Tài liệu Thực hiện chính sách quản lý phương tiện giao thông cơ giới đường bộ tại cục cảnh sát giao thông, bộ công an

  • Số trang: 95 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 348 |
  • Lượt tải: 1
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI LÊ MINH PHƯƠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG CƠ GIỚI ĐƯỜNG BỘ TẠI CỤC CẢNH SÁT GIAO THÔNG, BỘ CÔNG AN LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG HÀ NỘI – 2019 VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI LÊ MINH PHƯƠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG CƠ GIỚI ĐƯỜNG BỘ TẠI CỤC CẢNH SÁT GIAO THÔNG, BỘ CÔNG AN Ngành: Chính sách công Mã số: 8.34.04.02 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI LÊ MINH PHƯƠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG CƠ GIỚI ĐƯỜNG BỘ TẠI CỤC CẢNH SÁT GIAO THÔNG, BỘ CÔNG AN Ngành: Chính sách công Mã số: 8.34.04.02 LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS. HỒ VIỆT HẠNH HÀ NỘI - 2019 PGS.TS. HỒ VIỆT HẠNH HÀ NỘI - 2019 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu khoa học, độc lập của tôi; các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng. Hà Nội, ngày tháng năm 2019 TÁC GIẢ LUẬN VĂN Lê Minh Phương MỤC LỤC MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1 Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG CƠ GIỚI ĐƯỜNG BỘ .................................7 1.1. Khái niệm liên quan về phương tiện giao thông cơ giới đường bộ .....................7 1.2. Đặc điểm chính sách quản lý phương tiện giao thông cơ giới đường bộ tại Cục Cảnh sát giao thông, Bộ Công an ..............................................................................14 1.3. Những yêu cầu thực hiện chính sách quản lý phương tiện giao thông cơ giới đường bộ tại Cục Cảnh sát giao thông, Bộ Công an .................................................17 1.4. Những nhân tố tác động đến thực hiện chính sách quản lý phương tiện giao thông cơ giới đường bộ .............................................................................................25 Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG CƠ GIỚI ĐƯỜNG BỘ TẠI CỤC CẢNH SÁT GIAO THÔNG ...............................................................................................34 2.1. Khái quát về Cục Cảnh sát giao thông ...............................................................34 2.2. Thực trạng thực hiện chính sách quản lý phương tiện giao thông cơ giới đường bộ tại Cục Cảnh sát giao thông .................................................................................35 2.3. Nhận xét, đánh giá chung ...................................................................................51 Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG CƠ GIỚI ĐƯỜNG BỘ TẠI CỤC CẢNH SÁT GIAO THÔNG, BỘ CÔNG AN .......................................................59 3.1. Nhóm giải pháp về công tác chỉ đạo thực hiện chính sách quản lý phương tiện xe cơ giới đường bộ Cục Cảnh sát, Bộ công an ........................................................59 3.2. Nhóm giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, chiến sỹ trong thực hiên chính sách quản lý phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của Cục Cảnh sát, Bộ Công an .....................................................................................................................65 3.3.Nhóm giải pháp thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các mặt công tác nghiệp vụ của lực lượng Cục Cảnh sát góp phần thực hiện chính sách quản lý phương tiện giao thông cơ giới đường bộ .............................................................................................67 3.4. Nghiên cứu, đầu tư phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụphục vụ thực hiện chính sách quản lý phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của Cục Cảnh sát, Bộ Công an .....................................................................................................................74 KẾT LUẬN ..............................................................................................................79 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................80 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TT Chữviếtđầyđủ Chữviếttắt 1 Phương tiện giao thông cơ giới 2 Bộ Công an 3 Trật tự an toàn giao thông TTATGT 4 Trật tự an toàn xã hội TTATXH 5 Tai nạn giao thông TNGT 6 Cảnh sát giao thông CSGT 7 Công an nhân dân CAND PTGTCG BCA MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Chính sách quản lý phương tiện giao thông cơ giới đường bộ là một trong những chính sách quan trọng, trực tiếp đến các hoạt động giao thông vận tải đường bộ.Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ gồm xe ô tô; máy kéo; rơ moóc hoặc sơmi rơ moóc được kéo bởi xe ô tô, máy kéo; xe mô tô hai bánh; xe mô tô ba bánh; xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự. Để đáp ứng được nhu cầu đi lại của con người và vận tải hàng hóa ngày càng bảo đảm, hiệu quả, an toàn. Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi mang lại, phương tiện giao thông cơ giới (PTGTCG) đường bộ tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, tai nạn giao thông, ùn tắc giao thông. Mặt khác, trong nhiều vụ án hình sự, PTGTCG đường bộ là tang vật, hoặc là phương tiện để phần tử xấu lợi dụng thực hiện các hành vi phạm tội. Do đó, thực hiện chính sách quản lý PTGTCG đường bộ là chính sách quan trọng trong quản lý Nhà nước về trật tự an toàn xã hội. Cục cảnh sát giao thông - một đơn vị trực tiếp thực hiện chính sách quản lý về các phương tiện giao thông đường bộ của các cơquan, ba ngành trung ương, văn phòng bộ, cơ quan nước ngoài, các tổ chức quốc tế, các đại sứ quán, bộ ngoại giao và các cơ quan Nhà nước khác sẽ có nhiều phức tạp. Nhiệm cụ chính của Cục cảnh sát giao thông khi thực hiện chính sách quản lý các phương tiện xe cơ giới đường bộ là quản lý công tác đăng ký, cấp biển số và truy nguyên chủ sở hữu phương tiện phục vụ công tác điều tra, đăng kiểm xe của công an. Vì vậy, Luật Giao thông đường bộ (Luật số 23/2008/QH12, ngày 13/11/2008); Thông tư số 41/2016/TTBCA, ngày 12/10/2016 của Bộ Công an quy định quy trình đăng ký xe; Thông tư số 15/2014/TT- BCA, ngày 04/4/2014 của Bộ Công an quy định về đăng ký xe; Thông tư số 64/2017/TT-BCA, ngày 28/12/2017 của Bộ công an sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 15/2014/TT- BCA, ngày 04/4/2014 của Bộ Công an quy định về đăng ký xe. Thông tư 229/2016/TT-BTC, ngày 11/11/2016 của Bộ Tài chính quy định chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng lệ phí cấp giấy đăng ký và biển số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ. Riêng xe ô tô của cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế và người nước ngoài làm việc trong cơ quan, tổ chức đó không thu lệ phí đăng ký, cấp biển số xe 1 Tuy nhiên, thực tế tình hình thực hiện chính sách quản lý PTGTCG đường bộ Cục cảnh sát giao thông hiện nay gặp những khó khăn, vướng mắc và bộc lộ những hạn chế, thiếu sót nhất định, cụ thể như: thực hiện quy định pháp luật liên quan đến công tác đăng ký, quản lý PTGTCG đường bộ chưa đầy đủ, chưa phù hợp với thực tiễn; quá trình thực hiện, lực lượng của Cục cảnh sát giao thông còn thiếu nên việc kiểm tra, phát hiện, xử lý đối với chủ phương tiện và người sử dụng phương tiện chưa triệt để; công tác đào tạo, sử dụng, đánh giá, sắp xếp cán bộ thực hiện nhiệm vụ có nơi chưa hợp lý, còn tồn tại hiện tượng cán bộ làm nhiệm vụ với tinh thần, trách nhiệm chưa nghiêm túc dẫn đến sai sót xảy ra, sự biến động, thay đổi thông tin liên quan cho đến thu hồi phương tiện hết niên hạn sử dụng có lúc, có nơi chưa chặt chẽ.... Từ những phân tích trên cho thấy trên cả phương diện lý luận và thực tiễn thực hiện chính sách quản lý PTGTCG đường bộ của Cục cảnh sát giao thông, Bộ công an cần được nghiên cứu sâu sắc, toàn diện, có tính hệ thống để nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện chính sách quản lý PTGTCG đường bộ, góp phần bảo đảm trật tự an toàn giao thông, trật tự an toàn xã hội trong giai đoạn hiện nay. Với lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài “Thực hiện chính sách quản lý phương tiện giao thông cơ giới đường bộ tại Cục Cảnh sát giao thông, Bộ công an”làm luận văn thạc sĩ của mình. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Ở Việt Nam, đã có những công trình khoa học nghiên cứu ở cả phương diện lý luận và thực tiễn trên nhiều cấp độ, khía cạnh khác nhau liên quan đến thực hiện chính sách quản lý PTGTCG đường bộ. Có thể đề cập đến một số công trình khoa học sau: Nguyễn Văn Thịnh và Đặng Anh (2011), “Giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự”, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ Công an, đã chỉ ra nâng cao hiệu quả công tác quản lý xử lý vi phạm hành chính, các cơ quan, đơn vị, địa phương cần tăng cường hơn nữa công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; tiếp tục tuyên truyền, phổ biến các quy định của luật xử lý vi phạm hành chínhvà các văn bản pháp luật có liên quan bằng các hình thức, biện pháp thích hợp để nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân; tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ chuyên sâu về xử lý vi phạm hành chínhtrong cơ quan, đơn vị, địa phương nhằm nâng cao kỹ năng nghiệp vụ xử lý vi phạm hành chínhcho 2 các cá nhân có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính. Đặc biệt, cần tăng cường phối hợp trong công tác xử lý vi phạm hành chínhđể kịp thời xử lý các hành vi vi phạm; tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát, kịp thời phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm hành chính bảo đảm đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo luật định. Trần Văn Hà (2011), “Cải cách thủ tục hành chính trong đăng ký, quản lý phương tiện giao thông cơ giới đường bộ”, Luận văn Thạc sĩ Quản lý Nhà nước về An ninh trật tự, đã chỉ ra công tác đăng ký, quản lý phương tiện là khâu đột phá góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ được giao, đáp ứng kịp thời nhu cầu đăng ký phương tiện cho người dân mốt cách nhanh chóng và thuận tiện. Phạm Mạnh Cường (2013), “Cải cách thủ tục hành chính trong đăng ký, quản lý phương tiện giao thông cơ giới của lực lượng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Hải Dương”, Luận văn Thạc sĩ Quản lý Nhà nước về An ninh trật tự, tác giả đã chỉ ra công tác đăng ký, quản lý phương tiện giao thông cơ giới đường bộ có nhiệm vụ trọng tâm là đảm bảo đáp ứng kịp thời chứng nhận quyền sở hữu đối với phương tiện giao thông cơ giới của các tổ chức, công dân. Việc đẩy mạnh cải cách hành chính với phương châm đơn giản hóa thủ tục hành chính, công khai trình tự, thẩm quyền, thời gian đăng ký, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân khi đến giải quyết công việc là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu của lực lượng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Quảng Bình trong cuộc vận động “Xây dựng lực lượng Công an nhân dân vì nước quên thân, vì nhân dân phục vụ”. Đỗ Thị Mai Thu (2015), “Tổ chức đăng ký, quản lý phương tiện giao thông cơ giới đường bộ theo chức năng của lực lượng Cảnh sát giao thông Công an Hà Nội. Thực trạng và giải pháp”, Luận văn Thạc sĩ Quản lý Nhà nước về An ninh trật tự, tác giả đã chỉ ra vai trò của lực lượng Cảnh sát giao thông, làm rõ thực trạng ở Hà Nội, đưa ra 5 giải pháp để việc tổ chức đăng ký, quản lý phương tiện giao thông một cách hợp lý. Học viện Cảnh sát nhân dân (2016), Giáo trình “Đăng ký, quản lý phương tiện và người điều khiển phương tiện giao thông”, đã làm rõ khái niệm, chức năng nhiệm vụ, quy định của pháp luật về thủ tục, giới hạn, mức phạt người điều khiển giao thông. Nguyễn Ngọc Giang (2016), “Đăng ký, quản lý phương tiện giao thông cơ giới đường bộ theo chức năng của lực lượng Cảnh sát giao thông”, Luận án tiến sĩ 3 Quản lý Nhà nước về An ninh trật tự, tác giả làm rõ sự cần thiết của lực lượng cảnh sát trong công tác quản lý phương tiện xe cơ giới, để công tác đăng ký, quản lý phương tiện là khâu đột phá góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ được giao, đáp ứng kịp thời nhu cầu đăng ký phương tiện cho người dân, Phòng Cảnh sát giao thông đang tập trung vào một số giải pháp quan trọng, trong đó, đẩy mạnh cải cách hành chính, đổi mới các biện pháp công tác, nhằm mục tiêu phục vụ ngày càng tốt hơn cho nhân dân trong các hoạt động quản lý Nhà nước về Trật tự an toàn giao thông (TTATGT), tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến những quy định của Nhà nước về đăng ký quản lý phương tiện cho nhân dân hiểu và nắm rõ để tự chủ động hoàn thiện hồ sơ trước khi đến cơ quan chức năng làm việc, hạn chế đi lại cho nhân dân, đặc biệt là các huyện miền núi, vùng sâu, vùng xa, đầu tư nâng cấp những trang thiết bị kỹ thuật hiện đại phục vụ cho công tác đăng ký quản lý phương tiện, đặc biệt là hệ thống máy tính cần được nâng cấp hơn với đường truyền dữ liệu mạng ổn định, tốc độ nhanh; trang cấp dụng cụ chuyên dụng để kiểm tra phương tiện và hồ sơ chính xác, phát hiện được các trường hợp làm giả như dụng cụ kiểm tra số máy, số khung, đèn cực tím,… cải tạo phòng tiếp dân, hệ thống bàn làm việc tiếp dân, giá để hồ sơ, tờ khai,… tạo được môi trường làm việc chính quy, khoa học, lịch sự và mỹ quan. Nguyễn Đình Phong (2013), “Nghiên cứu các đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng kiểm định xe cơ giới ở Việt Nam”, LATS kinh doanh và quản lý, Trường đại học kinh tế quốc dân, tác giả đưa ra quan điểm, hệ thống đồng bộ, các giải pháp các kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng giảm thiểu tai nạn giao thông đường bộ. Phan Huy Lệ (2011), “Quản lý nhà về thu và sử dụng phí đường bộ ở Việt Nam”, LATS Kinh tế, Đại học kinh tế quốc dân, tác giả làm rõ hơn về cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về thu và sử dụng phí đường bộ, các chính sách, các mối quan hệ tác động đến quản lý nhà nước về thu và sử dụng phí đường bộ trong thời gian qua. Xác định nguyên nhân và hạn chế, từ đó đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu Tác giả nghiên cứu những vấn đề lý luận, làm rõ thực trạng thực hiện chính sách quản lý phương tiện giao thông cơ giới đường bộ tại Cục Cảnh sát giao thông, 4 Bộ Công an. Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thực hiện chính sách quản lý phương tiện giao thông cơ giới đường bộ. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu - Bổ sung cho cơ sở lý luận về thực hiện chính sách quản lý nhà nước về phương tiện giao thông cơ giới đường bộ. - Chỉ ra thực trạng thực hiện chính sách quản lý nhà nước về phương tiện giao thông cơ giới đường bộ tại Cục Cảnh sát giao thông, Bộ Công an trên các phương diện. - Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách quản lý nhà nước về phương tiện giao thông cơ giới đường bộ tại Cục Cảnh sát giao thông, Bộ Công an. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Thực hiện chính sách quản lý nhà nước về phương tiện giao thông cơ giới đường bộ tại của Việt Nam hiện nay. 4.2. Phạm vi nghiên cứu - Về thời gian: từ năm 2015 đến nay. - Về không gian: Thực hiện chính sách quản lý phương tiện giao thông cơ giới đường bộ ở Việt Nam. 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu - Cơ sở lý luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin. -Phương pháp: Phân tích, so sánh, thống kê, tổng hợp và phỏng vấn chuyên gia. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn - Hệ thống hóa cơ sở lý luận thực hiện chính sách quản lý nhà nước về phương tiện giao thông cơ giới đường bộ tại Cục Cảnh sát giao thông, Bộ Công an. - Làm rõ thực trạng, chỉ ra các nhân tố tác động đến thực hiện chính sách quản lý nhà nước về phương tiện giao thông cơ giới đường bộ tại Cục Cảnh sát giao thông, Bộ Công an. - Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách quản lý nhà nước về phương tiện giao thông cơ giới đường bộ tại Cục Cảnh sát giao thông, Bộ Công an. 5 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được cấu trúc thành 3 chương: Chương 1. Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách quản lý phương tiện giao thông cơ giới đường bộ Chương 2. Thực trạng thực hiện chính sách quản lý phương tiện giao thông cơ giới đường bộ tại Cục cảnh sát giao thông, Bộ công an. Chương 3. Phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng thực hiện chính sách quản lý phương tiện giao thông cơ giới đường bộ tại Cục cảnh sát giao thông, Bộ công an 6 Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG CƠ GIỚI ĐƯỜNG BỘ 1.1. Khái niệm liên quan về phương tiện giao thông cơ giới đường bộ 1.1.1. Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ * Khái niệm phương tiện giao thông cơ giới đường bộ Khi nói đến giao thông là nói đến “việc đi lại từ chỗ này qua chỗ kia bằng phương tiện chuyên chở”. Giao thông đường bộ được hiểu là việc đi lại từ chỗ này qua chỗ kia của người và phương tiện chuyên chở trên đường, cầu đường bộ, hầm đường bộ, bến phà qua sông, suối nối đường bộ. Phương tiện giao thông đường bộ bao gồm phương tiện giao thông cơ giới đường bộ và phương tiện giao thông thô sơ đường bộ. Phương tiện giao thông thô sơ đường bộ còn gọi là xe thô sơ gồm các loại xe không di chuyển bằng sức động cơ như xe đạp, xe xích lô, xe súc vật kéo vàcác loại xe tương tự. Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của xã hội loài người. Ở Việt Nam, cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là quá trình cơ giới hóa các phương tiện giao thông đường bộ, đầu tiên là mô tô, xe gắn máy và hiện nay các loại ô tô cá nhân bắt đầu trở nên phổ biến. Sự đa dạng và hiện đại hóa của phương tiện giao thông cơ giới(PTGTCG) đường bộ đã phục vụ đắc lực cho nhu cầu đi lại hàng ngày của con người, phục vụ vận chuyển hàng hóa nhanh chóng, hiệu quả. Thực tế sử dụng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ trong đời sống hàng ngày, cho thấy vai trò thiết yếu và quan trọng của PTGTCG đường bộ. Luật Giao thông đường bộ năm 2008, có hiệu lực từ 01/07/2009 quy định: “Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ (gọi là xe cơ giới) gồm xe ô tô; máy kéo; rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi xe ô tô, máy kéo; xe mô tô hai bánh; xe mô tô ba bánh; xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự” [47]. Trong đó: (1) Ô tô là loại phương tiện giao thông đường bộ chạy bằng động cơ, có từ bốn bánh trở lên, không được chạy trên đường ray và thường được dùng để chở người, 7 chở hàng hóa; kéo các rơmoóc, sơmi rơmoóc; thực hiện chức năng, công dụng đặc biệt [23]. (2) Các loại xe tương tự xe ô tô là loại phương tiện giao thông đường bộ chạy bằng động cơ có từ hai trục, bốn bánh xe trở lên, có phần động cơ và thùng hàng (nếu có) lắp trên cùng một xát xi (kể cả loại xe 4 bánh chạy bằng năng lượng điện) [34]. (3) Máy kéo là loại xe gồm phần đầu máy tự di chuyển, được lái bằng càng hoặc vô lăng và rơ moóc được kéo theo (có thể tháo rời với phần đầu kéo). (4) Rơ moóc là chỉ phương tiện có kết cấu để sao cho phần chủ yếu của khối lượng toàn bộ của phương tiện không đặt lên ôtô kéo. (5) Sơ mi rơ moóc được thiết kế để nối với ô tô đầu kéo và có một phần đáng kể của trọng lượng toàn bộđặt lên ô tô đầu kéo. (6) Xe môtô (hay còn gọi là xe máy) là xe cơ giới hai hoặc ba bánh và các loại xe tương tự, di chuyển bằng động cơ có dung tích xy lanh từ 50 cm3 trở lên, tải trọng bản thân xe không quá 400 kg đối với xe máy 2 bánh hoặc khối lượng chuyên chở cho phép xác định theo Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ từ 350 kg đến 500 kg đối với xe máy 3 bánh. (7) Các loại xe tương tự xe mô tô là phương tiện giao thông đường bộ chạy bằng động cơ, có hai bánh hoặc ba bánh, có dung tích làm việc của động cơ từ 50 cm3 trở lên, có vận tốc thiết kế lớn nhất lớn hơn 50 km/h, có khối lượng bản thân không lớn hơn 400 kg. (8) Xe gắn máy là chỉ phương tiện chạy bằng động cơ, có hai bánh hoặc ba bánh và vận tốc thiết kế lớn nhất không lớn hơn 50 km/h. Nếu dẫn động là động cơ nhiệt thì dung tích làm việc hoặc dung tích tương đương không được lớn hơn 50 cm3. (9) Xe máy điện là xe gắn máy được dẫn động bằng động cơ điện có công suất lớn nhất không lớn hơn 4 kW, có vận tốc thiết kế lớn nhất không lớn hơn 50 km/h (10) Các loại xe tương tự xe gắn máy là phương tiện giao thông đường bộ chạy bằng động cơ, có hai bánh hoặc ba bánh và vận tốc thiết kế lớn nhất không lớn hơn 50 km/h, trừ các phương tiện là xe đạp máy. Như vậy, khái niệm phương tiện giao thông cơ giới đường bộ được hiểu: 8 “Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ là phương tiện chuyên dụng được thiết kế, sản xuất, di chuyển bằng động cơ để phục vụ nhu cầu đi lại, vận tải hàng hóa, vận chuyển hành khách của con người hoặc để thực hiện chức năng, công dụng đặc biệt”. *Đặc điểm phương tiện giao thông cơ giới đường bộ Thứ nhất, PTGTCG đường bộ được sử dụng thường xuyên, rộng rãi phục vụ nhu cầu của con người. Di chuyển là nhu cầu thiết yếu được diễn ra hàng ngày, hàng giờ.Sự di chuyển đó có ý nghĩa cho sự phát triển cá nhân, phát triển xã hội.Với đặc điểm dễ dàng vận hành, nhanh chóng, cơ động, PTGTCG đường bộ đáp ứng được nhu cầu đi lại, học tập, công tác của mỗi cá nhân.Mặt khác, PTGTCG đường bộđược sử dụng thường xuyên trong kinh doanh vận tải hàng hóa, kinh doanh vận tải hành khách, phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.Chính vì vậy, PTGTCG đường bộ là phương tiện không thể thiếu của cá nhân, tổ chức phục vụ nhu cầu đi lại trong sinh hoạt, trong sản xuất kinh doanh. Thứ hai,PTGTCG đường bộ ngày càng được hiện đại, đa dạng chủng loại, hình dáng; tính năng, tác dụng phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo mục đích, yêu cầu sử dụng của chủ phương tiện.Đặc điểm này đặt ra yêu cầu tất yếu trong quản lý PTGTCG đường bộ, cơ quan quản lý phải nắm được nguồn gốc, chủng loại phương tiện, dự báo và có những chính sách phát triển PTGTCG đường bộ phù hợp, nâng cao hiệu quả quản lý PTGTCG. Thứ ba, quá trình khai thác sử dụng, vận hành PTGTCG đường bộ luôn tiềm ẩn nguy cơ gây thiệt hại đối với con người, là nguyên nhân làm cho tình hình TTATGT phức tạp. PTGTCG đường bộ là phương tiện có gắn động cơ, có công suất lớn hơn nhiều lần phương tiện thô sơ, với kết cấu phức tạp bao gồm nhiều bộ phận, linh kiện khác nhau. Quá trình khai thác, sử dụng thường xuyên loại phương tiện này có thể dẫn đến những hư hỏng, gây ra sự mất an toàn với người sử dụng và những người tham gia giao thông khác. Chủ phương tiện và người điều khiển phương tiện có trách nhiệm thường xuyên duy tu, bảo dưỡng bảo đảm điều kiện an toàn kỹ thuật khi đưa vào hoạt động. Việc sử dụng phương tiện có công suất lớn, có thể đạt tốc độ cao khi tham gia giao thông, cũng chính là nguyên nhân tiềm ẩn tai nạn giao thông (TNGT), gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản của con người. Bên cạnh đó, ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường do số lượng PTGTCG đường bộ tăng lên 9 nhanh so với kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ đã gây ra những thiệt hại về kinh tế, sức khỏe, tính mạng, tài sản cho nhân dân, cho xã hội. Yêu cầu đặt ra phải quản lý loại phương tiện này một cách chặt chẽ, kiểm soát được các nguy cơ tiềm ẩn góp phần bảo đảm TTATGT, TTATXH trong tình hình hiện nay. Thứ tư, phương tiện giao thông cơ giới đường bộ là tài sản có giá trị lớn, thường liên quan đến các giao dịch chuyển đổi quyền sở hữu theo quy định của pháp luật (có thể dùng để mua bán, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp...Trong quan hệ sở hữu tài sản). Vì thế, nó thường là đối tượng xâm hại hoặc trở thành công cụ, phương tiện mà nhiều loại tội phạm sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội (các tội phạm buôn lậu, buôn bán vận chuyển hàng cấm, vận chuyển hàng hóa trái phép qua biên giới...). Vì vậy, nếu thực hiện tốt công tác quản lý, nắm được những thông tin, đặc điểm của phương tiện và người điều khiển phương tiện đã được lưu giữ ở cơ quan Công an, lực lượng cảnh sát giao thông (CSGT) có thể cung cấp thông tin về phương tiện và chủ phương tiện, giúp cơ quan điều tra làm rõ vụ việc. Điều này cho thấy, đăng ký, quản lý PTGTCG đường bộ không chỉ giúp xác định quyền sở hữu hợp pháp tài sản của công dân, trách nhiệm có liên quan đối với chủ sở hữu PTGTCG, còn là biện pháp chủ động ngăn chặn, phát hiện, đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến loại phương tiện này. * Phân loại phương tiện giao thông cơ giới đường bộ Cùng với tiến bộ của khoa học - kỹ thuật, PTGTCG đường bộ từng bước được phát triển đa dạng về chủng loại, tính năng tác dụng...Góp phần đáp ứng yêu cầu sử dụng ngày càng cao của con người.Vì thế, phân loại PTGTCG đường bộ phục vụ yêu cầu đăng ký, quản lý là cần thiết đối với công tác của lực lượng CSGT. Có nhiều cách để phân loại PTGTCG đường bộ. Hiện nay, việc phân loại được dựa vào một số tiêu chí sau [52]: - Phân loại theo nguồn gốc, xuất xứ của phương tiện: Xe nhập khẩu, xe liên doanh, sản xuất, lắp ráp ở trong nước, xe sang tên, di chuyển trong phạm vi một tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hay trong phạm vi quốc gia. - Phân loại theo kết cấu, tổng thành của phương tiện: Xe ô tô; máy kéo; xe mô tô; xe gắn máy...Và trong từng loại trên dựa vào kết cấu tổng thành của phương tiện người ta có thể phân loại sâu hơn. Chẳng hạn, trong ô tô có thể phân loại thành ô tô con, ô tô vận tải hàng hóa và ô tô chở khách các loại. 10 - Phân loại theo mục đích sử dụng: Xe ô tô được phân loại: Xe ô tô vận tải hàng hóa, xe ô tô chở người, máy kéo, xe chuyên dùng trong vận chuyển hàng hóa (xe chở hàng đông lạnh, xe chở xi măng tươi, xe contener...), xe ô tô chuyên dùng (xe cứu thương, xe chữa cháy, xe hộ đê,...), xe phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh của Công an hoặc Quân đội. Xe mô tô, xe gắn máy được phân loại: Xe phục vụ nhu cầu đi lại của người dân, xe luyện tập thi đấu thể thao, xe phục vụ an ninh, quốc phòng. - Phân loại theo sức mạnh động cơ hoặc theo tải trọng của phương tiện: Đối với ô tô, có thể phân theo các loại xe khác nhau, như: Xe con có dung tích xi lanh 750cc, 1000cc, 2000cc, 3000cc...; xe tải có tải trọng từ 500kg, 750kg...cho đến các loại xe siêu trường, siêu trọng có tải trọng lên đến hàng chục nghìn kg. Đối với mô tô, xe gắn máy...được phân loại theo các xe: Xe gắn máy có dung tích xi lanh dưới 50cc, xe từ 50 đến dưới 175 cc, xe mô tô phân khối lớn từ 175cc trở lên. - Phân loại theo nhiên liệu sử dụng, loại hộp số và động cơ: Dựa theo các tiêu chí trên, các xe được phân loại theo sử dụng nhiên liệu: Xăng dầu, khí hóa lỏng; xe có hộp số tự động hoặc bán tự động, số tay; xe có động cơ xăng 4 thì, động cơ 2 thì. Trên đây là một số tiêu chí được cơ quan quản lý sử dụng để phân loại PTGTCG đường bộ, dựa vào đó, lực lượng CSGT có thể nắm được thông số kỹ thuật, mục đích sử dụng của từng loại phương tiện thuộc phạm vi đăng ký, quản lý. Giúp chủ thể tiến hành chủ động tham mưu cho Nhà nước, các cơ quan chức năng xây dựng, tổ chức thực hiện kế hoạch, đề án phát triển kết cấu hạ tầng giao thông, PTGTCG đường bộ hợp lý đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, tăng cường an ninh quốc phòng trong thời kỳ hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay. 1.1.2. Chính sách quản lý phương tiện giao thông cơ giới đường bộ * Khái niệm chính sách quản lý phương tiện giao thông cơ giới đường bộ Theo Từ điển tiếng Việt thì “chính sách” là “sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra”. Cũng có một định nghĩa khác, “chính sách là chuỗi những hoạt động mà chính quyền chọn làm hay không làm với tính toán và chủ đích rõ ràng, có tác động đến người dân”. 11 Như vậy, phân tích khái niệm “chính sách” thì thấy: - Chính sách là do một chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra; - Chính sách được ban hành căn cứ vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế; - Chính sách được ban hành bao giờ cũng nhắm đến một mục đích nhất định; nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó; chính sách được ban hành đều có sự tính toán và chủ đích rõ ràng. Chính sách quản lý phương tiện giao thông cơ giới đường bộ Thực hiện chính sách quản lý phương tiện giao thông cơ giới hết sức quan trọng khi chính sách được ban hành, để cho chính sách đó được thực thi và có hiệu lực, đòi hỏi việc tuyên truyền, nắm bắt, thực hiện, xử lý sao cho có hiệu quả là điều không phải dễ, sẽ làm được ngay trong ngày một ngày hai, nó phải được thể hiện qua một quá trình thực hiện. Trước hết, thực hiện chính sách quản lý PTGTCG đường bộ là nội dung quan trọng trong công tác quản lý TTATGT do cơ quan có thẩm quyền, dựa trên quy định của pháp luật. Triển khai thực hiện mặt công tác này bao gồm nội dung là công tác chỉ đạo quản lý của lãnh đạo thực hiện chính sách quản lý, tổ chức đăng ký, cấp biển số PTGTCG đường bộ, kiểm định xe, thu lệ phí đường bộ, ý thức trách nhiệm của cán bộ thực hiện chính sách. Quản lý PTGTCG đường bộ là một biện pháp quản lý hành chính công khai của lực lượng CSGT dựa trên các quy định pháp luật về TTATGT đường bộ giúp nắm vững thực trạng phương tiện nhằm phát hiện, xử lý những hành vi vi phạm có liên quan góp phần bảo đảm TTATGT, TTATXH. Theo tác giả:“Chính sách quản lý PTGTCG đường bộ là chính sách của lực lượng CSGT được tổ chức tiến hành theo quy định của pháp luật và quy trình hướng dẫn của ngành Công an để tổ chức quản lý về phương tiện, xác nhận quyền sở hữu của chủ phương tiện, giúp chủ động tiến hành các biện pháp kiểm tra, nắm tình hình hoạt động của phương tiện và người sử dụng phương tiện, phát hiện, xử lý kịp thời đối với phương tiện góp phần bảo đảm TTATGT, TTATXH nhằm đạt mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế đề ra”. Quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao, lực lượng CSGT đã tiến hành quản lý chặt chẽ, phát hiện kịp thời hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến loại phương 12 tiện này. Trên cơ sở đó, bảo đảm lợi ích chính đáng của công dân, giúp họ thực hiện quyền và nghĩa vụ theo pháp luật. *Chính sách quản lý PTGTCG đường bộ là nội dung quan trọng trong công tác quản lý xã hội của Nhà nước trên lĩnh vực bảo đảm TTATGT. Từ công việc thực tiễn, CSGT có điều kiện phát hiện những sơ hở, thiếu sót trong công tác quản lý về TTATGT là nguyên nhân dẫn đến tình trạng các đối tượng lợi dụng để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật. Từ đó, thực hiện tốt chức năng tham mưu, đề xuất khắc phục sơ hở, thiếu sót, hoàn thiện văn bản pháp luật, là cơ sở thực hiện tốt các nội dung yêu cầu đăng ký, quản lý PTGTCG đường bộ bảo đảm TTATGT của ngành Công an. Chính sách quản lý PTGTCG đường bộ của lực lượng CSGT là công tác nghiệp vụ quan trọng của ngành Công an trong phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm trên lĩnh vực giao thông vận tải. Hiện nay, đối tượng xấu luôn tìm và lợi dụng những sơ hở trong quản lý PTGTCG đường bộ của các cơ quan chức năng để hoạt động phạm pháp, phạm tội. Vì vậy, việc thực hiện chính sách quản lý PTGTCG đường bộ sẽ giúp phát hiện, xử lý các hành vi: tẩy xóa, sửa chữa giấy tờ, đục lại số khung, số máy...để hợp thức hóa đưa phương tiện có nguồn gốc bất hợp pháp vào sử dụng góp phần giảm thiểu số vụ vi phạm, nâng cao hiệu quả hoạt động phòng ngừa. Nắm được tình hình hoạt động của phương tiện, người điều khiển phương tiện sẽ cung cấp những thông tin cần thiết cho các bộ phận nghiệp vụ khi có yêu cầu làm rõ về: Hành trình, đặc điểm phương tiện, thời gian, địa bàn hoạt động của phương tiện, người sở hữu phương tiện, người điều khiển phương tiện, các thông tin khác có liên quan...giúp làm sáng tỏ các trường hợp người điều khiển phương tiện gây tại nạn rời khỏi hiện trường hoặc liên quan đến các vụ án hình sự, kinh tế, ma túy...đang được điều tra. Việc cung cấp những thông tin cần thiết trên giúp cơ quan điều tra nhanh chóng làm rõ sự thật các vụ việc liên quan đến phương tiện theo quy định của pháp luật. Thực hiện đúng quy trình đăng ký, quản lý PTGTCG đường bộ, quy định của pháp luật liên quan còn giúp phát hiện phương tiện quá niên hạn sử dụng không bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật an toàn phương tiện và bảo vệ môi trường góp phần chủ động phòng ngừa, kiềm chế TNGT. 13
- Xem thêm -