Tài liệu Thực hiện chính sách thu hút đầu tư trên địa bàn huyện quế sơn, tỉnh quảng nam.

  • Số trang: 79 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 268 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI DƯƠNG NGỌC HOÀNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH THU HÚT ĐẦU TƯ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG HÀ NỘI - năm 2018 1 VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI DƯƠNG NGỌC HOÀNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH THU HÚT ĐẦU TƯ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM Chuyên ngành : Chính sách công Mã số : 834 04 02 LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS. TS. CÙ CHÍ LỢI HÀ NỘI - năm 2018 2 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Quế Sơn là một huyện vùng trung du bán sơn địa nằm về phía Tây Bắc của tỉnh Quảng Nam. Sau ngày chia tách huyện với Nông Sơn theo Nghị định số 42/2008/NĐ-CP ngày 08/4/2008 của Chính phủ, huyện Quế Sơn hiện nay có tổng diện tích tự nhiên 251,17 km2, dân số trung bình năm 2014 là 83.134 người, bao gồm 13 xã và 01 thị trấn. Tốc độ tăng trưởng kinh tế tuy chưa cao nhưng khá vững chắc, cơ cấu kinh tế khá hợp lý, trong đó, lĩnh vực công nghiệp - xây dựng đạt mức tăng trưởng khá cao và cao hơn so với toàn tỉnh, chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế, tạo được nhiều bước đột phá. Mạng lưới cụm công nghiệp hoạt động khá hiệu quả, nhiều doanh nghiệp đầu tư, hoạt động ổn định và hiệu quả đã góp phần đưa huyện Quế Sơn nhanh chóng trở thành một trong những địa phương có tiềm năng phát triển công nghiệp của Tỉnh. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đạt kết quả bước đầu khả quan. Từng bước phá thế thuần nông, độc canh, đưa nông nghiệp tiến dần lên sản xuất hàng hoá, hình thành được các vùng tập trung chuyên canh cây nguyên liệu phục vụ công nghiệp, sản xuất lương thực, thực phẩm, vấn đề đầu ra sản phẩm ngày càng được cải thiện. Quế Sơn, trong từng bước phát triển đã chăm lo giải quyết các vấn đề xã hội, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, xóa đói giảm nghèo, đời sống nông dân và diện mạo nông thôn đã và đang có những thay đổi căn bản. Tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở không ngừng được củng cố, kiện toàn, phát huy tốt vai trò và hiệu quả hoạt động. 3 Tuy nhiên, so với xu thế chung, tình hình phát triển KT-XH của huyện vẫn còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế: Quy mô nền kinh tế nhỏ, nguồn tài chính còn yếu, khả năng thu hút đầu tư phát triển kinh tế chưa mạnh, tiềm lực trong dân còn nghèo, nguồn thu ngân sách hạn hẹp, chưa có điều kiện tích lũy để tái sản xuất mở rộng; các nguồn đầu tư còn hạn chế nên chưa khai thác, phát huy mạnh các tiềm năng, lợi thế của huyện; kết cấu hạ tầng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển; quy mô sản xuất, kinh doanh, dịch vụ còn nhỏ lẻ; các nguồn lực đầu tư cho lĩnh vực văn hoá - xã hội chưa đáp ứng được yêu cầu. Các nguồn đầu tư thực tế rất nhiều, nhưng dự án thực tế triển khai còn rất thấp. Vì vậy, làm thế nào để thu hút được ngày càng nhiều nguồn đầu tư và tỷ lệ dự án thực tế được triển khai đạt tỷ lệ cao đang là nỗi trăn trở của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Quế Sơn. Vì vậy, đề tài “Thực hiện Chính sách thu hút đầu tư trên địa bàn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam” được chọn có ý nghĩa về mặt lý luận, đặc biệt đối với việc phát triển KTXH đảm bảo QPAN huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam hiện nay. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Vấn đề thu hút đầu tư đã được nghiên cứu, phân tích ở nhiều góc độ khác nhau. Có thể nêu ra một số công trình nghiên cứu sau: “Nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế nước ta trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế” GS-TS Chu Văn Cấp, Nxb CTQG Hà Nội, 2003. “Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam: Thực trạng và triển vọng” Đề tài cấp bộ năm 2004 của khoa Kinh tế - Chính trị, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, PGS-TS Trần Quang Lâm chủ biên. “Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam thực trạng và giải pháp” Trần Xuân Tùng, Nxb CTQG, Hà Nội, 4 2005; “Nghiên cứu chiến lược xúc tiến FDI tại nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam” của bộ Kế hoạch và Đầu tư và cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản năm 2003. “Thu hút đầu tư trực tiếp từ các nước trong khu vực nhằm thúc đẩy phát triển nền Kinh tế Việt Nam – thực trạng và giải pháp” Đinh Văn Cường – Luận văn Thạc sĩ kinh tế năm 2004. “Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Bình Dương – thực trạng và giải pháp” Bùi Thị Dung – Luận văn thạc sĩ Kinh tế năm 2005. “Kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào vùng duyên hải miền Trung” Bài báo của Hoàng Hồng Hiệp, tạp chí Kinh tế và Dự báo số 04/2005. “Một số vấn đề xã hội trong xây dựng và phát triển các khu công nghiệp ở Việt Nam” Bài báo Thạc sĩ Nguyễn Ngọc Dũng, tạp chí Kinh tế và Dự báo số 03/2005. Các công trình trên chủ yếu tập trung nghiên cứu vấn đề thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên phạm vi của cả nước hoặc của từng ngành, từng địa phương. Trên các lĩnh vực đầu tư huyện Quế Sơn nói riêng và tỉnh Quảng Nam nói chung đã có những chính sách ưu đãi thể hiện tại Nghị quyết số 02NQ/HU ngày 24/3/2016 về tạo môi trường thông thoáng, thuận lợi để thu hút đầu tư vào huyện giai đoạn 2016 – 2020; Nghị quyết 03-NQ/HU ngày 15/7/2016 về huy động nguồn lực tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng thủy lợi, giao thông và khu, cụm công nghiệp trên địa bàn huyện giai đoạn 2016-2020 của Huyện ủy huyện Quế Sơn. Bên cạnh đó, UBND huyện Quế Sơn thường xuyên triển khai các văn bản của cấp trên như: Nghị quyết số 13/NQ-CP ngày 18/3/2014 và Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 12/3/2015 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia hai năm 2015 – 2016 của Chính phủ; Chỉ thị số 10/CT-UBND ngày 18/6/2013 về việc tăng cường các giải pháp cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao chỉ số năng lực cạnh 5 tranh tỉnh Quảng Nam của UBND tỉnh Quảng Nam; Chỉ thị số 16/CTUBND ngày 06/8/2015 tiếp tục đẩy mạnh cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của UBND tỉnh Quảng Nam; Quyết định số 06/2012/QĐ-UBND và Quyết định số 15/2015/QD-UBND ngày 04/6/2015 về ban hành Quy chế quản lý ưu đãi đầu tư Cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Nam của UBND tỉnh Quảng Nam; Nghị Quyết số 70/2013/NQ-HĐND ngày 20/3/2013 của HĐND tỉnh Quảng Nam về cơ chế hỗ trợ, khuyến khích đầu tư ngành dệt may, da giày, mây tre lá trên địa bàn nông thôn, miền núi tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2013-2016. Thu hút đầu tư vào huyện Quế Sơn đang là mối quan tâm rất lớn của các cấp, các ngành địa phương và đã có một số bài viết trên các báo trong và ngoài tỉnh, trong các báo cáo thường niên của UBND huyện Quế Sơn về tình hình thu hút đầu tư vào huyện Quế Sơn. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một luận văn, đề tài khoa học về việc thực hiện chính sách thu hút đầu tư vào huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam. Luận văn này kế thừa có chọn lọc phương pháp phân tích, một số quan điểm, giải pháp và nhưng kiến nghị từ các công trình nghiên cứu nêu trên, từ các báo cáo, văn kiện của huyện, để làm rõ lợi thế kinh tế của huyện Quế Sơn nói riêng và tỉnh Quảng Nam nói chung. Phân tích thực trạng thực hiện chính sách ưu đãi và quảng bá xúc tiến thu hút đầu tư, từ đó chỉ ra những thành công và yếu kém của hoạt động này, đồng thời đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường thu hút đầu tư vào huyện Quế Sơn đến năm 2024, tầm nhìn đến năm 2030. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu Phân tích, đánh giá chính sách thu hút đầu tư từ thực tiễn huyện Quế 6 Sơn, tỉnh Quảng Nam. Từ đó đề xuất những giải pháp, cơ chế chính sách phù hợp với điều kiện của huyện Quế Sơn nhằm thu hút đầu tư với tốc độ cao hơn vào huyện Quế Sơn trong thời gian đến. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu - Làm rõ các luận cứ khoa học, gồm lý luận và thực tiễn về đầu tư, vốn đầu tư, nhu cầu, khả năng đáp ứng và nhân tố ảnh hưởng đến chính sách thu hút các nguồn đầu tư vào huyện Quế Sơn. - Đánh giá, phân tích tình hình thực hiện chính sách thu hút đầu tư tại huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam. - Đề xuất những giải pháp, cơ chế, chính sách phù hợp với điều kiện của huyện Quế Sơn nhằm thu hút với tốc độ cao hơn các nguồn đầu tư vào huyện Quế Sơn trong thời gian đến. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các chính sách thu hút đầu tư trong và ngoài nước vào huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Chính sách, cơ chế thu hút đầu tư của Trung ương, tỉnh. Thực hiện chính sách từ thực tiễn huyện Quế Sơn tỉnh Quảng Nam Thời gian từ khi Nghị quyết Nghị quyết số 02-NQ/HU ngày 24/3/2016 về tạo môi trường thông thoáng, thuận lợi để thu hút đầu tư vào huyện giai đoạn 2016 – 2020 của Huyện ủy huyện Quế Sơn ban hành. 5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5.1. Phương pháp luận Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm nền tảng cơ sở phương pháp luận. Luận văn nghiên cứu từ những vấn đề lý luận 7 vào thực tế, tìm ra các vướng mắc, các trở ngại trong thực hiện chính sách thu hút đầu tư vào huyện Quế Sơn, để trên cơ sở đó có những đề xuất căn cứ khoa học cho thời gian đến. 5.2. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp thu thập thông tin: Phân tích và tổng hợp, được sử dụng để thu tập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, tài liệu, nghị quyết, quyết định của Đảng, Nhà nước, bộ ngành ở trung ương và địa phương; Các công trình nghiên cứu, các báo cáo, tài liệu thống kê của chính quyền, ban ngành đoàn thể, tổ chức, cá nhân liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới thực hiện chính sách thu hút đầu tư trong cả nước nói chung và thực tế trên địa bàn huyện Quế Sơn nói riêng. - Phương pháp phân tích chính sách: Là đánh giá toàn vẹn, tính thống nhất, tính khả thi và hiệu quả của chính sách nhằm điều chỉnh cho phù hợp với mục tiêu và thực tế. - Phương pháp thống kê: Là phương pháp thu thập, tổng hợp, trình bày số liệu, tính toán các đặc trưng của đối tượng nghiên cứu nhằm phục vụ cho qua trình phân tích, dự báo và đề ra các quyết định. - Phương pháp chuyên gia: Thông qua các buổi gặp gỡ, trao đổi và thảo luận với các cán bộ tại địa phương và giáo viên hướng dẫn nhằm tháo gỡ những thắc mắc. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 6.1. Ý nghĩa lý luận Trên cơ sở nghiên cứu về đầu tư, nguồn vốn, nhu cầu, khả năng và các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư, đề ra các giải pháp thu hút đầu tư để phát triển KTXH huyện Quế Sơn. 6.2. Ý nghĩa thực tiễn 8 Góp phần phát triển KTXH, bảo đảm An ninh – Quốc Phòng huyện Quế Sơn. 7. Cơ cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận một số phụ lục, danh mục các bảng, biểu, chữ viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận án gồm 03 Chương như sau: Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về thực tế Chính sách thu hút đầu tư vào huyện Quế Sơn. Chương 2. Thực trạng thực hiện các chính sách thu hút các nguồn đầu tư vào huyện Quế Sơn. Chương 3. Một số giải pháp hoàn thiện chính sách thu hút đầu tư vào huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam. 9 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH THU HÚT ĐẦU TƯ VÀO HUYỆN QUẾ SƠN 1.1. Cơ sở lý luận 1.1.1. Khái niệm vốn đầu tư Đầu tư là hoạt động sử dụng tiền vốn, lao động, nguyên liệu, đất đai,… nói chung là sử dụng tài nguyên cho mục đích sản xuất – kinh doanh, mở rộng cơ sở vật chất kỹ thuật, phát triển kinh tế nói chung của một ngành, một lĩnh vực, một địa phương,… nhằm thu về sản phẩm, lợi nhuận và các lợi ích kinh tế xã hội khác. Hay nói cách khác: đầu tư là hoạt động sử dụng tài nguyên cho mục đích sản xuất -kinh doanh hoặc sinh lợi. Khác với các yếu tố tài nguyên môi trường và lao động, các loại tài sản như máy móc, thiết bị, nhà xưởng và các loại nguyên vật liệu, bán thành phẩm dùng cho sản xuất, mặc dù cũng là yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất song bản thân chúng lại là kết quả đầu ra của các quá trình sản xuất trước đó nói cách khác, đó là những tài sản được sản xuất ra nhằm để tiếp tục sản xuất ra các loại hàng hóa khác được gọi là tài sản sản xuất. Để có được tái sản xuất đó, cần phải tiến hành các hoạt động đầu tư. Đối với các loại tài sản như nguyên liệu, bán thành phẩm thì hoạt động đầu tư đơn giản chỉ là bỏ tiền ra mua sắm chúng. Để tạo ra các sản phẩm như máy móc thiết bị dây chuyền sản xuất hay cả một nhà máy thì hoạt động đầu tư là một quá trình lâu dài và phức tạp hơn. Toàn bộ số tiền và giá trị các tài sản được đưa vào đầu tư để tạo ra các tài sản sản xuất được gọi là vốn sản xuất. 10 Trong phạm vi nền kinh tế quốc dân, sau nhiều năm tích lũy, toàn bộ vốn cho nền kinh tế là rất lớn và rất đa dạng. Theo mục đích sử dụng, không chỉ có vốn sản xuất trực tiếp phục vụ cho việc sản xuất ra các sản phẩm và dịch vụ hàng hóa, mà còn bao gồm khối lượng đáng kể và phong phú các hệ thống kết cấu hạ tầng, các công trình công cộng khác phục vụ cho nhu cầu phát triển KTXH của đất nước. Hình thức tồn tại cụ thể của vốn, không chỉ có vốn tồn tại dưới dạng vật thể (máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, công trình kiến trúc…) mà còn bao gồm các loại vốn phi vật thể. Đó là kết quả của các hoạt động đầu tư cần thiết cho hoạt động của nền kinh tế nhưng sản phẩm của nó không tồn tại dưới dạng vật thể mà tồn tại dưới dạng phát minh sáng chế, các giải pháp hữu ích hay đơn thuần chỉ là những khoảng đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Ngoài ra vốn tồn tại dưới dạng các tài sản tài chính (tiền, các loại cổ phiếu, trái phiếu, các loại công nợ khác…). Tiền là tài sản tài chính, cần thiết đảm bảo cho các hoạt động kinh tế diễn ra một cách bình thường, liên tục. Còn các loại cổ phiếu, trái phiếu, các loại công nợ khác là phương thức để chuyển tiết kiệm thành đầu tư. Tuy nhiên, loại vốn này chỉ được xem xét dưới góc độ doanh nghiệp. Tóm lại, vốn là kết quả của đầu tư để tạo các tài sản nhằm mục tiêu thu nhập trong tương lai. Trong phạm vi nền kinh tế quốc dân, vốn chủ yếu tồn tại dưới hình thức máy móc, thiết bị, nhà xưởng… và hàng tồn kho. 1.1.2. Khái niệm thu hút đầu tư Thu hút đầu tư là những hoạt động, những chính sách của chính quyền, cộng đồng doanh nghiệp và dân cư để nhằm quảng bá, xúc tiến, hỗ trợ, khuyến khích các nhà đầu tư bỏ vốn thực hiện mục đích đầu tư phát triển. Kích thích cung cầu, thu hút sự đầu tư của nhà nước về hạ tầng 11 KTXH, QPAN. Thực chất thu hút vốn đầu tư là làm gia tăng sự chú ý, quan tâm của các nhà đầu tư để từ đó dịch chuyển dòng vốn đầu tư vào địa phương hoặc ngành. 1.1.3. Các nguồn vốn trong nước Nguồn vốn trong nước thể hiện sức mạnh nội lực của một quốc gia. Nguồn vốn này có ưu điểm là ổn định, bền vững, chi phí thấp, giảm thiểu được rủi ro và hậu quả xấu đối với nền kinh tế do những tác động từ bên ngoài. Nguồn vốn trong nước chủ yếu được hình thành từ các nguồn tiết kiệm trong nền kinh tế. Mặc dù, thời đại ngày nay các dòng vốn nước ngoài ngày càng trở nên đặc biệt không thể thiếu được đối với các nước đang phát triển những nguồn vốn từ tiết kiệm trong nước vẫn giữ vai trò quyết định. * Tiết kiệm của Ngân sách Là tổng chênh lệch dương giữa tổng các khoản thu mang tính không hoàn lại (chủ yếu là thuế) với tổng chi tiêu dùng của ngân sách. Tiết kiệm ở khâu tài chính này sẽ hình thành nên nguồn vốn đầu tư của nhà nước. Đối với các nước đang phát triển, do tiết kiệm của nền kinh tế bị hạn chế bởi yếu tố thu nhập bình quân đầu người. Cho nên để duy trì sự tăng trưởng kinh tế và mở rộng đầu tư đòi hỏi phải gia tăng tiết kiệm ngân sách nhà nước trên cơ sở kết hợp chính sách thuế và chi tiêu. * Tiết kiệm doanh nghiệp Là số lãi ròng có được từ kết quả kinh doanh. Đây là nguồn cơ bản để các doanh nghiệp tạo vốn cho đầu tư phát triển. Quy mô tiết kiệm của doanh nghiệp phụ thuộc vào các yếu tố trực tiếp như: hiệu quả kinh doanh, chính sách thuế, sự ổn định kinh tế vỹ mô… * Tiết kiệm dân cư Là khoảng tiền còn lại của thu nhập sau khi đã phân phối và sử dụng 12 cho mục đích tiêu dùng. Quy mô tiết kiệm khu vực dân cư chịu ảnh hưởng của các nhân tố trực tiếp như: trình độ phát triển kinh tế, thu nhập bình quân đầu người, chính sách lãi suất, sự ổn định kinh tế vĩ mô… Trong nền kinh tế thị trường số tiền tiết kiệm của khu vực dân cư có thể chuyển hóa thành nguồn vốn đầu tư thông qua các hình thức như: gửi tiết kiệm vào các tổ chức tín dụng, mua chứng khoán trên thị trường tài chính, trực tiếp đầu tư kinh doanh. Có thể nói, tiết kiệm khu vực dân cư giữ vị trí rất quan trọng trong hệ thống tài chính. Nếu tiết kiệm ngân sách không đáp ứng nhu cầu chi đầu tư thì buộc Nhà nước phải tìm đến nguồn vốn của khu vực này để thỏa mãn bằng cách phát hành trái phiếu Chính phủ. 1.1.4. Các nguồn vốn ngoài nước So với nguồn vốn trong nước, nguồn vốn nước ngoài có ưu thế là mang lại ngoại tệ cho nền kinh tế. Tuy vậy, nguồn vốn này luôn chứa ẩn những nhân tố tiềm tàn gây bất lợi cho nền kinh tế, đó là sự lệ thuộc, nguy cơ khủng hoảng nợ, sự tháo chạy đầu tư, sự gia tăng tiêu dùng và giảm tiết kiệm trong nước… Như vậy, vấn đề huy động vốn nước ngoài đặt ra những thử thách không nhỏ trong chính sách huy động vốn của các nền kinh tế đang chuyển đổi. Đó là: một mặt phải ra sức huy động vốn nước ngoài để đáp ứng tối đa nhu cầu vốn cho công nghiệp hóa; mặt khác phải giám sát chặt chẽ việc sử dụng vốn nước ngoài để ngăn chặn khủng hoảng. Để vượt qua những thách thức đó, đòi hỏi nhà nước phải sử dụng tốt các công cụ tài chính trong việc ổn định môi trường kinh tế vĩ mô, tạo lập môi trường đầu tư thuận lợi cho sự vận động vốn nước ngoài, điều chỉnh và lựa chọn các hình thức thu hút vốn sao cho có lợi cho nền kinh tế. Vốn nước ngoài có thể thu hút được dưới các hình thức sau: - Tài trợ phát triển chính thức (ODA): Đây là nguồn vốn thuộc chương trình hợp tác phát triển do chính phủ các nước ngoài hỗ trợ trực tiếp hoặc 13 gián tiếp thông qua các tổ chức liên chính phủ và các tổ chức phi chính phủ. Nguồn vốn ODA bao gồm viện trợ không hoàn lại và các khoảng cho vay ưu đãi. - Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Đây là nguồn vốn do các nhà đầu tư nước ngoài đem vốn vào một nước để đầu tư trực tiếp bằng việc tạo ra những doanh nghiệp. FDI trong những thập kỷ qua đã tăng rất nhanh, tốc độ tăng trung bình của toàn thế giới là 24% thời kỳ 1986-1990 và 32% vào đầu thập kỷ 90. Điều này chứng minh rằng, FDI đã và đang trở thành hình thức huy động vốn đầu tư nước ngoài phổ biến ở nhiều nước đang phát triển khi mà các luồng dịch chuyển vốn từ các nước phát triển đi tìm cơ hội đầu tư ở nước ngoài để gia tăng khai thác về lợi thế so sánh. Nguồn vốn để đầu tư vào huyện Quế Sơn được Đảng bộ và chính quyền huyện xác định cụ thể như sau: - Vốn ngân sách nhà nước hỗ trợ xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng quan trọng cấp thiết cho sự vận hành của của các khu, cụm công nghiệp. Đây là nguồn vốn có tính chất kích thích, thường không lớn, dùng để đầu tư một số công trình trọng điểm. - Vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước: Đây là nguồn vốn ưu đãi được nhà nước cho vay với lãi suất thấp, thời gian trả nợ dài thường được vay để xây dựng kết cấu hạ tầng hoặc đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh thông qua quỹ đầu tư hỗ trợ đầu tư phát triển. Nguồn vốn này thường không lớn và có các điều kiện đảm bảo khi vay. - Vốn doanh nghiệp dân cư trong nước: Đây là nguồn vốn được khuyến khích ở mức cao nhất, là nguồn vốn chính, quan trọng nhất, chiếm tỉ trọng cao nhất, quyết định sự thành công của việc thu hút đầu tư vào huyện Quế Sơn. Thông qua các dự án đầu tư trực tiếp và các hình thức phát hành trái phiếu công trình hoặc các đối tượng có nhu cầu sử dụng kết cấu hạ tầng ứng trước một phần vốn. 14 - Vốn nước ngoài: Đây là nguồn vốn cơ hội. Thu hút đầu tư nước ngoài để phát triển kinh tế, đẩy mạnh xuất khẩu. Vốn nước ngoài được thu hút vào gồm vốn đầu tư trực tiếp, gián tiếp bằng nhiều hình thức: BOT, BT, BTO… 1.2. Một số chính sách thu hút đầu tư vào huyện Quế Sơn 1.2.1. Chính sách ưu đãi đầu tư Nhà đầu tư có dự án đầu tư vào huyện Quế Sơn, kể cả các dự án đầu tư mở rộng, được hưởng chính sách ưu đãi áp dụng đối với địa bàn thuộc danh mục địa bàn có điều kiện KTXH khó khăn (áp dụng Nghị định 118/2015/NĐ-CP ngày12/11/2015 của Chính phủ về Qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư); và các chính sách ưu đãi khác theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp: - Dự án đầu tư vào ngành nghề, lĩnh vực thuộc danh mục lĩnh vực được ưu đãi theo quy định của UBND tỉnh Quảng Nam. - Dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng. - Dự án có quy mô lớn và có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển ngành, lĩnh vực hoặc phát triển KTXH của khu vực tại huyện Quế Sơn sau khi được cấp có thẩm quyền chấp thuận. 1.2.2. Chính sách đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội huyện Quế Sơn. Dự án đầu tư kết cầu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội quan trọng của huyện Quế Sơn chủ yếu được bố trí vốn từ nguồn vốn đầu tư phát triển của ngân sách địa phương và nguốn vốn ngân sách tỉnh. Dự án đầu tư xây dựng hạ tầng quy mô lớn, có vai trò then chốt đối với sự phát triển huyện Quế Sơn. Thu hút vốn đầu tư theo các hình thức đầu tư đối tác công tư: PPP (BT, BOT,…) theo đúng quy định của pháp luật. 15 Dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng các khu chức năng trong Khu Công nghiệp Đông Quế Sơn, các cụm công nghiệp trên địa bàn huyện được huy động vốn, thông qua việc cho các nhà đầu tư có khả năng về tài chính và kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư, thuê lại một phần hay toàn bộ diện tích đất chưa cho thuê để đầu tư và cho thuê lại đất. Dự án phát triển hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội được huy động vốn từ quỹ đất theo quy định của pháp luật về đất đai. 1.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách thu hút đầu tư vào huyện Quế Sơn Thu hút đầu tư nói chung, thu hút đầu tư vào huyện Quế Sơn nói riêng chịu tác động bởi nhiều nhân tố ảnh hưởng khác nhau, cụ thể như sau: 1.3.1 Môi trường chính trị xã hội Sự ổn định chính trị xã hội đóng vai trò quyết định đối với việc thu hút vốn đầu tư. Ổn định chính trị luôn là yếu tố hấp dẫn hàng đầu đối với các nhà đầu tư nhất là đối với các nhà đầu tư nước ngoài, vì có ổn định chính trị thì các cam kết của chính quyền địa phương với các nhà đầu tư về sở hữu vốn, các chính sách ưu tiên định hướng phát triển mới được thực hiện. Đây là những vấn đề được nhà đầu tư quan tâm nhất, vì nó có tác động mạnh đến các yếu tố rủi ro trong đầu tư. Tất nhiên, trong hoạt động đầu tư, nhất là hoạt động đầu tư nước ngoài là phải chấp nhận mạo hiểm. Mạo hiểm và độ rủi ro cao, nhưng nếu thành công sẽ mang lại tỷ suất lợi nhuận cao. Ảnh hưởng của môi trường chính trị xã hội thể hiện rõ ràng ở các nước có nền chính trị ổn định đã thu hút lượng vốn đầu tư nước ngoài ngày càng tăng như: dòng vốn FDI đổ vào các nước Singapore, Malaysia, trong hai thập kỷ cuối thế kỷ 20 nhiều hơn hẳn vào Thái Lan và Philipphin. Tình hình đầu tư nước ngoài vào Trung Quốc, Việt Nam trong những năm gần 16 đây đã ngày càng tăng lên với tốc độ cao. Điều đó tiếp tục khẳng định, giữ ổn định chính trị ngày càng trở nên quan trọng hàng đầu trong thu hút đầu tư. Đặc biệt là đầu tư nước ngoài và ngày cả khi đã đầu tư vào một địa phương nào đó mà tình hình chính trị mất ổn định, thì khả năng các nhà đầu tư phải tính đến có nên tiếp tục đầu tư hay chuyển đến một nơi khác an toàn hơn. Kinh nghiệm cho thấy nhiều quốc gia có lợi thế về tài nguyên thiên nhiên, về thị trường rộng lớn, song lại gặp khó khăn về thu hút đầu tư do có xung đột chính trị trong nước, bất ổn chính trị tại địa phương. Vì vậy, sự ổn định về chính trị là yếu tố đầu tiên để nhà đầu tư xem xét quyết định có đầu tư hay không. 1.3.2. Cơ chế chính sách và thủ tục hành chính Cơ chế chính sách là một bộ phận quan trọng không thể thiếu của môi trưởng đầu tư. Cơ chế chính sách tiến bộ, hấp dẫn, có lợi ích cao, phù hợp với thông lệ quốc tế là một tiêu chí quan trọng để nhà đầu tư lựa chọn quyết định đầu tư. Cơ chế chính sách chính là hệ thống pháp luật được Nhà nước ban hành nhằm khuyến khích đầu tư, bao gồm các ưu đãi đầu tư và các biện pháp đảm bảo cho các ưu đãi được thực hiện trên thực tế. Cùng với hệ thống cơ chế chính sách về đầu tư, đi liền với nó là một môi trường pháp lý đồng bộ, thể hiện ở các định chế pháp lý hoàn thiện như: Hiến pháp, tòa án kinh tế, trọng tài kinh tế, hệ thống kiểm toán quốc gia… Cùng với phương thức vận hành của chúng, môi trường pháp lý hoàn thiện phù hợp với thông lệ quốc tế. Một mặt, tạo niềm tin cho các nhà đầu tư yên tâm trong hoạt động. Mặt khác, đó cũng chính là căn cứ và công cụ hữu hiệu để nhà nước kiểm soát các hoạt động đầu tư. Từ các vấn đề đó, tính nguyên tắc nêu trên yêu cầu phải phát triển hệ thống thông tin, dịch vụ tư vấn pháp lý nhanh chóng, chuẩn xác, trung thực 17 giúp cho hoạt động đầu tư và quản lý đầu tư vừa đúng hướng, vừa chặt chẽ. Đồng thời, tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư. Cùng với cơ chế chính sách ưu đãi, thông thoáng cần phải có thủ tục hành chính đơn giản, dễ thực hiện, ít khâu trung gian và thời gian thực hiện ngắn. Để có được một thủ tục như vậy, ngoài việc có một hệ thống văn bản pháp luật khoa học quy định rõ ràng rành mạch trách nhiệm của các chủ thể, cần xây dựng một quy trình làm việc khoa học với một đội ngũ cán bộ công chức viên chức có trình độ chuyên môn cao, một tinh thần trách nhiệm tận tụy và có chế độ khen thưởng và kỷ luật nghiêm minh. Thủ tục hành chính gọn nhẹ cho phép giải quyết mọi công việc nhanh chóng vừa tiết kiệm thời gian vừa tránh được lãng phí và tạo được niềm tin cho nhà đầu tư. Điều đó cũng nói lên trình độ tổ chức và quản lý quốc gia hoặc địa bàn của các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương. Ở nước phát triển, môi trường pháp luật hoàn thiện, nền hành chính được cải cách và đội ngũ công chức được chuyên nghiệp hóa cao, nên thủ tục hành chính tương thích với trình độ phát triển của nền kinh tế. Trong khi đó, ở các nước đang phát triển, pháp luật chưa đồng bộ, chất lượng chưa cao, nhiều lĩnh vực chưa có quy định. Thậm chí còn có sự chồng chéo nhau. Đội ngũ cán bộ công chức chưa được đào tạo bài bản. Đặc biệt tinh thần trách nhiệm và tệ nạn tham nhũng, đang là một thách thức trong tiến trình phát triển của đất nước nói chung và thu hút đầu tư nói riêng. Vì vậy, cải cách thủ tục hành chính thực hiện mô hình “một cửa”, nhằm rút ngắn thời gian giải quyết công việc, là một trong những tiêu chí đánh giá môi trường đầu tư của các quốc gia và từng địa phương. Có thể nói rằng, cơ chế chính sách và thủ tục nói riêng, môi trường pháp lý nói chung là điều kiện có tính chất cốt lõi để thu hút các nhà đầu tư. Kinh nghiệm thành công trong quá trình cải cách hội nhập cho thấy: 18 Quốc gia và địa phương nào có chính sách cởi mở, thông thoáng, thủ tục hành chính được thuận lợi, thì thu hút đầu tư tốt. Ví dụ như, Trung Quốc bằng chính sách xây dựng các khu kinh tế ven biển với nhiều ưu đãi vượt trội nên trong một thời gian có hạn các khu kinh tế này đã tạo nên một sức phát triển thần kỳ, làm cơ sở cho Trung Quốc đẩy mạnh cải cách, mở cửa. Đặc biệt là hội nhập kinh tế quốc tế, tạo nên sự phát triển nhanh. 1.3.3. Kết cấu hạ tầng kỹ thuật xã hội Từ hoạt động FDI, nhiều nhà đầu tư nước ngoài đi đến nhận xét: “Ưu đãi thuế cũng tốt nhưng không tốt bằng cải thiện hệ thống kết cấu hạ tầng KTXH và đơn giản hóa thủ tục đầu tư”. Bởi lẽ, hoạt động kinh tế, hoạt động đầu tư bao giờ cũng tồn tại trong một môi trường KTXH nhất định. Môi trường xã hội gắn với một cộng đồng người những phong tục, tập quán, lối sống, có thể bao gồm nhiều dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau. Môi trường kinh tế phụ thuộc vào nhiều nhân tố như tài nguyên thiên nhiên, cơ cấu kinh tế… trong đó kết cấu hạ tầng kinh tế đóng vai trò quan trọng. Do vậy, khi xây dựng được một kết cấu hạ tầng KTXH phù hợp, thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh, thì việc thu hút đầu tư mới hiệu quả. Hệ thống hạ tầng tác động trực tiếp đến hiệu quả đầu tư, hệ thống hạ tầng đồng bộ, chất lượng tốt trực tiếp giảm chi phí đầu tư, tăng khả năng cạnh tranh và sẽ mang lại lợi nhuận cao, đáp ứng được mục tiêu của các nhà đầu tư. Vì vậy, quan tâm đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng là một trong những mục tiêu ưu tiên hàng đầu trong việc phát triển kinh tế ở một quốc gia hay một địa phương. 1.3.4. Nguồn nhân lực 19 Lịch sử loài người đã chứng minh vai trò quyết định lao động với sự phát triển kinh tế xã hội. Ngày nay khoa học công nghệ phát triển cao, chi phối mọi lĩnh vực kinh tế xã hội, nhưng cũng không thể thay thế được vai trò của con người. Hơn nữa, nguồn lực lao động còn là nhân tố sáng tạo ra công nghệ, thiết bị và sử dụng chúng trong quá trình phát triển kinh tế. Quá trình đó, có thể nhấn mạnh vai trò của nguồn lực lao động như sau: - Lao động là nhân tố quyết định cho việc tổ chức và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực khác. Khi phân tích các bộ phận cấu thành nguồn lực chủ yếu là lao động, tài nguyên thiên nhiên, vốn và khoa học công nghệ. Nhưng cả lý luận và thực tiễn đều khẳng định rằng, nguồn lao động là nhân tố quyết định định việc tái tạo, sử dụng, phát triển các nguồn lực còn lại. Không dựa trên nền tảng phát triển cao của nguồn lao động về thể chất, trình độ văn hóa, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý, lòng nhiệt tình thì không thể sử dụng hợp lý các nguồn lực. Thiếu nguồn lực lao động chất lượng cao, có thể làm lãng phí, cạn kiệt và hủy hoại các nguồn lực khác. - Lao động là một bộ phận của các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất. Chi phí lao động, mức tiền công thể hiện sự cấu thành của nguồn lực trong hàng hóa dịch vụ. Như vậy, chi phí nguồn lực lao động trở thành nhân tố cấu thành tăng trưởng của nền kinh tế. - Nguồn lao động là một bộ phận dân số tham gia tiêu dùng các sản phẩm và dịch vụ xã hội. Nguồn lao động trở thành nhân tố tạo cầu của nền kinh tế. Nguồn lao động không chỉ có ý nghĩa đối với sự phát triển nền kinh tế của một quốc gia, mà còn là điều kiện bắt buộc trong quá trình phát triển của mỗi địa phương. Để đáp ứng được nhu cầu phát triển KTXH của từng địa phương, nguồn lao động tại chỗ đáp ứng đủ về số lượng, đảm bảo yêu cầu về chất lượng. Đây là yếu tố quan trọng và là tiêu chí hàng đầu để nhà 20
- Xem thêm -