Tài liệu Thực hiện chính sách tái cơ cấu ngành nông nghiệp ở thị xã điện bàn, tỉnh quảng nam

  • Số trang: 77 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 338 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI TRẦN HẢI VÂN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÁI CƠ CẤU NGÀNH NÔNG NGHIỆP Ở THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG HÀ NỘI, năm 2019 VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI TRẦN HẢI VÂN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÁI CƠ CẤU NGÀNH NÔNG NGHIỆP Ở THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM Chuyên ngành : Chính sách công Mã số : 8 34 04 02 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. PHÍ VĨNH TƯỜNG HÀ NỘI, năm 2019 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ Chính sách công về "Thực hiện chính sách tái cơ cấu ngành nông nghiệp ở Thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam" là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và không trùng lắp với các đề tài khác cùng lĩnh vực. Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này. Tác giả Trần Hải Vân MỤC LỤC MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1 CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÁI CƠ CẤU NGÀNH NÔNG NGHIỆP ............................................................... 9 1.1. Những khái niệm cơ bản ......................................................................................9 1.2. Các chủ thể và hình thức tham gia vào quá trình phát triển nông nghiệp..........15 1.3. Các tiêu chí đánh giá và chỉ tiêu đo lường cơ cấu nông nghiệp ........................18 1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp ............................. 22 1.5. Kinh nghiệm tái cơ cấu nông nghiệp của Israel .................................................26 CHƯƠNG 2. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÁI CƠ CẤU NGÀNH NÔNG NGHIỆP Ở THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM........29 2.1. Khái quát tình hình phát triển nông nghiệp Thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam ...................................................................................................................................29 2.2. Thực hiện chính sách tái cơ cấu ngành nông nghiệp giai đoạn 2013-2018 .......40 2.3. Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách tái cơ cấu ngành nông nghiệp ở thị xã Điện Bàn và những vấn đề trong thực hiện chính sách.............................................47 CHƯƠNG 3. QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÁI CƠ CẤU NGÀNH NÔNG NGHIỆP ...................................................................................................................53 3.1. Bối cảnh quốc tế và trong nước .........................................................................53 3.2. Quan điểm, định hướng tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Quảng Nam và cơ cấu nông nghiệp Thị xã Điện Bàn .............................................................................54 3.3. Các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách tái cơ cấu ngành nông nghiệp ở thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam trong thời gian đến .............................................60 KẾT LUẬN ..............................................................................................................67 TÀI LIỆU THAM KHẢO DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT BVTV : Bảo vệ thực vật CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa DNNN : Doanh nghiệp nông nghiệp GTNĐ : Giao thông nội đồng GTSX : Giá trị sản xuất GDP : Tổng sản phẩm quốc nội HĐND : Hội đồng nhân dân HTX : Hợp tác xã KH&CN : Khoa học và Công nghệ KH-KT : Khoa học – Kỹ thuật KT – XH : Kinh tế - Xã hội KCHKM : Kiên cố hóa kênh mương MTQG : Mục tiêu quốc gia NN&PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn NTM : Nông thôn mới TLHĐM : Thủy lợi hóa đất màu UBND : Ủy ban nhân dân DANH MỤC CÁC BẢNG Số hiệu Tên Bảng Bảng Trang 2.1 Tổng hợp kết quả trồng trọt giai đoạn 2013-2018 30 2.2 Tổng hợp kết quả chăn nuôi giai đoạn 2013-2018 31 2.3 Tổng hợp kết quả nuôi trồng và đánh bắt thủy sản giai đoạn 32 2013-2018 2.4 Tổng hợp kết quả hoạt động trang trại năm 2018 37 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Hơn 30 năm đổi mới, nông nghiệp Việt Nam đạt được những thành tựu phát triển đáng ghi nhận, đã thực hiện tái cơ cấu, xây dựng nền nông nghiệp theo hướng hiện đại, nông nghiệp duy trì tăng trưởng và đang chuyển mạnh theo hướng sản xuất hàng hóa, với quy mô, năng suất, sản lượng ngày càng cao, nông sản Việt Nam hiện có mặt tại phần lớn quốc gia và vùng lãnh thổ, đóng góp tỷ trọng khá cao trong GDP và kim ngạch xuất khẩu cho đất nước. Tuy nhiên, kết quả đạt được vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của khu vực nông nghiệp, nông thôn và chưa đồng đều giữa các vùng miền. Bên cạnh đó, đời sống vật chất và tinh thần của người nông dân còn gặp vô vàng khó khăn, môi trường ô nhiễm, thiên tai, dịch hại hoành hành. Vì vậy, vấn đề tái cơ cấu đề ngành nông nghiệp phát triển bền vững nhất là trong điều kiện hội nhập và tác động của cuộc Cách mạng 4.0 là mục tiêu quan trọng mà ngành nông nghiệp Việt Nam hướng tới. Đại hội lần thứ XII của Đảng xác định: “ Đẩy nhanh cơ cấu lại ngành nông nghiệp, xây dựng nền nông nghiệp sinh thái phát triển toàn diện cả về nông, lâm, ngư nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững, trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh và tổ chức lại sản xuất, thúc đẩy ứng dụng sâu rộng khoa học - công nghệ, nhất là công nghệ sinh học, công nghệ thông tin vào sản xuất, quản lý nông nghiệp và đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn để tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài; nâng cao thu nhập và đời sống của nông dân”.[5, tr.93] Thời gian qua, cùng với quá trình đổi mới của đất nước, phát huy tiềm năng, lợi thế về điều kiện vị trí địa lý, tự nhiên, kinh tế-xã hội và tranh thủ nhiều nguồn lực đầu tư nên ngành nông nghiệp thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam đạt được những kết quả tích cực. Cơ cấu ngành nông nghiệp chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa, duy trì được mức tăng trưởng khá ổn định và hợp lý (bình quân 5 năm qua là 3,01% [15,tr.27]), nhiều mô hình sản xuất có giá trị kinh tế cao, thu 1 nhập người nông dân ngày càng được nâng lên, hộ nghèo giảm mạnh, góp phần vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của thị xã. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân ngành nông nghiệp còn bộc lộ nhiều hạn chế: hoạt động sản xuất nhỏ lẻ, suy giảm thâm canh; mô hình sản xuất có hiệu quả chưa được nhân rộng; chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp chưa cao; thu nhập từ nông nghiệp thấp và không đảm bảo so với thu nhập từ các ngành khác; tình trạng “được mùa mất giá được giá mất mùa” là phổ biến; tình trạng bỏ hoang đất sản xuất ngày càng nhiều, do đa số người nông dân sản xuất quảng canh hoặc giữ đất vì mục đích chờ bồi thường khi Nhà nước thu hồi trong quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Trong bối cảnh chung của nền nông nghiệp Việt Nam và của thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững đã được ban hành (Quyết định số 899/QĐ-TTg, ngày 10/ 6/ 2013 của Thủ Tướng Chính phủ). UBND thị xã Điện Bàn đã phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững của thị xã Điện Bàn giai đoạn 2015-2020 (Quyết định số 909/QĐUBND, ngày 04/02/2016). Cũng như các địa phương khác trong cả nước, thị xã Điện Bàn phải đối mặt với những thách thức khi thực hiện chính sách tái cơ cấu ngành nông nghiệp đó là: đại đa số lao động nông nghiệp nông thôn chưa được đào tạo, thu nhập từ nông nghiệp rất thấp; đất đai manh mún, sản xuất nhỏ lẽ, chậm thực hiện việc gia hạn quyền sử dụng đất nông nghiệp theo Luật đất đai 2013, qui hoạch sử dụng đất luôn biến động, không ổn định; độ rủi ro trong sản xuất nông nghiệp là rất cao như tình hình thiên tai bão lũ hàng năm, dịch hại trên cây trồng, con vật nuôi, thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp làm ra không ổn định... Bối cảnh đó đòi hỏi sự cần thiết phải tiếp tục nghiên cứu, dựa trên cơ sở lý luận, những vấn đề thực tiễn, các yếu tố tác động đến chính sách tái cơ cấu ngành nông nghiệp của thị xã Điện Bàn, nhằm phát hiện những vấn đề và đề xuất các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách tái cơ cấu ngành nông nghiệp để nâng cao thu nhập và cải thiện mức sống cho người nông dân. Vì vậy, học viên đã lựa chọn vấn đề “Thực hiện chính sách tái cơ cấu ngành 2 nông nghiệp ở thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam” làm đề tài luận văn cao học chuyên ngành Chính sách công. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí đặc biệt quan trọng. Chính sách tái cơ cấu lại nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, phát triển bền vững gắn với phát triển kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới cần được đẩy mạnh để nâng cao thu nhập của nông dân và phát triển kinh tế đất nước. Đây là vấn đề vừa cấp bách, vừa lâu dài. Nghị quyết đại hội XII của Đảng ta đã chủ trương chú trọng đầu tư vùng trọng điểm sản xuất nông nghiệp, đẩy mạnh tích tụ, tập trung ruộng đất, thu hút các nguồn lực đầu tư cho nông nghiệp, hình thành các tổ hợp nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ công nghệ cao, đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, thu hẹp khoảng cách và tăng cường kết nối nông thôn - đô thị, phát huy vai trò chủ thể của hộ nông dân và kinh tế hộ cùng vai trò quan trọng của doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả hoạt động hợp tác xã và các hình thức hợp tác, liên kết trong sản xuất, gắn kết chặt chẽ quá trình sản xuất, chế biến và tiêu thụ đối với nông sản. Đến thời điểm hiện nay, qua tìm hiểu những công trình nghiên cứu liên quan đến chính sách tái cơ cấu nông nghiệp vẫn còn khá khiêm tốn, trong khi có rất nhiều công trình nghiên cứu về xây dựng nông thôn mới và phát triển nông nghiệp bền vững. Trong đó, có thể kể đến những công trình sau đây. - Tác giả Lưu Văn Sùng trong cuốn sách Một số kinh nghiệm điển hình về phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội (2004), đã phân tích thực trạng nền nông nghiệp, nông thôn Việt Nam và chỉ rõ đa số dân cư sống bằng nghề nông còn gặp nhiều khó khăn cả vật chất, tinh thần. Vì thế, trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước cần đặc biệt quan tâm vấn đề CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. [24] - Tác giả Nguyễn Từ với cuốn sách Tác động của Hội nhập kinh tế Quốc tế đối với phát triển nông nghiệp của Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 3 (2008), đã khái quát một số vấn đề về hội nhập kinh tế quốc tế; các hiệp định thương mại khu vực và toàn cầu liên quan đến nông nghiệp nói chung và đến ngành nông nghiệp Việt Nam nói riêng, những ảnh hưởng của hội nhập kinh tế quốc tế đến phát triển kinh tế nông nghiệp Việt Nam trong thời gian qua, và kiến nghị một số giải pháp góp phần phát triển nền nông nghiệp Việt Nam. [27] - Tác giả Đặng Kim Sơn trong cuốn Tái cơ cấu nền nông nghiệp Việt Nam theo hướng giá trị tăng cao, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2012. Cuốn sách đã làm rõ những đóng góp của nông nghiệp Việt Nam cho quá trình đổi mới và công nghiệp hóa thời gian qua, kinh nghiệm của quốc tế về phát triển nông nghiệp giá trị cao và một số mô hình tổ chức sản xuất thành công trong nước; chỉ ra những thách thức, khó khăn của nông nghiệp Việt Nam hiện tại và tương lai. Trên cơ sở đó, đề xuất quan điểm, định hướng, nội dung tái cấu trúc ngành, vùng trong nông nghiệp nhằm nâng cao giá trị gia tăng và các giải pháp chiến lược. [22] - Tác giả Hoàng Thị Chính với bài viết Để nông nghiệp phát triển bền vững, Tạp chí Phát triển kinh tế số tháng 6-2010, đã nhấn mạnh Nông nghiệp Việt Nam muốn phát triển bền vững, cần phải có những thay đổi căn bản cả trong tư duy lẫn hành động. Bài viết của tác giả cũng đưa ra một số giải pháp góp phần phát triển nông nghiệp bền vững hơn. [2] - Tác giả La Thị Hường với bài Cơ hội và thách thức trong quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp Việt Nam đăng trên Thông tin phục vụ lãnh đạo số 8 (tháng 4/ 2014), trong nghiên cứu này, tác giả đã tập hợp, phân tích số liệu qua một năm triển khai thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp của Việt Nam, đề cập đến những cơ hội và thách thức đến từ cả trong và ngoài nước của quá trình tái cơ cấu. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các giải pháp cần tập trung thực hiện nhằm khắc phục những hạn chế, những rào cản, để quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp thành công. [9] - Luận văn Thạc sỹ chính sách công, Lê Thị Minh Tâm, Đánh giá chính sách xây dựng Nông thôn mới từ thực tiễn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam; năm 2017. Trong đó về đánh giá tiêu chí Tổ chức sản xuất nông nghiệp ở thị xã Điện Bàn, luận 4 văn khẳng định: những kết quả đạt được của địa phương trong phát triển các hình thức tổ chức sản xuất ở nông thôn với nhiều mô hình có hiệu quả. Các hợp tác xã và tổ hợp tác không ngừng mở rộng sản xuất kinh doanh, liên doanh, liên kết, hỗ trợ sản xuất. Qua đánh giá, phần lớn các HTX đã làm tốt vai trò trung gian cho người dân trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, góp phần giải quyết công ăn, việc làm và tăng thu nhập cho người nông dân. [11] - Tác giả Tạ Thị Đoàn trong bài Phát triển Nông nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, đăng trên Tạp chí Tài chính năm 2017. Bài viết phân tích tác động của bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế bao gồm cả sự tham gia của các cơ chế liên kết kinh tế quốc tế đến phát triển bền vững ngành nông nghiệp. Qua đánh giá phân tích thực trạng phát triển nông nghiệp Việt Nam, những cơ hội, thách thức, đã đề ra các giải pháp nhằm phát triển nông nghiệp bền vững trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. [7] - Bài báo “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp: đâu là nút thắt của các nút thắt?” của tác giả Trần Văn Việt đăng trên http://baodientu.chinhphu.vn/ Baitoan-tai-cocau-nong-nghiep/Tai-co-cau-nganh-nong-nghiep-dau-la-nut-thatcua-cac-nut-that/19 3889.vgp. Trên cơ sở tập trung phân tích những khó khăn, rào cản trong sản xuất nông nghiệp nước ta hiện nay. Tác giả đưa ra kiến nghị: muốn gỡ nút thắt của mọi nút thắt trong tái cơ cấu ngành nông nghiệp là Chính phủ phải tập trung giúp đỡ, tạo mọi điều kiện để hợp tác xã củng cố và phát triển. [30] - Bài “Nông nghiệp Việt Nam: những thách thức và một số định hướng cho phát triển bền vững” của Đỗ Kim Chung và Kim Thị Dung, Tạp chí Kinh tế và Phát triển số 196 (10/2013). Tác giả đã tập trung luận giải một số thành tựu và thách thức đặt ra cho nước ta khi tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Từ đó, tác giả đưa ra những quan điểm và định hướng cho phát triển nông nghiệp bền vững, đáng chú ý trong định hướng phát triển các tác giả nhấn mạnh đến: chiến lược quy hoạch nông nghiệp dài hạn, bảo tồn quỹ đất nông nghiệp, tăng cường đầu tư cho nông nghiệp và thu hút mạnh hơn đầu tư của toàn xã hội vào nông nghiệp, nông thôn; gắn phát triển nông nghiệp với bảo vệ môi trường. [3] 5 Các công trình, bài viết nghiên cứu nêu trên góp phần làm rõ nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển nông nghiệp ở nước ta. Đây cũng là những lý luận cơ bản về nông nghiệp, phát triển nông nghiệp, các tác giả đã đi sâu phân tích, đánh giá thực trạng nền nông nghiệp nước ta, qua đó đề xuất nhiều giải pháp quan trọng góp phần phát triển nông nghiệp Việt Nam theo hướng bền vững trong những năm tới. Tuy vậy, cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào được công bố đề cập về thực hiện chính sách tái cơ cấu ngành nông nghiệp ở thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu Luận văn làm rõ vấn đề lý luận của chính sách tái cơ cấu nông nghiệp, tình hình thực tiễn và những kinh nghiệm trong thực hiện chính sách tái cơ cấu nông nghiệp, qua đó tham gia các giải pháp nhằm tăng cường thực hiện chính sách này trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Thứ nhất, hệ thống cơ sở lý luận về nông nghiệp, cơ cấu nông nghiệp, và chính sách tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Thứ hai, phân tích, đánh giá tình hình thực hiện chính sách tái cơ cấu nông nghiệp tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam: trong đó làm rõ mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp, đánh giá đúng vai trò của các chủ thể tham gia và những yếu tố ảnh hưởng trong việc thực hiện chính sách tại địa phương nghiên cứu. Thứ ba, quan điểm và đề xuất các giải pháp tiếp tục tăng cường thực hiện chính sách tái cơ cấu ngành nông nghiệp tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là chính sách tái cơ cấu ngành nông nghiệp và thực tiễn thực hiện chính sách tái cơ cấu nông nghiệp ở thị xã Điện Bàn. 4.2. Phạm vi nghiên cứu 6 Phạm vi không gian: nghiên cứu việc thực hiện chính sách đối với ngành nông nghiệp của thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Phạm vi về thời gian: Tập trung đánh giá thực trạng thực hiện chính sách từ năm 2013 đến năm 2018; giải pháp tăng cường thực hiện chính sách tái cơ cấu nông nghiệp tại thị xã Điện Bàn trong thời gian đến. Phạm vi nghiên cứu về nội dung: Đề tài luận văn tập trung vào cơ cấu nông nghiệp và thủy sản (cây trồng, vật nuôi, thủy sản) và không bàn đến lĩnh vực lâm sản. 5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5.1. Phương pháp luận Luận văn vận dụng phương pháp nghiên cứu khoa học chính sách công với cách tiếp cận đa ngành, liên ngành xã hội học. Cụ thể là phương pháp tiếp cận chu trình chính sách, từ hoạch định - xây dựng - thực hiện - đánh giá chính sách theo giáo trình do các Giảng viên ở Học Viện khoa học xã hội Việt Nam giảng dạy. 5.2. Phương pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, với các công cụ phân tích thống kê và phân tích SWOT. Để giải quyết vấn đề của đề tài luận văn, chương 1 sẽ sử dụng phương pháp nghiên cứu tại bàn, với mục tiêu hệ thống một số vấn đề lý luận về tái cơ cấu ngành nông nghiệp, chính sách và thực hiện chính sách tái cơ cấu, làm rõ những tiêu chí đánh giá cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực hiện chính sách. Đối với chương 2, luận văn sử dụng phương pháp phân tích thống kê để làm rõ các kết quả đã đạt được cũng như các vấn đề của quá trình thực hiện chính sách. Để giải quyết nhiệm vụ của chương này, luận văn sẽ thu thập các số liệu, bao gồm: + Số liệu thứ cấp là: các số liệu về chính sách tái cơ cấu nông nghiệp của các bộ, ngành Trung ương và của tỉnh Quảng Nam. + Các văn bản quy định về vấn đề tái cơ cấu nông nghiệp ở Việt Nam được ban hành trong các Nghị quyết của Đảng, chính sách của Nhà nước. + Số liệu sơ cấp: tự thu thập qua điều tra thực tế tại 20 xã, phường trên địa bàn thị xã và các ngành chức năng của thị xã Điện Bàn. 7 Luận văn cũng áp dụng phương pháp phân tích SWOT. Và để triển khai phương pháp này, nội dung chương 2 đề cập đến các điểm mạnh (S) và điểm yếu (W) (từ kết quả phân tích thực trạng). Đối với chương 3, luận văn tiếp tục sử dụng phương pháp phân tích SWOT. Thông qua nội dung bối cảnh phát triển, luận văn nêu bật các cơ hội (O) và thách thức (T) trong quá trình thực thi chính sách tái cơ cấu nông nghiệp thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 6.1. Ý nghĩa lý luận Luận văn góp phần bổ sung cho hệ thống lý thuyết chính sách công những vấn đề từ thực tiễn thực hiện chính sách tái cơ cấu ngành nông nghiệp ở thị xã Điện Bàn 6.2. Ý nghĩa thực tiễn Đề tài cung cấp những số liệu và kết quả nghiên cứu tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Qua thực tiễn nghiên cứu quá trình thực hiện chính sách tái cơ cấu ngành nông nghiệp ở thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, chỉ ra được những vấn đề (hạn chế, bất cập) trong việc thực hiện chính sách, và luận giải nguyên nhân của những hạn chế đó từ cơ sở lý luận. Đồng thời kết quả nghiên cứu cũng đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả thực hiện chính sách tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. 7. Kết cấu luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục các chữ viết tắt, danh mục các hình và bảng, danh mục tài liệu tham khảo; kết cấu luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thực hiện chính sách tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Chương 2: Tình hình thực hiện chính sách tái cơ cấu ngành nông nghiệp ở thị xã Điện Bàn, Tỉnh Quảng Nam. Chương 3: Quan điểm, định hướng và các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách tái cơ cấu ngành nông nghiệp. 8 CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÁI CƠ CẤU NGÀNH NÔNG NGHIỆP 1.1. Những khái niệm cơ bản 1.1.1. Cơ cấu ngành nông nghiệp và tái cơ cấu ngành nông nghiệp 1.1.1.1. Nông nghiệp Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản, sử dụng đất đai (mặt nước) để trồng trọt và chăn nuôi, tạo ra lương thực thực phẩm và nguyên liệu cho công nghiệp. Nông nghiệp bao gồm: trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản.[28,tr.3] Trong nông nghiệp cũng có hai loại chính: - Nông nghiệp thuần nông có đầu vào hạn chế, sản phẩm đầu ra chủ yếu phục vụ cho chính gia đình của mỗi người nông dân, không có sự cơ giới hóa. - Nông nghiệp chuyên sâu với tính chất chuyên môn hóa, cơ giới hóa trong tất cả các khâu trong quá trình sản xuất ( trồng trọt, chăn nuôi và chế biến sản phẩm nông nghiệp). 1.1.1.2. Cơ cấu ngành Nông nghiệp Cơ cấu ngành nông nghiệp là mối quan hệ tỷ lệ về số lượng và giá trị giữa các chuyên ngành, tiểu ngành bộ phận. Nói cách khác, cơ cấu ngành nông nghiệp phản ánh quan hệ tỷ lệ về giá trị sản lượng, quy mô sử dụng đất của các chuyên ngành, tiểu ngành cấu thành nên ngành nông nghiệp. Trong cơ cấu ngành nông nghiệp, các chuyên ngành, tiểu ngành có mối quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ nhau phát triển trong phạm vi về không gian, thời gian và trên cơ sở điều kiện hạ tầng KT-XH ở từng nơi. Cơ cấu ngành nông nghiệp là kết quả của quá trình phát triển về số lượng, chất lượng ngành nông nghiệp trong khoảng thời gian nào đó, vì vậy nó luôn luôn biến đổi không ngừng theo sự phát triển của các chuyên ngành, tiểu ngành tạo nên cơ cấu toàn ngành. Đó là sự thay đổi tất yếu về tỷ lệ giữa các chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản; thay đổi về số lượng, loại hình quy mô các 9 chủ thể tham gia sản xuất kinh doanh trong các chuyên ngành, tiểu ngành; thay đổi về mối quan hệ giữa nông nghiệp với các ngành kinh tế khác như: công nghiệp và dịch vụ cung ứng đầu vào cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp chế biến nông sản và các hoạt động phân phối, tiêu thụ nông sản làm ra. Trong kinh tế thị trường và sản xuất hàng hóa, sự thay đổi tỷ lệ về quy mô, giá trị giữa các chuyên ngành, tiểu ngành của ngành nông nghiệp theo hướng tăng lên hoặc giảm xuống đều có mục đích đáp ứng cao nhất các yêu cầu của người tiêu dùng về hàng hóa lương thực, thực phẩm tươi sống và chế biến. Theo đó khái niệm về chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp trong điều kiện hiện nay như sau: “chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp là quá trình thay đổi (tăng hoặc giảm) về quy mô, giá trị của các chuyên ngành sản xuất thuộc ngành nông nghiệp theo hướng thích ứng nhiều hơn với nhu cầu thị trường, đồng thời phát huy được lợi thế so sánh của từng chuyên ngành, tạo ra cơ cấu ngành nông nghiệp mang tính ổn định cao hơn và phát triển bền vững hơn trong kinh tế thị trường và hội nhập”.[28,tr.5] 1.1.1.3. Khái niệm tái cơ cấu ngành nông nghiệp Đây là khái niệm mới được sử dụng trong vài năm gần đây, qua tìm hiểu kết quả nghiên cứu của một số học giả, có thể hiểu: “tái cơ cấu nông nghiệp là quá trình phát triển nông nghiệp có sự bố trí, sắp xếp lại các chuyên ngành sản xuất nhằm phát huy tối đa lợi thế so sánh và khai thác tối ưu các nguồn lực, tạo ra hiệu quả kinh tế, góp phần nâng cao thu nhập cho nông dân và đảm bảo tính bền vững”.[28,tr.6] Hiểu một cách đơn giản nhất, tái cơ cấu ngành Nông nghiệp là trên những nguồn lực hiện có (tài nguyên đất, điều kiện khí hậu, trình độ sản xuất của người dân) sẽ bố trí, cơ cấu lại các loại cây trồng, vật nuôi phù hợp và có tiềm năng, lợi thế, có thị trường tiêu thụ để tập trung nguồn vốn đầu tư vào sản xuất, trở thành hàng hóa có giá trị gia tăng cao, nâng cao thu nhập bền vững cho người nông dân. 1.1.2. Vai trò của tái cơ cấu nông nghiệp 1.1.2.1. Tái cơ cấu nông nghiệp làm tăng năng suất lao động Tái cơ cấu nông nghiệp góp phần thúc đẩy tăng năng suất lao động nông nghiệp thông qua việc đào tạo nhân lực, mở rộng áp dụng cơ giới hóa, sử dụng 10 giống mới, xây dựng cánh đồng mẫu.... Và thực tế là, năng suất, sản lượng cây trồng, vật nuôi có tăng, kéo theo năng suất lao động tăng lên, để tăng năng suất lao động của khu vực nông nghiệp, nhất là khi ngành nông nghiệp chịu ảnh hưởng khó lường của biến đổi khí hậu, sự đỏng đảnh của thị trường thì việc chuyển nhiều diện tích trồng lúa kém hiệu quả sang các loại cây trồng cạn hay nuôi thủy sản là hướng đi đúng. Tuy nhiên, với quy mô sản xuất chưa đủ lớn và chưa có sự tham gia của doanh nghiệp thì năng suất lao động cụ thể chỉ tăng ở mức độ thấp và đặc biệt là chuyển dịch lao động nông nghiệp sang các lĩnh vực khác cũng không thể cao. Vì vậy, cần quan tâm đến tích tụ ruộng đất, tạo điều kiện để doanh nghiệp tham gia vào chuỗi sản xuất nông nghiệp gắn với mở rộng đô thị thì mới có thể giảm lao động nông nghiệp, và khi đó mới có thể tăng năng suất lao động. Điều này sẽ gây ảnh hưởng rất lớn đến nâng cao năng suất lao động không những của ngành nông nghiệp mà còn góp phần quan trọng tăng năng suất lao động của cả nền kinh tế. 1.1.2.2. Tái cơ cấu nông nghiệp hình thành các chuỗi giá trị ngành nông sản Trong tái cơ cấu nông nghiệp, sự cần thiết của đầu tư vào công nghiệp chế biến nông sản và muốn phát triển được phải dựa vào doanh nghiệp, trong đó đặc biệt là khu vực tư nhân. Với quan điểm lấy thị trường là xuất phát điểm thúc đẩy, điều chỉnh phân bổ nguồn lực sản xuất trong ngành, khuyến khích các doanh nghiệp tham gia đầu tư sâu hơn trong các phân khúc có giá trị gia tăng cao như chế biến, thương mại trong chuỗi giá trị hàng hóa nông sản. Quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp cần có sự tham gia của các thành phần kinh tế trong xã hội, trong đó doanh nghiệp đóng vai trò “động lực” kết nối sản xuất, chế biến với thị trường, Nhà nước có chính sách hỗ trợ mạnh mẽ tạo môi trường đầu tư lành mạnh, thuận lợi. Phát triển công nghiệp chế biến cũng đồng nghĩa với khuyến khích các doanh nghiệp, nhất là những khu vực doanh nghiệp tư nhân đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp. Thúc đẩy công nghiệp chế biến cũng đồng nghĩa tạo môi trường đầu tư thuận lợi để các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp. 1.1.2.3.Tái cơ cấu nông nghiệp góp phần hình thành và phát triển sản phẩm nông sản phục vụ du lịch 11 Tái cơ cấu Nông nghiệp tạo điều kiện phát triển và nâng cao chất lượng của các sản phẩm thông qua việc ứng dụng KH-KT, khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư, phát triển các làng nghề truyền thống nhằm nâng cao chất lượng và đa dạng hóa các sản phẩm nông nghiệp. Từ đó, góp phần xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm, kết nối quảng bá sản phẩm nông nghiệp đặc thù gắn liền với quảng bá các sản phẩm du lịch. Bên cạnh đó, cùng với việc xây dựng và phát triển các nông sản phục vụ du lịch thì các hình thức du lịch gắn với trải nghiệm các hoạt động sản xuất, thu hoạch, chế biến nông sản cũng dần hình thành và phát triển như đánh bắt cá, trồng rau, thực hành cấy lúa, chăm sóc cây trồng, thu hoạch và sơ chế biến các sản phẩm nông nghiệp... Ngoài ra, quá trình thực hiện tái cơ cấu theo hướng phát triển bền vững gắn với bảo vệ cảnh quan thiên nhiên và môi trường trong lành để phát triển du lịch sinh thái, đây cũng là một hướng đi phù hợp. Bên cạnh đó, việc bố trí các mô hình sản xuất theo hình thức nông hộ, gia trại cũng tạo điều kiện phát huy các hình thức du lịch trải nghiệm. Khi đó, mỗi người nông dân vùng phát triển du lịch vừa là chủ sản xuất đồng thời cũng phải là các hướng dẫn viên du lịch để phát triển du lịch trải nghiệm trong sản xuất nông nghiệp. Việc đầu tư phát triển du lịch kết hợp với các sản phẩm nông nghiệp đặc thù là một hướng đi đúng đắn, góp phần tăng hiệu quả từ ngành du lịch; đồng thời cũng thúc đẩy sự tham gia của người dân, tạo cơ hội phát triển các tiềm năng về nông nghiệp, khai thác các giá trị về văn hóa, tinh thần của các sản phẩm nông nghiệp, góp phần nâng cao giá trị sản phẩm nông nghiệp, tăng thu nhập cho hộ nông dân. 1.1.3.Vai trò của chính sách đối với tái cơ cấu ngành nông nghiệp 1.1.3.1. Khái niệm chính sách công Cho đến nay, định nghĩa chính sách công vẫn là một chủ đề đang thu hút được sự quan tâm của nhiều giới và nhà khoa học, và đang có rất nhiều bàn cãi. Trong quá trình nghiên cứu chính sách, chúng ta có thể tham khảo một số cách tiếp cận để phân tích nhằm hướng đến một khái niệm chung nhất về chính sách công. - Theo quan điểm Pal cho rằng "Chính sách là một chuỗi hành động hoặc 12 không hành động được lựa chọn bởi chính quyền nhằm chỉ ra một vấn đề cụ thể hay một loạt vấn đề có liên hệ lẫn nhau” [8,tr.3]; - Hay quan điểm của Thomas R. Dye thì nhấn mạnh vai trò của Chính phủ thông qua các quyết định của mình, và cho rằng “Chính sách công là cái mà Chính phủ lựa chọn làm hay không làm” [8,tr.4]. - Trong từ điển Bách khoa Việt Nam, khi đề cập đến chính sách, có đưa ra khái niệm như sau: "Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Nó được thực hiện trong một thời gian nhất định, được tiến hành trên những lĩnh vực cụ thể nào đó, và phụ thuộc vào tính chất của đường lối, và yêu cầu nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội…".[8,tr.6] Tuy nhiên, vẫn còn sự giao thoa trong quan niệm về Quyết sách chính trị của Đảng (Cương lĩnh, Nghị quyết) với quan niệm Chính sách về phương diện nội dung, cũng như chủ thể ban hành. Có thể hiểu: chính sách là các chủ trương, biện pháp của đảng cầm quyền, được nhà nước cụ thể hóa thông qua việc ban hành các chương trình hành động để giải quyết các vấn đề phát sinh trong đời sống xã hội. Tóm lại, từ các khái niệm trên chúng ta có thể đi đến một khái niệm chung nhất về chính sách công như sau: “Chính sách công là tổng thể các chương trình hành động của chủ thể nắm quyền lực công nhằm giải quyết những vấn đề có tính cộng đồng trên các lĩnh vực đời sống xã hội theo phương thức nhất định nhằm đạt được các mục tiêu đề ra”. PGS-TS Hồ Việt Hạnh.[25] 1.1.3.2. Vai trò của chính sách đối với tái cơ cấu ngành nông nghiệp Các chính sách được ban hành và nguồn lực cho phát triển nông nghiệp, nông thôn chính là đòn bẩy quan trọng tạo ra những biến tích cực thúc đẩy ngành nông nghiệp phát triển một cách bền vững. Định hướng cho quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp Đây là vai trò cơ bản nhất của chính sách với quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Chính sách nông nghiệp nói riêng và chính sách nói chung đều là một trong những công cụ quản lý của Nhà nước đối với các hoạt động kinh tế, xã hội. Dựa trên công cụ chính sách, Nhà nước thể hiện chủ trương và định hướng của mình, 13 giải quyết một vấn đề nhất định, tạo động lực phát triển. Quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của khu vực nông nghiệp và gắn bó chặt chẽ với các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội cụ thể của từng vùng miền, do đó các chính sách được ban hành để thúc đẩy quá trình tái cơ cấu đi đúng hướng với chủ trương, định hướng phát triển nông nghiệp của Nhà nước. Cơ sở để phân bổ nguồn lực cho tái cơ cấu ngành nông nghiệp Tương ứng với yêu cầu hình thành và chuyển đổi cơ cấu kinh tế để đáp ứng đòi hỏi về các điều kiện vật chất này nhất thiết phải đầu tư và phải có vốn đầu tư. Các nguồn vốn đầu tư chủ yếu để hình thành và tái cơ cấu ngành nông nghiệp gồm: nguồn vốn của các chủ thể kinh tế trong nông nghiệp, vốn ngân sách, vốn cho vay của các ngân hàng, vốn vay của các tổ chức tín dụng, và vốn đầu tư trực tiếp hay gián tiếp của nước ngoài. Hoạt động sản xuất nông nghiệp là hoạt động mang nhiều yếu tố rủi ro do chịu sự tác động lớn của chu kỳ sinh học và điều kiện tự nhiên. Để nông ghiệp phát triển, gia tăng phân công lao động trong sản xuất nông nghiệp đòi hỏi phải có những tác động từ phía bên ngoài để phân phối lại các nguồn lực kinh tế - xã hội, tạo động lực thúc đẩy cho quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Dựa trên cơ sở các chính sách được ban hành, các điều kiện ưu đãi khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia vào hoạt động sản xuất nông nghiệp sẽ được tạo ra hoặc Nhà nước sẽ tạo cơ chế thích hợp, phân bổ các nguồn lực cơ bản về đất đai, vốn, nhân lực, công nghệ…hỗ trợ cho quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp diễn ra nhanh và bền vững hơn. Thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp Thông qua cơ chế hỗ trợ chủ yếu (môi trường đầu tư, thủ tục hành chính). Trong đó, ưu tiên tạo thuận lợi nhất để thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn như khuyến khích bằng cơ chế ưu đãi (đất đai, thuế…) và các chính sách hỗ trợ khác.... , thu hút được làn sóng đầu tư mạnh mẽ của doanh nghiệp vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Đặc biệt, chính sách hỗ trợ trực tiếp cho doanh nghiệp nghiên cứu khoa học, mua sắm chuyển giao công nghệ để đưa vào sản xuất; khuyến khích các doanh nghiệp tham gia nghiên cứu, chuyển giao và ứng 14
- Xem thêm -