Tài liệu Tiểu luận cuối khóa Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin tại Bệnh viện năm 2019

  • Số trang: 22 |
  • Loại file: DOCX |
  • Lượt xem: 131 |
  • Lượt tải: 1
hosomat

Tham gia: 10/08/2016

Mô tả:

Tiểu luận cuối khóa Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin tại Bệnh viện năm 2019
ĐẶT VẤN ĐỀ Chúng ta đang sống ở kỷ nguyên số, cách mạng công nghiệp 4.0, đặc biệt với sản phẩm mũi nhọn Công nghệ thông tin (CNTT) đang thể hiện vai trò và sức mạnh vượt trội chi phối các hoạt động của nhiều ngành nghề trong đó có ngành y tế. Các hoạt động chăm sóc sức khỏe con người luôn bị áp lực cao, đòi hỏi khẩn trương, minh bạch vì vậy CNTT là phương tiện trợ giúp đắc lực để thực hiện tốt các hoạt động tại các cơ sở khám chữa bệnh[7]. Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra vai trò quan trọng của CNTT trong việc cải thiện chất lượng chăm sóc người bệnh như giảm thời gian xử lý trường hợp bệnh, quản lý bệnh nhân chi tiết và chính xác, các hoạt động khám và điều trị được thực hiện tự động.. Mặc dù còn có khó khăn về tài chính và những thách thức trong việc triển khai CNTT nhưng việc triển khai và tăng cường áp dụng CNTT trong bệnh viện nói riêng và chăm sóc sức khỏe nói chung ngày càng phát triến về số lượng và chất lượng và nó trở thành việc bắt buộc phải làm trong thế kỷ 21. Tại Việt Nam, trong những năm qua nhiều bệnh viện có khả năng về tài chính và CNTT đã thành công trong việc đưa ứng dụng CNTT vào các hoạt động quản lý bệnh viện đặc biệt là các bệnh viện tuyến trung ương và đa phần các bệnh viện tuyến tỉnh. Qua thực tế tại các bệnh viện này cho thấy việc ứng dụng CNTT đã giúp các nhà quản lý sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của bệnh viện, chống thất thu viện phí, đảm bảo công tác xuất nhập thuốc nhanh chóng và chính xác công khai minh bạch tài chính cho bệnh nhân. Từ đó, giúp kiểm soát sử dụng thuốc hợp lý an toàn, đảm bảo tra cứu thuận tiện, lưu trữ lâu dài và vẹn toàn thông tin rút ngắn thời gian thống kê báo cáo, đưa các dịch vụ y tế đến gần với người dân hơn, hướng tới sự hài lòng của người bệnh[7]. Bệnh viện A Thái Nguyên là Bệnh viện đa khoa hạng 1 của tỉnh với quy mô 750 giường kế hoạch. Giường thực kê: 1050[8]. Hàng ngày có khoảng 700 800 lượt bệnh nhân đến khám và điều trị[4]. Vì vậy việc sớm ứng dụng CNTT để hỗ trợ cho công tác quản lý bệnh là một yêu cầu cấp thiết. Sau gần 6 năm áp 1 dụng việc ứng dụng CNTT trong công tác quản lý bệnh viện bước đầu đã mang lại nhiều lợi ích thiết thực như các thông tin, dữ liệu báo luôn được cập nhập; các thông tin về tài chính và thuốc men được công khai minh bạch cho người bệnh, các kết quả xét nghiệm, phim ảnh XQ, siêu âm, nội soi dễ dàng chia sẻ cho các bác sĩ. Tuy nhiên trong quá trình triển khai đã gặp một số khó khăn như hạn chế về khả năng tiếp cận CNTT của cán bộ y tế, sự phối hợp chưa đồng bộ giữa các khoa, phòng, cơ sở hạ tầng CNTT chưa đáp ứng đầy đủ, các quy định về thông tin và quy trình làm việc chưa rõ ràng. Trong quá trình vận hành còn nhiều sai sót đòi hỏi phải sửa lỗi nhiều, dữ liệu có lúc còn bị sai lệch khác nhau giữa các bộ phận[1]. Vậy câu hỏi đặt ra là việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý bệnh viện tại Bệnh viện A Thái Nguyên hiện nay như thế nào, yếu tố nào liên quan đến việc ứng dụng công nghệ thông tin tại Bệnh viện A hiện nay ? Là một cán bộ Bệnh viện A Thái Nguyên đang theo học lớp Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh Bác sỹ chính, được các Thầy trường Đại học Y tế công cộng giảng dạy và hướng dẫn em viết Tiểu luận với chuyên đề: “ Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin tại Bệnh viện A Thái Nguyên năm 2019”. 2 PHẦN I: MỤC TIÊU 1. Khảo sát thực trạng việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý bệnh viện tại Bệnh viện A Thái Nguyên năm 2019. 2. Tìm hiểu các yếu tố liên quan đến ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý tại Bệnh viện A Thái Nguyên. Đề xuất các giải pháp 3 PHẦN II: NỘI DUNG Để tìm hiểu được thực trạng ứng dụng CNTT và các yếu tố liên quan đến việc ứng dụng CNTT tại Bệnh viện A em dựa vào các báo cáo về CNTT, các báo cáo về tình hình hoạt động của Bệnh viện năm 2019, cụ thể: * Đối tượng nghiên cứu - Các số liệu thứ cấp bao gồm các báo cáo hoạt động của Bệnh viện và các báo cáo số liệu liên quan đến CNTT tại bệnh viện. - Các văn bản, quyết định, quy định có liên quan đến CNTT tại bệnh viện; - Các cán bộ, nhân viên làm việc tại Bệnh viện có liên quan đến CNTT. * Phương pháp nghiên cứu - Thiết kế nghiên cứu: mô tả cắt ngang kết hợp giữa nghiên cứu định lượng và định tính. Trong đó: + Nghiên cứu định lượng: phân tích số liệu thứ cấp để đánh giá thực trạng và một số yếu tố liên quan đến ứng dụng CNTT tại bệnh viện A Thái Nguyên. + Nghiên cứu định tính: thực hiện các cuộc phỏng vấn sâu để phân tích, làm rõ thêm các yếu tố liên quan đến hoạt động ứng dụng CNTT tại Bệnh viện A. 4 PHẦN III: KÊT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 3.1 Thực trạng ứng dụng CNTT tại Bệnh viện A Thái Nguyên Các bước triền khai của việc ứng dụng CNTT tại Bệnh viện [1]:  Từ năm 2008: Bệnh viện triển khai một máy chủ và hơn 50 máy tính trạm được kết nối mạng nội bộ(LAN) và ứng dụng phần mềm Hsoft. Các máy trạm được bố trí đến các khoa phòng và bộ phận.  Hàng năm mua bổ sung thêm máy tính và các thiết bị tin học khác nhằm đảm bảo công tác khám chữa bệnh.  Năm 2017: Bệnh viện đã đã nâng cấp và trang bị hệ thống máy chủ nhằm đảm bảo chạy song song 24/24 giờ nhằm tăng tính ổn định, an toàn cho hoạt động khám chữa bệnh và quản lý điều hành chung, đến thời điểm hiện tại Bệnh viện có hơn 160 máy tính và hơn 60 máy in được bố trí đều cho các khoa phòng. Đã xây dựng mạng LAN nội bộ. Từng bước triển khai, áp dụng hệ thống phần mềm Hsoft quản lý tổng thể bệnh viện đồng bộ từ các phòng chức năng đến phòng khám cũng như tất cả các khoa lâm sàng, cận lâm sàng.  Năm 2013 bệnh viện đã xây dựng trang Web với tên miền là: www.benhvienathainguyen.com.vn  Cùng với việc trang bị các cơ sở hạ tầng gồm phần mềm, phần cứng thì bệnh viện đã tổ chức đào tạo các khóa học ngắn hạn cho tất cả các cán bộ, nhân viên về kỹ năng sử dụng máy tính và việc ứng dụng tin học vào trong công tác quản lý khám chữa bệnh.  Việc ứng dụng CNTT tại bệnh viện áp dụng cho nhiều lĩnh như: o Quản lý bênh nhân khoa khám bệnh và khám ngoại trú: Hiện tại bệnh viện có 5 bàn tiếp đón, 13 bàn khám chuyên khoa và 5 bàn khám ngoại trú. Từ bàn đón tiếp bệnh nhân đã được đăng ký qua mã QR-code nên thông tin rất chính xác và thời gian xử lý nhanh. Sau đó thông tin của bệnh nhân được chuyển đến các bàn khám và hiển thị thông tin cơ bản người bệnh trên màn hình tivi trước mỗi của phòng khám.Tại khoa khám bệnh của Bệnh viện, khi có xử trí phòng khám: 5 - Chỉ định xét nghiệm: Chuyển vào danh sách chờ viện phí, hoặc chuyển thẳng lên khu vực cận lâm sàng đối với bệnh nhân BHYT. - Khi có kết quả cận lâm sàng bệnh nhân quay trở lại phòng khám để: Kê đơn cho về hoặc nhập viện.  Quản lý bênh nhân nôi trú - Thông tin từ phòng khám có chỉ định nhập viện sẽ chuyển bệnh nhân vào danh sách chờ nhập khoa sau khi đã nhập thông tin hành chính đầy đủ. - Bệnh nhân sau khi nhập khoa sẽ có trong danh sách hiện diện tại khoa mới sử dụng được các dịnh vụ tại bệnh viện (cận lâm sàng, thuốc, vật tư tiêu hao,...) - Các thông tin sử dụng của từng bệnh nhân sẽ được chuyển khoa sang khoa phòng tương ứng: thuốc chuyển sang khoa Dược, vật tư tiêu hao chuyển xuống kho vật tư, cận lâm sàng tương ứng. - Các thông tin này và chỉ số sinh tồn sẽ được cập nhập hàng ngày vào hồ sơ để lưu trữ và chuyển sang viện phí khi xuất khoa, xuất viện. Công khai viện phí từng ngày cho bệnh nhân.  Quản lý dươc và vât tư y tế Tại kho chính: Thông tin đầu vào là các hóa đơn (tên gốc, biệt dược, đơn vị cung cấp, nước sản xuất, lô hạn dùng, số lượng...). Thông tin đầu ra: Xuất kho lẻ, xuất khác - Kho lẻ: Quản lý theo loại (kho lẻ độc, kho lẻ viên,....) - Tủ trực thuốc các khoa: Cơ số thuốc, hóa chất và vật tư được Ban Giám đốc duyệt - Hàng ngày duyệt cấp phát thuốc từ kho lẻ bao gồm: - Thuốc dự trù hàng ngày theo y lệnh bác sĩ chi tiết từng bệnh nhân và phát tổng hợp theo khoa. Viện phí sẽ được cập nhập khi đã được duyệt thuốc. - Bù tủ trực theo từng bệnh nhân, tổng hợp theo khoa hàng ngày. Viện phí được cập nhập ngay khi làm thuốc.  Quản lý cận lâm sàng Bệnh nhân ngoại trú khi có chỉ định qua bộ phận tài chính xác nhận đối với 6 đối tượng không phải là BHYT, và chuyến dữ liệu vào khu vực xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh. Khi có kết quả trả lại được cập nhập vào hồ sơ bệnh nhân, khoa xét nghiệm, chẩn đoán hình. Hệ thống sẽ lưu kết quả của tất cả các lần bệnh nhân đến khám, vì vậy mà việc tham khảo các kết quả cũ là rất hữu ích và cần thiết. Bệnh nhân nội trú khi có yêu cầu xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh được cập nhập thông về khu vực đó ngay.  Quản lý viên phí Đây là phân hệ quan trọng đòi hỏi thông tin phải được tổng hợp từ toàn bộ các phân hệ khác với đặc thù tại bệnh viện chia ra nhiều đối tượng gồm: đối tượng bảo hiểm, đối tượng trẻ em dưới 6 tuổi, đối tượng thu viện phí,…. Do vậy việc ứng dụng CNTT trong công tác quản lý viện phí bao gồm:  Thu tiền khám bệnh từ thông tin đăng ký khám;  Thu tiền khám khám sức khỏe;  Phân loại bệnh nhân theo đối tượng;  Tính tiền dịch vụ theo đối tượng;  Thu tiền tạm ứng nội trú và trả tiền hoàn ứng;  Thanh toán bệnh nhân nội trú  Thống kê theo từng dịch vụ, theo khoa, bác sĩ, đối tượng.  Tính, chi trả phẫu thuật, thủ thuật;  Kết chuyển số liệu lên cổng tiếp nhận BHYT  Quản lý hồ sơ bệnh án và báo cáo thống kê: hồ sơ bệnh án được quản lý thống kê khoa học, đầy đủ thông tin và trúy xuất dễ dàng. Công tác báo cáo thống kê: phục vụ chuyên môn quản lý, báo cáo cấp trên được thực hiện chính xác, nhanh chóng đáp ứng được yêu cầu. Bảng 3.1 Các phân hệ phần mềm quản lý bệnh viện [6] 7 Các phân hệ theo Quyêt định 5573/QĐ-BYTcủa Bộ Y tê STT Các phân hệ quản lý hiện có của bệnh viện A Thái Nguyên 1 QL khoa Khám bệnh Có 2 QL bệnh nhân nội trú Có 3 QL dược,vật tư tiêu hao Có 4 QL viện phí và BHYT Có 5 QL cận lâm sàng Có 6 QL nhân sự, tiền lương Có 7 QL trang thiết bị y tế 8 QL chỉ đạo tuyến Có Không QL báo cáo thống kê tổng hợp * Nhận xét và bàn luận: Bảng 3.1 cho thấy, Bệnh viện A hiện có 7 phân hệ quản lý. So với các phân hệ quản lý bệnh viện theo Quyết định 5573/QĐBYT thì Bệnh viện A có thêm phân hệ báo cáo thống kê tổng hợp[6]. Đây là phân hệ phục vụ công tác chuyên môn điều hành hiệu quả trong Bệnh viện. Với 8 phân hệ phần mềm quản lý Bệnh viện thì đã bao phủ 31 khoa phòng trong bệnh viện, tất cả các phân hệ đó liên kết logic với nhau tạo thành chu trình khép kín. Bảng 3.2 Số lượng máy tính tại các khoa/phòng STT 1 2 3 4 5 6 7 8 9 Khoa/phòng Khoa Da liễu Khoa Chống nhiễm khuẩn Khoa Đông y Khoa Mắt Khoa RHM Khoa TMH Khoa Gây mê hồi sức Khoa giải phẫu bệnh Khoa Huyết học truyền máu Số lượng máy tính (Bộ ) n 1 2 2 1 1 1 3 1 6 Số lượng máy in (Cái ) n 1 1 1 1 1 1 0 0 4 8 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 Khoa Hồi sức cấp cứu Khoa Hỗ trợ sinh sản Khoa khám bệnh Khoa Dược Khoa Sản Khoa Nhi Khoa Ngoại chấn thương Khoa Ngoại tổng hợp Khoa Nội tổng hợp Khoa Nội tim mạch Phòng công tác xã hội Phòng quản lý chất lượng Phòng đào tạo và chỉ đạo tuyến Phòng vật tư Phòng Tổ chức hành chính Phòng Tài chính kế toán Phòng kế hoạch tổng hợp Phòng Điều dưỡng Khoa Sinh hóa Khoa truyền nhiễm Khoa Xquang Ban Giám đốc Tổng 6 4 34 6 9 7 5 8 6 7 2 1 2 3 4 20 10 1 6 2 13 4 178 2 2 26 6 3 1 1 2 1 2 1 1 1 3 3 19 3 1 4 1 7 3 103 * Nhận xét và bàn luận: Bảng 3.2 cho thấy bệnh viện đã trang bị về cơ bản máy tính, máy in cho tất cả các khoa, phòng. Số lượng máy tính tại bệnh viện là 178, số máy in là 103. Khoa khám bệnh là đơn vị có nhiều máy tính (34), máy in (26) nhất, bởi vì với quy mô khám chữa bệnh đa khoa tất cả các phòng phòng khám được sắp xếp bố trí một khu vực, thuận tiện cho người bệnh đi khám. Việc in ở các bàn khám cũng công tác khám chữa bệnh được nhanh hơn và giảm được thời gian chờ đợi của người bệnh. Tiếp theo là phòng tài chính kế toán với số lượng máy tính, máy in là 20 và 19, bởi hầu hết hoạt động của phòng TCKT hàng ngày là việc thanh toán KCB nội trú, ngoại trú, các báo cáo tài chính và báo cáo quyết toán. Số máy tính, máy in này cơ bản đáp ứng công việc hiện tại nhưng nhu cầu vẫn cần tăng thêm để giải phóng công việc nhanh hơn, giảm thời 9 gian chờ đợi của người bệnh. Bảng 3.3. Hiện trạng kết nối mạng LAN, sử dụng Internet STT Khoa/phòng Số lượng Kết nối mạng LAN máy tính (Bộ ) (%) n 4 4 100 100 2 2 Kết nối Internet n 4 (%) 100 1 50 1 Ban GĐ 2 Khoa CNK 3 Khoa Đông y 2 2 100 0 100 4 Khoa Mắt 1 1 100 0 0 5 Khoa RHM 1 1 100 0 0 6 Khoa TMH 1 1 100 0 0 7 Khoa GMHS 3 3 100 0 0 8 Khoa GPB 1 1 100 0 0 9 Khoa HH-TM 6 6 100 2 33 10 Khoa HSCC 6 6 100 0 0 11 Khoa HTSS 4 4 100 2 50 12 Khoa KB 34 34 100 8 24 13 Khoa Dược 6 6 100 6 100 14 Khoa Sản 9 9 100 3 33 15 Khoa Nhi 7 7 100 0 0 16 Khoa Ngoại CT 5 5 100 0 0 17 Khoa Ngoại TH 8 8 100 1 13 18 Khoa Nội TH 6 6 100 0 0 19 Khoa Nội TM 7 7 100 0 0 20 Phòng CTXH 2 2 100 2 100 21 Phòng QLCL 1 1 100 1 100 22 Phòng CĐT 2 2 100 2 100 23 Phòng vật tư 3 3 100 3 100 10 24 Phòng TCHC 4 4 100 4 100 25 Phòng TCKT 20 19 100 15 75 26 Phòng KHTH 10 10 100 10 100 27 Phòng ĐD 1 1 100 1 100 28 Khoa Sinh hóa 6 6 100 3 50 29 Khoa TN 2 2 100 0 00 30 Khoa Xquang 13 13 100 4 31 31 Tổng Khoa Da liễu 1 1 100 0 0 178 72 * Nhận xét và bàn luận: Bảng 3.3 cho thấy 178/178 máy tính được nối mạng LAN bởi vì tất cả các khoa/ phòng đều thao tác trên một phần mềm quản lý bệnh viện thống nhất, từ đó có thể vừa phục vụ chuyên môn KCB vừa kết xuất số liệu báo cáo, thống kê một cách chính xác và kịp thời. Có 72/178 chiếm 40% đây là tỷ lệ khá thấp, một phần là đảm bảo an bảo mật thông tin và việc kết nối Internet chỉ ở các các phòng giúp tham mưu cho lãnh đạo Bệnh viện. Mặc dù hiện nay đã có ứng dụng công nghệ trong công tác KCB nhưng việc số hóa toàn bộ quý trình KCB chưa hoàn thiện, vừa làm trên máy tính và vừa viết trên hồ sơ bệnh án nên tỷ lệ sai sót trên hồ sơ bệnh án vẫn xảy ra ở các khoa. Như khoa Sản có tỷ lệ cao nhất là 5,3%, khoa có tỷ lệ sai sót thấp nhất là khoa Mắt, khoa Da liễu là 1,4%. Và có khoa Đông y là không có hồ sơ sai. Nguyên nhân sai sót được chỉ ra rằng: lượng máy tính so với lượng bệnh nhân trong khoa là không tương xứng, quá ít máy tính lên bác sĩ, điều dưỡng phải đợi nhau làm việc. Thứ hai nữa là chưa in được án hoàn toàn trên máy nên vừa viết tay vào bệnh án vừa gõ trên máy tính theo quy định của Bộ y tế về trích chuyển dữ liệu mất nhiều thời gian và bị giãn đoạn công việc. Nhiều khi kiêm cả phần việc của bác sĩ trong quá trình làm trên máy tính. Ở khoa chưa xây dựng rõ quy trình về làm việc cho điều dưỡng trên máy tính. Ví dụ như điều dưỡng phụ trách buồng/phòng điều trị nào thì đảm nhận công việc máy tính ngay thì tốt hơn. 11 Hiện nay vẫn còn phát sinh thêm bộ phận y tá hành chính soát xét ra viện gây mất nhân lực mà vẫn còn sai sót xảy ra. Mạng nhiều khi còn xảy ra hiện tượng treo, đơ ảnh hưởng tới việc khám chữa bệnh. 3.2.Các yếu tố liên quan đến ứng dụng CNTT tại Bệnh viện Bảng 3.4. Trình độ cán bộ CNTT của bệnh viện STT Trình độ bộ Số cán bộ nhân viên (người) 1 Thạc sĩ 1 2 Kỹ sư 1 3 Đại học 3 4 Cao đẳng 0 5 Trung học 0 * Nhận xét: Bảng 3.4 Đội ngũ CNTT của bệnh viện có 5 người. 100% có trình độ Đại học trở lên. Trong đó có 1 Thạc sỹ CNTT. Đội ngũ nhân viên chuyên trách về CNTT của Bệnh viện A Thái Nguyên có 05 người trong đó 01 người là có trình độ sau đại học, 04 người có trình độ đại học. Với quy mô giường bệnh là 740 thì tỷ lệ cán bộ tin học chiếm 0,6%. Tỷ lệ này thấp so với 1 số nghiên cứu khác. Theo nghiên cứu của Nguyễn Đức Luyện về “Thực trạng ứng dụng CNTT trong khám chữa bệnh tại Bệnh viện Lão Khoa Trung Ương, năm 2017”[3] thì nhân lực CNTT của Bệnh viện Lão khoa là 3 người trên qui mô giường bệnh 250 chiếm tỷ lệ 1,2%. Cũng theo nghiên cứu của Nguyễn Xuân Lâm về “Thực trạng ứng dụng CNTT tại bệnh viện đa khoa Buôn Ma Thuật, năm 2013” thì nhân lực CNTT của Bệnh Buôn Ma Thuật là 3 người trên qui mô giường bệnh 250 chiếm tỷ lệ 1,2%[2]. Xét về nhân lực CNTT so với số máy tính thì Bệnh viện A là 5/178 bộ máy tính chiếm tỷ lệ 2,8%. Tỷ lệ này là thấp so với nghiên cứu của Nguyễn Xuân Lâm ở Buôn Ma Thuật 3/135 bộ máy tính chiếm tỷ lệ 3,0% 12 Như vậy nhân lực chuyên trách CNTT của Bệnh viện còn thiếu và qua phỏng vấn cho thấy năng lực chưa đồng đều. Bảng 3.5 Trình độ tin học của cán bộ nhân viên Bệnh viện A Thái Nguyên STT Cán bộ nhân viên Bệnh viện A Thái Nguyên Chứng chỉ tin học A,B,C Có Không Tổng số (người) 1 Bác sĩ 101 101 2 Điều dưỡng/kỹ thuật viên 222 222 3 Dược sĩ trung học 14 14 4 Kế toán 22 22 5 Các thành phần khác 117 60 57 * Nhận xét và bàn luận: Bảng 3.5 cho thấy số cán bộ nhân viên trong Bệnh viện không có chứng chỉ tin học văn phòng chỉ có 57 người chiếm tỷ lệ 12%. Không có chứng chỉ tin học là ở nhóm đối tượng không liên quan đến công việc với máy tính như bảo vệ, hộ lý. Tuy vậy tỷ lệ sai sót khi thao tác trên máy tính còn cao ở một số khoa. Nguyên nhân qua các phỏng vấn đã chỉ ra do nhân viên mới kỹ năng chưa thuần thục, bệnh nhân quá tải, máy tính thiếu nên áp lực công việc lớn đòi hỏi thao tác phải nhanh nên dẫn tới sai sót. Bảng 3.6 Số lượng máy tính, máy in trên giường bệnh ở các khoa lâm sang STT Khoa điều trị Số lượng máy tính (bộ) Số lượng máy in(cái) Giường thực kê 1 Khoa Hồi sức cấp cứu 6 2 45 2 Khoa Nội tổng hợp 6 2 125 3 Khoa Nội tim mạch 7 2 125 4 Khoa Ngoại tổng hợp 8 2 116 Tỷ lệ máy tính/ giường bệnh 7,5 20,8 17,9 14,5 13 5 Khoa Ngoại chấn thương 5 1 82 6 Khoa Sản 9 3 170 7 Khoa Nhi 7 2 142 8 Khoa Mắt 1 1 36 9 Khoa Da liễu 1 1 38 10 Khoa Đông y 2 1 38 11 Khoa RHM 1 1 28 12 Khoa TMH 1 1 40 13 Khoa truyền nhiễm 2 1 55 56 20 1050 Tổng 16,4 18,9 20,3 36 38 19 28 40 27,5 * Nhận xét: Bảng 3.6 cho thấy tỷ lệ máy tính/giường bệnh thấp nhất ở khoa TMH 1máy tính/40 giường bệnh, tiếp theo khoa Da liễu 1 máy tính/38 giường. Cao nhất là khoa HSCC 1 máy tính/7,5 giường. 14 Bảng 3.7 Tỷ lệ sai sót trên hồ sơ bệnh án khi xuất viện liên quan đến thao tác trên phần mềm STT Khoa/phòng Số lượng hồ sơ đã kiểm tra SL hồ sơ Số hồ sơ lỗi Tỷ lệ (%) 1. Khoa HSCC 951 47 4.9 2. Khoa Nội tổng hợp 2467 126 5.1 3. Khoa Nội - TM 2528 116 4.6 4. Khoa Truyền nhiễm 870 40 4.6 5. Khoa ngoại tổng hợp 3202 115 3.6 6. Khoa ngoại chấn thương 1857 93 5.0 7. Khoa Sản 5275 279 5.3 8. Khoa Nhi 3845 115 3.0 9. Khoa Đông y 421 0 0 10. Khoa Mắt 500 7 1.4 11. Khoa Da liễu 706 10 1.4 12. Khoa TMH 567 21 3.7 13. Khoa RHM 456 15 3.2 Nhận xét: Bảng 3.7 cho thấy khoa Đông Y không có hồ sơ bệnh án bị lỗi do thao tác trên máy tính, tiếp theo khoa Mắt có 7 bệnh án ( 1,4%), Da liễu 10 bệnh án ( 1,4%). Cao nhất là khoa Sản hồ sơ (5,3%), Nội TH 126 hồ sơ (5,1%) Hộp 3.1 Phỏng vấn CBYT về nguyên nhân sai sót “…CNTT đã giúp kiểm soát thông tin người bệnh rất tốt, trước đây mỗi lần chỉ định chúng tôi lại phải ghi chép lại, thì bây giờ thông tin người bệnh có sẵn trên mạng, muốn chỉ định thêm chúng tôi chỉ cần nhấp chuột vào là được, thông tin rất rõ ràng, không thể nhầm lẫn, lần khám sau chỉ cần đọc mã bệnh nhân là thông tin đã có trên máy hết rồi. Tuy nhiên lượng máy tính so với lượng bệnh nhân trong khoa là không tương xứng, quá ít máy tính lên bác sĩ, điều dưỡng phải đợi nhau làm việc. Thứ hai nữa là chưa in được án hoàn toàn trên máy nên 15 vừa viết tay vào bệnh án vừa gõ trên máy tính theo quy định của Bộ y tế về trích chuyển dữ liệu mất nhiều thời gian và dễ bị nhầm” Ý kiến của 1 đ/c bác sĩ khoa HSCC “… Việc áp dụng phần mềm vào khám bệnh, điều trị nội trú giúp cho chúng tôi cũng nhanh hơn rất nhiều. Tuy nhiên số lượng máy tính cũng quá ít nên nhiều thời điểm là không đủ máy tính, máy in để làm. Nhiều khi kiêm cả phần việc của bác sĩ trong quá trình làm trên máy tính. Ý kiến của 1 đ/c điều dưỡng khoa Sản * Về hạ tầng CNTT Về hạ tầng CNTT được triển khai từ năm 2012 đến nay cũng có nhiều lần duy tu bảo dưởng cộng với việc Bệnh viện mới hoàn thiện được vị trí các khoa/phòng nên đã ảnh hưởng đến đường truyền dữ liệu. Hiện nay chỉ có đường trục chính (đường xương sống ) có cáp quang, còn lại đường dẫn vào tới các khoa/phòng vẫn là CATE5E (dây mạng) nên cũng bị suy hao khi kéo xa tủ mạng tổng. Hiện trạng hệ thống mạng LAN đang hoạt động có các phần tử mạng kết nối với nhau thành một khối thống nhất, khó kiểm soát và hình thành một miền Broadcast lớn. Dễ xảy ra hiện tượng loop hoặc hiện tượng tràn bản tin Broadcast dẫn đến bộ vi xử lý của phần tử mạng tăng cao, hiệu năng giảm, băng thông giữa các kết nối bị chiếm dụng nhiều. Dẫn đến nhiều lúc các máy tính bị treo, mạng bị chậm đã ảnh hưởng không nhỏ đến công tác KCB. Kết quả phỏng vấn định tính tại hộp 3.1 đã nêu rõ thực trạng đó Các máy tính, máy in được trang bị qua nhiều đợt, không đồng bộ về cấu hình, tốc độ ảnh hưởng đến việc thao tác sủ dụng phần mềm của các nhân viên y tế. Tính kết nối của hệ thống CNTT trong bệnh viện hiện tại khá kém. Việc chia sẻ thông tin khám bệnh, kết quả cận lâm sàng chưa đạt so với yêu cầu. Bác sỹ lâm sàng, khám bệnh muốn biết kết quả cận lâm sàng sớm thì chưa thể, mà vẫn phải chờ người bệnh hoặc nhân viên y tế đi lấy kết quả về mới có thể ra chỉ định, kê đơn ngoại trú hay cho nhập viện điều trị nội trú Khoa Chẩn đoán hình 16 ảnh chưa được đầu tư hệ thống lưu trữ, xử lý, truyền tải hình ảnh (PACS), để có thể giúp Bác sỹ lâm sàng biết sớm hình ảnh chụp, giúp Bác sỹ CĐHA có thể gửi hình ảnh đi các cơ sở y tế khác để trao đổi, hội chẩn khi cần. Mặt khác có hệ thống PACS thì hoàn toàn có thể tiết kiệm phim ảnh, qua đó tiết kiệm chi phí cho người bệnh và cho bệnh viện. Hộp 3.2 Phỏng vấn của cán bộ trong Bệnh viện về hạ tầng CNTT tại Bệnh viện A Thái Nguyên “… Việc áp dụng CNTT vào trong Bệnh viện thật là thuận lợi, từ việc in được các chỉ định cận lâm sàng đến các phiếu thanh toán, phẫu thuật thủ thuật đến tổng hợp lĩnh thuốc hàng ngày. Nhưng khi gặp sự cố thì cán bộ CNTT phần mềm thì khắc phục chưa nhanh như mong đợi” Ý kiến của 1 đ/c điều dưỡng hành chính khoa Nội tổng hợp “Triển khai CNTT giảm thời gian chờ đợi cho người bệnh nhiều ấy chứ, Bác sỹ không phải viết lách thì người bệnh cũng không phải chờ lâu. Bệnh nhân nhập thông tin ngoài chỗ tiếp đón, thì trong các phòng khám đã có thông tin người bệnh rồi. Nhưng máy tính lại không đồng bộ hay bị treo, máy in có lúc in không nhận lệnh và hay bị kẹt giấy” Ý kiến của 1 đ/c lãnh đạo khoa khám bệnh “… Hạ tầng CNTT tại bệnh viện cũng khá tốt tuy nhiên đôi lúc đường truyền chậm, máy in thiếu có lúc không in được cứ quay tròn, máy tính còn nhiều máy cũ, cấu hình thấp. Trình độ tin học của một số đồng chí trong khoa còn hạn chế thao tác chậm. Vì vậy có mong muốn nâng cấp hạ tầng mạng, đường truyền, bổ sung thêm máy tính, máy in. Cần có lớp bồi dưỡng kiến thức tin học cho các đồng chí mà tin học còn yếu.” Ý kiến của 1 đ/c lãnh đạo khoa ngoại tổng hợp Hộp 3.3 Phỏng vấn các CBYT về nguyên nhân của các sự cố CNTT. 17 "…Về hạ tầng CNTT chưa thực sự đồng bộ, bởi vì là chúng ta trang bị từ nhiều nguồn khác nhau, mỗi một giai đoạn, mỗi một thời điểm thì có sự trang bị theo yêu cầu lúc đó. Dẫn đến hiệu quả về hoạt động CNTT của chúng ta trong công tác khám, chữa bệnh cũng như quản lý chưa thực sự tốt như mong muốn. Đường truyền kết nối hệ thống CNTT giữa các toà nhà chưa cáp quang toàn bộ nên không đảm bảo được tốc độ truyền. Chưa phân luồng dữ liệu trong hạ tầng mạng… Ý kiến của 1 đ/c cán bộ tin học "… Chưa có hệ thống lưu trữ, xử lý và truyền tải hình ảnh (PACS) cho khoa CĐHA. Hiện tại truyền tải ảnh chụp giữa các máy tính trong khoa vẫn là chia sẻ(share) thủ công. Nên tốn băng thông đường truyền mạng chung của toàn Bệnh viện" Ý kiến của 1 đ/c lãnh đạo khoa CĐHA "… Nhân lực chuyên trách về CNTT còn thiếu, chưa đáp ứng được nhu cầu, nên mỗi khi hạ tầng CNTT có sự cố thì việc khắc phục rất chậm, ảnh hưởng đến công tác phục vụ người. Nhân lực sử dụng thì trình độ CNTT chưa đồng đều" Ý kiến của 1 đ/c lãnh đạo Bệnh viện * Đề xuất giải pháp để triển khai tốt ứng dụng Công nghệ thông tin tại Bệnh viện[5] *Phân luồng dữ liệu  Phân vùng quản trị máy tính người dùng thành các vùng mạng khác nhau tùy theo phòng ban, chức năng.  Phân vùng các thiết bị tùy theo chức năng và đặc thù từng loại thiết bị thành các mạng riêng ảo (VLAN) khác nhau. Tránh tạo thành vùng Broadcast lớn, tiết kiệm băng thông các kết nối, giảm tải xử lý của các thiết bị.  Có hệ thống giám sát hoạt động của tất cả thiết bị 24/24, có khả năng phát hiện và thông báo điểm truy cập hỏng về trung tâm để đưa ra biện pháp xử lý. Dễ dàng thay thế và khắc phục khi có sự cố xảy ra. 18  Có giải pháp bảo mật an toàn thông tin phân chia chính sách theo từng phòng ban và bảo vệ vùng lớp mạng bên trong khi truy cập ra internet. Đảm bảo an toàn thông tin đối với hệ thống máy chủ đang chạy phần mềm Quản lý bệnh viện và các máy chủ khác thông qua hệ thống Firewall phân quyền truy cập và hạn chế các kết nối không an toàn.  Mua bổ sung trang thiết bị: Ngoài những thiết bị đang có sẵn tại các khoa phòng thì bảng danh sách dưới đây sẽ bổ sung thêm trang thiết bị CNTT phục vụ công tác khám chữa bệnh:  Tập huấn cho đội ngũ cán bộ nhân viên: - Định kỳ tổ chức đào tạo, cập nhật kiến thức hay thi kỹ năng tin học cho cán bộ nhân viện trong Bệnh viện để phát huy tốt hơn việc ứng dụng CNTT. - Tổ chức đào tạo tập huấn khi có thay đổi trên phần mềm KCB.  Bổ sung nhân lực CNTT: - Tuyển bổ sung nhân lực chuyên trách CNTT và có chính sách thu hút, đãi ngộ xứng đáng để họ an tâm công tác, nâng cao hiệu quả hoạt động sử dụng, ứng dụng CNTT trong khám, chữa bệnh 19 PHẦN IV. KẾT LUẬN Từ những kết quả trên, em rút ra những kết luận sau: 4.1. Thực trạng hạ tầng và ứng dụng CNTT tại Bệnh viện - Bệnh viện có 7/8 phân hệ phần mềm theo quy định của Bộ Y tế. Ngoài ra bệnh viện có thêm phân hệ phần mềm Quản lý báo cáo thống kê tổng hợp. Các phân hệ phần mềm đã đáp ứng được công tác quản lý KCB. - Bệnh viện hiện có 178 máy tính, 103 máy in đáp ứng được cơ bản cho công tác quản lý KCB. Tuy vậy so với yêu cầu còn thiếu. Các máy tính đã trang bị chưa đồng bộ, mua tại nhiều thời điểm khác nhau. Hiện còn nhiều máy thế hệ cũ (trang bị trước năm 2014) chiếm tỷ lệ 65 %. 4.2 Các yếu tố liên quan đến ứng dụng CNTT tại Bệnh viện A - Cán bộ chuyên trách tin học còn thiếu và chưa đồng đều - Hệ thống mạng Lan đã kết nối tất cả các khoa phòng trong bệnh viện. Đường truyền còn chậm và chưa được phân luồng riêng biệt. Chưa có hệ thống lưu trữ, xử lý và truyền tải hình ảnh (PACS). - Kỹ năng thực hành ứng dụng của cán bộ viên chức trong việc sử dụng phần mềm ở một số khoa còn hạn chế 20
- Xem thêm -