourt được bổ sung và khẳng định. Ngoài ra những lý do khẳng định mà GS.TS Trần Trí Dõi, ông còn cho thêm lý giải vấn đề sâu sắc hơn về từ vựng cơ bản và phụ tố cấu tạo từ. 14 Cụ thể, về từ vựng A.G. Haudricourt đã chứng minh tiếng Việt thuộc nhóm Mon-Khmer bằng khảo sát lớp từ vựng cơ bản. Và bác bỏ khái niệm nguồn gốc Thái mà H. Maspéro đã đề nghị trước đó. Theo ông yếu tố Thái trong tiếng Việt cũng chỉ mang tính chất vay mượn từ vựng. GS.TS Trần Trí Dõi tiếp tục bổ sung “cũng đều đã chứng minh hoặc nhận thấy rằng trong vốn từ tiếng Việt, những từ cơ bản có nguồn gốc Môn-Khmer có số lượng nhiều hơn. Hơn nữa, những từ này đều tương ứng theo những nhóm trọn vẹn và đều đặn về mặt ngữ nghĩa…” [7:107]. Những ý kiến do các nhà nghiên cứu khác như S.E Yakhontov, M. Ferlus, Nguyễn Tài Cẩn v.v. đều khẳng định như thế về nguồn gốc tiếng Việt. Về mặt ngữ pháp có thể nhận thấy rõ ràng là tiếng Việt cấu tạo từ bằng phương thức phụ tố. Ví dụ : giết – chết: kchết xát hoá > giết Và đặc biệt quan trọng là vấn đề thanh điệu. Như ở trên chúng ta đã đề cập đến lập luận của Henry Maspéro. Cho rằng thanh điệu của tiếng Việt với tiếng Thái và tiếng Hán có nhiều thanh điệu giống nhau. Khác với các ngôn ngữ Mon-Khmer. Nhưng A.G. Haudricourt lại cho rằng thanh điệu chưa nói lên điều gì về nguồn gốc. Bởi hệ thống thanh điệu có thể xuất hiện, có thể mất đi trong lịch sử của một ngôn ngữ. Bởi cũng có những ngôn ngữ có thanh điệu như nhau, thậm chí ngữ pháp cũng giống nhau đến lạ kì như một số ngôn ngữ ở Đông Nam Á và Tây Phi nhưng tuyệt đối rõ ràng là những ngôn ngữ này không phải là họ hàng. Theo Haudricourt, “thanh điệu tiếng Việt là một hiện tượng mới có”, nói cách khác, trước đây tiếng Việt cũng là một ngôn ngữ không có thanh điệu và hiện nay nó là một ngôn ngữ có thanh điệu giống như các ngôn ngữ Thái. Chính vì điều này mà Haudricourt đã chứng minh được rằng, về nguồn gốc, tiếng Việt tương tự như các ngôn ngữ Mon-Khmer: 15 Đến ngày nay, vẫn còn nhiều dấu vết về mối quan hệ họ hàng gần gũi giữa tiếng Việt với nhóm tiếng Mon-Khmer ở dọc Trường Sơn, ở miền Tây Nguyên, ở trên đấy Campuchia, Miến Điện (Mianma)... Rõ nhất là những dấu vết trong lớp từ cơ bản, tức là những từ thông thường đã có từ lâu đời. Ví dụ: Trong tiếng Việt, có từ tay thì từ tương đương trong tiếng Mường nghe như "thay"; tiếng Ba Na, tiếng Mơ Nông, nghe như "ti"; trong tiếng Môn, tiếng Khmer, nghe như "tai"... Chúng ta có thể nhận thấy tiếng Việt tuy đã được các nhà nghiên cứu xếp vào nhiều họ ngôn ngữ khác nhau nhưng kết luân cuối cùng tiếng Việt là một ngôn ngữ Nam Á. Điều này cho thấy các ngôn ngữ trong khu vực, trong quá trình phát triển, có sự tiếp xúc và vay mượn của nhau rất nhiều. Sau khi xác định nguồn gốc tiếng Việt, chúng ta tiếp tục tìm hiểu về khái niệm từ thuần Việt. Lớp từ thuần Việt là cốt lõi của từ vựng tiếng Việt. Nó làm chỗ dựa và có vai trò điều khiển, chi phối sự hoạt động của mọi lớp từ khác. Như vậy, từ thuần Việt phải là những từ gốc Nam Á. Nhưng nếu coi từ thuần Việt gồm cả những từ là kết quả của quá trình tiếp xúc, tác động lâu dài giữa các ngôn ngữ Nam Á và Tày - Thái thì các từ này hình thành nên một lớp từ vựng cơ bản và lâu đời nhất trong tiếng Việt, có thể chia ra như sau: Những từ tương ứng với tiếng Mường như: đuôi, móng, mồm, sừng...; cô gái, đàn ông, vợ, chồng...; cây, củ, cơm, mả...; bí, cỏ, chuối, hành..., bướm, cáo, cầy, chuột...; bẩn, cay, chậm, dài...; ăn, bơi, cấy, chạy... Những từ tương ứng với các tiếng Tày-Thái như: bánh, bóc, buộc, đường, gọt, ngắt, ngọn, rẫy, vắng... Những từ tương ứng với các tiếng Việt-Mường và Tày-Thái như: bão, bể, dao, gạo, ngà voi, sống... Những từ tương ứng với nhóm Việt-Mường và Bru ở tây Quảng Bình: bụng, bốc, bớt, củi, đêm, mặt trăng, mặt trời, núi, rắn, chuột... 16 Những từ tương ứng với nhóm Việt-Mường và Môn-Khơme ở Tây Nguyên: dốc, đèo, khói, mây, mưa, rừng, sấm...; da, đầu gối, mỡ, người, óc, tim, thịt...; bố, bọn, mày, mẹ, nó...; bếp, cày, chổi, cuốc, ruộng...; bịt, bóp, bú, bưng, cắn, cắt, đứng, gãi, hét, lắc, mặc, nghĩ, ngồi, phá, quăng, ôm, rụng, tát, về, xé... Những từ tương ứng với nhóm Việt-Mường và các ngôn ngữ MônKhơme nói chung: một, hai, ba, bốn, năm...; con, cháu, mọi, người; đất, đá, gió, lửa...; cằm, chân, cổ, lưng...; bay, cắt, đẻ, kẹp, liếc...; ao, cá, chim, lá...; cong, già, mới, ngát. Với việc nghiên cứu từ thuần Việt, GS.TS Trần Trí Dõi đi vào chi tiết hơn, cụ thể hơn trong một bài viết gần đây. Quan niệm ông nêu ra đã thống nhất những quan niệm nghiên cứu trước đây. Chúng tôi nhờ cách quan niệm này để làm cơ sở lý luận và muốn nhấn mạnh hơn vào cái tiêu chí “thái độ của người Việt”. Bởi vì, thật khó để chúng ta phân biệt được thế nào là một từ thuần Việt nếu không dựa vào cảm quan của người bản ngữ. Trên thực tế, xử lý tư liệu sẽ có một số trường hợp mà nếu xét một cách nghiêm ngặt thì đó là từ ngoại lai (gốc Hán chẳng hạn) nhưng trong quá trình sử dụng chúng gần gũi với người Việt, được người Việt coi như từ gốc, từ thuần Việt. Chính vì thế, trong luận văn này chúng tôi coi những từ thuần Việt có trong tục ngữ là những từ thuộc một bên thứ nhất của sự phân biệt thuần Việt và vay mượn. Phần vay mượn, như chúng tôi sẽ trình bày sau, có chỉ có vay mượn từ tiếng Hán (Hán Việt), vay mượn từ những ngôn ngữ châu Âu (gốc châu Âu). Lý do là đối với nhiều người, những từ vay mượn từ tiếng Hán (Hán Việt), vay mượn từ những ngôn ngữ châu Âu được nhận diện cụ thể và dễ dàng hơn. Như vậy, rất có thể những vay mượn từ những ngôn ngữ Thái, Nam Đảo trong tục ngữ Việt (thậm chí những từ gốc Hán không phải Hán Việt), do bình thường rất khó nhận thấy và lại được sử dụng lâu đời trong tiếng Việt nên tạm thời vẫn được xếp vào bên từ thuần Việt. Chúng tôi chọn 17 cách làm việc như vậy tuy chưa được triệt để nhưng dễ làm việc trong luận văn này. Theo cách làm như vậy, trong những câu tục ngữ: Quá mù ra mưa Đông sao thì nắng, vắng sao thì mưa Vỏ quýt dày có móng tay nhọn không thấy có những từ Hán Việt và gốc châu Âu nên được coi là những từ thuần Việt. 1.2.2 Từ Hán Việt Trên thực tế, hầu như không có từ vựng của ngôn ngữ nào lại chỉ hình thành, xây dựng bằng con đường "tự nó". Trong những ngôn ngữ được sử dụng khá rộng rãi trên thế giới như tiếng Nga, tiếng Anh, tiếng Pháp... người ta vẫn có thể thấy hàng loạt từ ngữ mà chúng vay mượn, hoặc vốn có nguồn gốc từ ngôn ngữ khác. Tiếng Việt hiện tại cũng vậy. Như thế, điều mà người ta có thể dễ thấy nhất ở đây là nổi lên đường phân giới giữa hai lớp từ ngữ: lớp từ bản ngữ (còn gọi là lớp từ thuần) và lớp từ có nguồn gốc khác, xa lạ (còn gọi là lớp từ ngoại lai). Phân tích qua tiếng Việt, ta sẽ rõ điều đó. Ở từ vựng tiếng Việt, như đã nói ở trên, lớp từ ngoại lai được phân thành hai lớp nhỏ hơn: lớp các từ ngữ gốc Hán (chủ yếu là Hán Việt) và lớp các từ ngữ gốc châu Âu (dường như chủ yếu là gốc Pháp). Trong luận văn này, nhiệm vụ của chúng tôi là tìm hiểu lớp từ Hán Việt, một bộ phận của những từ gốc Hán nên chúng tôi chỉ trình bày cách hiểu của chúng tôi về lớp từ vay mượn này. Do đó chúng tôi sẽ không trình bày bộ phận vay mượn từ ngữ gốc châu Âu trong tục ngữ tiếng Việt. 1.2.2.1 Những khái niệm liên quan đến từ gốc Hán Trước hết, để hiểu đầy đủ về khái niệm từ gốc Hán trong tiếng Việt, chúng ta không thể không nhắc tới một loạt các khái niệm quan trọng trong tiếp xúc ngôn ngữ Việt – Hán. Những khái niệm này cần được phân biệt rõ 18 ràng vì nó giúp chúng ta hiểu đúng bản chất của từ Hán Việt. Những khái niệm đó là cách đọc Hán Việt, yếu tố gốc Hán, âm Hán Việt, âm Hán Việt cổ, âm Hán Việt Việt hoá, từ Hán Việt v.v. Trước hết là các khái niệm cách đọc Hán Việt, âm Hán Việt, âm Hán Việt cổ, âm Hán Việt Việt hoá v.v. Đây là những khái niệm nói về ngữ âm (âm đọc) các từ gốc Hán. Theo Nguyễn Tài Cẩn trong công trình nghiên cứu “Nguồn gốc và quá trình hình thành tiếng Việt” thì “Cách đọc Hán Việt là nói đến cái vỏ ngữ âm mà người Việt gán cho hệ thống văn tự Hán, bất luận những chữ được đọc đó là những chữ như thế nào: những chữ ghi những tiếng đã được du nhập vào trong tiếng Việt như: tuyết (雪), học (学), cao (高), tuy (虽), hay những chữ không liên quan gì với tiếng Việt như: chẩm (怎), giá (架)” [1, 20]. Qua quan niệm trên, có thể hiểu rằng cách đọc Hán Việt là cách xử lý về ngữ âm mà người Việt dùng để đọc mọi chữ Hán, bất kể là những chữ gì, có nghĩa hay không có nghĩa trong tiếng Việt. Phần ngữ âm cụ thể của cách đọc Hán Việt đó được gọi là âm Hán Việt. Tuy nhiên, cũng theo Nguyễn Tài Cẩn, quan niệm về cách đọc Hán Việt như thế là một quan niệm không đầy đủ. Về bản chất nó phức tạp hơn nhiều và liên qua đến những khái niệm khác, trong đó có khái niệm yếu tố gốc Hán vì còn có những cách đọc chữ Hán khác không phải là cách đọc Hán Việt (như âm Hán Việt cổ, âm Hán Việt Việt hoá [1, 20] . Chính vì thế, theo Nguyễn Tài Cẩn, cách đọc Hán Việt “là một cách đọc bắt nguồn từ tiếng Hán đời Đường và cụ thể là Đường âm dạy học ở Giao Châu vào giai đoạn thế kỉ VIII, IX nhưng … đã bị biến dạng đi dưới tác động của quy luật ngữ âm và ngữ âm lịch sử tiếng Việt, tách xa hẳn cách đọc của người Hán để trở thành một cách đọc riêng biệt của người Việt và những người thuộc khu vực văn hóa Việt” [1,19]khảo sát chắc chắn. 19 Như vậy, cách đọc Hán Việt là một sản phẩm của sự tiếp xúc giữa tiếng Việt và tiếng Hán, là một sáng tạo của người Việt trong cách thức tác động làm biến đổi hàng loạt các từ mượn Hán về mặt ngữ âm. Về cơ bản, hệ thống ngữ âm Hán Việt vẫn mang những nét chung của hệ thống ngữ âm tiếng Hán đời Đường nhưng những bộ phận không phù hợp với ngữ âm tiếng Việt đã bị biến đổi. Sự biến đổi này diễn ra ở cả hệ thống phụ âm, hệ thống vần và thanh điệu Hán và chúng biến đổi một cách có quy luật. Công trình nghiên cứu của GS Nguyễn Tài Cẩn đã cho ta thấy rõ tình trạng đó. Có thể nói, một trong những đặc điểm nổi bật nhất về ngữ âm của các từ Hán Việt là chúng biến đổi một cách có hệ thống và nhất quán. Trong vốn từ tiếng Việt, các từ ngữ tiếp nhận của tiếng Hán đọc theo âm Hán Việt là lớp từ Hán Việt và là bộ phận chủ yếu trong các từ ngoại lai của tiếng Việt. Thứ đến là khái niệm yếu tố gốc Hán trong tiếng Việt. Đây là khái niệm thường dùng để chỉ những yếu tố có nguồn gốc từ tiếng Hán. Mỗi yếu tố này, trong tiếng Hán là một tự vuông, trong tiếng Việt là một chữ (thường là một âm tiết). Đây là một số lượng hữu hạn chứ không phải toàn bộ hệ thống những chữ Hán được sử dụng trong tiếng Việt. Như vậy, khi nói về cách đọc Hán Việt là nói về ngữ âm; còn khi nói về yếu tố gốc Hán là nói về yếu tố cấu tạo từ trong từ vựng hay ngữ pháp có nguồn gốc Hán trong tiếng Việt. 1.2.2.2. Từ Hán Việt. Khi nghiên cứu về từ ngoại lai của tiếng Việt, GS. TS Nguyễn Văn Khang nói như sau: “Từ ngoại lai trong tiếng Việt, cụ thể là từ mượn Hán (gồm từ Hán Việt, từ Hán Việt cổ, từ Hán Việt Việt hóa, từ Hán Việt phỏng âm phương ngữ Hán).” [35, 7] Như vậy, theo ông trong những từ gốc Hán trong tiếng Việt có một bộ phận là từ Hán Việt. Đây là những từ gồm những yếu tố cấu tạo từ có cách đọc Hán Việt (tức ngữ âm Hán Việt). Lớp từ này được chia ra thành: 20 a. Những từ Hán Việt được tiếp nhận từ đời Đường và các triều đại tiếp theo cho đến ngày nay. Do có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp một cách lâu dài với tiếng Hán nên tiếng Việt đã tiếp nhận có hệ thống một khối lượng to lớn các từ ngữ của tiếng Hán thuộc đủ mọi lĩnh vực hoạt động. Các từ gốc Hán nói chung và từ Hán Việt nói riêng, có vị trí rất đặc biệt trong từ vựng tiếng Việt. Chúng có số lượng rất lớn và năng lực sản sinh rất mạnh. Chúng gia nhập vào mọi lĩnh vực giao tiếp của đời sống người Việt: chính trị, văn hoá, khoa học, kĩ thuật, quân sự, ngoại giao, y tế, pháp luật... Điều này không có gì lạ, bởi vị trí và quá trình tiếp xúc lâu đời giữa tiếng Hán với tiếng Việt tất dẫn đến kết quả đó. Chẳng hạn như : - Chính trị : thượng đế (上帝), hoàng thượng (皇上), triều đình (朝 廷), giám sát (监察), áp chế (压制), bá chủ (霸主), bá quyền (霸权), bá tước (霸爵) v.v - Kinh tế : công nghiệp (工业), nông nghiệp (农业), thương mại (商卖), nội thương (内商), ngoại thương (外商), xuất khẩu (出口), nhập khẩu (进口), năng xuất (能效), thặng dư (剩余), giá trị (价值), lợi nhuận (利润)… - Văn hóa giáo dục : khoa cử (科举), văn chương (文章), âm luật (音律 ), thất ngôn (七言), bát cú (八句), trạng nguyên (状元), bảng nhãn (榜眼), thủ khoa (首科), cử nhân (举人), tú tài (秀才)… - Quân sự : chiến trường (战场), anh dũng (英勇), cảnh giới (警戒), xung phong (冲锋), xung đột (冲突), đô đốc (都督), chỉ huy (指挥), tác chiến (作战), ấn ngữ (印语)… 21 - Tư pháp : nguyên cáo (原告), bị cáo (被告), cáo trạng (告状), trạng sư (状师), xử tử (处死), án sát (案杀), án tử (案死), thẩm phán (审判), truy tầm (追寻), áp giải (押解), ân xá (恩舍)… - Y học : viêm nhiệt (炎热), thương hàn (伤寒), thời khí (时气), chướng khí (胀气), thương tích (伤迹), bệnh nhân (病人), bệnh viện (病院) v.v Đối với các từ tiếp nhận kiểu này cần phân biệt có hai tiểu loại nhỏ khác nhau : a.1. Những từ tiếng Việt trực tiếp nhận của tiếng Hán. Loại từ này chiếm tuyệt đại đa số các từ Hán Việt, và nghĩa của những từ Hán Việt này có quan hệ với nghĩa gốc của các từ Hán tương ứng. Chẳng hạn như : +) anh là chúa các loài hoa, hùng là chúa các loài thú => anh hùng cũng có nghĩa là người hào kiệt xuất chúng. +) bá là kẻ xưng hùng, quyền là cầm đầu một nước => bá quyền có nghĩa là quyền lực mà một nước tự cho là mình có thể đi thoogns trị nước khác. a.2. Những từ tiếng Việt tiếp nhận của các ngôn ngữ khác thông qua tiếng Hán. Một số từ của ngôn ngữ khác khi du nhập vào Việt Nam có sự biến chuyển về âm đọc theo cách đọc của tiếng Hán. Ví dụ như : Mátcơva => Mạc Tư Khoa. Montesquieu => Mạnh Đức Tư Cưu. Italia => Ý Đại Lợi. Philippin => Phi Luật Tân. b. Những từ Hán Việt được cấu tạo ở Việt Nam 22 Nhiều yếu tố Hán Việt du nhập vào Việt Nam từ rất lâu nên chúng đã trở thành một phần của từ vựng tiếng Việt. Người Việt đã dùng những yếu tố này làm chất liệu để cấu tạo nên những từ mới theo cách của người Việt. Do đó sẽ không thể tìm được từ tương ứng với nó trong vốn từ vựng của tiếng Hán hiện nay. Trong những từ tạo này, theo Nguyễn Thiện Giáp trong [14], có thể phân làm 2 loại nhỏ sau : b.1. Những đơn vị đều do các yếu tố gốc Hán tạo thành. Ví dụ : Tiếng Việt An tri Tiếng Hán 安知 Câu cấm 拘禁 Đại đội 大队 Liên Náo động 闹动 连 Tao động 骚动 b.2. Những đơn vị do các yếu tố gốc Hán (có thể là Hán Việt, có thể là cổ Hán Việt v.v ) kết hợp với các yếu tố thuần Việt tạo thành. Trong những đơn vị này thường một yếu tố là gốc Hán (Hán Việt, cổ Hán Việt), một yếu tố là thuần Việt. Ví dụ : binh (兵) lính, cướp đoạt(夺), đói khổ(苦), kẻ địch(敌, súng trường(长), tàu hỏa(火), tàu thủy(水) …. 1.2.2.3. Từ Hán Việt cổ. Từ Hán Việt cổ hay cũng được gọi là cổ Hán Việt. Trong tiếng Việt có một số từ gốc Hán du nhập vào Việt Nam trước đời Đường và người Việt đã đọc những từ này theo âm tiếng Hán thuộc giai đoạn ấy. Vì thế có thể hiểu rằng từ Hán Việt cổ là những từ gốc Hán được người Việt đọc theo cách đọc tiếng Hán trước đời Đường. Vì đi vào tiếng Việt đã lâu, đã được đồng hoá rất mạnh, nên những từ này hiện nay nói chung không còn cái vẻ xa lạ đối với 23
- Xem thêm -