Tài liệu Thực hiện chính sách phòng, chống bạo lực gia đình ở huyện đức phổ, tỉnh quảng ngãi hiện nay

  • Số trang: 98 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 322 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI NGUYỄN THỊ HOÀI TÂM THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH Ở HUYỆN ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG HÀ NỘI, năm 2019 VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI NGUYỄN THỊ HOÀI TÂM THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH Ở HUYỆN ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI HIỆN NAY Chuyên ngành : Chính sách công Mã số : 8 34 04 02 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. TĂNG VĂN THẠNH HÀ NỘI, năm 2019 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan rằng luận văn thạc sĩ chính sách công “Thực hiện chính sách phòng, chống bạo lực gia đình ở huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi hiện nay” là kết quả qua quá trình học tập, nghiên cứu của bản thân. Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác trong cũng lĩnh vực. Tôi xin chịu trách nhiệm lời cam đoan của mình./. Hà Nội, ngày tháng năm 2019 Tác giả luận văn Nguyễn Thị Hoài Tâm LỜI CẢM ƠN Luận văn này là kết quả tiếp thu kiến thức của tôi sau hai năm theo học chương trình đào tạo Thạc sĩ của Học viện Khoa học Xã hội. Trước tiên, xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các thầy giáo, cô giáo trong khoa Chính sách công và các thầy, cô giáo trong và ngoài Học viện Khoa học Xã hội đã hết lòng giúp đỡ, truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong quá trình học tập tại trường. Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Tăng Văn Thạnh, là người đã hướng dẫn tận tình, giúp đỡ, chỉ bảo cho tôi trong quá trình hoàn thành luận văn tốt nghiệp này. Tôi xin chân thành bày tỏ lời cảm ơn đến các cơ quan, các tổ chức, các cá nhân ở huyện Đức Phổ và tỉnh Quảng Ngãi đã hỗ trợ, cung cấp, giúp tôi thu thập số liệu để viết và hoàn thành luận văn này. Với thời gian có hạn, luận văn này không thể tránh khỏi những sai sót, khiếm khuyết, hạn chế, chính vì vậy bản thân tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô cùng tất cả bạn đọc. Tôi xin chân thành cảm ơn! Hà Nội, ngày tháng năm 2019 Tác giả luận văn Nguyễn Thị Hoài Tâm MỤC LỤC MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 1 CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH ........................................................................ 8 1.1. Khái niệm nội dung phòng, chống bạo lực gia đình ...................................... 8 1.2. Khái niệm nội dung của chính sách phòng, chống bạo lực gia đình ............16 CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH Ở HUYỆN ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI ...................................................................................................................29 2.1. Khái quát về huyện Đức Phổ ........................................................................29 2.2. Thực trạng về tình hình bạo lực gia đình ở huyện Đức Phổ .........................33 2.3. Tình hình thực hiện chính sách phòng, chống bạo lực gia đình ở huyện Đức Phổ ........................................................................................................................38 2.4. Một số đánh giá về kết quả thực hiện chính sách phòng, chống bạo lực gia đình ở huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi .............................................................58 CHƯƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH Ở HUYỆN ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI.............................................................................64 3.1. Quan điểm, phương hướng chỉ đạo của Đảng, Nhà nước trong việc thực hiện Chính sách phòng, chống bạo lực gia đình ..........................................................64 3.2. Một số giải pháp cơ bản nâng cao hiệu quả việc thực hiện Chính sách phòng, chống bạo lực gia đình ở huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi hiện nay .................65 KẾT LUẬN .........................................................................................................80 TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT BLGĐ Bạo lực gia đình BĐG Bình đẳng giới CLB Câu lạc bộ CSC Chính sách công Hội LHPNVN Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam KHHGĐ Kế hoạch hóa gia đình PCBLGĐ Phòng, chống bạo lực gia đình UBND Ủy ban nhân dân VH,TT&DL Văn hóa, Thể thao và Du lịch VH&TT Văn hóa và Thông tin VH–XH Văn hóa – xã hội DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Số bảng Tên bảng hiệu Trang 2.1 Tổng hợp tình hình phòng, chống bạo lực gia đình 33 2.2 Tổng hợp một số vụ án hôn nhân và gia đình có liên 37 quan đến bạo lực gia đình 2.3 Tổng hợp về hoạt động của các cơ sở hỗ trợ nạn nhân 51 bạo lực gia đình 2.4 Tổng hợp về hoạt động hòa giải trong PCBLGĐ 52 2.5 Tổng hợp tình hình kinh phí thực hiện nhiệm vụ 53 PCBLGĐ 2.6 Tổng hợp công tác xử lý người có hành vi bạo lực gia đình 57 DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Số biểu Tên biểu đồ Trang Diễn biến số vụ bạo lực gia đình ở huyện Đức Phổ (từ 34 đồ 2.1 năm 2013-2018) 2.2 Các hình thức BLGĐ tại huyện Đức Phổ qua các năm 34 (2013-2018) 2.3 Độ tuổi bị bạo lực gia đình tại huyện Đức Phổ qua các 35 năm (2013-2018) 2.4 Giới tính bị bạo lực gia đình tại huyện Đức Phổ qua 35 các năm (2013-2018) 2.5 Giới tính gây ra BLGĐ tại huyện Đức Phổ qua các năm (2013-2018) 36 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nền tảng của một xã hội bền vững được xây dựng từ các thành viên trong mỗi gia đình luôn yêu thương, đùm bọc lẫn nhau và nhất là không có bạo lực. Đảng ta rất quan tâm đến công tác gia đình, đã luôn nhấn mạnh: “Xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc thật sự là tế bào lành mạnh của xã hội”. Tuy nhiên, bên cạnh những gia đình được xem là tổ ấm thực sự thì tình trạng bạo lực gia đình vẫn xảy ra ở khắp mọi nơi đến mức báo động. Riêng ở huyện Đức Phổ, theo số liệu điều tra thống kê từ năm 2008 đến nay, số vụ bạo lực gia đình được phát hiện và xử lý là 391 vụ, trong đó nạn nhân phần lớn là nữ giới, độ tuổi bị bạo lực nhiều nhất là từ 16 đến 59 tuổi. Bạo lực gia đình đã gây cho không ít gia đình phải tan vỡ hạnh phúc, nhiều người vợ phải chịu đau đớn thể xác lẫn tinh thần, những đứa trẻ phải bỏ học,.v.v… từ đó làm hạn chế mục tiêu phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội của huyện. Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã dành nhiều sự quan tâm tới việc phòng, chống bạo lực gia đình và đã ban hành nhiều đạo luật trực tiếp và gián tiếp liên quan đến công tác PCBLGĐ. Qua 10 năm triển khai thực hiện Luật PCBLGĐ và 8 năm triển khai thực hiện Đề án “Tuyên truyền, giáo dục đạo đức, lối sống trong gia đình Việt Nam giai đoạn 2010 - 2020” đã tạo sự chuyển biến về nhận thức và hành động của cấp ủy, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể, cán bộ và các tầng lớp nhân dân trên địa bàn cả nước nói chung và huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi nói riêng đối với lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình. Mặc dù đạt được những kết quả bước đầu trong thực hiện Luật phòng, chống bạo lực gia đình, song công tác này vẫn còn nhiều hạn chế, tồn tại. Trong đó, nhận thức và sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, đầu tư cho công tác gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình ở một số địa phương, một số cấp ủy, chính quyền của huyện còn hạn chế; công tác phối hợp giữa các ngành, đoàn thể ở cơ sở trong việc triển khai và tổ chức thực hiện Luật Phòng, chống bạo lực gia đình có nơi chưa chặt chẽ và hiệu quả chưa cao. Các văn bản thực hiện công tác phòng, chống bạo lực gia đình trên địa bàn huyện tuy 1 được thực hiện nhiều nhưng thiếu tập trung, chưa tạo được sự tác động mạnh mẽ để đẩy nhanh sự chuyển đổi, nâng cao nhận thức chung về tầm quan trọng của hoạt động PCBLGĐ còn tồn tại ở một số địa phương, đơn vị. Đội ngũ cán bộ phụ trách công tác PCBLGĐ hầu như chưa được đào tạo đúng chuyên ngành và còn phải kiêm nhiệm thêm nhiều công tác khác dẫn đến chất lượng, hiệu quả công việc trong hoạt động này không cao. Năm 2008, Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Đức Phổ tiếp nhận công tác Gia đình từ Ủy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em huyện. Xuất phát từ chức năng nhiệm vụ của ngành, đồng thời nhận thấy được tầm quan trọng và ảnh hưởng của bạo lực gia đình đối với gia đình và xã hội cũng như việc thực hiện chính sách phòng, chống BLGĐ của huyện đang đứng trước những khó khăn, thách thức vô cùng to lớn, đòi hỏi cần có sự chung tay góp sức của các ngành, các cấp, thông qua luận văn này, bản thân em muốn tìm hiểu rõ hơn về thực trạng bạo lực gia đình, chính sách phòng, chống bạo lực gia đình ở huyện Đức Phổ và đồng thời mạnh dạn nêu lên một số kiến nghị để góp phần làm thay đổi thực trạng nói trên. Đó là lí do em chọn đề tài “Thực hiện chính sách phòng, chống bạo lực gia đình ở huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Bên cạnh các phóng sự điều tra của các cơ quan báo chí đề cập đến thực trạng bạo lực gia đình với số vụ và mức độ nghiêm trọng ngày càng gia tăng và những báo cáo sơ kết, tổng kết hàng năm của các cơ quan quản lý nhà nước về tình hình phòng, chống bạo lực gia đình. Việc nghiên cứu về công tác Phòng, chống bạo lực gia đình còn được thể hiện trong các tài liệu sách chuyên khảo, các bài báo trên các tạp chí khoa học, các đề tài nghiên cứu khoa học, các luận văn thạc sĩ, tiến sĩ,… như: “Thực trạng hoạt động quản lý nhà nước về lĩnh vực gia đình ở Việt Nam hiện nay” (2018) của Vụ Gia đình, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Cuốn sách được biên soạn từ kết quả nghiên cứu đề tài khoa học cấp Bộ triển khai năm 2015 với mục tiêu hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về công tác gia đình, 2 đánh giá thực trạng hoạt động quản lý nhà nước về gia đình hiện nay và đề xuất định hướng, giải pháp trong công tác quản lý nhà nước về gia đình ở Việt Nam trong thời gian tới. "Bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam - thực trạng, diễn tiến và nguyên nhân" (2009) của Nguyễn Hữu Minh, Trần Thị Vân Anh (đồng chủ biên). Nội dung sách gồm 03 phần và 09 chương, trình bày tổng quan các nghiên cứu đã công bố về bạo lực gia đình đồng thời đi sâu phân tích định lượng về bạo lực gia đình từ 3 cuộc khảo sát: điều tra của ngân hàng thế giới (1999); điều tra SAVY (2003) và điều tra thực trạng bình đẳng giới (2005). Cuối cùng, tác giả đưa ra những phát hiện chính của cuộc khảo sát định tính về diễn tiến của bạo lực gia đình, các yếu tố thúc đẩy và hạn chế bạo lực gia đình và hoạt động phòng ngừa, can thiệp từ các tổ chức. “Hoạt động phòng, chống bạo lực gia đình ở Việt Nam hiện nay” (2015) của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch do ThS. Trần Tuyết Ánh chủ biên. Nội dung sách gồm 5 chương và phần kết luận, những vấn đề cần quan tâm. Sách đi sâu phân tích, hệ thống hóa văn bản pháp luật hiện hành; phân tích, đánh giá những hoạt động được Bộ, ngành Trung ương và các địa phương thực hiện từ năm 2008 – 6/2015 và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động PCBLGD trong thời gian tới. “Công tác phòng, chống bạo lực gia đình ở Việt Nam hiện nay” (2018) của Bộ VHTTDL gồm nhiều bài viết của các tác giả là những nhà khoa học, nhà quản lý thực hiện nghiên cứu và giảng dạy về pháp luật, phòng chống bạo lực gia đình. Nội dung sách đề cập đến các vấn đề phòng, chống bạo lực gia đình; bức tranh về thực trạng bộ máy quản lý nhà nước về gia đình, các hình thức bạo lực gia đình. Báo cáo nghiên cứu đánh giá việc thực hiện Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (nghiên cứu trên địa bàn 4 xã thuộc các tỉnh, thành phố: Yên Bái, Hà Nam, Đà Nẵng, Tp Hồ Chí Minh) của Trung tâm Nghiên cứu Giới, Gia đình và Môi trường trong Phát triển (CGFED, năm 2010). Báo cáo đã cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách, các cơ quan thực hiện pháp luật, cơ quan tài trợ, các nhà tư vấn, nghiên 3 cứu, các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực bình đẳng giới nói chung và bạo lực gia đình nói riêng, thông tin khách quan về những thuận lợi, khó khăn - thách thức của việc thực thi Luật PCBLGĐ, nhằm góp phần hoàn thiện khung pháp lý, nâng cao hiệu quả thực hiện và hiệu quả tài trợ cho việc thực hiện Luật PCBLGĐ. "Quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh", luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Tú (TP Hồ Chí Minh, 2017): tác giả tập trung làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về bạo lực gia đình và quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đồng thời kiến nghị các giải pháp nhằm tăng cường hoạt động quản lý nhà nước về vấn đề phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ trong thời gian tới. “Pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình - từ thực tiễn tỉnh Tuyên Quang”, Luận văn thạc sĩ Luật của tác giả Đào Xuân Cường (Hà Nội, 2016): tác giả tập trung làm rõ những vấn đề cơ sở lý luận về pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình hiện nay, đánh giá thực trạng bạo lực gia đình và pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình tại tỉnh Tuyên Quang, đề xuất giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình ở nước ta. Và một số tài liệu khác như Báo cáo qua các năm của huyện Đức Phổ cũng như của tỉnh Quảng Ngãi trong quá trình thực hiện công tác gia đình tại địa phương. Có thể nói, ở các tài liệu nghiên cứu này, các tác giả chủ yếu nghiên cứu, đánh giá thực trạng bạo lực gia đình đang diễn ra như thế nào, tình hình xử lý tình trạng này ra sao trên các góc độ pháp luật, tâm lý và giới nói chung; hoạt động phòng, chống bạo lực gia đình ở Việt Nam hiện nay như thế nào hoặc đi sâu phân tích vấn đề quản lý nhà nước đối với công tác phòng, chống BLGĐ ở phạm vi tỉnh, thành phố. Các công trình nghiên cứu trên đây đã có những đóng góp nhất định trong việc cung cấp lý luận chung về thực trạng bạo lực gia đình hiện nay, việc thực hiện chính sách phòng, chống bạo lực gia đình nhằm nâng cao hiệu quả công tác này. Song, đối với loại đề tài thực hiện chính sách PCBLGĐ vẫn là mới, nhất là ở địa bàn huyện ven biển Miền Trung như huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi. 4 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phòng, chống bạo lực gia đình và phát huy vai trò của chính sách phòng, chống bạo lực gia đình ở huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Trên cơ sở của mục đích nghiên cứu, đề tài thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu sau: - Hệ thống hóa và phân tích để làm rõ cơ sở lý luận, lý thuyết cơ bản về chính sách phòng, chống bạo lực gia đình ở Việt Nam; - Làm rõ tình hình bạo lực gia đình, các yếu tố ảnh hưởng đến việc bạo lực gia đình ở huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi; Đánh giá tình hình thực hiện chính sách phòng, chống bạo lực gia đình ở huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi; - Đề xuất các giải pháp thực hiện chính sách phòng, chống bạo lực gia đình phù hợp với điều kiện thực tế ở huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian tới. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực hiện chính sách phòng, chống bạo lực gia đình ở huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu việc thực hiện chính sách phòng, chống bạo lực gia đình ở huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi từ góc nhìn của các gia đình và cán bộ thực hiện chính sách (xã, huyện) thông qua việc phỏng vấn sâu. Về không gian: Các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Đức Phổ. Về thời gian: Tìm hiểu thực trạng việc thực hiện chính sách phòng, chống bạo lực gia đình từ năm 2013 đến 2018. 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5.1. Cơ sở lý luận 5 Luận văn dựa trên phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, các quan điểm của Đảng ta về xây dựng và phát triển gia đình Việt Nam. Từ đó, phân tích thực trạng thực hiện chính sách phòng, chống bạo lực gia đình ở huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi và đề xuất những giải pháp khả thi trong thời gian tới. Tiếp cận chính sách công: giúp cho việc nghiên cứu tình hình thực hiện chính sách phòng, chống bạo lực gia đình được xem xét ở nhiều góc độ khác nhau, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao việc thực hiện chính sách về phòng, chống bạo lực gia đình hiện nay ở huyện Đức Phổ. Tiếp cận hệ thống: Tiếp cận hệ thống dựa vào định hướng chính trị, vào năng lực thực tế của chủ thể tham gia thực hiện, vào môi trường thực hiện, tồn tại của chính sách và tình trạng pháp luật trong xã hội đó. Tiếp cận liên ngành: Tiếp cận liên ngành được vận dụng trên nền tảng những phân tích đa ngành, đa chiều nhằm tránh nhìn nhận phiến diện, chủ quan. Phân tích thực hiện chính sách PCBLGĐ rất cần sự tiếp cận của các chuyên ngành khác, gần gũi với xã hội trong triển khai nghiên cứu đề tài (như xã hội học, tâm lý học, nghiên cứu gia đình, .v.v…). 5.2. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu lý thuyết (nghiên cứu các văn bản quy phạm pháp luật, các quy định của nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình). Phân tích tư liệu, văn bản thứ cấp: Thu thập và phân tích các tài liệu nghiên cứu, các văn bản quy phạm pháp luật, các quy định của nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình, các số liệu được tập hợp và phân tích thống kê thông dụng trong xã hội học. Phân tích thống kê, so sánh: Là thực hiện việc tổng hợp, trình bày các số liệu và đánh giá tính khả thi, hiệu quả của chính sách cũng như những khó khăn, hạn chế nhằm điều chỉnh cho phù hợp với mục tiêu và điều kiện thực tế của địa phương. Phỏng vấn sâu các nhà quản lý và công dân nhằm đánh giá về các bước thực hiện chính sách, những bất cập, hạn chế trong triển khai thực hiện chính sách để đề 6 xuất các giải pháp khắc phục. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 6.1. Ý nghĩa lý luận - Trên cơ sở việc phân tích những nội dung về chính sách công, chính sách phòng, chống bạo lực gia đình, luận văn cung cấp thêm những hiểu biết, góc nhìn khác của chính sách này về mặt lý luận thông qua việc hệ thống hóa các nội dung nghiên cứu gắn với thực tiễn của địa phương cụ thể ở Việt Nam. - Ðề tài cung cấp những tài liệu, số liệu trên cơ sở khảo sát thực tế tại huyện Ðức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, góp phần làm phong phú thêm những vấn đề lý luận về Chính sách công. 6.2. Ý nghĩa thực tiễn Qua thực tiễn nghiên cứu chính sách PCBLGĐ tại huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, luận văn chỉ ra được những khó khăn, hạn chế trong việc thực thi chính sách, đồng thời kết quả nghiên cứu giúp cho Lãnh đạo UBND tỉnh và UBND huyện, các bộ phận liên quan, các nhà hoạch định chính sách có cơ sở khoa học và thực tiễn để tham khảo trong việc tổ chức thực hiện và điều chỉnh chính sách PCBLGĐ tại huyện Đức Phổ một cách hiệu quả hơn trong thời gian tới. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục các chữ viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu theo 03 chương như sau: Chương 1: Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách phòng, chống bạo lực gia ðình Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách phòng, chống bạo lực gia đình ở huyện Ðức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi hiện nay Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phòng, chống bạo lực gia đình ở huyện Ðức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi 7 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH 1.1. Khái niệm nội dung của Phòng, chống bạo lực gia đình 1.1.1. Bạo lực gia đình 1.1.1.1. Khái niệm gia đình Gia đình là một khái niệm phức hợp bao gồm các yếu tố sinh học, tâm lý, văn hóa, kinh tế, v.v… Từ mỗi một góc độ nghiên cứu khác nhau mà ta có thể đưa ra một khái niệm gia đình cụ thể, phù hợp với nội dung nghiên cứu. Đối với xã hội học, gia đình thuộc về phạm trù cộng đồng xã hội nên có thể coi gia đình như một nhóm xã hội nhỏ, đồng thời như một thiết chế xã hội mà có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình xã hội hóa con người. Hai học giả G.Endrweit và G.Trommsdorff đã đưa ra định nghĩa: “Gia đình là một nhóm thuộc loại đặc biệt vì nó biểu hiện một cấu trúc vai trò nhất định (bố/mẹ/con gái/con trai/cháu/em,…), với nó thì sự tách biệt về giới tính và thế hệ là tiêu chí của cơ cấu gia đình (một hay nhiều thế hệ; nam/nữ) và qua đó sẽ chuyển hóa một quan hệ hợp tác và đoàn kết rất đặc biệt mà ở tất cả các xã hội đều tổ chức theo nghi lễ sự thành lập của nó. Ngoài ra, xã hội cũng trao cho nhóm đặc biệt này những chức năng rất đặc biệt” [12, Tr.13-14] Theo Khoản 2, Điều 3, Chương I Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 định nghĩa: “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định...”. 1.1.1.2. Khái niệm bạo lực Bạo lực là một hiện tượng xã hội, trong Tiếng Việt, bạo lực được hiểu là “Sức mạnh dùng để cưỡng bức, trấn áp hoặc lật đổ” [31, tr.6]. Với ý nghĩa chung đó, bạo lực có thể được sử dụng với cả nghĩa tiêu cực (bạo lực với trẻ em, bạo lực gia đình, bạo lực giới…) hoặc tích cực (bạo lực cách mạng, bạo lực để trấn áp tội phạm…). 8 Bạo lực nói chung theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) có thể được hiểu là việc đe dọa hay dùng sức mạnh thể chất hay quyền lực đối với bản thân, người khác hoặc đối với một nhóm người, một cộng đồng người mà gây ra hay làm tăng khả năng gây ra tổn thương, tử vong, tổn hại về tâm lý, ảnh hưởng đến sự phát triển hay gây ra sự mất mát. 1.1.1.3. Khái niệm bạo lực gia đình Bạo lực gia đình là một dạng thức của bạo lực trong xã hội. Nó là việc các thành viên trong gia đình vận dụng sức mạnh để xử lý các vấn đề gia đình. Nếu gia đình là một thiết chế xã hội đặc biệt, là hình thức thu nhỏ của xã hội thì BLGĐ cũng là một hình thức thu nhỏ và đặc biệt của bạo lực xã hội. Sự khác biệt giữa BLGĐ với các dạng thức bạo lực xã hội là ở chỗ BLGĐ lại diễn ra giữa những người thân, những người có cùng một huyết thống hoặc dưới cùng một mái nhà. Theo định nghĩa của Đại hội đồng Liên hiệp quốc thì Bạo lực gia đình bao gồm bất kỳ một hành động bạo lực dựa trên cơ sở giới nào dẫn đến, hoặc có khả năng dẫn đến những tổn hại về thân thể, tình dục hay tâm lý, hay những đau khổ của phụ nữ, bao gồm cả sự đe dọa có những hành động như vậy, sự cưỡng bức hay tước đoạt một cách tùy tiện sự tự do, dù nó xảy ra nơi công cộng hay cuộc sống riêng tư. Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 của Việt Nam được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 21 tháng 7 năm 2007, tại Điều 1, Khoản 2 quy định như sau: “Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với các thành viên khác trong gia đình” [36, tr.18]. Như vậy, bạo lực gia đình bao gồm các yếu tố bạo hành về thể chất, bạo hành về tinh thần, bạo hành tình dục và cả bạo hành về kinh tế. Những hành vi bạo lực gia đình gây ra để lại nhiều tổn hại đối với cộng đồng xã hội, đối với con người, đặc biệt đối với phụ nữ và trẻ em. 1.1.2. Những hành vi và hậu quả của bạo lực gia đình 1.1.2.1. Hành vi của bạo lực gia đình Gia đình là tế bào của xã hội, là hình thức thu nhỏ của xã hội nên bạo lực gia 9 đình có thể coi như là hình thức thu nhỏ của bạo lực xã hội với rất nhiều dạng thức khác nhau. Xét về phương cách ứng xử, có thể phân chia bạo lực gia đình thành các hình thức chủ yếu sau: Bạo lực thể chất: được hiểu là việc một người sử dụng sức mạnh cơ bắp (tay, chân) hoặc công cụ (thậm chí cả vũ khí) để bạo hành như đánh, đấm, đá, tát gây nên sự đau đớn về thân thể của nạn nhân, .vv… hoặc các hình thức khác mà gây tổn hại tới sức khỏe thể chất của người bị bạo hành như là hắt nước sôi, bắt chui vào cũi,.vv… hoặc ngăn cản việc đi khám, chữa sức khỏe. Bạo lực về tinh thần: loại hình bạo lực không sử dụng vũ lực, tác động lên tinh thần của nạn nhân. Bạo lực tinh thần là những biểu hiện nhằm gây tổn thương tới danh dự, nhân phẩm, tâm lý của thành viên gia đình bởi những lời nói và không lời như quát tháo, đe dọa, chửi rủa, sỉ nhục, bỏ rơi không quan tâm; nói những lời xúc phạm đến nhân phẩm, trừng phạt con cái để làm cho người mẹ đau đớn hoặc tự trừng phạt mình; lăng mạ, hạ thấp giá trị một người trước những người khác; kiểm soát hoặc ngăn cấm người phụ nữ tham gia các hoạt động xã hội hoặc kinh tế,.vv… Trong loại bạo hành này đáng chú ý là loại bạo hành ngôn ngữ. Bạo lực về kinh tế: một thành viên trong gia đình dùng quyền lực để ép buộc các thành viên khác, tạo sự lệ thuộc của họ về kinh tế, gồm các hành động hoặc quyết tâm thực hiện để đưa nạn nhân phụ thuộc vào tài chính, bao gồm các hành vi sau: ngưng hỗ trợ về tài chính và ngăn cản nạn nhân có một nghề nghiệp, công việc hợp pháp; kiểm soát tiền bạc, tước đoạt hay đe dọa tước đoạt các nguồn tài chính về quyền sử dụng, thừa hưởng của vợ, chồng, cộng đồng và quyền sở hữu tài sản nói chung; phá hủy tài sản trong gia đình; cưỡng ép các thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ,.vv… Bạo lực về tình dục: là hành động hoặc hành vi trong tình dục mà không được sự chấp nhận của người kia, bao gồm những hành động như cưỡng ép quan hệ tình dục, ngăn chặn sử dụng các biện pháp tránh thai hay bắt ép mang thai hoặc phá thai theo ý muốn của người chồng, bạn tình,… Hành vi này có thể diễn ra một lần hoặc lặp đi lặp lại nhiều lần và diễn ra cả trong quan hệ vợ chồng hoặc bạn tình. 10 Trong các hình thức bạo hành, bạo hành tình dục ít bị phát hiện và nạn nhân không được bảo vệ, vì ở nước ta tình dục là vấn đề hết sức tế nhị, khó tìm hiểu. Mỗi hình thức bạo lực được biểu hiện dưới nhiều hành vi khác nhau. Hành vi BLGĐ có thể nhìn thấy hoặc không nhìn thấy. Hành vi bạo lực nhìn thấy có thể bao gồm bạo lực thân thể, bạo lực tình dục. Hành vi bạo lực không nhìn thấy được bao gồm các hành vi bạo lực về tâm lý, tình cảm, tinh thần. Tuy nhiên, cách phân loại này chỉ là tương đối, trong thực tế rất khó để xác định vụ việc nào là bạo lực thể xác, vụ việc nào là bạo lực tinh thần,.vv…, bởi hành vi bạo lực thường đan xen nhau, vừa nhìn thấy được thể hiện qua những tổn thương về cơ thể, sức khỏe, vừa không nhìn thấy được thể hiện qua những tổn thương về tình cảm, tinh thần. Tại Khoản 1 Điều 2, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 chỉ rõ các hành vi bạo lực gia đình: - Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng; - Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm; - Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng; - Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau; - Cưỡng ép quan hệ tình dục; - Cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ; - Chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình; - Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính; - Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở. 11 1.1.2.2. Hậu quả của bạo lực gia đình đối với gia đình và xã hội Thứ nhất, bạo lực gia đình đã xâm phạm đến quyền con người, danh dự nhân phẩm tính mạng của mỗi cá nhân, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em. Thậm chí nó còn làm ảnh hưởng xấu đến thế hệ tương lai, xói mòn về đạo đức, mất tính dân chủ xã hội. Bạo lực gia đình dưới bất kỳ hình thức nào cũng để lại những tác động tiêu cực đến sức khỏe về thể chất, tinh thần không chỉ của nạn nhân mà còn cả các thành viên khác trong gia đình. Thứ hai, bạo lực gia đình tác động tiêu cực đến lực lượng lao động và do đó cũng tác động đến các hoạt động kinh tế. Bạo lực gia đình trực tiếp gây ra những tổn thất nặng nề như gia tăng bệnh tật và tự tử, mất sức lao động, mất khả năng tham gia sản xuất. Thứ ba, bạo lực gia đình làm gia tăng gánh nặng lên hệ thống y tế, an sinh, bảo trợ xã hội. Bạo lực gia đình đặt ra yêu cầu với hệ thống bảo trợ xã hội của quốc gia về việc trợ giúp và bảo vệ những nạn nhân là phụ nữ và trẻ em. Thứ tư, bạo lực gia đình làm gia tăng gánh nặng cho ngành giáo dục. BLGD có thể gây ra cho những đứa trẻ trong gia đình, cũng là những học sinh đang tuổi ăn tuổi học; tác động rất xấu đến sự phát triển thể chất, trí tuệ và đạo đức, ảnh hưởng nặng nề đến việc học tập, kỹ năng sống, hòa nhập xã hội của trẻ em. Những vết thương tâm hồn ấy sẽ in sâu vào tiềm thức và điều khiển hành vi của trẻ trong quá trình lớn lên, thậm chí có thể gây nên hiện tượng "chuyển giao hành vi bạo lực gia đình cho thế hệ sau". Thứ năm, bạo lực gia đình làm gia tăng gánh nặng lên hệ thống các cơ quan tư pháp khi phải tốn thời gian, công sức, chi phí để điều tra, truy tố, xét xử các vụ việc liên quan đến BLGĐ. Bên cạnh đó, hầu hết các vụ án ly hôn thường bắt đầu nguyên do từ bạo lực gia đình. 1.1.3. Phòng, chống bạo lực gia đình 1.1.3.1. Khái niệm phòng, chống bạo lực gia đình - Phòng bạo lực gia đình: Phòng bạo lực gia đình nhằm mục đích tìm ra được những biện pháp tác 12
- Xem thêm -