Tài liệu Thực hiện chính sách quy hoạch và bổ nhiệm cán bộ diện ban thường vụ huyện ủy quản lý ở huyện quế sơn, tỉnh quảng nam hiện nay

  • Số trang: 85 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 261 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI LÊ VĂN TRÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH QUY HOẠCH VÀ BỔ NHIỆM CÁN BỘ DIỆN BAN THƯỜNG VỤ HUYỆN ỦY QUẢN LÝ Ở HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG HÀ NỘI, năm 2019 VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI LÊ VĂN TRÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH QUY HOẠCH VÀ BỔ NHIỆM CÁN BỘ DIỆN BAN THƯỜNG VỤ HUYỆN ỦY QUẢN LÝ Ở HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY Chuyên ngành : Chính sách công Mã số : 8 34 04 02 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. Trần Minh Tuấn HÀ NỘI, năm 2019 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sĩ Chính sách công “Thực hiện chính sách quy hoạch và bổ nhiệm cán bộ diện Ban Thường vụ Huyện ủy quản lý ở huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam hiện nay” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, chưa được công bố và sử dụng ở bất cứ một công trình nghiên cứu nào. Nội dung Luận văn dựa trên quan điểm cá nhân của tác giả, trên cơ sở nghiên cứu lý luận và tổng hợp thực tiễn với sự hướng dẫn khoa học của thầy PGS.TS. Trần Minh Tuấn. Các số liệu trong Luận văn được thu thập từ nhiều nguồn số liệu và liên hệ thực tế tình hình công tác cán bộ của huyện Quế Sơn để viết ra. Không sao chép bất kỳ công trình của tác giả nào. Các số liệu, kết quả trong Luận văn đều trung thực, có nguồn gốc rõ ràng. Tôi xin chịu trách nhiệm về đề tài nghiên cứu của mình. TÁC GIẢ LUẬN VĂN LÊ VĂN TRÌNH MỤC LỤC MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1 CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH QUY HOẠCH VÀ BỔ NHIỆM CÁN BỘ DIỆN BAN THƯỜNG VỤ HUYỆN ỦY QUẢN LÝ ........................................................ 8 1.1 Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách QH và BNCB ................................. 8 1.2. Nội dung thực hiện chính sách QH và BNCB ......................................... 16 1.3. Những kinh nghiệm trong QH, BNCB và bài học cho huyện Quế Sơn. . 28 CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH QUY HOẠCH VÀ BỔ NHIỆM CÁN BỘ DIỆN BAN THƯỜNG VỤ HUYỆN ỦY QUẢN LÝ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM ............................................................................................................... 32 2.1. Khái quát về huyện Quế Sơn và cán bộ diện BTVHU quản lý ở huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam hiện nay. .............................................................. 32 2.2. Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách QH và BNCB diện BTVHU quản lý ở huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam ............................................................ 40 2.3. Đánh giá chung về thực trạng thực hiện chính sách QH, BNCB thuộc diện BTVHU quản lý ...................................................................................... 48 CHƯƠNG 3. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH QUY HOẠCH VÀ BỔ NHIỆM CÁN BỘ DIỆN BAN THƯỜNG VỤ HUYỆN ỦY QUẢN LÝ Ở HUYỆN QUẾ SƠN HIỆN NAY ............................................................................................ 56 3.1. Phương hướng thực hiện chính sách QH và BNCB diện BTVHU quản lý ......................................................................................................................... 56 3.2. Các giải pháp chủ yếu để thực hiện chính sách QH và BNCB diện BTVHU quản lý ở huyện Quế Sơn hiện nay. ................................................. 58 KẾT LUẬN .................................................................................................... 74 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT BCT : Bộ Chính trị BCH : Ban chấp hành BTV : Ban thường vụ BN : Bổ nhiệm QH : Quy hoạch QH, BNCB : Quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ CNH, HĐH : Công nghiệp hoá, hiện đại hoá CNXH : Chủ nghĩa xã hội HĐND : Hội đồng nhân dân MTTQ : Mặt trận Tổ quốc UBND : Uỷ ban nhân dân DANH MỤC BẢNG Số hiệu bảng Tên bảng Trang 2.1 Tổng hợp số liệu QH nhiệm kỳ 2015-2020 40 2.2 Tổng hợp số liệu QH nhiệm kỳ 2020-2025 48 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta luôn quan tâm đến cán bộ và công tác cán bộ. Cán bộ và công tác cán bộ là vấn đề quan trọng quyết định sự thành bại của cách mạng, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc [22, tr.269], công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém [22, tr.240]. Cán bộ và công tác cán bộ càng có ý nghĩa quan trọng hơn khi đất nước ta đang đẩy mạnh thực hiện đổi mới, tiến hành CNH, HĐH và hội nhập quốc tế. Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba BCH Trung ương (khóa VIII) về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước khẳng định: "Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và của chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng [3, tr.1]. Ngày nay, trước yêu cầu của công cuộc đổi mới, công tác cán bộ nói chung, QH, BNCB nói riêng có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong công tác xây dựng Đảng. Trong thực hiện các chính sách về công tác cán bộ cần phải tuân thủ nghiêm ngặt những quan điểm cơ bản của Đảng và kiên trì thực hiện nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ theo nguyên tắc tập trung dân chủ, đi đôi với phát huy trách nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị. Mọi nội dung, phương pháp lãnh đạo của Đảng trong công tác cán bộ phải được bảo đảm thực hiện bằng tổ chức, quy chế, quy định để góp phần thực hiện đồng bộ, khoa học, hiệu quả tất cả các khâu của công tác cán bộ. Trong đó, công tác QH, BNCB là khâu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, quyết định vận mệnh của Đảng, sự tồn vong của chế độ. 1 Trong những năm qua, để thực hiện tốt chính sách QH, BNCB, các cấp từ Trung ương đến tỉnh Quảng Nam và huyện Quế Sơn đã ban hành nhiều văn bản như: Nghị quyết số 42-NQ/TW, ngày 30-11-2004 của Bộ Chính trị về công tác QH cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước; Kết luận số 24-KL/TW ngày 5-6-2012 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh công tác QH và luân chuyển cán bộ, lãnh đạo, quản lý đến năm 2020 và những năm tiếp theo; Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay"; Quy chế BNCB và giới thiệu cán bộ ứng cử ban hành kèm theo Quyết định số 68-QĐ/TW, ngày 04-7-2007 của Bộ Chính trị (BCT) (khóa X); Hướng dẫn số 09-HD/BTCTW, ngày 26-9-2007 của Ban Tổ chức Trung ương hướng dẫn thực hiện Quy định về phân cấp quản lý cán bộ; Quyết định số 2148-QĐ/TU, ngày 14-01-2015 của BTV Tỉnh ủy Quảng Nam về việc BN, giới thiệu ứng cử, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển đối với cán bộ, công chức, viên chức lãnh đạo, quản lý; Quyết định số 752-QĐ/HU, ngày 10-4-2015 của BTVHU Quế Sơn về ban hành Quy định BN, giới thiệu ứng cử, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển đối với cán bộ, công chức, viên chức lãnh đạo, quản lý. Những năm vừa qua, song song với việc củng cố, kiện toàn hệ thống chính trị, BTVHU Quế Sơn luôn đặc biệt chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện các chính sách liên quan đến QH, BNCB. Đã phát hiện sớm nguồn cán bộ trẻ có đức, có tài, có triển vọng về khả năng lãnh đạo, quản lý, đưa vào QH và có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, tạo nguồn, luân chuyển giữ các chức vụ lãnh đạo, quản lý, tạo thế chủ động trong công tác cán bộ, khắc phục tình trạng hẫng hụt giữa các thế hệ cán bộ. Thường xuyên đổi mới trong công tác đề bạt, BNCB, ngoài việc thực hiện các quy định chung, BTV còn tiếp thu ý kiến nhận xét của tập thể nơi cán bộ được đề bạt, BN, cân nhắc kỹ tính nổi trội, ưu tiên cán bộ nữ, cán bộ trẻ, thực hiện dân chủ, công khai, minh 2 bạch trong lựa chọn nhân sự để đưa vào QH và BN nên tạo được động lực cho cán bộ nỗ lực phấn đấu, vươn lên. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện các chính sách QH, BNCB tại huyện Quế Sơn vẫn còn bộc lộ một số hạn chế, khuyết điểm như: Nhận thức về QH, BNCB và thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ có lúc, có nơi chưa sâu, chưa phát huy hết trách nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu. Quy trình BN chưa chặt chẽ; nguồn cán bộ trong QH thiếu vững chắc, có lúc còn hẫng hụt, chắp vá, lúng túng, bị động. Công tác đánh giá cán bộ phục vụ cho QH, BNCB vẫn còn chung chung, chưa có tiêu chí cụ thể. Chưa ban hành kịp thời hướng dẫn nên quá trình thực hiện còn lúng túng, nhất là ở cấp xã-thị trấn. Công tác tự phê bình và phê bình ở một số nơi chưa tốt nên việc QH, BNCB ở một số phòng ban thuộc huyện và xã-thị trấn chưa thật sự chất lượng. Tỷ lệ cán bộ nữ, cán bộ trẻ được QH, BN vào cấp ủy, BTV và các chức danh chủ chốt còn thấp. Việc rà soát, bổ sung QH hằng năm của một số xã-thị trấn vẫn còn sai sót, như: thừa số lượng, không đủ tuổi, 01 chức danh QH quá 04 người, 01 người QH quá 03 chức danh... Việc BNCB có trường hợp thực hiện chưa đảm bảo trình độ chính trị (chưa có trình độ trung cấp chính trị), có trường hợp chưa thực hiện chủ trương khi BN 01 người thì tập thể lãnh đạo phải đề xuất, giới thiệu nhân sự ít nhất 02 người... Những hạn chế trên đã làm ảnh hưởng đến chất lượng thực hiện chính sách QH, BNCB tại huyện huyện. Vì vậy, học viên chọn đề tài “Thực hiện chính sách QH và BNCB diện BTVHU quản lý ở huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam hiện nay” để làm Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Chính sách công, với hy vọng góp phần thực hiện tốt chính sách QH, BNCB diện BTVHU quản lý. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Hiện nay, đã có nhiều đề tài, báo cáo, bài viết và công trình nghiên cứu về công tác QH, BNCB với các góc độ, khía cạnh, phạm vi, thời gian khác 3 nhau, chẳng hạn như: * Đề tài khoa học: - Trần Đình Hoan (2004), QH cán bộ là một khâu trọng yếu quyết định chất lượng công tác cán bộ, Kỷ yếu đề tài cấp nhà nước, Ban Tổ chức Trung ương, Hà Nội [8]. - Nguyễn Phú Trọng, Trần Xuân Sầm (2003), Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội [33]. * Các luận án, luận văn: - Trương Thị Mỹ Trang (2004), QH cán bộ chủ chốt của hệ thống chính trị các xã tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ Khoa học chính trị, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội [30]. - Nguyễn Thị Lan (2005), Công tác QH tạo nguồn cán bộ lãnh đạo, quản lý của Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp, Luận văn thạc sĩ Khoa học chính trị, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội [18]. - Nguyễn Thị Thắng (2006), Công tác QH cán bộ lãnh đạo quản lý cấp quận, huyện thuộc diện Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội quản lý trong giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ Khoa học chính trị, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội [31]. - Lê Trung Hồ (2014), QH cán bộ huyện diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy Kiên Giang quản lý giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ Khoa học chính trị, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội [9]. - Vũ Văn Chính (2009), BNCB diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bắc Giang quản lý giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ Khoa học chính trị, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội [2]. - Mạc Xuân Tú (2013), Công tác BNCB diện Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Quảng Ninh quản lý giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ khoa học chính trị, 4 Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội [34]. * Các bài đăng tạp chí khoa học: - Đỗ Minh Cương (2009), QH cán bộ lãnh đạo quản lý, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội [1]. - Bùi Văn Tiếng (2012), "Kinh nghiệm tạo nguồn cán bộ nhìn từ thực tiễn Đà Nẵng", Tạp chí Xây dựng Đảng [32]. - Trần Lưu Hải (2015), "Một số vấn đề về QH, luân chuyển cán bộ thành tựu, hạn chế và phương hướng, giải pháp khắc phục", Tạp chí Cộng sản [7]. - Lê Xuân Lịch (2017), "Công tác QH cán bộ - 20 năm nhìn lại", Tạp chí Xây dựng Đảng [20]. - Trần Minh Tuấn (2007), "Về thí điểm bổ nhiệm, đề bạt cán bộ sau khi cán bộ trình đề án", Tạp chí Xây dựng Đảng [35]. - Hồ Đức Việt (2007), "Quán triệt sâu sắc, thực hiện đúng, thống nhất các quy chế, quy định về công tác cán bộ", Tạp chí Xây dựng Đảng [36]. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích: Trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng thực hiện chính sách QH, BNCB diện BTVHU quản lý trên địa bàn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam, Luận văn đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác trên trong tương lai. 3.2. Nhiệm vụ - Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác QH, BNCB diện BTVHU quản lý. - Phân tích làm rõ những ưu điểm và hạn chế trong thực hiện chính sách QH, BNCB diện BTVHU quản lý trên địa bàn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam; chỉ ra ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế của công tác trên. 5 - Đề xuất mục tiêu, phương hướng và giải pháp chủ yếu để thực hiện chính sách QH, BNCB diện BTVHU quản lý ở huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 4.1. Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu việc thực hiện chính sách QH và BNCB diện BTVHU quản lý tại huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam hiện nay. 4.2. Phạm vi nghiên cứu - Luận văn nghiên cứu việc thực hiện chính sách QH và BNCB đối với các đối tượng thuộc diện BTVHU quản lý. - Không gian nghiên cứu: địa bàn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam. - Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2010 đến nay; giải pháp đề xuất tới 2025. 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5.1. Cơ sở lý luận Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác QH và BNCB. 5.2. Phương pháp nghiên cứu Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin. Trong quá trình triển khai, luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể: tổng kết thực tiễn, phân tích và tổng hợp, lôgíc và lịch sử, thống kê, điều tra, so sánh,... 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn Luận văn góp phần đánh giá đúng thực trạng, bổ sung, làm rõ cơ sở lý luận trong việc thực hiện chính sách QH và BNCB diện BTVHU Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam quản lý. 6 Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong thực hiện chính sách QH, BNCB tại địa bàn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu gồm 3 chương: - Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách QH, BNCB diện BTVHU quản lý - Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách QH và BNCB diện BTVHU quản lý trên địa bàn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam - Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách QH và BNCB diện BTVHU quản lý ở huyện Quế Sơn. 7 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH QUY HOẠCH VÀ BỔ NHIỆM CÁN BỘ DIỆN BAN THƯỜNG VỤ HUYỆN ỦY QUẢN LÝ 1.1 Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách QH và BNCB 1.1.1. Khái niệm cán bộ, công chức, viên chức 1.1.1.1. Cán bộ Có nhiều khái niệm khác nhau về cán bộ. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Cán bộ là người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng" [22, tr.296]. Trong Đại từ điển Tiếng Việt do tác giả Nguyễn Như Ý chủ biên đưa ra khái niệm cán bộ như sau: "cán bộ: danh từ: 1. Người làm việc trong cơ quan Nhà nước. 2. Người giữ chức vụ, phân biệt với người bình thường, không giữ chức vụ trong các cơ quan, tổ chức Nhà nước" [37, tr.593]. Điều 4, Luật Cán bộ, công chức 2008 quy định: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, BN giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương theo ngân sách nhà nước” [23, tr.1]. Như vậy, có thể quan niệm một cách chung nhất: Cán bộ là khái niệm chỉ những người có chức vụ, vai trò và cương vị nòng cốt trong tổ chức, có tác động ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức và các quan hệ trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành, góp phần định hướng phát triển của tổ chức. 8 1.1.1.2. Công chức Điều 4, Luật Cán bộ, công chức 2008 quy định: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, BN vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị trực thuộc Công an nhân dân mà không phải sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được đảm bảo từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật [23, tr.1]. 1.1.1.3. Viên chức Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. 1.1.1.4. Cán bộ diện BTVHU Quế Sơn quản lý Trên cơ sở Quyết định số 67-QĐ/TW ngày 04-7-2007 của Bộ Chính trị (khóa X) ban hành quy định về phân cấp quản lý cán bộ và Quyết định số 2147-QĐ/TU, ngày 14-01-2015 của BTV Tỉnh ủy Quảng Nam về phân cấp quản lý cán bộ, BTVHU Quế Sơn đã ban hành Quyết định số 751-QĐ/HU, ngày 10-4-2015 về phân cấp quản lý cán bộ, công chức, viên chức lãnh đạo, quản lý. Theo quyết định trên, cán bộ diện BTVHU Quế Sơn quản lý gồm: - Các cơ quan cấp huyện: Ủy viên BCH Đảng bộ huyện (trừ các đồng 9 chí thuộc diện BTV Tỉnh ủy quản lý), Ủy viên UBKT (UBKT) Huyện ủy; Phó Chủ tịch HĐND, UBND, Ủy viên Thường trực HĐND huyện; Trưởng, phó phòng, ban và tương đương; Chủ tịch, phó chủ tịch Ủy ban MTTQ huyện; trưởng, phó các đoàn thể chính trị-xã hội thuộc huyện; Bí thư, phó bí thư, ủy viên BTV các tổ chức cơ sở đảng trực thuộc Huyện ủy. - Các xã-thị trấn: Bí thư, phó bí thư đảng ủy; ủy viên BTV đảng ủy; chủ tịch, phó chủ tịch HĐND, UBND; Chủ nhiệm UBKT Đảng ủy; chủ tịch Uỷ ban MTTQ xã-thị trấn. Căn cứ quy định trên, có thể hiểu cán bộ diện BTVHU Quế Sơn quản lý là những cán bộ giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý; những người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu trong hệ thống chính trị từ huyện đến các xã-thị trấn, chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện đường lối, nhiệm vụ chính trị, điều hành công tác, lãnh đạo, chỉ đạo cán bộ, công chức, viên chức thuộc quyền quản lý thực hiện hoàn thành các nhiệm vụ chính trị của từng tổ chức, cơ quan, đơn vị, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chung của Đảng bộ huyện đề ra. Cán bộ diện BTVHU Quế Sơn quản lý là những người được BTVHU trực tiếp quyết định QH, BN, giới thiệu ứng cử, bố trí, sắp xếp, điều động, luân chuyển, thi hành kỷ luật và thực hiện những chính sách khác. 1.1.2. Khái niệm QH, BNCB 1.1.2.1. QH cán bộ Nguyễn Lân định nghĩa trong Từ điển Hán - Việt của mình: "QH là việc lập kế hoạch dài hạn căn cứ vào phép tắc, quy chế và quy cách đã có" [19, tr.519]. Theo từ điển tiếng Việt thì: “QH là bố trí, sắp xếp toàn bộ theo một trình tự hợp lý trong một thời gian, làm cơ sở cho việc lập kế hoạch dài hạn, QH các vùng kinh tế, QH trị thủy một con sông, QH đào tạo cán bộ” [29, tr.813]. Ngày nay, có nhiều quan niệm về QH cán bộ, sau đây là các quan niệm 10 cơ bản về QH cán bộ: - Theo quan điểm của Đảng ta thể hiện trong Thông tri 31-TT/TW ngày 12-01-1983 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (Khóa V), Quyết định số 55QĐ/TW ngày 26-5-1988 của Bộ Chính trị (khóa VI) thì QHCB là công việc cơ bản trong công tác cán bộ, thuộc trách nhiệm của chủ thể lãnh đạo, trước hết là tập thể cấp ủy, BTV cấp ủy và cá nhân người đứng đầu tổ chức, nhằm chủ động tạo nguồn nhân sự trẻ, tập hợp được nhiều nhân tài. Cán bộ là người lãnh đạo, dẫn dắt quần chúng, tổ chức điều hành công việc, là hạt nhân của một tổ chức, là nòng cốt của một phong trào; và trong bất kỳ thời kỳ cách mạng nào, ở bất cứ lĩnh vực, địa phương nào, cán bộ cũng đóng vai trò quyết định. Như Bác Hồ đã dạy: "Cán bộ là cái gốc của công việc", "mọi việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém" [22, tr.269]. - Theo Lê Văn Lý thì: "QH cán bộ là việc lập dự án thiết kế xây dựng tổng hợp đội ngũ cán bộ, dự kiến sắp xếp tổng thể đội ngũ cán bộ theo một ý đồ nhất định với một trình tự hợp lý, trong một thời gian nhất định, làm cơ sở cho việc lập kế hoạch xây dựng đội ngũ cán bộ" [21, tr.61]. Từ đây có thể hiểu: QHCB là việc thực hiện những công việc, nhiệm vụ theo những trình tự, thủ tục quy định để ban hành quyết định của cấp ủy có thẩm quyền về danh sách cán bộ (được gọi là cán bộ QH) được sắp xếp vào các chức danh để làm cơ sở thực hiện kế hoạch rèn luyện, đào tạo, bồi dưỡng và giới thiệu ứng cử, BN chức danh đó trong tương lai khi có yêu cầu và thỏa mãn những điều kiện cho phép. 1.1.2.2. BNCB BNCB được hiểu là việc cấp có thẩm quyền giao cho ai đó giữ một trọng trách, một vị trí ở từng cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị. Theo cách hiểu này thì chưa thấy được đầy đủ nội dung sâu xa của BNCB, dễ đánh đồng với khái niệm đề bạt, cất nhắc, bố trí cán bộ. 11 Theo nghĩa từng từ thì "bổ" có nghĩa là phân bổ, bổ sung, giao cho; "nhiệm" được hiểu là nhiệm vụ, trách nhiệm, nhiệm kỳ…; ghép lại hai từ trên có thể hiểu đó là việc phân bổ hay giao cho ai một nhiệm vụ, trách nhiệm và trong một thời hạn cụ thể. Theo đó BNCB có nghĩa: "Cử cán bộ giữ một chức vụ trong bộ máy nhà nước, tức là giao cho cán bộ giữ một chức vụ tương đương hoặc cao hơn. Luật Cán bộ, công chức năm 2008 định nghĩa: "BN là việc cán bộ, công chức được quyết định giữ một chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc một ngạch theo quy định của pháp luật" [23, tr.3]. Thực tế ở huyện Quế Sơn, BNCB do BTVHU và UBND huyện quyết định (trong đó gồm cả việc giới thiệu ứng cử). Như vậy, trong khái niệm BNCB đã bao hàm cả việc giới thiệu ứng cử. Từ các quan niệm nêu trên, có thể khái quát BNCB được thể hiện qua ba đặc trưng cơ bản sau: Thứ nhất, BNCB là quyết định cử, giao cán bộ giữ một chức vụ lãnh đạo, quản lý trong cơ cấu tổ chức nhất định. Có thể là BN cấp phó hoặc cấp trưởng. Việc BNCB luôn là động lực tích cực khích lệ đội ngũ cán bộ phấn đấu vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Thứ hai, những cán bộ được BN vào vị trí mới được giao trách nhiệm và quyền hạn tương xứng. BNCB là quyết định trao cho cán bộ đó một quyền hạn mới, cao hơn cương vị công tác hiện tại và đòi hỏi cá nhân đó phải phát huy trách nhiệm theo vị trí được BN. Thứ ba, BNCB giữ vai trò quan trọng có ý nghĩa quyết định trong công tác cán bộ. Độ chính xác của BNCB thể hiện chất lượng, hiệu quả của các khâu trong công tác cán bộ. BN đúng cán bộ sẽ góp phần làm cho tổ chức phát triển ổn định, nhiệm vụ chính trị vì thế sẽ hoàn thành tốt; ngược lại, BN sai cán bộ sẽ làm cho tổ chức trì trệ, rối loạn, nhiệm vụ bê trễ, khó hoàn 12 thành, thậm chí phát sinh những tiêu cực. Từ đây có thể hiểu BNCB là việc cấp có thẩm quyền quyết định cử, giới thiệu ứng cử hoặc giao cho cán bộ một chức vụ, một trọng trách trong cơ quan, đơn vị để thực hiện nhiệm vụ theo yêu cầu. Từ những phân tích trên, có thể hiểu: BNCB diện BTVHU Quế Sơn quản lý là việc tập thể BTVHU quyết định cử, giới thiệu cán bộ để bố trí giữ một chức vụ lãnh đạo, quản lý trong các tổ chức của hệ thống chính trị từ huyện đến các xã-thị trấn thuộc phạm vi phân cấp quản lý, nhằm mục đích sử dụng, quản lý cán bộ có hiệu quả, bảo đảm thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị chung của Đảng bộ huyện. 1.1.3. Khái niệm chính sách, chính sách công, thực hiện chính sách công 1.1.3.1. Chính sách Từ điển bách khoa Việt Nam đã đưa ra khái niệm về chính sách như sau: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa…” Theo James Anderson: “Chính sách là một quá trình hành động có mục đích theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm.” Từ tiếp cận trên có thể hiểu: Chính sách là những hành động của chủ thể với các hiện tượng trong quá trình vận động phát triển nhằm đạt mục tiêu nhất định. Chính sách là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình. 1.1.3.2. Chính sách công Hiện nay, có rất nhiều quan niệm về chính sách công. Ở các nước phát 13 triển và các tổ chức kinh tế quốc tế, thuật ngữ “Chính sách công” được sử dụng rất phổ biến. Peter Aucoin (1971) cho rằng: chính sách công là các hoạt động thực tế do chính phủ tiến hành. William Jenkin (1978) cho rằng: chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm các nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt các mục tiêu đó. Còn theo Thomas R. Dye (1984): chính sách công là cái mà chính phủ lựa chọn làm hay không làm. Giáo trình chính sách kinh tế - xã hội “Chính sách kinh tê – xã hội là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các giải pháp và công cụ mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các các đối tượng và khách thể quản lý nhằm giải quyết vấn đề chính sách, thực hiện những mục tiêu nhất định theo định hướng mục tiêu tổng thể của xã hội”. Đỗ Phú Hải (2013): Chính sách công là tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Đảng và Nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu và giải pháp, công cụ chính sách nhằm giải quyết các vấn đề xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định [6]. Căn cứ vào đây có thể hiểu Chính sách công là tập hợp các quyết định của Nhà nước với các vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, nhằm thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng. Ở nước ta, thuật ngữ Chính sách công còn rất mới mẽ, thường được dùng với cụm từ đồng nghĩa: Chính sách của Nhà nước, Chính sách của Đảng, Nhà nước, vì Đảng ta là đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước qua định hướng, chiến lược, nghị quyết… để Nhà nước ban hành chính sách công. Như vậy, thực chất chính sách công là do Nhà nước ban hành trên cở sở định hướng chỉ đạo của Đảng. 14
- Xem thêm -