Tài liệu Thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng trên địa bàn huyện nông sơn, tỉnh quảng nam .

  • Số trang: 87 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 274 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI TRẦN THỊ THANH TRÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NÔNG SƠN, TỈNH QUẢNG NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG HÀ NỘI, năm 2019 VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI TRẦN THỊ THANH TRÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NÔNG SƠN, TỈNH QUẢNG NAM Chuyên ngành : Chính sách công Mã số : 8 34 04 02 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. ĐÀO THỊ MINH HẰNG HÀ NỘI, năm 2019 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, được các cơ quan cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Học viên Trần Thị Thanh Trà MỤC LỤC MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG ............................ 7 1.1. Khái niệm, đặc điểm của người có công với cách mạng: .......................... 7 1.2. Thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng ....... 10 1.3. Quan điểm của Đảng, nhà nước về chính sách người có công với cách mạng ................................................................................................................ 24 CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NÔNG SƠN, TỈNH QUẢNG NAM ............................................................. 30 2.1. Khái quát điều kiện kinh tế - xã hội huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng ......... 30 2.2. Thực trạng việc thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng tại huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam .................................................. 35 2.3. Đánh giá chung về thực hiện chính sách người có công với cách mạng trên địa bàn huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam ............................................. 52 CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN, NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NÔNG SƠN, TỈNH QUẢNG NAM . 59 3.1. Quan điểm chỉ đạo, định hướng và những mục tiêu chủ yếu của chính sách đối với người có công với cách mạng ..................................................... 59 3.2. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách người có công với cách mạng ................................................................. 61 KẾT LUẬN .................................................................................................... 78 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của luận văn Chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng là một trong những chính sách được Đảng và Nhà nước ta rất chú trọng. Những chính sách cho Người có công cách mạng như: chính sách bảo hiểm y tế, chính sách chăm sóc sức khỏe, chính sách ưu đãi về kinh tế, chính sách trợ cấp... đã được ban hành và thực hiện. Hơn nữa, được sự chung tay góp sức của toàn cộng đồng, những chính sách này trong nhiều năm qua đã đạt được một số thành tựu đáng khích lệ. Sự thay đổi về tâm sinh lý, những khủng hoảng về tâm lý của tuổi già đem lại. Như chúng ta đã biết, sức khỏe và chăm sóc sức khỏe có vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗi người. Tuy nhiên nguồn lực thực hiện chăm sóc sức khỏe người có công cũng như các khó khăn còn tồn tại trong quá trình thực hiện công tác chăm sóc. Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đã làm được đối ới người có công còn rất nhiều những tồn tại hạn chế mà Nhà nước cần sửa chưa khác phục như: công tác tuyên truyền, phổ biến chế độ, chính sách ưu đãi của Đảng và Nhà nước đối với người có công với các mạng còn hình thức chưa trọng tậm; việc lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền nhiều nơi chưa sâu sát, thường xuyên. Công tác vận động Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”chưa huy động được nhiều đối tượng tham gia đóng góp; đời sống của một bộ phận thương binh, bệnh binh, gia đình có công với cách mạng, đặc biệt là người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, gia đình có con dị dạng, dị tật... còn gặp nhiều khó khăn. Các hoạt động xác nhận người có công còn nhiều bất cập như: đối với đối tượng lão thành cách mạng, tiền khởi nghĩa cần thiết mở rộng thêm căn cứ xác nhận, đối với liệt sỹ, thương binh chưa có hướng dẫn cụ thể về thủ tục, hồ 1 sơ xác nhận liệt sỹ đối với trường hợp bị bắt, tra tấn.Việc khám giám định vết thương còn sót cũng gặp nhiều trở ngại. Một số đối tượng đã lợi dụng kẽ hở của chính sách để trục lợi. Hành vi này đã và đang gây nhiều bức xúc trong dư luận. Nguyên nhân chính khiến việc trục lợi từ chính sách người có công diễn biến phức tạp như trong thời gian qua trước hết do sự thiếu trung thực của người xác lập hồ sơ. Bên cạnh đó, là việc tiếp tay, thiếu trách nhiệm của những cán bộ chính sách trong thực thi công vụ. Thực tế hiện nay, có những đường dây chuyên “chạy” chế độ chính sách ưu đãi. Và để làm được điều này, rõ ràng phải có sự giúp sức, tiếp tay của những cán bộ trực tiếp thụ lý hồ sơ. Qua nghiên cứu thực tế có rất nhiều luận văn đã viết về chính sách ưu đãi đối với người có công cách mạng nhưng chưa có bài viết nào, tổng hợp được các tồn tại, hạn chế mà các chính sách của nhà nước trong quá trình thực hiện chính sách, từ đó đề ra những giải pháp tối ưu để chính sách ngày càng đi vào cuộc sống. Xuất phát từ mong muốn làm được một việc có ích, là người được sinh ra và lớn lên ở một địa phương (tỉnh) có truyền thống cách mạng và là nơi có nhiều đối tượng chính sách nhất cả nước, hơn nữa, là một công chức phụ trách công tác Chính sách người có công cấp xã, được tiếp xúc hằng ngày với người có công với cách mạng và từ thực tế bắt nguồn từ nhu cầu của người có công và việc thực hiện chính sách đối với công cách mạng, tôi đã lựa chọn đề tài: “Thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng trên địa bàn huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam” làm luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Chính sách công, với mong muốn đề ra các giải pháp mới trong quá trình thực hiện chính sách người có công trên địa bàn huyện Nông Sơn nói riêng và trên địa bàn tỉnh Quảng Nam nói chung. 2. Tình hình nghiên cứu Năm 1993, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội đã xuất bản cuốn Một số vấn đề chính sách xã hội ở nước ta hiện nay của tác giả Hoàng Chí Bảo[4] Chính sách xã 2 hội không ngừng thay đổi để phù hợp với đối tượng áp dụng. Nguyễn Đình Liêu, Hoàn thiện pháp luật ưu đãi người có công ở Việt Nam. Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật này. Thực trạng của pháp luật này ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và việc hoàn thiện pháp luật ưu đãi người có công. Năm 1997, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội đã xuất bản cuốn Những điều cần biết về chính sách với người có công, trong đó nêu rõ những căn cứ pháp lý về thực hiện chính sách ưu đãi với người có công ở nước ta. Nguyễn Thị Hằng, Bộ trưởng Bộ LĐTB&XH, Tiếp tục thực hiện tốt hơn nữa chính sách ưu đãi xã hội đối với thương binh, gia đình liệt sỹ, người có công với cách mạng, Tạp chí Cộng sản số 7/2005. Tác giả nêu những nét khái quát thành tựu đạt được trong việc thực hiện ưu đãi xã hội đối với thương binh, gia đình liệt sỹ và người có công trong 10 năm từ 1995 đến 2005, qua đó đúc kết những kinh nghiệm và đề ra những giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn chính sách ưu đãi xã hội. Năm 2011, Hồ Thị Vân Kiều đã nghiên cứu về “Chăm sóc sức khỏe người có công cách mạng: Thực trạng và giải pháp (điển cứu tại trung tâm Hoài Ân, tỉnh Bình Định)”. Tác giả đã nghiên cứu tại huyện Hoài Ân hiện nay nguồn nhân lực trong chăm sức khỏe người có công thì có 36,9% ý kiến cho rằng bác sĩ, y tá, thiếu trách nhiệm, 13,8% là có cán bộ tôn trọng bệnh nhân. lược những quan điểm, chủ trương của Đảng đối với công tác thương binh, liệt sỹ từ năm 1986 đến năm 2012; đánh giá thực trạng quá trình thực hiện chủ trương của Đảng về vấn đề này và đề ra giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn công tác thương binh, liệt sỹ trong thời gian tới.[23] Nguyễn Duy Kiên – Phó Cục trưởng Cục Người có công, Bộ LĐTBXH, Chính sách Người có công – là trách nhiệm của toàn dân, Tạp chí Tuyên giáo số 7/2012. 3 Sổ tay các bộ làm công tác chính sách người có công với cách mạng xã, phường. Biên soạn Nguyễn Đình Khải (chủ biên), Nguyễn Đức Tuệ nhà xuất bản Lao động, năm 2012; Hướng dẫn thực hiện chế độ ưu đãi người có công cách mạng, Cục người có công - Bộ Lao động Thương binh Xã hội, năm 2013. Do đó, luận văn tốt nghiệp với đề tài “Thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng trên địa bàn huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam” không phải là một chủ đề mới trong hoạt động thực tiễn cũng như trong nghiên cứu. Tuy nhiên, điểm nhấn của luận văn chính là tìm hiểu, đánh giá về công tác thực hiện chính sách, nêu lên những tồn tại, hạn chế, bất cập trong quá trình thực hiện chính sách tại huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam hiện nay. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu về thực trạng việc thực hiện các chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng, đánh giá các mặt ưu điểm, đặc biệt là các tồn tại, hạn chế trong quá trình tổ chức thực hiện, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiền các chính sách đối với người có công trên địa bàn huyện Nông Sơn, nói riêng và tỉnh Quảng Nam nói chung. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công cách với cách mạng; Tiến hành thống kê, phân tích đánh giá thực trạng công tác triển khai thực hiện các chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng trên địa bàn huyện Nông Sơn khoảng từ năm 2012 đến năm 2017; Đánh giá những ưu điểm, tồn tại, hạn chế trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách trên địa bàn nghiên cứu, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm 4 hoàn thiện nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công trên địa bàn huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam đạt hiệu quả hơn, đáp ứng được yêu cầu, mục tiêu của chính sách, tạo được niềm tin của người có công đối với Đảng và Nhà nước. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu trong luận văn này là những vấn đề lý luận và thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng trên địa bàn huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Luận văn được nghiên cứu trong phạm vi huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam. Thời gian từ năm 2012 đến năm 2017. 5. Phương pháp nghiên cứu *Phương pháp nghiên cứu, phân tích tài liệu: Các tài liệu được tập trung thu thập bao gồm: các văn bản, chính sách của Nhà nước cũng như địa phương về Người có công với cách mạng, các bản báo cáo tổng kết về công tác thực hiện chính sách về Người có công của phòng Người có công - sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Nam, các bài viết. Những nơi được thu thập tài liệu: phòng Người có công - Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Nam, thư viện Học việc Khoa học Xã hội, các thông tin, tài liệu internet…. * Phương pháp nghiên cứu: - Phương pháp nghiên cứu, phân tích tài liệu; Phương pháp quan sát; Phương pháp thống kê. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp như: phương pháp phân tích đánh giá, phương pháp đối chiếu - so sánh, phương 5 tổng kết đánh giá thực tiễn để thực hiện việc hoàn chỉnh luận văn. 6. Ý nghĩa của luận văn *Ý nghĩa lý luận: Góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng trong giai đoạn hiện nay. *Ý nghĩa thực tiễn: Đáng giá thực trạng việc quản lý nhà nước về các chính sách ưu đãi trên địa bàn huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam, nêu lên những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của nó trong việc thực hiện các chính sách đối với người có công trong thời gian đến. Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng việc thực hiện các chính sách ưu đãi đối với người có công và làm tài liệu tham khảo cho hoạt động điều chỉnh, hoàn thiện chính sách. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm 3 chương: Chương 1. Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng. Chương 2. Thực trạng việc thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng trên địa bàn huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam. Chương 3. Giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng trên địa bàn huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam. 6 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG 1.1. Khái niệm, đặc điểm của người có công với cách mạng: 1.1.1. Khái niệm Dân tộc ta đã trải qua biết bao cuộc đấu tranh bảo vệ nền độc lập, tự do của Tổ quốc và trong những cuộc đấu tranh đó đã có biết bao nhiêu người hy sinh xương máu, của cải và cả tính mạng của mình cho nền độc lập tự do ấy, họ luôn được nhân dân, Tổ quốc đời đời ghi nhớ và biết ơn. Theo nghĩa rộng: Người có công là những người không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác, đã tự nguyện hiến dâng cuộc đời mình cho sự nghiệp dựng nước, giữ nước và kiến thiết đất nước. Họ có những đóng góp, những cống hiến xuất sắc và vì lợi ích của dân tộc. Theo nghĩa hẹp: Người có công với cách mạng là những người không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác có những đóng góp, những cống hiến xuất sắc trong thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, trong các cuộc giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, được các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận. Theo pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH 13 ngày 16/7/2012 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Người có công với cách mạng bao gồm: - Người hoạt động cách mạng trước ngày 1 tháng 1 năm 1945: là người tham gia các tổ chức cách mạng từ ngày 31 tháng 12 năm 1944 về trước được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận. - Người hoạt động cách mạng từ ngày 1 tháng 1 năm 1945 đến trước Tổng khởi nghĩa 19 tháng 8 năm 1945 là người được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận đã tham gia tổ chức cách mạng trước ngày 01 tháng 7 01 năm 1945 - Liệt sĩ sĩ là người đã hy sinh vì sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế hoặc vì lợi ích của Nhà nước, của nhân dân và được Nhà nước truy tặng bằng "Tổ quốc ghi công - Thân nhân liệt sỹ Gia đình liệt sĩ gồm những thân nhân của liệt sĩ: vợ hoặc chồng, con, cha mẹ đẻ, người có công nuôi liệt sĩ và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp "Giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ".; - Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, dân là người được Nhà nước tuyên dương anh hùng vì có thành tích đặc biệt xuất sắc trong chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu. - Anh hùng lao động là người được Nhà nước tuyên dương anh hùng vì có thành tích đặc biệt xuất sắc trong lao động, sản xuất phục vụ kháng chiến - Thương binh là quân nhân, công an nhân dân do chiến đấu, phục vụ chiến đấu trong kháng chiến, bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế hoặc trong đấu tranh chống tội phạm, dũng cảm làm nhiệm vụ đặc biệt khó khăn nguy hiểm vì lợi ích của Nhà nước, của nhân dân mà bị thương, mất sức lao động từ 21% trở lên và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp "Giấy chứng nhận thương binh", tặng "Huy hiệu thương binh". - Bệnh binh là quân nhân, công an nhân dân mắc bệnh mà bị mất sức lao động từ 61% trở lên do một trong các trường hợp sau đây và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp "Giấy chứng nhận bệnh binh"; - Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học là người trong thời gian ở tù không khai báo có hại cho cách mạng, cho kháng chiến, không làm tay sai cho địch và được tổ chức, cơ quan có thẩm quyền công nhận; - Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày này là người trong thời gian ở tù không khai báo có hại cho cách mạng, 8 cho kháng chiến, không làm tay sai cho địch và được tổ chức, cơ quan có thẩm quyền công nhận; - Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế là người tham gia kháng chiến được Nhà nước tặng huân chương kháng chiến, huy chương kháng chiến; - Người có công giúp đỡ cánh mạng là người đã có thành tích giúp đỡ cách mạng trong lúc khó khăn nguy hiểm và được Nhà nước tặng kỷ niệm chương "Tổ quốc ghi công" hoặc bằng "Có công với nước". 1.1.2. Đặc điểm Người có công với nước được hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước là người đã có thành tích giúp đỡ cách mạng trong lúc khó khăn, nguy hiểm và được Nhà nước tặng kỷ niệm chương Tổ quốc ghi công hoặc bằng có công với nước, huân chương kháng chiến, huy chương kháng chiến. Họ có ý thức tự chủ, tự kiềm chế, đúng đắn, hăng hái nhiệt tình tham gia các hoạt động xã hội cũng như các công tác khác được giao. Đối với tâm lý thương binh, bệnh binh từ năm 1975 trở lại đây: chủ yếu là những người bị thương tật trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc, phần lớn tuổi còn trẻ, trình độ văn hoá cao, họ vẫn nặng nề về tâm lý thua thiệt những người xung quanh nên có tâm lý bi quan, thiếu tin tưởng và một số thương binh còn gặp khó khăn trong cuộc sống, chưa tìm được việc làm. Họ rất muốn được sự quan tâm chia sẻ, động viên nhất là vào các dịp ngày lễ, ngày tết bởi, điều này có ý nghĩa rất quan trọng để đưa ra những giải pháp chăm sóc, hỗ trợ phù hợp, đem lại hiệu quả cao, nhằm bù đắp phần nào những hy sinh cống hiến to lớn của người có công với cách mạng. Mặt khác họ đã có nhiều cống hiến hy sinh, chịu nhiều thiệt thòi mất mát vì sự nghiệp chung của dân tộc, do đó họ cần được mọi người tôn trọng, 9 quan tâm chăm sóc, chia sẻ, động viên họ nhiều hơn để họ với đi nỗi đau mất mát, quên đi bệnh tật và mất người thân, do vậy nhà nước và cộng đồng xã hội phải có trách nhiệm chăm lo đời sống vật chất và tinh thần đối với họ để thể hiện đào lý “Uống nước nhớ nguồn”, “đền ơn đáp nghĩa" 1.2. Thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng Ưu đãi đối với người có công với cách mạng là sự đãi ngộ của Nhà nước, cộng đồng xã hội đối với người có công với cách mạng và thân nhân của họ, nhằm ghi nhớ công ơn của họ đối với đất nước. Chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng là bao gồm các quy định của Nhà nước về chính sách, chế độ đối với người có công với cách mạng và thân nhân của họ trên mọi lĩnh vực đời sống kinh tế - xã hội. Từ các khái niệm trên chúng ta có thể thấy chính sách ưu đãi đối với có công với cách mạng là việc nhà nước và xã hội dành những điều kiện, quyền lợi đặc biệt hơn so với đối tượng, học được đề cao và được coi trọng hơn cả về vật chất lẫn tinh thần nhằm ghi nhận, đền đáp công lao của người người đã đóng góp công sức, xương máu của mình cho đất nước. 1.2.1. Các cơ sở để xây dựng chính sách ưu đãi đối với người có công 1.2.1.1. Ý nghĩa: Kế tục truyền thống của cha ông ta trước đây, ngay sau khi giành được chính quyền, Đảng, Nhà nước đã sớm xây dựng hệ thống pháp luật ưu đãi đối với những người có công như thương binh, gia đình liệt sĩ, đồng thời động viên toàn dân làm tốt phong trào chăm sóc, giúp đỡ các đối tượng này. Chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm, có thể điểm qua các giai đoạn: Từ năm 1947 đến kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1954), Nhà nước đã ban hành 24 văn bản dưới hình thức Sắc lệnh, Nghị 10 định, Thông tư, Thông lệnh quy định những vấn đề cơ bản như: Quy định tiêu chuẩn để xác định thương binh, tử sĩ; quy định trợ cấp hằng tháng đối với thương binh, thân nhân tử sĩ, việc huấn luyện nghề, sắp xếp việc làm, các chính sách ưu tiên đối với thương binh; gia đình tử sĩ được tặng "Bảng Tổ quốc ghi ơn", thương binh được cấp Huy hiệu Thương binh; tổ chức các Trại an dưỡng để thu nhận và chăm sóc thương binh, bệnh binh; đồng thời tháng 7-1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động phong trào "Đón thương binh về làng" chăm sóc; lập quỹ nghĩa thương; tổ chức bộ máy Bộ Thương binh - Cựu binh. Thành lập trong mỗi khu kháng chiến một Sở Thương binh - Cựu binh, trong mỗi tỉnh hoặc liên tỉnh một Ty Thương binh - Cựu binh. Như vậy, trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, mặc dù hoàn cảnh đất nước còn nghèo, nhưng Nhà nước đã ban hành một số văn bản thể hiện sự ưu đãi đối với thương binh, gia đình liệt sĩ, đồng thời đề ra chủ trương hết sức đúng đắn là toàn dân tham gia chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ. Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975), chế độ ưu đãi đối với thương binh, gia đình liệt sĩ được quan tâm với việc ban hành 184 văn bản pháp luật, trong đó quy định một số điểm quan trọng như: Tiếp tục xác nhận và giải quyết quyền lợi cho những quân nhân, dân quân, du kích, thanh niên xung phong bị thương tật, bị chết trong chiến tranh; đối với những người hy sinh trong kháng chiến chống Pháp, Nhà nước đã sửa đổi tiêu chuẩn "liệt sĩ" thay tiêu chuẩn "tử sĩ" trước đây, cấp Bằng Tổ quốc ghi công thay "Bảng Tổ quốc ghi ơn" liệt sĩ; quy định việc cất bốc quy tập mộ liệt sĩ, xây dựng các nghĩa trang liệt sĩ. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ngày càng cam go, quyết liệt, Đảng, Nhà nước đã phát động cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện với sự đóng góp hy sinh to lớn của mọi tầng lớp, mọi lực lượng, chế độ ưu đãi đối với người có công được bổ sung các đối tượng mới như: Chế độ đối với thanh niên xung phong (Chỉ thị số 71/TTg ngày 21-6-1965); Chế độ đối với 11 dân công thời chiến (Nghị định số 77/CP ngày 26-4-1966); Chế độ đối với lực lượng vận tải nhân dân (Quyết định số 84/CP ngày 04-5-1966); Chế độ đối với công nhân viên chức, cán bộ giữ chức vụ chủ chốt ở xã, dân công phục vụ các chiến trường quan trọng và nhân dân (Nghị định số 111B/CP) ngày 20-71968; Chế độ đối với cán bộ y tế làm nhiệm vụ cấp cứu phòng không (Nghị định số 111/CP ngày 28-6-1973). Đồng thời Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản thể hiện trách nhiệm đối với người có công như: Văn bản quy định những ngành nghề dành để sắp xếp thương binh vào làm việc, các cơ quan xí nghiệp phải nhận thương binh theo tỷ lệ 5% biên chế; quy định chế độ ưu đãi trong giáo dục - đào tạo, trong y tế, được miễn, giảm giá vé tàu xe… Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1985, chính sách ưu đãi người có công có những thay đổi bổ sung cho phù hợp tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước sau khi Tổ quốc thống nhất. Chính sách ưu đãi người có công tập trung vào các nhiệm vụ như giải quyết các tồn đọng sau chiến tranh, thống nhất các chế độ ưu đãi trong cả nước. Trong giai đoạn này, Đảng và Nhà nước đã ban hành 523 văn bản pháp luật ưu đãi người có công, điển hình như: Ban Đại diện Trung ương Đảng ở miền Nam có Chỉ thị số 15/CT-76 về việc tăng cuờng công tác thương binh xã hội ở miền Nam, tập trung vào công tác xác nhận thương binh, liệt sĩ, cất bốc quy tập mộ liệt sĩ, xây dựng nghĩa trang liệt sĩ, tổ chức ổn định cuộc sống của người có công... Việc tổ chức thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng của Đảng đã đem lại kết quả thiết thực. Phong trào "Đền ơn đáp nghĩa" với 5 chương trình tình nghĩa: Xây dựng nhà tình nghĩa; lập Quỹ đền ơn đáp nghĩa; tặng sổ tiết kiệm tình nghĩa; đón thương binh nặng về chăm sóc tại gia đình và nhận phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng đã phát triển rộng khắp với nhiều hình thức phong phú, đa dạng. Hệ thống chính sách ưu đãi đối với người có công tiếp tục được hoàn thiện với việc ban hành Thông 12 tư số 22/2016/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động - Thương binh & Xã hội ngày 29-6-2016 Hướng dẫn điều chỉnh trợ cấp ưu đãi đối với nhóm đối tượng người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học được công nhận và đang hưởng trợ cấp trước ngày 01-9-2012. Như vậy, chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng đã nhanh chóng được thực hiện tạo ra sức mạnh tổng hợp về chính trị, kinh tế và xã hội, sự đồng thuận giữa Đảng, Nhà nước, nhân dân và bản thân người có công với cách mạng, có tác động sâu sắc đến toàn xã hội, cùng với Nhà nước chăm lo người có công với cách mạng, phát huy truyền thống, đạo lý của dân tộc "uống nước nhớ nguồn, "đền ơn đáp nghĩa" trong thời kỳ đổi mới. Phương châm thực hiện chính sách ưu đãi cũng dựa trên cơ sở 3 nguồn lực “Nhà nước, nhân dân và bản thân đối tượng”, luôn là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt trong công tác ưu đãi người có công với cách mạng. Sự đóng góp của cộng đồng là nguồn lực không thể thiếu để đạt mục tiêu của chính sách và bao giờ cũng là nguồn bổ sung phong phú để góp phần cùng Nhà nước chăm sóc tốt hơn, chu đáo hơn đời sống người có công.Với truyền thống gắn bó, đoàn kết, chung lưng đấu cật chống thiên tai, địch họa trong hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, đạo lý nhân ái thủy chung, “uống nước nhớ nguồn” đã trở thành lẽ sống, là nét đẹp trong đời sống của cộng đồng dân tộc Việt Nam. 1.2.1.2. Mục tiêu của chính sách Thủ tướng Chính phủ vừa ký Quyết định số 773/QĐ-TTg về việc ban hành Kế hoạch tổ chức thực hiện Chỉ thị số 14-CT/TW ngày 19 tháng 7 năm 2017 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XII về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người có công với cách mạng. Theo đó, nhiệm vụ đề ra đến năm 2020, phấn đấu đạt 100% gia đình người có công với cách mạng có mức sống bằng hoặc cao hơn mức trung bình của cộng đồng 13 dân cư nơi cư trú; năm 2018 đạt 99%; năm 2019 đạt 99,5%; 98% xã phường làm tốt công tác thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng. Phấn đấu đến năm 2020, 100% người có công với cách mạng được lập hồ sơ theo dõi sức khỏe, được khám sức khỏe định kỳ phát hiện các vấn đề về sức khỏe, xác định nhu cầu, được chăm sóc, điều dưỡng, phục hồi chức năng, cung cấp và sử dụng dụng cụ trợ giúp phù hợp với tình trạng bệnh, tật, dị dạng, dị tật. Bên cạnh đó, rà soát, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng, đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ, phù hợp với thực tiễn; hoàn thành việc hỗ trợ nhà ở cho các hộ gia đình người có công với cách mạng giai đoạn 2; thực hiện có hiệu quả việc tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin; tập trung tu bổ, tôn tạo hệ thống các công trình ghi công liệt sĩ trên toàn quốc... Tập trung khắc phục những hạn chế, tồn tại trong việc lập hồ sơ, thẩm định hồ sơ đề nghị công nhận người có công với cách mạng; tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin; huy động, bố trí nguồn lực thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng; tôn tạo các công trình ghi công liệt sĩ, nâng cao mức sống của người có công và gia đình có công với cách mạng, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số; xử lý nghiêm những trường hợp trục lợi chính sách người có công với cách mạng. 1.2.1.3. Các tiêu chí xác định chính sách Cần xác định rõ nhiệm vụ trọng tâm của các bộ, ngành, chính quyền địa phương đối với việc thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng; triển khai thực hiện một cách khoa học, đồng bộ, thiết thực, hiệu quả. Đồng thời, huy động sự tham gia của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội nhằm hoàn thành cơ bản các chỉ tiêu đối với công tác người có công với cách mạng. 14 Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với công tác người có công với cách mạng; rà soát, hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách người có công với cách mạng, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, phù hợp với thực tiễn. Thực hiện tốt công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm các vi phạm trong thực hiện luật pháp, chính sách đối với người có công với cách mạng. Khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, chính sách ưu đãi người có công với cách mạng càng được đặc biệt quan tâm, hệ thống chính sách, pháp luật ưu đãi người có công đang từng bước hoàn thiện và phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước. Đối tượng người có công ngày một mở rộng, chế độ ưu đãi ngày một nâng cao gắn liền với sự đảm bảo công bằng và sự đồng thuận của toàn xã hội. Tiếp tục hoàn thiện pháp luật ưu đãi người có công sẽ tăng cường hiệu quả của chế độ ưu đãi với mục tiêu quan tâm, chăm lo nhiều hơn, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đối tượng chính sách, tạo điều kiện cho việc thực hiện công bằng xã hội, đúng theo nguyên tắc đã được ghi nhận trong Cương lĩnh xây dựng đất nước: “Không chờ kinh tế phát triển cao mới giải quyết các vấn đề xã hội mà ngay trong từng bước, trong suốt quá trình phát triển tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội”. 1.2.2. Thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng 1.2.2.1.Các phương pháp thực hiện chính sách + Phương pháp tuyên truyền, vận động Thực hiện chính sách tuyên truyền, vận động giáo dục nhằm không ngừng nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân, nhất là thế hệ trẻ đối với các anh hùng liệt sỹ, người có công với cách mạng, nâng cao ý thức, biết tôn trọng về những hy sinh, mất mát, chịu 15 nhiều gian khổ của thế hệ cha ông trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Tập trung thực hiện có hiệu quả các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác thương binh, liệt sỹ, người có công với cách mạng, đặc biệt quan tâm đến gia đình chính sách gặp nhiều khó khăn, ở vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng; đẩy mạnh phong trào "Đền ơn đáp nghĩa" với nhiều hình thức thiết thực; khuyến khích và động viên ý thức tự vươn lên phát triển kinh tế thông qua các chương trình, dự án vay vốn sản xuất, tạo việc làm, hỗ trợ nghề nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho người có công tham gia hoạt động trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội, thể hiện tinh thần tàn nhưng không phế, vươn lên trong cuộc sống vừa làm giàu cho bản thân vừa làm gương cho thế hệ con cháu mai sáu, bên canh đó cón chứng minh cho thế hệ con cháu biết được rằng “không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền..” giáo dục cho thế hệ mai sau tinh thần thép, tinh thần bất khuất, kiên cường của những người có công với cách mạng, từ đó khơi dậy lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc. Nếu không thực hiện tốt công tác chính sách đối với người có công, thì tình hình chính trị sẽ không ổn định, ảnh hưởng lớn đến ựu tồn vong của đất nước, do vậy phương pháp tuyên truyền, vận động luôn là phương pháp hiệu quả trong việc thực hiện chính sách đối với người có công, nó góp phần ổn định chính trị, giữ vững thể chế nhà nước. + Phương pháp hành chính Muốn thực hiện tốt chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng, thì công cụ pháp lý, nhân tố con người cũng vô cùng quan trọng, chính sách có tốt thì quá trình thực hiện chính sách sẽ tốt, chính sách mới đi vào cuộc sống xã hội nói chung và đối với từng đối tượng nói riêng, nếu nhân tố con người yếu thì chính sách sẽ không đi vào cuộc sống. Do vậy, việc hoạch 16
- Xem thêm -