Tài liệu Tiểu luận môn Khoa học quản lý đề tài VẬN DỤNG CÁC NGUYÊN TẮC PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ TẠI BAN THI ĐUA - KHEN THƯỞNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

  • Số trang: 24 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 10931 |
  • Lượt tải: 13
nganguyen

Tham gia: 11/08/2015

Mô tả:

LỜI MỞ ĐẦU Trong giai đoạn hiện nay, gần như tất cả các loại hình tổ chức, doanh nghiệp đều sử dụng các kiến thức về khoa học quản lý để tiến hành, tổ chức thực hiện các mục tiêu trong quá trình hoạt động. Khoa học quản lý góp phần quan trọng đối với mỗi tổ chức, doanh nghiệp, đối với sự phát triển nền kinh tế quốc dân, chính trị, văn hóa xã hội... Chính vì vậy, bộ môn khoa học quản lý ra đời là một tất yếu, trang bị cho người học những kiến thức cơ bản về quản lý nói chung, quản lý kinh doanh nói riêng như một khoa học, một nghệ thuật và một nghề. Nắm vững các nguyên lý quản lý, quy luật quản lý, các phạm trù và các khái niệm cơ bản của khoa học quản lý sẽ giúp cho người học, người làm lĩnh vực quản lý có những cơ sỏ lý luận và phương pháp luận để nhận thức một cách đúng đắn các môn khoa học khác. Hơn nữa, vận dụng các nguyên tắc, phương pháp quản lý tại đơn vị mình làm việc, giúp nâng cao hiệu quả quản lý, đáp ứng được mục tiêu đề ra của tổ chức, doanh nghiệp nhằm đạt được những mục đích đã đề ra một cách tối ưu nhất. Vai trò quan trọng của khoa học quản lý ngày càng được khẳng định trong thực tiễn. Ngày nay những nhà hoạt động quản lý mang tính chuyên nghiệp không những trong các tổ chức kinh doanh mà cả các tổ chức phi kinh doanh. Hoạt động quản lý đã trở thành một nghề, có vị trí, vai trò nhất định trong xã hội. 1 Sự phát triển nhanh và rộng khắp các Trường đào tạo quản trị chính khóa cũng như các chương trình huấn luyện các kỹ năng quản lý tại các doanh nghiệp càng khẳng định tính chuyên nghiệp hóa của nghề quản lý. Quản lý vừa là khoa học và vừa là nghệ thuật nên ngoài kiến thức được đào tạo trong nhà trường, để trở thành những nhà quản lý giỏi cần phải biết sử dụng nghệ thuật quản lý. Trong thực tiễn có thể đào tạo được những nhà quản trị chuyên nghiệp hay nói cách khác, quản lý là một nghề nghiệp và có thể truyền dạy kiến thức mà người học có thể tiếp thu. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN, CÁC NGUYÊN TẮC VÀ PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ 1.1 Các khái niệm cơ bản Theo các tài liệu nghiên cứu, hoạt động quản lý đã có từ thời xa xưa, khi con người biết lao động theo từng nhóm với nhau. Trải qua quá trình tồn tại và phát triển, con người đã lao động, học tập, nghiên cứu và sáng tạo…Tất cả các hoạt động này luôn có những ràng buộc và tác động lẫn nhau, luôn có các mối quan hệ với nhau giữa người này với người khác, giữa nhóm người này với nhóm người khác, từ đó đã xuất hiện hoạt động quản lý và càng ngày hoạt động quản lý càng cần thiết, hữu ích đối với con người hơn. 2 Khoa học quản lý (KHQL) là một hệ thống tri thức về cơ sở lý luận và thực tiễn khách quan của các hoạt động quản lý trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Khoa học quản lý được phân chia thành các nhóm ngành khoa học khác nhau như: khoa học cơ bản, khoa học ứng dụng, khoa học tự nhiên, khoa hoc xã hội và nhân văn, khoa học kinh tế, khoa hoc kỹ thuật…Khoa học quản lý là ngành khoa học ứng dụng có đối tượng nghiên cứu, các quy luật khách quan, các học thuyết về quản lý, liên quan với rất nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau, sử dụng các học thuyết khác nhau. Khoa học quản lý kết hợp hài hoà giữa khoa học và nghệ thuật, bởi vì trong thực tiễn hoạt động quản lý cần phải sáng tạo không ngừng. Muốn hoạt động quản trị đạt được hiệu quả, không chỉ học thuộc và áp dụng theo công thức sẵn có, mà cần phải vận dụng thành thạo các kiến thức, các kỹ năng vào những tình huống cụ thể, thực tế có rất nhiều tình huống phức tạp, đa dạng, luôn biến động, bao hàm nhiều yếu tố khó lượng hóa được. Khi giải quyết cần có ứng xử nhạy cảm từng trường hợp, phải có nghệ thuật sử dụng các yếu tố tiềm năng của hệ thống, tri thức và thông tin, bí mật trong hoạt động, sự quýêt đoán của lãnh đạo và sử dụng mưu kế. Khoa học quản lý và nghệ thuật quản lý không hề đối lập nhau và bổ sung cho nhau. Kiến thức khoa học là nền tảng là cơ sở để vận dụng vào thực tế. Càng có kiến thức khoa học và hiểu biết rộng thì càng có nhiều điều kiện thuận lợi hơn để đưa ra quyết định có tính khả thi và có hiệu quả hơn. Bởi vì, khoa học là sự hiểu biết kiến thức một cách có hệ thống, còn nghệ thuật là sự chọn lọc kiến thức. 3 Quản lý là một trong những hoạt động rất đặc trưng của nhân loại, đã có từ thời xa xưa khi con người biết lao động theo từng nhóm với nhau. Theo từ điển phổ thông, quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định. Có khá nhiều định nghĩa khác nhau về thuật ngữ quản lý. Quản lý là nghệ thuật đạt được mục đích thông qua người khác (theo Mary Parker Follett). Quản lý là sự cộng tác, phối hợp hiệu quả hoạt động của các cộng sự khác nhau trong cùng một tổ chức. Quản lý là quá trình phối hợp các nguồn lực nhằm đạt được mục đích của tổ chức. Quản lý là thông qua nhiệm vụ thiết kế và duy trì một môi trường mà các cá nhân trong nhóm làm việc với nhau để có thể hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiều đề ra (theo Koontz và O’Donnel) Như vậy, bản chất của quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được những kết quả theo mục tiêu đã định. 1.2 Các nguyên tắc quản lý Nguyên tắc quản lý là nhân tố đặc biệt quan trọng của hoạt động quản lý, nó là cơ sở nền tảng có vai trò chi phối và tác động tới toàn bộ nội dung và phương pháp hoạt động của chủ thể quản lý và đối tượng quản lý. Vì vậy, làm rõ bản chất của nguyên tắc quản lý và đặc trưng của các nguyên tắc quản lý cơ bản là vấn đề hết sức cần thiết. Tuy nhiên, 4 quản lý là lĩnh vực rộng lớn và phức tạp, vì vậy trong lịch sử tư tưởng quản lý, tuỳ thuộc vào các cách tiếp cận và quan niệm khác nhau về quản lý mà có nhiều cách hiểu khác nhau về nguyên tắc quản lý. Nhiều tác giả thuộc trường phái kinh nghiệm hoặc theo trường hợp do nhấn mạnh vai trò của cá nhân hay tình huống trong quản lý mà phủ nhận sự tồn tại của nguyên tắc quản lý. Nhiều tác giả thuộc trường phái khác nhau do không nhận thấy vai trò đặc biệt quản trọng của nguyên tắc quản lý mà không dành cho nó một sự ưu tiên đáng có để luận bàn một cách trực tiếp như một vấn đề có tính độc lập. F. W Taylor với thuyết quản lý theo khoa học đã có những đóng góp quan trọng trong việc đưa ra nhiều ý tưởng quản lý có giá trị. Tuy nhiên đối với vấn đề nguyên tắc quản lý, Taylor cũng chưa dành một sự quan tâm cần thiết mà mới chỉ gợi mở một số ý tưởng mờ nhạt mang tính tổng quan. Xuất phát từ nguyên lý theo chức năng, Taylor cho rằng: - Phải coi chức năng kế hoạch và chức năng thừa hành như là những chức năng có tính độc lập. - Phải phân định rõ ràng các chức năng quản lý - Phải phân biệt công việc thông thường với công việc bất thường để thực hiện nguyên tắc ngoại lệ trong quản lý. Đó là những nguyên tắc cơ bản là Taylor đưa ra song thực chất đó chỉ là những nguyên tắc liên quan tới phân công lao động trong quản lý. 5 H.Fayol lần đầu trong lịch sử tư tưởng quản lý đã nhấn mạnh tầm quan trọng của nguyên tắc quản lý, coi nguyên tắc quản lý là phương hướng của hoạt động quản lý, là một ngọn đèn pha giúp con người khỏi tình trạng tối tăm và rối loạn. Căn cứ vào kinh nghiệm, Fayol đã khái quát 14 nguyên tắc quản lý cơ bản. Các nguyên tắc đưa ra đều có tính thực tiễn nhất định nhưng còn thiếu tính khái quát. H.Koontz cho rằng thuật ngữ nguyên tắc có nghĩa là chân lý cơ bản , có khả năng áp dụng vào một tập hợp các hoàn cảnh đã cho mà chúng có giá trị trong việc dự đoán trước kết quả. Như vậy các nguyên tắc mang tính chất mô tả và dự đoán chứ không phải có tính mệnh lệnh cứng nhắc như nhiều người lầm tưởng. Từ việc kế thừa những hạt nhân hợp lý của các cách tiếp cận về nguyên tắc quản lý trong lịch sử tư tưởng quản lý, có thể thấy rằng việc xây dựng các nguyên tắc quản lý là một tất yếu. Hơn nữa, phải khái quát hoá từ thực tiễn quản lý để tạo lập các nguyên tắc quản lý mang tính phổ quát. Nguyên tắc quản lý là hệ thống những quan điểm quản lý có tính định hướng và những quy định , quy tắc bắt buộc chủ thể quản lý phải tuân theo trong việc thực hiện chức năng và nhiệm vụ nhằm hoàn thành mục tiêu của tổ chức. Từ định nghĩa trên, chúng ta thấy rằng nguyên tắc quản lý bao gồm 2 nhân tố cơ bản: Hệ thống các quan điểm quản lý: liên quan tới việc trả lời cho những vấn đề Quản lý cho ai?( chủ thể quản lý) Quản lý bằng cách nào?( phương thức quản lý) Quản lý vì ai? (mục tiêu của quản lý). 6 Như vậy, hệ thống quan điểm quản lý ở những điều kiện kinh tế xã hội khác nhau là không giống nhau. Hệ thống quản điểm quản lý mang tính định hướng, nó là yếu tố động của hệ thống nguyên tắc quản lý, nó có tính khuyến cáo đối với chủ thể quản lý trong việc hướng tới hiệu quả của hoạt động quản lý. Hệ thống quan điểm quản lý tồn tại dưới các hình thức: triết lý quản lý, phương châm quản lý, khẩu hiệu quản lý, biểu tưởng quản lý…Vì vậy, hệ thống quản điểm quan lý có quan hệ mật thiết với văn hoá quản lý song giữa chúng không đồng nhất với nhau. Hệ thống quy định và quy tắc quản lý: là yếu tố mang tính bắt buộc, tuỳ thuộc vào quy mô tổ chức, phạm vi hoat động quản lý mà nó có thể tồn tại dưới các hình thức pháp luật, nội quy, quy chế…Hệ thống quy định và quy tắc quản lý chi phối chủ thể quản lý trong việc ra quyết định quản lý , tổ chức thực hiện quyết định quản lý và kiểm tra, đánh giá quyết định quản lý. Các đặc trưng của nguyên tắc quản lý 1. Tính khách quan: nguyên tắc quản lý do con người tạo lập nhưng mang tính khách quan. Tính khách quan của nó được biểu hiện ở chỗ nội dung của những quan điểm, quy định, quy tắc quản lý phải phù hợp với quy luật vận động, phát triển của xã hội ở những thời kỳ nhất định, đồng thời phù hợp với điều kiện, năng lực của tổ chức. Chính vì vậy, việc xây dựng các nguyên tắc quản lý phải được quan tâm và đầu tư thích đáng. 7 2. Tính phổ biến: Nguyên tắc quản lý tồn tại ở tất cả các loại hình và cấp độ quản lý. Đó là những nguyên tắc chung nhất là cơ sở cho các nhà quản lý và các lĩnh vực quản lý khác nhau. Mặt khác, nguyên tắc quản lý có thể tồn tại dưới dạng những yêu cầu cần phải thực hiện đối với từng chức năng của quy trình quản lý hoặc những công việc cụ thể của quản lý. 3. Tính ổn định: Nguyên tắc quản lý dưới dạng những quy định và quy tắc là sự phản ánh các mối quan hệ cơ bản, bản chất của những yếu tố trong hệ thống quản lý xác định. Những quan hệ này là tương đối bền vững. Chúng như là những nhân tố đóng vai trò quan trọng của hệ thống quản lý và đảm bảo sự ổn định, bền vững cho sự phát triển của tổ chức. Vì vậy, bất kỳ tổ chức nào khi xây dựng nguyên tắc quản lý thì phải xuất phát từ những quan hệ của những nhân tố cơ bản của hệ thống quản lý đó. 4. Tính bắt buộc: Những quy định và quy tắc về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn là mang tính bắt buộc đối với các nhà quản lý. Điều đó có nghĩa là các nhà quản lý không vì có quyền lực mà sử dụng một cách tuỳ tiện. Để đảm bảo cho sự phát triển ổn định, bền vững của tổ chức, các nhà quản lý phải hạn chế quyền lực của mình trong việc ban hành, tổ chức thực thi và kiểm tra các quyết định quản lý. Đó là những chế tài biểu hiện theo phương châm nhà quản lý chỉ được phép là những điều mà quy định cho phép, còn những người bị quản lý thì được làm tất cả những gì mà quy định không ngăn cấm. 8 5. Tính bao quát: Những quy định và quy tắc có tính bắt buộc không chỉ phản ánh một khía cạnh, một nhân tố, một quan hệ quản lý cụ thể, nó là những quy định, quy tắc của các chức năng trong quy trình quản lý mà chủ thể quản lý phải đảm nhận. Mặt khác, nguyên tắc quản lý tồn tại trong suốt quá trình xây dựng, tổ chức và kiểm tra đánh giá việc thực hiện các quyết định quản lý. 6. Tính định hướng: Hệ thống các quan điểm quản lý được tồn tại ở các hình thức: Triết lý, phương châm, khẩu hiệu, logo. Đó là những giá trị, những ý tưởng, những biểu tượng giúp các nhà quản lý dẫn dắt tổ chức hướng về tương lai. Nguyên tắc quản lý là cơ sở nền tảng cho sự vận hành của một tổ chức Để xây dựng mục tiêu quản lý phù hợp, xác định nội dung quản lý đúng đắng, lựa chọn phương thức quản lý hợp lý, các nhà quản lý phải tuân thủ các nguyên tắc quản lý. Mặt khác, nhờ có nguyên tắc quản lý mà chủ thể quản lý có thể xây dựng và thực thi các phương pháp, phong cách và nghệ thuật quản lý của họ. Vai trò của nguyên tắc quản lý Nguyên tắc quản lý là một trong những nhân tố của hệ thống quản lý. Nó đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với hoạt động quản lý. Để thực thi quy luật quản lý thì phải tuân thủ các nguyên tắc quản lý. Nguyên tắc quản lý có những vai trò cơ bản sau: Định hướng phát triển tổ chức 9 Hệ thống quan điểm quản lý được biểu hiện thông qua triết lý quản lý, phương châm quản lý, biểu tượng quản lý… Đó là những nhân tố làm cơ sở cho việc xây dựng chiến lược phát triển của tổ chức, có nghĩa là việc xây dựng và thực thi những nhân tố đó là giải quyết những vấn đề căn cốt của hoạt động quản lý: Ai là chủ thể của quá trình quản lý, Mục tiêu quản lý là nhằm đạt tới điều gì, Quản lý bằng cách nào. Duy trì sự ổn định của tổ chức Nhờ có hệ thống nội quy, quy chế về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của chủ thể quản lý và đối tượng quản lý mà tổ chức được vận hành trong sự ổn định có kỷ luật, kỷ cương. Điều quan trọng là nhà quản lý phải xuất phát từ điều kiện hiện thực để xây dựng các chế tài cho phù hợp thì việc thực thi nó mới có hiệu lực. Đảm bảo thực thi đúng quyền hạn của chủ thể quản lý Duy trì kỷ luật, kỷ cương đối với đối tượng quản lý Góp phần xây dựng văn hoá tổ chức và văn hoá quản lý Một số nguyên tắc quản lý cơ bản Tuân thủ pháp luật và thông lệ xã hội: bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng chịu tác động của các nhân tố bên trong và bên ngoài như chính trị, kinh tế, văn hoá, pháp luật …vì vậy phải tuân thủ pháp luật và các thông lệ xã hội để không vi phạm pháp luật của nhà nước và điều khiển hoạt động của doanh nghiệp phù hợp với sự phát triển chung của xã hội. Xuất phát từ khách hàng: “Muốn bán được hàng phải nhắm trúng vào tâm lý của khách, đừng nhắm vào cái đầu của khách”. Khách hàng nắm 10 quyền quyết định, khách hang là thượng đế, doanh nghiệp phải đứng trên lập trường của khách hàng, tìm hiểu xem khách hàng muốn gì, nghiên cứu xem loại sản phẩm nào có giá trị đối với khách hàng, từ đó chủ động tìm cách thoả mãn nhu cầu của khách hàng. Chúng ta cần sản xuất, đáp ứng những cái xã hội cần chứ không làm những điều mình thích. Cũng như làm những điều xã hội yêu cầu, chứ không làm những điều mình thích. Hiệu quả và tiết kiệm: - Để thực hiện mục tiêu chung của tổ chức các nhà quản lý biết phải phối hợp một cách tối ưu các nguồn lực. Đó là sự kết hợp tối ưu, hiệu qủa giữa người quản lý với người quản lý; giữa người quản lý và người bị quản lý; giữa người bị quản lý với nhau và giữa nhân lực với các nguồn lực khác. - Để thực hiện nguyên tắc này, các nhà quản lý phải: + Phân công công việc, giao quyền một cách phù hợp + Sử dụng hiệu quả các nguồn lực khác (vật lực, tài lực, tin lực) + Đầu tư có trọng điểm trong việc phát triển nhân lực + Đầu tư công nghệ đáp ứng yêu cầu của công việc Kết hợp hài hoà các lợi ích: - Quản lý là nhằm hướng đến thực hiện mục tiêu chung của tổ chức, tuy nhiên để thực hiện được điều đó và đảm bảo cho tổ chức phát triển lâu dài và bền vững thì chủ thể quản lý phải nhận thức được hệ thống lợi ích và quan hệ lợi ích, đảm bảo thực hiện chúng một cách hài hoà. 11 - Sự hài hoà của hệ thống lợi ích biểu hiện ở sự kết hợp hài hoà giữa lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần; lợi ích kinh tế với lợi chính trị, xã hội, môi trường; lợi ích chung - lợi ích riêng; lợi ích toàn cục - lợi ích bộ phận; lợi ích trước mắt - lợi ích lâu dài v.v. - Sự hài hoà của các quan hệ lợi ích thể hiện ở sự kết hợp hài hoà giữa lợi ích của người quản lý với người bị quản lý; giữa lợi ích của các chủ thể quản lý với nhau; giữa lợi ích của các đối tượng quản lý với nhau; giữa lợi ích của tổ chức này với lợi ích của các tổ chức khác và với lợi ích xã hội - Để thực hiện được nguyên tắc này nhà quản lý phải: + Thực hiện dân chủ trong việc xây dựng các nội quy, quy chế, chính sách. + Phải công bằng, công khai và minh bạch trong việc phân bổ các giá trị. + Giải quyết các xung đột về vai trò và xung đột về lợi ích một cách khách quan. Chuyên môn hoá và kết hợp kinh doanh tổng hợp Tận dụng thời cơ và môi trường kinh doanh: Thời cơ chỉ đến trong chốc lát, vì vậy phải nắm bắt tuân thủ theo nguyên tắc toàn diện, kịp thời, chính xác. 12 Dám mạo hiểm: phải thường xuyên đổi mới, cải tiến không ngừng, dám mạo hiểm thử sức với những cơ hội mới, thách thức mới để khi vượt qua nó thì sẽ thành công vượt bậc. Bí mật trong kinh doanh: phải đảm bảo những thông tin, bí mật của doanh nghiệp phải được: - Biết dừng đúng lúc: mạo hiểm nhưng phải biết dừng đúng lúc để đạt được kết quả cao nhất. - Đổi mới: đổi mới quản lý để thúc đẩy phát triển, quản lý cũng cần có sự đổi mới, nếu quản lý không phát triển thì mất đi sức mạnh. 1.3 Phương pháp quản lý Phương pháp quản lý là tổng thể các cách thức tác động có thể có và có chủ đích của Chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý để đạt được các mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường. Trong hoạt động của tổ chức nói chung, trong sản xuất kinh doanh nói riêng, giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý cũng như khách thể quản lý có quan hệ với nhau một cách chặt chẽ. Mối quan hệ này thể hiện vị trí, vai trò của người lãnh đạo, quản lý và người bị lãnh đạo. Và một khi người lãnh đạo, quản lý và người bị lãnh đạo, quản lý cùng hướng đến một mục đích chung của một công việc, một nhiệm vụ nào đó thì sẽ đạt được kết quả mong muốn. Ngược lại, nếu giữa người lãnh đạo, quản lý và người bị lãnh đao, quản lý thiếu sự hợp tác, không có sự thống nhất về quyền lợi và trách nhiệm thì công việc sẽ gặp nhiều khó khăn, kết quả thu được sẽ hạn chế. 13 Phương pháp lãnh đạo, quản lý có tác dụng phối hợp các hoạt động, bảo đảm sự thống nhất của hệ thống. Vì vậy, muc tiêu quản lý quyết định việc lựa chọn phương pháp lãnh đạo. Trong quá trình lãnh đạo người lãnh đạo phải luôn điều chỉnh các phương pháp nhằm đạt mục tiêu tốt nhất. Phương pháp lãnh đạo luôn thay đổi cùng với sự thay đổi của cơ chế quản lý của những điều kiện khách quan và chủ thể, của chủ ý, nghệ thuật lãnh đạo, quản lý. Phương pháp quản lý là cách thức mà người quản lý sử dụng để tác động vào đối tượng quản lý khi thực hiện các chức năng nhiệm vụ. Vai trò các phương pháp quản lý trong nội bộ doanh nghiệp: - Đảm bảo thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ của người lãnh đạo, quản lý đối với công việc được giao. - Phương pháp lãnh đạo, quản lý góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác của các tập thể và cá nhân, nâng cao năng lực, uy tín của người lãnh đạo, quản lý. - Nâng cao khả năng cung cấp, tiếp nhận và xử lý thông tin giữa người lãnh đạo và người bị lãnh đạo. - Khơi dậy và phát huy được sức mạnh của mỗi tập thể và cá nhân, chống bệnh quan liêu, cửa quyền, thiếu trách nhiệm giữa người lãnh đạo, quản lý và người bị lãnh đạo, quản lý. Các phương pháp quản trị nội bộ Doanh nghiệp Đối tượng quản lý của Doanh nghiệp - Các nhân viên và người lao động 14 - Các tiềm năng trong doanh nghiệp - Các khách hàng, các bạn hàng - Các ràng buộc của môi trường vĩ mô - Các đối thủ cạnh tranh Các phương pháp quản trị nội bộ Doanh nghiệp Phương pháp hành chính: phương pháp này dựa trên cơ sở các mối quan hệ tổ chức và quyền hạn của người quản lý để ràng buộc các đối tượng quản lý chấp hành thực hiện nhiệm vụ được giao. Các phương pháp hành chính là các phương pháp tác động dựa vào các mối quan hệ tổ chức của hệ thống quản lý. Bất kỳ một hệ thống quản lý nào cũng hình thành mối quan hệ trong hệ thống. Về phương diện quản lý nó biểu hiệ thành mối quan hệ giữa quyền uy và phuc tùng, như người xưa thường nói quản lý con người có hai cách dùng ân và uy. Vai trò của các phương pháp hành chính trong quản lý là xác lập trật tự, kỷ cương làm việc trong hệ thống, giải quyết các vấn đề đặt ra trong quản lý rất nhanh chóng. Các phương pháp hành chính tác động vào đối tượng quản lý theo hai hướng: tác động về mặt tổ chức và tác động điều chỉnh vào đối tượng quản lý. Theo hướng tác động về mặt tổ chức, chủ thể quản lý ban hành các văn bản quy định về quy mô, cơ cấu, điều lệ hoạt động, tiêu chuẩn nhằm thiết lập tổ chức và xác định những mối quan hệ hoạt động trong nội bộ. Theo hướng tác động điều chỉnh hành động của đối tượng quản lý, chủ thể quản lý đưa ra các chỉ thị, mệnh lệnh hành chính bắt buộc cấp dưới thực hiện những nhiệm vụ nhất định, 15 hoặc hoạt động theo những phương hướng nhất định nhằm đảm bảo các bộ phận của hệ thống hoạt động ăn khớp, nhịp nhàng và đúng hướng, uốn nắn và khắc phục những rủi ro, lệch lạc có thể xảy ra. Đó là hai mặt tác động của phương pháp hành chính, trong nhiều trường hợp chúng cùng được sử dụng và bổ sung cho nhau. Sự phối hợp đúng đắn các hình thức tổ chức và điều khiển trong quản lý là nhân tố quan trong của việc sử dụng hợp lý các phương pháp hành chính. Các phương pháp hành chính đòi hỏi các chủ thể quản lý phải có quyết định dứt khoát, rõ ràng, dễ hiểu, có địa chỉ người thực hiện, loại trừ các khả năng có nhiều cách giải thích khác nhau đối với nhiệm vụ được giao. Tác động hành chính có hiệu lực ngay khi ban hành quyết định. Vì vậy, các phương pháp hành chính hết sức cần thiết trong trường hợp hệ thống quản lý rơi vào các tình huống khó khăn phức tạp. Phương pháp kinh tế: là phương pháp dựa trên cơ sở của các lợi ích kinh tế để đối tượng quản lý tự lựa chọn phương án hoạt động của mình thực hiện nhiệm vụ được giao. Các phương pháp kinh tế là các phương pháp tác động gián tiếp vào đối tượng bị quản lý, thông qua các lợi ích kinh tế và đòn bảy kinh tế, để cho đối tượng bị quản lý tự ý lựa chọn phương án hoạt động có hiệu quả nhất trong phạm vi hoạt động của họ mà không phải thường xuyên tác động về mặt hành chính. Các phương pháp kinh tế tác động thông qua các lợi ích kinh tế thực chất là vận dụng các quy luật kinh tế, sử dụng các phạm trù kinh tế, các đòn bảy kích thích kinh tế, các chính xáh kich thích 16 kinh tế, giá cả, định mức, tiền lương, lợi nhuận…để khuyến khích nhân viên hoàn thanh nhiệm vụ. Phương pháp kinh tế giữ vai trò trung tâm trong các phương pháp quản lý và nó là phương pháp năng động, nhạy bén nhất, là phương pháp quản lý tốt nhất để thực hành tiết kiệm và nâng cao hiệu quả kinh tế. Thực tế quản lý chỉ rõ, khoán là phương pháp tốt nhất để giảm chi phí, nâng cao năng suất. Đặc điểm của phương pháp kinh tế là nó tác động lên đối tượng quản lý không bằng cưỡng bức hành chính mà bằng lợi ích, tức là chỉ đề ra mục tiêu nhiệm vụ phải đạt, đưa ra những điều kiện khuyến khích về kinh tế, những phương tiện vật chất có thể sử dụng để họ tự tổ chức việc thực hiện nhiệm vụ. Chính các tập thể, cá nhân vì lợi ích thiết thực, phải tự xác định và chọn phương án giải quyết vấn đề. Các phương pháp kinh tế chấp nhận có thể có những giải pháp kinh tế khác nhau cho cùng một vấn đề. Đồng thời, khi sử dụng phương pháp kinh tế, chủ thể quản lý phải biết tạo ra những tình huống, những điều kiện để lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể phù hợp với lợi ích chung của hệ thống. Chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý bằng phương pháp kinh tế theo những hướng sau: - Định hướng phát triểu chung của tổ chức bằng các mục tiêu, nhiệm vụ phù hợp với điều kiện thực tế của hệ thống, bằng những chi tiêu cụ thể cho từng thời gian, cho từng phân hệ, từng cá nhân của hệ thống. 17 - Sử dụng các định mức kinh tế - kỹ thuật, các biện pháp đòn bẩy kích thích kinh tế để lôi cuốn, khuyến khích các cá nhân phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. - Bằng các chế độ thưởng phạt vật chất, trách nhiệm kinh tế chặt chẽ để điều chỉnh hoạt động của các bộ phận, các cá nhân, xác lập trật tự kỷ cương, xác lập chế độ trách nhiệm cho mọi bộ phận, mọi phân hệ cho đến từng người lao động trong hệ thống. Để sử dụng tốt phương pháp kinh tế cần phải chú ý một số vấn đề quan trọng sau đây: Một là, việc áp dụng các phương pháp kinh tế luôn luôn gắn với việc sử dụng đúng các đòn bảy kinh tế như giá cả, lợi nhuận, lãi suất, tín dụng, tiền lương, tiền thưởng…Nói cách khác, việc sử dụng các phương pháp kinh tế gắn với việc sử dụng các phạm trù kinh tế, nhất là các quan hệ hàng hóa-tiền tệ. Để nâng cao hiệu quả sử dụng các phướng pháp kinh tế phải hoàn thiện hệ thống các đòn bảy kinh tế trên cơ sở nâng cao nhận thức và năng lực vận dụng các quan hệ hàng hoá-tiền tệ, quan hệ thị trường. Hai là, để áp dụng phương pháp kinh tế phải được thực hiện sự phân cấp đúng đắn giữa các cấp lãnh đạo, quản lý. Bởi vì, khi quá trình phân công lao động được mở rộng và ngày càng trở nên sâu sắc thì mối quan hệ trong đời sống kinh tế càng trở nên phức tạp hơn, việc quản lý sẽ phức tạp và kết quả sẽ đạt tốt nhất ở nơi nào việc áp dụng các phương pháp kinh tế được mở rộng. Khi sử dụng rộng rãi các phương pháp kinh tế, các cơ quan cấp dưới không chỉ là người thực hiện mà họ còn có trách 18 nhiệm với công việc của mình. Có những vấn đề trước đây do cơ quan cấp trên giải quyết, bây giờ do chính cơ quan cấp dưới tự giải quyết. Như vậy việc mở rộng quyền hạn cho cấp dưới không chỉ còn là hình thức mà còn trở thành hiện thực có hiệu quả. Ba là, sử dụng phương pháp kinh tế đòi hỏi cán bộ quản lý kinh tế phải có trình độ và năng lực về nhiều mặt. Bởi vì, sử dụng các phương pháp kinh tế đòi hỏi cán bộ lãnh đạo, quản lý phải hiểu biết và thông thạo nhiều loại kiến thức và kinh nghiệm quản lý, đồng thời phải có bản lĩnh và tính tự chủ cao. Phương pháp tâm lý giáo dục Là phương pháp dựa trên cơ sở của các quan hệ tâm lý, tư tưởng, tình cảm đề đối tượng quản lý phát huy tính tự giác và nhiệt tình lao động trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao. Các phương pháp tâm lý giáo dục thực chất là vận dụng các quy luật tâm lý tình cảm, các nguyên lý trong giáo dục để thuyết phục, loi cuốn nhân viên hoàn thành nhiệm vụ. Phương pháp tâm lý giáo dục là cách tác động vào nhận thức và tình cảm của con người trong hệ thống nhằm nâng cao tính tự giác và nhiệt tình lao động của họ trong việc thực hiện các nhiệm vụ. Các phương pháp giáo dục có ý nghĩa lớn trong quản lý vì đối tượng của quản lý là con người- một thực thể năng động, là tổng hoà của nhiều mối quan hệ. Tác động vào con người không chỉ có hành chính, kinh tế, mà còn có tác động tinh thần, tâm lý-xã hội… 19 Các phương pháp giáo dục dựa trên cơ sở vận dụng các quy luật tâm lý. Đặc trưng của các phương pháp này là tính thuyết phục, tức là làm cho con người phân biệt được phải-trái, đúng-sai, lợi-hại…từ đó nâng cao tính tự giác làm việc và sự gắn bó với hệ thống. Các phương pháp giáo dục thường xuyên sử dụng kết hợp với các phương pháp khác một cách uyển chuyển, linh hoạt, vừa nhẹ nhàng vừa sâu sát đến từng người lao động, đây là một trong những bí quyết thành công của nhiều nhà lãnh đạo. CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG CÁC NGUYÊN TẮC PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ TẠI BAN THI ĐUA - KHEN THƯỞNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Ban Thi đua - Khen thưởng thành phố Hải Phòng là cơ quan chuyên môn thuộc Sở Nội vụ thành phố có chức năng quản lý Nhà nước về công tác thi đua khen thưởng trên địa bàn thành phố Hải Phòng hoạt động quản lý theo Luật Thi đua, Khen thưởng cùng các văn bản hướng dẫn dưới Luật. Ban Thi đua – Khen thưởng thành phố Hải Phòng có trụ sở tại số 15 Hoàng Diệu, phường Minh Khai, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng. Ban hiện có 14 biên chế và 01 hợp đồng trong biên chế; 01 Trưởng ban kiêm Phó Giám đốc Sở Nội vụ, 01 Phó Trưởng ban và 3 Phòng chức năng (Phòng Tổng hợp Hành chính, Phòng Nghiệp vụ I, Phòng Nghiệp vụ II). 20
- Xem thêm -