Tài liệu Tiểu luận phân tích kinh tế việt nam

  • Số trang: 81 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 74 |
  • Lượt tải: 0
transuma

Tham gia: 03/08/2015

Mô tả:

Tiểu luận Phân tích kinh tế Việt Nam 1 TỪ VIẾT TẮT Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) Ủy ban An toàn thực phẩm Liên minh châu Âu (UBATTPLMCA) Xã hội chủ nghĩa (XHCN) Chủ nghĩa xã hội (CNXH) Hợp tác xã (HTX) Ngân sách nhà nước (NSNN) Ngân hàng nhà nước (NHNN) Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Ủy ban t hường vụ quốc hội (UBTVQH) Ngân hàng thế giới (WB) Ủy ban chứng khoán nhà nước (UBCKNN) Các chỉ số của Việt Nam (VN_Index) Tổ chức thương m ại thế giới (WTO) Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) 2 KINH TẾ VIỆT NAM Đẩy m ạnh công n ghiệp hoá, hi ện đại hoá và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội ch ủ n ghĩa nhằm hướn g đến mục tiêu tăng trưởng v à phát triển bền v ữn g đan g là vấn đề được sự quan tâm của toàn xã hội. Để rút ra kinh nghiệm và chứng minh tính đúng đắn trong v iệc lựa chọn hệ thống,thể chế chính sách phát triển kinh tế hiện nay của Đảng và Nhà nước, nhóm chún g em tiến hành tổng thuật lại quá trình phát triển nền kinh tế Việt Nam qua các thời kỳ. Khái quát lịch sử phát triển đất nước, nền kinh tế Việt Nam có thể đuợc phân chia thành các thời kỳ sau: A. Kinh tế Việt Nam thời kỳ phong kiến B. Kinh tế Việt Nam thời kỳ Pháp thuộc (1858_1954) - Giai đoạn thực dân pháp thống trị 1958_1945 - Giai đoạn kháng chiến chống pháp (1946_1955) C. Kinh tế Việt Nam thời kỳ đất nước bị chia cắt(1955_1975) D. Kinh tế Việt Nam thời kỳ 10 năm đầu sau kh i đất nước được thống nhất(1976_1985) Giai đoạn 1976_1985: Thời kỳ khủng hoảng kinh tế E. Kinh tế Việt Nam thời kỳ đổi mới(1986_nay) - Giai đoạn 1986_1990: Thời kỳ đổi mới kinh tế - Giai đoạn 1991_1995: Thời kỳ tăng tốc - Giai đoạn 1996_2002:Thời kỳ tăng trưởng chậm - Giai đoạn 2003_nay:Thời kỳ hội nhập F. Kết luận 3 A. Kinh tế Việt Nam thời kỳ phong kiến I.KINH TẾ THỜ I KỲ PHO NG KIẾN HÓ A ( 179 TRƯỚ C CÔ NG NGUYÊN - 938 ) Từ năm 179 trước công n guy ên đến năm 938 là thời kỳ phong kiến Trung Quốc đô hộ Việt Nam. Đây cũng là thời kỳ xã hội Việt Nam bước trên con đường phong kiến hóa. Quá trinh này diễn ra trong bối cản g lịch sử khá đặc biệt, chính sách nô dịch và bóc lột của phong kiến Trun g Quốc là m ột trở lực trên con đườn g phát triển của xã hội Việt Nam, nhưn g do kế thừa nhữn g thành tựu văn hóa v ật chất thời đại Hùn g Vương, c ùn g với quá trình đấu tranh chốn g đồng hóa dân tộc, đấu tranh chốn g áp bức để phát triển sản xuất đã m ở ra những chuyển biến trong nền kinh tế dân tộc. 1.Chính sách nô dịch và bóc lột của phong kiến Trung Q uốc Trải qua hơn nghìn năm bắc thuộc, nh iều tập đoàn phong kiến Tr un g Quốc như: Triệu, Hán. Ngô, Tùy …..thay nhau thống trị Việt Nam , Phong kiến Trun g Quốc đã ch ia nước ta thành các đơn vị hành chính châu, quân, h uy ện. Lúc đầu phạm vi thống trị của chúng chỉ dừn g lại ở châ u, quận. Dưới đố, chinh quyền đô hộ đã thông qua tầng lớp trên trong xã hội Việt Nam , nhữn g lạc hầu, lạc tướn g để thực hiện nô dịch và bóc lột nhân dân ta. Trong thời gian này, nh ững phong tục và luật lệ truyền thốn g của n gười Việt vẫn được duy trì. Nhưn g từ năm 43 sau công n guyên, kh i cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng thất bại, phong kiến trun g quốc đã mở rọn g ách đô hộ. Ch ún g cử quan lại n gười Hán san g Việt Nam cai trị tới cấp huyện. Bên cạnh đó, phong k iến trung quốc tăn g cườn g chinh sách đồng hó a dân tộc với vi ệc du nhập phon g tục, văn hóa trung Quốc vào Việt Nam , nhưng cư dân người hán cũng được đưa sang sinh sống ở Việt Nam … Khi nhà Đườn g thống trị Việt Nam từ năm 622, chúng tăng cườn g can thiệp vào làn g xã với tư cách là tế bào kinh tế - x ã hội cơ sở. Những đơn vị hành chính cơ sở được nhà Đườn g thiết lập như tiểu hươn g có từ 70 đến 130 hộ, đại hương từ 160 đến 540 hộ, tiểu x ã từ 10 đến 30 hộ, đại x ã từ 40 đến 60 hộ. Như vậy, âm mưu của nhà Đườn g nhằm hủy bỏ tính tự trị của làn g xã Việt Nam để mở rộng nô dịch bóc nột và thực hiện đồn g hóa dân tộc đã thể hiện rõ nét hơn. Nhìn chun g, t rong suốt thời kỳ thống trị Việt Nam, sự xâm phạm của chính quyền đô hộ vào làn g x ã Việt Nam gặp nhiều khó khăn. Làn g x ã theo đúng nghĩa vẫn là “ bầu trời riêng của người Việt Nam”, ở đó vẫn bảo lưu, giữ vững những phon g tục tập quán và sức mạnh truyền thống của dân tộc. Trên thực tế, khả năng tự vệ của làn g xã đã phá vỡ âm mưu đồng hóa dân tộc của phong kiến Trung Quốc ở nước ta. 4 Tiến hành đồng thời với sự nô dịch về chính trị, phong kiến Trung Quốc còn m ở rộng hoạt độn g khai thác bóc lột ở Việt Nam. Hoạt động n ày biểu hiện dưới nhi ều hình thức khác nha u m à nội dun g c ủa nó m ang tính chất nô dịch, cưỡng bức và phong kiến nông nô. T rong nh ữn g hình thức bó c lột của phon g kiến trung quốc thì bóc lột bằng hình thức cống lạp được coi l à hình thức chủ yếu.Đồ vật cống nạp là các lo ại lâm thổ sản quý như ngà voi, sừn g tê giác, trầm hương và nhữn g sản phẩm thủ công đặc sắc nh ư đồ gỗ mỹ nghệ vàn g bạc, đồ khảm xà cừ…Hình thức bóc lột băn g cống nạp luôn tăng lên theo nhu cầu và khả năng bóc lột của chính quyền phong kiến đô hộ. Bên cạnh hình thức bóc lột bằn g cống nạp, chính quyền phong kiến đô hộ còn thực hiện bóc lột thông qua tô thuế, lao dịch ở Việt Nam . Sau khi đặt ách thống trị, về danh n gh ĩa toàn bộ đất đai của nước ta thuộc về hoàn g đế Trun g Quốc. Do vậy, n gười dân c ấy ruộn g côn g phải nộp tô cho chính quyền đô hộ. Thời nhà Đườn g, nhân dân cày ruộng mỗi năm nộp hai tạ lúa. Thời kỳ phong kiến Trung Quốc đô hộ, hai m ặt hàng chủ yếu trong đời sốn g nhân dân là muối và sắt do chính quyền đô hộ độc quyền quản lý và đánh thuế. Ngoài ra, các mặt hàng thủ công khác cũng bị đánh thuế nặng. Như vậy, chính sách nô dịch và bóc lột của phon g kiến Trun g Quốc là một trở trên con đường phát triển của xã hội Việt Nam. Nó tạo nên sự bần cùng phá sản với n gười dân trên quy m ô rộng lớn và sự phân hóa trong xã hội ngày cảng rõ nét. 2. Những chuyển biến của nền kinh tế dân tộc. 2.1.Quan hệ kinh tế Thời kì phon g kiến T run g Quốc đô hộ cũng là thời kì xã hội Việt Nam đi vào con đường phong kiến hóa v ới v iệc hình thành quan hệ địa chủ nông nô. Sự h ình thành ấy diễn ra trong bối cảnh lích sử khá đặc biệt, với thắng lợi của cuộc đáu tranh chống đồn g hóa dân tộc nên đã phản ánh thành cơ cấu k inh tế v à v à cơ cấu giai cấp trong xã hội không thuần nhất. Về ph ươn g diện kinh tế, bên cạnh kinh tế làn g xã đã xuất hiện nhữn g đồn điền của nhà nước phong kiến n goại ban g và m ột số tran g trại của quan lai, địa ch ủ n gười Trung Quốc sang sinh cơ lập nghiệp ở Việt Nam . Nhìn chung, sự biến đổi về cơ cấu kinh tế đã phản ánh nhữn g đặc thù riên g về con đườn g phong kiến hóa ở Việt Nam . Q uan hệ kinh tế mới hình thành là quan hệ sơ khai phong ki ến với nhữn g hình thức bóc lột vừa m ang tính nô dich cưỡn g bức v ừa m an g tính chất phong kiến nông nô. Thời kì phon g kiến T run g Quốc đô hộ Việt Nam, c uộc đấu tranh chốn g áp bức để sinh tồn và phát triển là yếu tố quy ết định mở đường cho nôn g, côn g, t hươn g nghiệp có 5 những ch uyển biến. Bên cạnh đó, sự kế thừa thành tựu văn hóa vật chất thời đại Hùn g Vương cũng là nhân tố thúc đẩy sự chuyển biến của nền kinh tế dân tộc. 2.2.Đặc điểm kinh tế Trong nôn g n ghiệp, trồng trọt đã trở thành n guồn sống ch ủ yếu của con n gười. Kĩ thuật trồng trọt có nhiều tiến bộ, công cụ sắt và t râu bò cày kéo được sử dụng phổ biến trong canh tác. Hệ thống đê điều bước đầu hình thành dọc các sôn g lớn vùn g đồng bằn g Bắc Bộ và Bắc Tr un g bộ. Người dân đã biết dùng phân để bón r uộng, biết triết cành cây để trồng. Trải qua quá trình lâu dài trong canh tác con người Việt Nam đã tiến tới trồng lúa cho hai v ụ ch iêm mùa. Trong ho ạt độn g kinh tế của n gười dân làn g x ã ch ăn n uôi gắn bó chặt chẽ với trồn g trọt. Ngoài n uôi trâu bò sử dụn g trong canh tác , người dân con nuôi voi, ngựa để kéo xe và chuyên chở đồ vật, nuôi lợn, gà sử dụng làm thực phẩm. Trong ngành thủ côn g n ghiệp, n go ài các x ưởn g th ủ côn g n ghiệp quan danh do chính quyền đô hộ trực tiếp quản lý, thì t hủ côn g n ghiệp trong nhân dân vẫn tiếp t ục phát triển nhưng ch ủ yếu với tư cách là n ghề ph ụ gia đình để giải quyết nhữn g nhu cầu sinh hoạt hàng ngày về ăn, ở, m ặc trong nhân dân. Trong quá trình phát triển của thủ côn g nghiệp, việc giao lưu kinh tế văn hóa với nước n goài đã làm x uất hiện thêm m ột số ngành nghề thủ công nghiệp mới bên cạnh những nghề thủ công nghiệp truyền thống. Nghề khai mỏ luyện kim có sự phát triển hơn so với thời kì trước. Thời k ì sau công n guyên, nước ta bước vào Thời kì thịnh đạt của đồ sắt. Các loại công cụ, nôn g cụ bằn g sắt được sử dụn g khá phổ biến trong hoạt độn g kinh tế của nhân dân. Bên cạnh đó các m ỏ vàng, bạc, đồng tiếp tục được khai thác ph uc vụ cho việc sản x uất đồ mĩ n ghệ. Nhữn g đồ vật trang sức bằn g vàng, bạc như vòng, trâm, hạt chuỗi… là nhữn g sản phẩm thủ công quý. Ngoài các loại h àng mỹ nghệ trên, nghề kh ảm xà cừ, trạm khắc còn cho những sản phẩm nh ư khay, cơi trầu…đó là nhữn g sản phẩm hàn g năm Việt Nam phải cống nạp cho Trung Quốc, m à sử sách Trung Quốc phải công nhận là báu vật. Đến Thế kỉ thứ III, người Việt Nam đã biết sản x uất các loại giấy như giấy bằn g vỏ dó, giấy Trầm Hương. Nghề dệt vẫn tiếp tục phát triển, kĩ thuật dệt lụa được cải tiến. Ngh ề dệt đã cho những sản phẩm nổi tiến g nh ư lụa, lĩnh, the,vóc, nhiễu với mà u sắc và họa tiết đẹp. Đó là những sản ph ẩm mà nước ta phải cống nạp cho T r un g Quốc. Cùn g v ới nhữn g n gh ề thủ công nêu trên những nghề th ủ công khác như ngh ề nấu đườn g, n ghề mộc, đan nát cũn g có bước phát triển. Như v ậy, t rong T hời kì phon g kiến Trun g Quố c đô hộ Việt Nam, những n ghề thủ công n ghi ệp truyền thống vẫn được bảo lưu, bên cạnh đó qua giao lưu kinh tế với nước 6 ngoài, người Việt Nam đã tiếp thu được kinh nghiệm và kĩ thuật sản x uất mới lam đa dang thêm ngành nghề thủ công nghiệp. Khi sản x uất nông n ghiệp v à thủ công nghiệp có sự phát triển nhất đinh, nó đã thúc đẩy hoạt động giao lưu trao đổi trong nhân dân, cũng như với nước ngo ài. Giao thông vận tải đã thúc đảy quá trình đó. Vào khoản g thế kỉ VII-VIII trên đất nước ta đã hình thành nên m ạng lưới giao thông thủy bộ nối liền cac v ùn g trong nước với nhau. Thời kì này Sôn g Hồng đã trở thành đườn g giao thông có ý nghĩa về kinh tế, văn hóa, quân sự. Đươn g biển Việt Nam đã trở thành đườn g hàng hải quốc tế có thuyền bè nước ngoài đi lại. T ừ Việt Nam có đường bộ san g Tr un g Quốc, Lao, và xuống thủy Ch ân Lạc. để ph uc v ụ cho hoạt độn g giao thông v ận tải, nhân dân ta đã đón g các lo ại thuyền, ván đi lại trên sôn g biển và dùn g vo i, n gựa dể kéo xe và vận chuyển đồ vật. Giao lưu vận tải đã góp phần mở rộng giao lưu trong nước. Thương n ghiệp có nhữn g ch uyển biến đán g ch ú ý, với việc x uất hiện các ch ợ địa phương, những trung tâm trao đổi dọc biên giới phía Bắc. Riêng trong lĩnh vực ngo ại thương, chính quyền đô hộ độc quyền nắm giữ và ki ểm soát nên giao lưu trao đổi giữa n gười Việt Nam với nước ngo ài gặp khôn g ít khó khăn. Tuy vậy, hoạt độn g n goại thươn g vẫn có t ác động nhất định tới sự phát triển kinh tế trong nước. Qua giao lưu kinh tế với nư ớc ngoài, người Việt Nam đã tiếp th u đươc kinh nghiệm sản xuất mới. Hàng Việt Nam bán ra nước ngo ài thường là các loại lâm thổ sản quý, đồ m ỹ nghê…Hàng nh ập từ nước ngoài vào Việt Nam thường là thuốc men và đồ sắt… Như vậy, trong hơn 1000 năm phong kiến Trung Quố c đô hộ Việt Nam, chính sách nô dich và bóc nột là 1 trở lực lớn trên con đườn g phát triển của xã hội. T uy vậy, cuộ c đấu tranh chống nô dịch và áp bức vẫn m ở ra những ch uyển biến trong nền kinh tế dân tộc. Xã hộ i Việt Nam đã đi vào con đường phong kiến hóa v ới v iệc hình thành quan hệ địa ch ủ nông nô. Đốn g thời, nôn g, côn g, t hươn g n ghi ệp đều có nhữn g tiến bộ.. Hơn nữa,sau hơn 1000 năm Bắc Thuộc Việt Nam đã chịu ảnh hưởn g rất lớn nền văm hóa Trung Quố c, điều đó khiến cho Việt Nam có 1 nền văn hó a rất đa dạn g và phong phú….. Nhữn g ch uyển biến đó đã tạo tiền đề kinh tế xã hội cần thiết cho xã hội Việt Nam bước sang Thời kì lịch sử mới, Thời kì phong kiến dân tộc tự chủ II. KINH TẾ TH Ờ I KỲ PH O NG KIẾN DÂN TỘ C TỰ CH Ủ ( 938 – 1858 ) Năm 938 v ới chiến thắng của Ngô Quyền trên sôn g Bạch Đằn g đã m ở r a Thời kì phong kiến dân tộc tự chủ Việt Nam. Thời kì này kéo dài tới năm 1858 khi Pháp xâm lược Việt Nam . Dưới chế độ phong kiến dân tộc, chính sác kinh tế nhà n ước là “ dĩ nông 7 vi bản”, từ đó đi tới tư tưởng “ trọng nôn g ức công thương”. Do vậy, côn g thươn g n ghiệp phát triển trong tình trạng khó khăn, nó không đủ sức mở ra hướn g đi m ới cho nền kinh tế và nền kinh tế vẫn trong trạng thái tự cấp, tự túc. Đó là nguyên nhân cắt nghĩa cho sự tồn tại dai dản g của chế độ phon g k iến Việt Nam cũn g nh ư sự khủn g hoản g bế tắc của tình hình kinh tế - xã hội. 1.Kinh tế từ thế kỉ V đến thế kỉ XV. 1.1.Tình hình ruộng đất và sản xuất nông nghiệp. a.Tình hình ruộng đất Từ thế kỷ X đến thế kỷ XV, xã hội phong kiến Việt Nam đã trải qua nhiều triều đại: Ngô, Đinh, T iền Lê, Lý, Trần, Hồ v à L ê sơ.Nhìn chung các triều đại phong kiến đều thực hiện chính sách “ dĩ nôn g v i bản”. Chính sách này xuất phát từ đặc trưn g bóc lột của nhà nước phong kiến là bóc lột bằn g địa tô.Do đó, Nhà nư ớc muốn thông qua quyền sở hưu r uộn g đất tối cao để thực hi ện nô dịch và bóc lột nhân dân. Vì v ậy v ân đề r uộn g đât đã trở thành trun g tâm của các mối quan h ệ kinh tế, chính trị, x ã hội thơi phong k iến. Tình hình ruộng đất Việt Nam thời phong kiến luôn trong trạng thái biến độn g, nhưn g nhìn chung r uộn g đất tồn tại dưới 2 h ình thức ch ủ yếu là r uộng đất thuộc sở h ữu Nhà Nước và ruộng đất thuộc sở hữu tư nhân. Từ thế kỷ X đến thế kỷ XV là thời kỳ h ình thành và phát triển cực thịnh của Nhà Nước phong kiến Việt Nam,nên ruộng đất thuộc sở hữu Nhà Nước thường chiếm đại bộ phận trong nước. Câu nói”đất của v ua, chùa của bụi” đã đi vào tiềm t hức người nông dân khá sớm. Chính trên cơ sở ấy, Nhà Nước mới duy trì được quyền lực kinh tế, chính trị của m ình. Ruộng đất thuộc sở hữu Nh à Nước gồm các loại r uộn g công làn g x ã, r uộn g quốc khố, ruộng phong cấp. Qua các triều đại phong kiến, tình hình phong cấp r uộn g đất bên cạnh nh ữn g đặc trưng chung còn mang theo những đặc thù riên g của tùng triều đại. Ruộn g phong cấp đã có từ thời Đinh, nhưng đến thời Lý ruộn g phon g cấp được chia làm 2 loại là ruộng thực ấp và ruộn g thực phong. Do vậy, thời nhà lý trong phong cấp, ruộn g thực ấp bao giờ cũn g nhiều h ơn r uộn g thực phon g. Lý Thườn g Kiệt được phong cấp 10000 hộ thực ấp trong khi ấy chỉ có 4000 hộ thực phong. Khi t riều Trần lên t hay triều Lý, tinh hình phong cấp ruộng đất ngày càng phát triển. Thời Trần ruộng đất phong cấp khôn g chi a thành 2 loại như t hời Lý, mà thực dân phong cấp nh ư k iểu thực phong thời lý. Do vậy, nhiều thái ấp của quý tộc trần đã ra đời. Bên cạnh việc phon g thái ấp, nhà v ua còn cho ph ép vương h ầu quý tộc chiêu mộ dân nghèo khai hoang lập ra các điền trang. 8 Nhà Hồ lên thay nhà Trần. Hồ Quý Li đã ban hành chính sách” hạn điền” và” hạn nô” . Chính sách “hạn điền” năm 1937 quy định :” Đại Vương và Côn g Chúa trưởn g được chiếm hữu vô hạn độ, đến thứ dân được chiếm cứ khôn g quá 10 m ẫu, nếu quá số quy định triều đình sung côn g”Đến năm 1201, nhà Hồ tiếp tục ban hành chính sách “hạn nô” với nội dung “ Quý tộc tuỳ theo phẩm hàm chức tước được giữ một số gia nô nhất định, quá số quy định , triều đình bắt sun g công tả 5 quan n ếu có chức thư thừa kế 3 đời” .Như vậy, với chính sách” hạn điền”,”hạn nô” nh iều ruông đát nông nô và nô tì từ tay quý tộc trần đã ch uy ển sang Nhà nước. Vấn đề này năm t rong ý đồ của nhà hồ m uốn đánh vào quyền lực kinh tế, chính trị của quý t ộc trần để củn g cố quyền lực của nhà Hồ. Do vậy, chính sách “hạn điền”, ”hạn nô” đã làm sâu sắc thêm những mâu thuẫn kinh tế xã hội phat sinh từ cuối thời trần. Khi triều đại Lê sơ nắm quy ền thống trị đất nước, năm 1477, nhà Lê ban nhành chính sách “ lộc điền ”. T heo chính sách này, người được h ưởn g” lộc điền ” chỉ có v ua và quan t ứ phẩm trở lên. Ruộng “ lộ c điền ”có một phần được cấp vinh viễn, con phần lớn là cấp cho sử dụng. Bên cạnh r uộn g đất thuộ c sở hữu nhà nước còn co r uộn g đất thuộc sở hữu tư nhân. Ruộn g đất này là của địa ch ủ hay nh ữn g người nôn g dân t ự canh, trong đó r uộn g đât của địa ch ủ là ch ủ yếu. Sự ra đời của ruộng đất tư trải qua quá trình phát sinh, phát triển lâu dài, chịu sự tác độn g của nhiều nhân tố. Đó là sự phân hóa giai cấp trong xã hội, do “chiếm công vi tư” ruộng đất, hoặc do Nhà nước cho bán ruộng công làm ruộng tư. Trong lịch sử Việt Nam , ruộng tư x uất hiện kh á sớm, có n gười cho r ằng nó đã có từ thời kỳ bắc thuộc. Nhưng dưới chế độ phon g k iến Việt Nam, từ thời lý, ruộn g đất tư mới được thừa nh ận về ph ương diện pháp lý. Năm 1135, Lý Nhân Tôn g quy định” nh ữn g người bán ruộng ao khôn g được gấp bội tiền dể ch uộc lại, kẻ nào làm trái sẽ bị trị tội”. Như vậy, việc pháp luật nhà nước thừa nhận ruộng tư là thẻ hiện một khuynh hướn g mang tính tích cực, vì nó đáp ứn g nh ữn g yê u cầu khách quan mà lịch sử đặt ra trong quá trinh vận động và phân hóa ruộng đất ở Việt Nam. Đến thời Trần,đánh dấu bước phát triển m ới của r uộn g tư.Nhìn ch ung,ruộn g tư phát triển trong điều kiện khá thuận lợi. Nhà nước đánh thuế r uộn g tư nhẹ hơn r uộn g công.T heo sách An Nam chí nguyên,nếu thuế r uộn g tư 1 m ẫu thu 3 thăng,thì ruộng côn g 1 mẫu thu 100 thăng.Nh à Trần còn có bán r uộn g công làm ruộng tư nh ưn g r uộn g đất của tư nhân nếu nhà nước sử dụng đến chủ được đền bồi thường San g thời Lê sơ,nhà Lê đại diện cho giai cấp địa chủ nên ruộng tư cũng có điều 9 kiện phát triển.Để củn g cố cơ sở xã hội,cơ sở giai cấp c ủa mình,nhà n ước ban hành nhiều luật lệ liên quan đến sự phát triển của ruộng tư.L uật Hồng Đức cho phép biến quyền chiếm giữ lâu năm thành quy ền sở h ữu. Như vậy,với điều luật này,nhà nước đã hợp pháp hóa nhiều trườn g hợp x âm lấn đất đai của địa chủ.Nhìn ch un g thời Lê sơ,tình trạn g "Chiếm công vi tư" r uộn g đất khá phổ biến.Ngoài ra,thời Lê sơ,nhà nước còn quy định các hình thức bán đợ,bán vĩnh viễn ruộng đất trong nhân dân. Qua tình hình ruộng đất Việt Nam từ thế kỉ X đến thê kỉ XV cho thấy,r uộn g đất công v à tư luôn trong tình trạn g biến độn g với kh uynh h ướn g r uộn g tư ngày càng ph át triển.Nhữn g h ình thái sở hữu ruộng đất c ùn g các quan h ệ kinh tế của nó thườn g x uyên tác động và ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp. b.Nông nghiệp Về sản x uất nông n ghiệp,trong thời kì phong kiến,chính sách kinh tế của nhà nước phon g kiến là "Dĩ nôn g vi bản".Qua thực tế,tư tưởn g "Trọng nông" thườn g được biểu hiện thành những biện pháp tích cực đối với sản x uất nông n ghiệp.T uy vậy,khi nhà nước phon g ki ến đi vào con đường suy von g thì nó đã m ất đi vai t rò tích cực trong đời sốn g kinh tế xã hội v à khi ấy chính sách "Dĩ nông vi bản",tư tưởn g "trọng nông" chỉ còn là hình thức,không đem lại tác dụng gì cho sản xuất nông nghiệp. Ngoài ra dưới thời Lý Trần,chính sách phu dịch hàng năm với nông dân đều ch ú ý tới thời vụ để tạo điều kiện thuận lợi cho công việc nghề nông. Trong sản xuất nông n gh iệp,trâu, bò là n guồn sức k éo chủ yếu tron g c anh tác.Nhà nước ban hành nhiều luật lệ để bảo vệ trâu bò.Thời Lý, ai trộm giết trâu hình phạt cao nhất quy định vào năm 1123 là bị tội hình. Thời Lý –Trần, v iệc kha i hoan g cũng được nh à n ước ch ú trọng. Pháp luật nhà nước quy định làn g nào để r uộn g đất hoan g hóa t hì bị tội. Riêng thời trần, việc nhà vua cho vươn g h ầu, quý tộc mộ dân nghèo khi hoang lập ra các điền trang có tác dụn g mở rộng diện tích canh tác. Với nh ữn g biện pháp nê u trên, nông n ghiệp thời Lý- Trần có những tiến bộ nên đời sốn g của nhân dân ổn định. Chính quyền thời Lý-Trần được củn g cố. Đó là nh ữn g tiền đề thuận lợi tạo ra sức mạnh chiến thắng quân Tông, quân Nguyên. Vào cuố i thời trần, chế độ điền tran g thái ấp và ch ế độ nôn g nô, nô tì phát triển. Nhiều nôn g dân bị biến 10 thành nông nô, nô tì và chụi sự áp bức bóc lột năn g nề. Do vậy, sức sản x uất trong nông nghiệp bị k ìm hãm, nông nghiệp rơi vào tình trạng trì trệ. Khủng hoản g, khởi nghĩa nông dân liên tiếp diễn ra dẫn tới sự sụp đổ của triều trần. Khi nhà Hồ lên thay nhà Trần, những kinh tế - xã hội đang diễn ra sâu sắc. Lịch sử chỉ ra rằn g: M uốn giải phón g sức sản x uất, tạo điều k iện cho nôn g n ghiệp phát triển thì phải xóa bỏ chế độ điền tran g, thái ấp và ché độ nông nô, nô tì. Trong bối cảnh ấy, chính sách “ hạn điền” và”hạn nô” chẳn g qua là chỉ ch uy ển phần lớn ruộng đất và nông nô, nô tì từ các thái ấp, điền trang của quý tộc T rần san g nh à nước quản lý. Nh ư vậy, thân phận người nông nô, nô tì vẫn khôn g có gì thay đổ i, sức sản xuất xã hội vẫn trong tình trạng bị kìm hãm . Bên cạnh đó, nhà Hồ còn tăn g thuế r uộn g tư làm hạn chế sự phát triển của loại hình kinh tế đan g có x u hướng tiến bộ. Với tình hình trên, nông nghiệp thời hồ tiếp tục rơ i vào tình trạng khó khăn. Người nông dân bất bình trước nhữn g chính sách của nhà hồ. Khi nhà Lê n ắm chính quyền, nh ưn g mâu th uẫn kinh tế - xã hội đặt ra t ừ cuố i thời trần đã được giải quyết. T hời Lê sơ, với chế độ”lộc điền” khiến điền tran g, thái ấp không còn cơ sở tồn tại. Việc xuất hiện quan h ệ địa chủ- tá điền là một tiến bộ so với quan hệ nông nô, nô tì. Vì thân phận n gười nông dân tự do hơn, họ lĩnh canh ruộn g đất và tự canh tác. Ngoài địa tô nộp cho địa ch ủ, phần còn lại là của những người nông dân lĩnh canh. Như vậy, sự chuyển biến ngay trong nộ i dung quan hệ sản xuất phong kiến đã có sự ph ù hợp nhất định với yêu cầu phát triển của lực lượn g sản x uất là nhân tố quan trọng trong thúc đẩy nông n ghiệp ph át triển.Điều đó cắt n gh ĩa được tình hình “ thái bình yên ổn” trong xã hội và thịnh trị của nhà nước phong kiến Lê sơ. 1.2.Tình hình thủ công nghiệp: Trong thời kỳ phong kiến dân tộc tự ch ủ ở Việt Nam ,thủ công nghiệp phát triển theo 2 dạn g.Đó là thủ côn g n ghiệp quan doanh do nhà nước trực tiếp quản lý. Bên cạnh đó là bộ phận thủ công nghiệp tồn tại phổ biến trong nhân dân chủ yếu với tính cách là nghề phụ trong gia đình.Tuy vậy,trong hoạt động thủ côn g ngh iệp ở các làn g xã đã có một bộ phận thợ thủ công tách khỏi n ghề nông để ch uyên sống bằn g n ghề của mình.Nhữn g n gười thợ thủ công này làm thuê cho nhà nước và cho nhân dân. Việc xuất hiện lực lượn g thợ thủ công chuyên nghiệp là cơ sở cho việc hình thành các làng,phường thủ công giai đoạn sau này.Tình hình sản xuất trong lĩnh vực thủ công nghiệp qua các triều đại phong kiến từ thế kỉ X đến thế kỉ XV đã ghi nhận những chuyển biến đáng chú ý. 11 Với n ghề khai m ỏ và luyện kim ,đã có một số lượn g kim loại kh á lớn được kh ai thác phục vụ cho nh u c ầu của nhà nước và nhân dân nh ư:đúc tiền, đúc vũ khí, các lo ại nông c ụ..... Vào n ăm 1052,vua Lý đã cho đúc 2 pho tượng bằn g vàn g đặt ở hai ch ùa T hiên Phúc và T hiên Thọ(Hà Nội).Năm 1256,nhà Trần đúc 350 chuông đồng cho nhà chùa. Theo sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi,thời Lê sơ nh iều mỏ được phát hiện và khai thác như ở vùn g Hưng Hó a,Tuyên Quang,Châ u Bảo Lạc( Cao Bằng).Việc khai thác ở vùn g thượn g du,nhà n ước giao cho các tù trưởn g tổ chức rồi nộp cống cho nhà nước. Vùn g tr ung du,nhà nước giao cho các hộ khai thác,họ phải nộp thuế thổ sản.Từ thế kỉ X đến thế kỉ XV là thời kì hình thành và phát triển c ườn g thịnh của ch ế độ phong kiến Việt Nam và cũn g là thời kì thịnh hành của phật giáo.Do vậy,trong thời Lý,Trần nhiều Cung điện,lăn g tẩm,chùa ch iền được xây dựn g.Năm 1010 v ua Lý đã th uê thợ xây 950 ngôi ch ùa. Việc xây dựn g kinh đô Thăng Long thời Lý là minh ch ứn g về nghệ thuật kiến trúc Việt Nam thời phong kiến.Thăng Lon g gồm 2 vòng thành dài 25km,t rong Hoàn g thành có cun g điện cao tới 4 tần g.Ngôi tháp Báo Thiên thời Lý gồm 12 tầng cao 60m.Một khi nghề k iến trúc phát triển,nó đã kéo theo nhi ều ngành n ghề th ủ công khác như:m ộc,khắc,chạm,gạch ngói.... phát t riển. Với n ghề dệt,việc trồng dâu,n uôi tằm ,kéo sợi,trồng các loại cây gai,đay lấy nguyên liệu dệt vải khá phổ biến trong nhân dân với tính cách là ngh ề phụ trong gia đình.Kĩ thuật dệt được cải tiến với các loại sản ph ẩm như lụa, lĩnh,the có màu sắc và họa tiết đẹp.Vào n ăm 1040,Vua Lý Thái Tông quyết định dùn g vải vóc trong nước m ay triều phục chứ khôn g m ua của nước n go ài v à Nhà n ước đã lập " Quyến khố ty" để thu m ua v ải lụa trong nhân dân. Đến thời Lê sơ,n gh ề dệt đã mở rộng ra nhiều v ùng,theo Dư địa chí của Nguyễn Trãi ghi lại"ấp Mao Điền, ấp Bất Bể, ấp Hội An dệt vải nhỏ","Phúc Yên dệt vải thêu xanh". Nghề gốm đã có sự phon g ph ú về hình loại,kĩ thuật chế tạo gốm khá tinh xảo. Các sản phẩm gốm thời Lý,T rần trên m ặt thường trang trí loại hoa văn tran g nhã hài hò a,có loại hoa văn trang trí theo lối khắc chìm ,chạm nổi rất công phu tỉ mỉ. Bên cạnh những n gành n ghề thủ công nêu trên,những nghề th ủ côn g khá c trong nhân dân vẫn tiếp tục phát triển nhằm phục vụ cho nh u cầu sinh hoạt tự cấp,tự túc trong nhân dân. 12 1.3.Thương nghiệp Trong thời kì phong k iến dân tộc tự chủ,về cơ bản hoạt độn g kinh tế m an g tính tự cấp tự túc.Tuy vậy,do đặc điểm sản xuất c ủa từng vùng,do nhu cầu sinh hoạt trong nhân dân nên giao lưu trao đổi vẫn có những chuyển biến đáng chú ý. Từ thế kỉ X đến thế kỉ XV,hệ thống giao thông thủy bộ đã mở r a sự thông thươn g giữa các v ùn g trong nước.Việc phát triển th ủy lợi thời Lý,Trần,Lê sơ cũn g góp phần tích cực vào v iệc hình thành và m ở rộn g mạng lưới giao t hông.Thời phong kiến,trên các tr ục đường giao thông chính thường có t rạm dịch,các ụ cắm biển ở trên đó ch ỉ phư ơn g h ướn g cho tàu bè đi lại.Hệ thống giao thông thủy bộ cũng đã mở r a m ối liên hệ v à giao lưu giữa Việt Nam với nước ngoài. Để thuận lợi cho việc giao lưu trao đổi trong nhân dân, các triều đại phong kiến đều cho phát hành tiền tệ riêng và tiến tới thống nhất đơn vị đo lườn g.Thời Đinh có tiền "Thái bình thông bảo",Thời Lê có tiền "Thiên ph úc trấn bảo"....Một hiện tượn g lịch sử khá đặc biệt trong thời phon g kiến,nh à Hồ đã cho phát hành tiền giấy.Tiền giấy r a đời khi tiền kim loại vẫn giữ được ch ức năn g là phư ơn g tiện lưu thông trao đổi trong nhân dân.Vi ệc phát hành tiền giấy là do ý đồ ch ủ quan của nhà Hồ m uốn th u hồi tiền đồn g trong nhân dân v ề đúc v ũ khí,vừa m uốn nhân vi ệc phát hành tiền m ới để bù đắp v ào n gân sách nhà nước bị thiếu hụt. Từ thời Lý về trước,trong nhân dân ch ưa có đơn vị đo lường thống nhất gây khó khăn khôn g ít tới sự giao l ưu trao đổi.Từ thời Trần,nhà nước đã thống nh ất đơn v ị đo lường và quy định ai tự ý thay đổi sẽ bị trị tội.Đến thời Lê sơ,nhà nước quy định đơn vị đo lường chặt chẽ hơn,như m ột tầm vải dài 30 thước,rộng một thước 5 tấm,m ột thếp giấy là 100 tờ... Nhìn chung từ thế kỉ X đến thế kỉ XV,thươn g n gh iệp dưới một số triều đại phong kiến có nhữn g biểu h iện đán g chú ý.Thời Lý Trần,Thăn g Long đã trở thành tr ung tâm trao đổi của cả n ước.Ở đây có các ph ườn g thủ côn g và buôn bán,có chợ Đông,chợ Tây,chợ Nam .Chợ địa phương được m ở ra ở nhiều n ơi trong n ước. Hoạt động trao đổi trong nhân dân khiến cho đồn g tiền đã x âm nhập vào các lĩnh v ực x ã hội.T hời nhà Trần,tiền dùn g để trao đổi hàng hóa,mua bán r uộn g đất và có khi tiền còn được dùn g để chuộc tội mỗi khi phạm pháp. Ngoại thươn g cũn g có sự phát triển thời Lý Trần, Vân Đồn( Quản g Ninh) đã trở 13 thành thương cản g quan trọng,ở đó có c ác thuyền buôn của nư ớc ngo ài tới trao đổi buôn bán hàng hóa. San g thời Hồ,việc phát hành tiền giấy đã gây nhiều khó khăn cho thươn g nghiệp vì tâm lý nhân dân khôn g thích tiêu dùn g tiền giấy.Tiền giấy dễ rá ch và khó bảo quản.Do vậy thươn g nh ân có phản ứn g bằng cách đóng cửa không bán hàn g.Địa chủ và tiểu nông cũn g khôn g m uốn bán nông phẩm t hừa. Bên cạnh đó dưới thời Hồ còn xuất hiện tiền giấy giả.Nh ữn g lý do nó i trên khiến cho thươn g n ghiệp thời Hồ rơi vào tình trạn g kh ủn g hoảng bế tắc. Khi nhà Lê sơ lên thay nhà Hồ, Nhà n ước đã cho ph ục hồi tiền đồn g,cho m ở nhiều chợ ở các địa ph ươn g.Nhà n ước quy định ở đâu có dân thì ở đó có chợ,là nơi trao đổi trong nhân dân. Dưới thời Lê sơ,hoạt độn g ngoài thương bị nhà nước hạn chế. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do nhà nước m uốn h ạn chế sự dòm ngó xâm lăn g của nước ngoài. 2.Kinh tế từ thời Lê mạt tới thời Nguyễn(Thế kỉ XVI - nửa đầu thế kỉ XIX) 2.1.Tình hình ruộng đất và sản xuất nông nghiệp. Từ thế kỉ XVI đến n ửa đầu thế kỉ XIX,chế độ phong kiến Việt Nam đi vào con đường suy vong,tình hình phân hóa r uộn g đất trong nôn g thôn càn g phân hóa m ạnh mẽ.Chế độ chiếm hữu tư nh ân về tư liệu sản x uất mà ưu thế thuộc v ề giai cấp địa ch ủ phong kiến ngày càn g rõ nét .Đây là t hời kì r uộn g công làn g xã bị tan rã từng mản g, bị thu hẹp dần trước sự lấn chiếm c ủa r uộn g tư.Bọn địa ch ủ cườn g hào ở nông thôn tăng cườn g lũn g đo ạn,thao tún g r uộn g đất.Tình trạng " Chiếm công vi tư" r uộn g đất khá phổ biến.Đặc biệt vào nửa đầu thế kỉ XIX,nhà Nguyễn gia sức phục hồi và củn g cố quyền lợi của giai cấp địa ch ủ. Nhìn ch ung,giai đoạn từ thế kỉ XVI đến nửa đầu thế kỉ XIX đánh dấu bước ngoặt trong quá trình biến độn g của hình thái sở hữu r uộng đất ở Việt Nam.T hời nhà Nguyễn,năm 1838 r uộn g côn g ở Bình Định là 6000 mẫu trong khi ấy r uộn g tư 70000 mẫu.T rong hoàn cảnh cụ thể,khi quan hệ sản x uất phong k iến đã lạc hậu thì chế độ chiếm hữu tư nhân v ề tư liệu sản x uất thuộc về giai cấp địa ch ủ là một nhân tố kìm hãm sản xuất. Đối với r uộn g công làng xã,khi tình trạng " Ch iếm công v i tư" ruộn g đất diễn ra khá m ạnh mẽ,nó bị thu hẹp nghiêm trọng,nhưn g nhà nước phon g kiến vẫn cố tình bảo lưu nó để đảm bào n guồn th u cho nhà nước.Do vậy,từ thời Lê mạt cho đến triều Nguyễn nửa đầu thế kỉ XI X,chính sách " Quân điền" ngày càng trở lên phản động,vì đối tượn g ưu 14 tiên hưởn g ruộng "Quân điền" là quan lại,binh lính, còn người nông dân trực tiếp sản xuất chỉ được nhận phần r uộn g ít ỏi,canh tác khó khăn.T hời Nguy ễn, quan nhất phẩm được 13 phần,quân lính được 7 - 9 ph ần,còn dân chỉ được 3-4 phần. Đối với quan lính,ngoài r uộn g khẩu phần còn được cấp lươn g điền từ 7 sào tới 1 m ẫu. Nhìn ch un g,từ thời Lê mạt chế đô "Lộc điền" dần bị bãi bỏ,nhưn g nó lại được nhà n ước thay thế bằn g r uộn g khẩu phần công làng xã. Thời Nguyễn sau 13 năm thực hiện chính sách "Quân điền",năm 1852 viên thanh tra triều đình ph ải thừa nhận rằng:"ruộng côn g m àu mỡ thì cườn g hào chiếm,còn thừa chỗ nào thì h ào lý chi ếm ,nông dân chỉ được ph ần x ươn g x ẩu mà t hôi".Nh ư vậy trên thực tế ,ruộng côn g làn g xã đã trở thành “hình thức nô dịch và lệ thuộc về than thể làm cho than phận người lao độn g càng nặn g nề thêm “.T ừ đó khiến cho n gười nôn g dân ph ải nằm chết cứng trong cảnh sống hỗn tạp ,lúc nh úc và khôn g sinh lời được . Do vậy trong điều kiện lịch sử Việt Nam như vậy ,muốn mở đường cho nông nghiệp ph át triển thì phải xoá bỏ tất cả các hình thức sở h ữu phong ki ến để biến nông dân thành những người có sở hữu ruộn g đất .Chính trên cơ sở ấy ,kinh tế tiểu nông mới có sự phát triển . Đó là cơ sở cho sự phát t riển của kinh tế hàn g ho á . Chế độ phon g kiến của Việt Nam lạc hậu , bảo thủ khiến cho kinh tế tiểu nôn g khôn g có điều k iện phát triển ,hơn thế nữa nó luôn trong tình trạng bị đe dọa thôn tính của các thế lực cườn g hào và địa ch ủ ở nôn g thôn .Trước tình hình ruộn g công bị thu hẹp nghi êm trọng ,nông dân không có ruộn g đất cày cấy ,nhà Nguyễn ở Đàn g trong đã tổ chức nông dân đi khai phá nh ững vùng đất hoan g v ào thế kỷ 17 va 18 ,xứ Thuân Quản gdiện tích canh tác lên 265.507 mẫu,so với thế kỷ 15 la 7.100 mẫu . Nhìn ch un g ,thành quả lao động của người nông dân lại r ơi v ào tay bọn địa ch ủ cường hào.Nhữn g n gười nông dân khai phá ruộn g đất lại trở thành tá điền của địa chủ . Do v ậy giá thuê r uộn g đất tăng lên rất nhanh như ở Lệ Thuỷ( Quảng Bình) giá từ 3-4 quan lên 6 quan một m ẫu .Từ thực trạn g ấy ,công cuộc khai hoang ít m ang lại tác dụn g . Nôn g n ghiệp vẫn trong tình trạng khó khăn và bế tắc vì nơi này tổ chức khai hoan g thì nơi khác lại tổ chức bỏ hoan g .Do địa tô ,thuế khoá nặng ,nông dân phải bỏ làn g quê sống phiêu bạt . Từ thế kỷ 16 đến nửa đầu thế kỷ 19 (thời Lê m ạt đến Trịnh-Nguy ễn) ,ch iến tranh phong kiến đã diễn ra l iên m iên tàn phá nông n gh iệp ,làm mất đi nguồn lực lớn ,tài lực lớn trong xã hội . Để tiến hành nh ững cuộ c ch iến tranh , các tập đo àn phon g k iến tăn g cường thực hi ện vơ vét của cải nhân dân . Ở Đàn g n goài ,năm 1721 nhà T rịnh thu thuế 15 theo nguyên tắc “ lượn g trước số chi rồi sau mới định số thu cho dân” . Do vậy nh iều v ùn g đất khô cằn chua mặn không canh tác được ,nông dân vẫn phải đóng thuế . Ở Đằn g trong , nhà Nguyễn cũn g đặt ra hàn g trăm thứ thuế khá c nhau .Trong phủ biên tạp lục ,L ê Quý Đôn có ghi lại :”Mỗi n ăm có han g trăm thứ thuế mà t rong thu chi thì rất phiền phức ,gian lân ,nông dân khốn khổ vì cảnh một cổ hai tròng .” Khi các thế lực phon g k iến lao vào cuộc chiến tranh giành quyền lực , sản xuất không dược chú ý ,lũ lụt hạn hán xảy ra thường xuyên .T ình trạng đồn g ruộn g bỏ hoang , dân t ình phiêu tán , đưa xã hội lún sâu vào tình trạng trì trệ . Ở Đan g ngoài , dân bỏ cả cày cấy ,thoc lúa dành trọn cho xóm l àn g đều ăn sạch .Dân lưu von g bồng bế nhau đi kiếm ăn đày đườn g , giá gạo cao ,100 đồng tiền không đổi được 1 bữa ăn .Dân phần nhiều sốn g nhờ r au cỏ , đến ăn c ả ch uột ,rắn .Người chết đói n gổn ngang ,người sốn g sót không con một phần mười . Trong hoàn cảnh ấy ,khởi nghĩa nôn g dân liên tiếp nổ r a m à đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa Tây Sơn . Sau khi đập tan các thế lực thù trong giặc n goài ,năm 1789 vua Quan g Trung cùn g nhân dân bước vào cuộc khôi phục đất nước . Quang Trung ban hành chiếu khuyến nông ,nhằm phục hồi dân ph iêu tán ,khai kh ẩn r uộng hoan g . Những nôn g dân do phá sản bị phi êu dạt dược lệnh trở về quê nhận r uộn g công cày cấy . Ch ính sách “ quân điền“được sửa đổi để nôn g dân có phần ruộng có khẩu phần canh tác . Ruộn g đất tư của bọn phản độn g ,r uộn g đât bỏ hoan g quá t hời hạn bị tịch thu được giao cho các làn g xã chia cho nôn g dân . Chính sách tô thuế được giảm nhẹ .Do vậy sau thời gian 3 năm nông nghiệp đã nhanh chóng phục hồi . Thời nhà Nguyễn ,thiên tai hạn hán thườn g x uyên x ảy ra, đê song Hồn g v ùn g Khoái Châu 10 năm liền bị vỡ dưới triều Tự Đức. Do vậy tình trạn g đói kém ,mất mùa diễn r a liên miên . Do tô thuế làm cho đời sốn g nôn g dân ki ệt quệ ,họ phải bỏ đất , bỏ làn g cốn g lang thang phiêu bạt .Năm 1854 có 395.188 m ẫu bị bỏ hoang vạ 85.584 xuất đinh phiêu bạt . 2.2.Tình hình thủ công nghiệp. Từ thế kỷ 16 tới thế kỷ 18 .riêng trong lĩnh v ực thủ côn g n ghiệp có nh ữn g ch uyển biến đáng ch ú ý . Đây la số làng ph ườn g th ủ công gnh iệp tăn g lên ,với những làn g phườn g th ủ công nghiệp nổi tiếng như Bát T ràng (Hà Nội) ,Thổ Hà ( Bắc Gian g) ,Ph ú Xuân (Thừa Thiên) … Đó là những nơi có nhữn g n ghề dệt .nghề gốm rất phát triển .T rong sản x uất có nhữn g biểu hiện mới ,n gành khai t hác mỏ có nh ững côn g trườn g thủ côn g của Nhà Nước và tư nhân thu h út tới h àn g n ghìn côn g nhân .Một số người giàu và thương nhân đã bỏ vốn kinh doanh trong ngành khai mỏ .Trong các phườn g dệt ở Phú 16 Xuân có nhữn g x ưởn g thủ công thuê tới 13 thợ .Trong hoạt động thủ côn g nghiệp thời kỳ này sự ph ân hoá chủ thợ đã bắt đầu diễn ra . Nhữn g hình thức mua sản phẩm ,thuê m ướn nhân côn g đã góp ph ần thúc đẩy quá trình đó .Hàn g năm t hủ công ngh iệp đã x uất ra nước ngoài một ssố lượng khá lớn đường ,tơ tằm ,và các loại lâm thổ sả khác. Như v ậy nh ữn g ch uy ển biến của thủ côn g n ghiệp phản ánh xu thế tiến bộ làm nảy sinh mầm mống tư bản chủ n ghĩa . Nhưn g do ch ính sách phản độn g c ủa Nhà nước phon g kiến,thue côn g n ghiệp khôn g đủ sức m ở r a h ướn g đi mới cho n ền kinh tế .Thời Trịnh Nguyễn thuế khoán nặn g nề đã làm cho nhiều n gành thủ công ngh iệp bị phá sản .Do vậy ,thủ công nghiệp rơi vào tình trạng sa sút ,t rì trệ. San g n ửa đầu thế kỷ 19 ,triều Nguy ễn nắm quyền thống trị đất nư ớc . Hà Nộ i nửa đầu thế kỷ 19 không còn là k inh đô của cả nước nhưng là đô thị có các ngành ngh ề thủ công phát triển nhất cả nước,ở đó tập trung các ngành tơ sợi,vải lục m ỹ nghệ . Huế là kinh đo của nhà Nguy ễn những ngành sản x uất gạch ngó i ,chế tạo vũ khí ,nhữn g nghề sản xuất phục vụ cung đình cũng có điều kiện phát triển hơn trước . Huế thế kỷ 19 còn là nơi quy tụ nhiều n ghệ nhân ,thợ thủ công khắp cả n ước về xây dựn g kinh đô. Ở Sài Gòn-Gia Định các nghề luyện sắt ,làm gốm ,nung gạch cũng phát triển . Như vậy dưới triều Nguyễn ở cả 3 v ùng Bắc-Tr un g-Nam thủ công n ghiệp có bước chuyển biến nhưng do đặc điểm sản x uất phân tán nên không thể tạo ra bước phát triển căn bản về phân côn g lao động nên nó ch ỉ là một cơ cấu ngành n ghề ph ụ thuộc:Nhà nước ,nôn g thôn nên nó vân nhỏ bé và ph ân tán .Do tình trạng này tiếp tục kéo dài nên thủ công nghiệp rơi vào tình trạng khung hoảng sâu sắc . Thời kỳ này hoạt độn g khai mỏ giảm sút do triều đình nắm độc quy ền mua bán kim loại và giá m ua thấp hơn giá t hị trường .Thêm vào đó Nh à nước quy định khắt khe về ăn ,ở,m ặc trong nhân dân .Nh ư vậy quy định tiêu dùn g trong x ã hội dựa theo chế độ đẳn g cấp đã ảnh hưởng tới sự phát triển của các ngành nghề thủ công . Đó là nhữn g nguyên nhân dẫn tới sự trì trệ ,bế tăc trong hoạt động thủ công của thời nhà Nguyễn . 3.Thương nghiệp. Từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 18 ,một số thành thị phong kiến trở nên phồn thịnh như Thăng Lon g ,Phố Hiến ,Hội An …Nơi đay các hoạt động buôn bán trao đổi khá sầm uất và có nhiều n gười nước n goài t ới cư trú sinh sống . Nhìn ch un g giao lưu k inh tế giữa các địa phư ơn g được mở rộng hơn trước .Trong lĩnh vực n goại thươn g từ thế kỷ 16 đã có một bước n goặt trong phát triển , Việt Nam bắt đầu quan hệ buôn bán với cac quố c gia phươn g tây như Bồ Đào Nha ,Tây Ban Nha , Hà Lan , Anh ,Pháp đang tiến trên con đườn g tư bản ch ủ nghĩa . Các nước n ày đã lập thương điếm ở Đàng trong và Đàng n goà i để tiến 17 hành buôn bán . Việc lập quan hệ ph ươn g tây đươn g thời tạo ra những điều ki ện thuân lợi cho việc phát triển sản x uất ,canh tác đất nước .Bên cạnh đó nó còn ghóp phần làm suy yếu ít nhiều tính chất tự nhiên của nền kinh tế phong kiến để dẫn tới việc hình thành thị trường chung của cả nước . Trong hoàn cảnh đó ch ính quyền Trịnh- Nguyễn đã đặt nhiều thứ thuế khiến thương nghiệp phát t riển trong tình trạn g khó khăn . Riêng Đàng trong ,th uế thổ sản có tới hàng trăm thứ .Chính quy ền nhà Nguyễn đã dựng lên 51 sở tuần ty để thu thuế . Do vậy giao lưu hàng hoá t rong nhân dân gặp nhìêu khó khăn .Trong lĩnh vực ngoại thương các tập đoàn phon g k iến Trịnh -Nguy ễn đã h ướn g nó ph ục vụ cho lợi ích các cứ phon g kiến . Hàn g hoá m ua của phương tây ch ủ yếu là vũ khí ,nên không những không man g lại tác dụn g cho sự phát triển kinh tế mà còn tạo cơ hội cho ph ươn g tây can thiệp vào nội tình đất nước . Đến cuối thế kỷ 18 ,t riều đại Quan g Trung đã có nhữn g cố gắng tron g việc phục hồi thưong n ghiệp . Quan g Trun g r a lệnh bãi bỏ hoặc giảm nhẹ nh iều thứ thuế thươn g nghiệp ,m ở rộng v iệc buôn bán làm ăn cho thương nhân .Trong quan hệ n go ại thương ,Nhà n ước cho phép thuyền buôn n ước n go ài được r a vào buôn bán dễ dàn g ở các thương cảng . Với nh ững chính sách nói t rên hoạt độn g kinh tế của các thành thị phong kiến thương cảng dần được phục hồi . Đến n ửa đầu thế kỷ 19 ,thương nghiệp lại tiếp t ục r ơi vào tình trạng khó khăn .Nhà Nguyễn đã có nh ững chính sách kìm hãm giao lưu kinh tế và việc m ơ m ang thị trường trong nước .Chế độ thuế khoá rất phiền phức , gạo từ Nam Định vào Nghệ an nộp thuế tới 9 lần .T hời Minh Mạng vì sợ nông dân tụ tập khởi ngh ĩa nhà nước đã cấm họp chợ . Trong quan hệ với nước n goài ,nhà n ước thực hiện chính sách “bế quan toả cản g” .Đó là sự phòn g thủ tiêu cực trước phươn g tây .Do vậy nhiều thuyền buôn của phươn g tây đến đặt quan hệ buôn bán phần nhiều bị khư ớc từ nên nhiều thành thị và thương cảng trở nên suy tàn .T rong thời gian 14 năm (1838-1852) ,thuế quan giảm 50% .T hương nghiệp do vậy cũng rơi vào tình trạng khủng hoảng ,bế tắc . Như vậy :Thời kỳ phon g kiến dân tộc tự ch ủ (từ năm 938-1858) ,nền kinh tế Việt Nam kéo dài trong tình trạng tự nhi ên ,tự cấp ,tự túc . Ở đó nông n ghiệp là nền tảng kinh tế ,công thươn g n ghiệp phát triển ph ụ th uộc vào nông n ghi ệp và là ho ạt động kinh tế ph ụ trợ cho nông ngh iệp .Trong tâm lý người Việt Nam đều coi nông nghiệp là gốc ,thươn g nghiệp là ngọn .T hực tế hoạt động của côn g thươn g n ghiệp chỉ diễn ra trong kh uôn khổ 18 của nền kinh tế tư cấp,tự túc . Đó là n guyên nhân cắt nghĩa sự tồn tại lâu bdài và dai dẳn g của chế độ phong kiến Việt Nam . Tới nửa đầu thế kỷ 19 , dưới triều đại Nguy ễn nền kinh tế Việt Nam kh ủn g hoảng toàn diện ,xu thế trì trệ càn g rõ rệt.Nh ư vậy quan hệ sản xuất phong k iến là lỗi thời ,kìm hãm sự ph át triển c ủa lực lượn g sản x uất và các khuynh hướng tiến hoá của xã hội . Chế độ phon g k iến đã trở thành ch ướng n gại vật cần gạt bỏ .T rong hoàn cảnh ấy khác với phương tây đương thời ở Việt Nam quan h ệ sản x uất m ới ,lực lượng giai cấp mới đại diện cho trào lưu tiến hoá của lịch sử mới nảy sinh mạnh nhanh,ch ưa thực sự hình thành .Do vậy ,sự trì trệ khủng hoảng là m ột yếu và đất nước chìm ngập trong tình trạng bế tắc. B. Kinh tế Việt Nam thời kỳ Pháp thuộc (1858_1954) I. THỜ I KỲ THỰ C DÂN PHÁP THỐ NG TRỊ 1958-1945 1. Bối cảnh lịch sử Năm 1858, Hải quân Pháp đổ bộ v ào cản g Đà Nẵng và sau đó xâm chi ếm Sài Gòn. Năm 1862, Tự Đức ký hiệp ước nhượng ba tỉnh miền Đông cho Pháp. Năm 1867, Pháp chiếm nốt ba tỉnh miền Tây kế tiếp để tạo thành m ột lãnh thổ thực dân Coch inchine (Nam kỳ). Từ năm 1873 đến năm 1886, Pháp xâm chiếm nốt những phần còn lại của Việt Nam qua nhữn g c uộc chiến phức tạp ở miền Bắc. Miền Bắc khi đó rất hỗn độn do nhữn g m ối bất hòa giữa n gười Việt và n gười Hoa lưu vong. Chính quyền Việt Nam không thể kiểm so át nổi mối bất hòa này. Cả Trun g Hoa và Pháp đều coi khu vực này thuộc tầm ảnh hưởng của mình và gửi quân đến đó, nhưng cuối cùn g thì người Pháp đã chiến thắng. Pháp tuyên bố là họ sẽ "bảo hộ" Bắc kỳ (Tonkin) và Trung kỳ (Annam), nơi họ tiếp tục duy trì các hoàng đế bù nhìn cho đến Bảo Đại (làm vua từ 1926 đến 1945 và quốc trưởn g từ 1949 đến 1956). Năm 1885, các quan lại Việt Nam tổ chức phong trào khán g chi ến Cần Vươn g chống Pháp nh ưn g thất bại. Vào năm 1887, hoàn tất quá trình xâm lược Việt Nam, người Pháp đã tổ chức ra một bộ m áy cai trị khá hoàn chỉnh từ trun g ương cho đến địa ph ươn g. Ở trung ươn g là Ph ủ toàn quyền Đông Dươn g. Đứng đầu Phủ toàn quyền gọi là Toàn quyền Đôn g Dươn g, là người có quyền hành cao nhất trong thể chế chính trị Pháp trên toàn cõi Bắc kỳ, T rung kỳ, Nam kỳ và Cao Miên. Đứng đầu ở 3 kỳ là: Thống đốc Nam kỳ, Khâm sứ Trung kỳ và T hống sứ Bắc kỳ, cả ba đều nằm dưới quyền giám sát và điều khi ển tối cao của viên T oàn quy ền Đôn g Pháp, trực thuộc bộ Th uộc địa. Đến n ăm 1893 quy ền ki ểm soát của Toàn quy ền Đôn g Pháp được mở rộng thêm, bao gồm cả Ai Lao. 19 2. C hính sách cai trị 2.1. Tổ chức chính trị, hành chính Côn g v iệc đầu tiên c ủa thực dân Pháp sau khi chiếm được Việt Nam l à áp đặt trên thuộc địa mới này m ột hệ thống hành chính có kh ả năng thực hi ện các chính sách, ch ủ trương của mình. Áp dụn g chính sách chia để trị, thực dân Pháp phân Việt Nam ra làm ba miền. Trung Kỳ, nơi triều đình Huế vẫn còn tồn tại, đổi tên thành An Nam , m ột danh xưng mà chính quyền đô hộ Trung Quốc đã đặt cho Việt Nam ; hai m iền Bắc Kỳ và Nam Kỳ vẫn giữ tên cũ. M ỗi miền có một viên thống sứ đứng đầu và đều phụ thuộc trực tiếp vào cá i gọ i là Đông Dương th uộc Pháp. Đôn g Dươn g thuộc Pháp bao gồm cả Lào và Cam bo dge và đứn g đầu là Toàn quyền Đông Dương. Giúp v iệc cho Toàn quyền Đôn g Dươn g là một Hội đồng Tối cao gồm các Thống sứ và các giám đố c các cơ quan quan trọng. Triều đình nhà Nguyễn chỉ còn là hình thức. Khâm sứ Pháp chủ tọa cả Nộ i các nhà N guyễn, còn các bộ đều có một cố vấn người Pháp chỉ huy. Khâm sứ Pháp còn chủ tọa ngay cả các hội đồng hoàng tộc. 2.2. H ệ thống giáo dục, y tế và văn hóa Chính sách giáo dục - văn hóa của thực dân Pháp không ch ú ý đến việc nân g cao dân trí mà ch ủ yếu đào tạo ra một hàng n gũ người Việt có thể giúp việc đắc lực cho côn g cuộ c bình định và cai trị. Chữ Quốc ngữ đã được dùn g tại Nam Kỳ từ năm 1862 và lần lần lan tràn r a cả nước. Đến năm 1896, chính quy ền thực dân P háp đưa chữ Quốc ngữ vào các cuộc thi tuyển quan lại. Năm 1903 đến lược môn Pháp văn được đưa vào. Các cuộ c thi hươn g truyền thống bị bãi bỏ vào đầu thế kỷ 19 (năm 1915 ở Bắc Kỳ, năm 1918 ở Trung Kỳ). Thay thế vào đó là m ột nền giáo dục gọi là Pháp - Việt được lập ra. Tiếng Pháp thành ch uyển n gữ chính. Chươn g trình học dần dần xa rời văn hóa tr uyền thống Việt Nam mà lại chú trọn g văn học Pháp. T rước đây, dưới thời nhà Nguyễn, các xã, làn g đều có trường học. Đến n ay, khi hủy bỏ việc họ c ch ữ Hán thì mặc nhiên hệ thống trườn g làn g không còn n ữa. Côn g việc giáo dục chỉ tập trung tại các đô thị lớn. Năm 1908 một trường Đại học được thành lập, còn trong cả nước thì chỉ có ba trườn g trun g học. Ngo ài ra, để ph ục v ụ cho bộ m áy cai trị, thực dân lập ra các cơ quan n ghi ên cứu nh ư trườn g Viễn Đôn g Bác Cổ ( Ecol e Francaised'Extrême-Orient ) sở Địa ch ất, sở Địa lý, sở Kiểm lâm ... Người Việt không được làm việc trong các cơ sở này. Chữ Quốc n gữ dần dần chiếm vị trí quan trọng. Báo chí và sách vở bằn g chữ Quố c ngữ xuất hiện làm truyền bá càn g nhanh cách viết này. Và cả phong trào chống Pháp cũng dùn g chữ n ày để truyền bá tư tưởng độc lập tự chủ trong dân chúng. 20
- Xem thêm -