Tài liệu Thực hiện chính sách phát triển làng nghề truyền thống từ thực tiễn quận ngũ hành sơn, thành phố đà nẵng.

  • Số trang: 56 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 293 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI HOÀNG MINH HẢI THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG TỪ THỰC TIỄN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG HÀ NỘI - năm 2018 VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI HOÀNG MINH HẢI THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG TỪ THỰC TIỄN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Chuyên ngành : Chính sách công Mã số : 834. 04. 02 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS. TS. LƯU NGỌC TRỊNH HÀ NỘI - năm 2018 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Làng nghề truyền thống có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương cũng như nền kinh tế của nước ta, kể từ khi những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về đẩy mạnh khuyến khích phát triển các làng nghề gắn kết với việc phát triển kinh tế bền vững tại các địa phương. Những sản phẩm tinh xảo, độc đáo của làng nghề truyền thống ngoài việc cho chúng ta hiểu được bản sắc văn hóa, truyền thống của một vùng đất, mà còn có giá trị sử dụng, giá trị kinh tế cao đã cung cấp một khối lượng lớn, thoả mãn nhu cầu đa dạng các sản phẩm của làng nghề đối với thị trường trong và ngoài nước. Ngũ Hành Sơn nằm về phía Đông Nam thành phố Đà nẵng, với tổng diện tích tự nhiên là 4,1 km2, dân số khoảng 89.857 người với 4 đơn vị hành chính. Phía đông giáp biển Đông với chiều dài 12 km bờ biển là lợi thế để phát triển về kinh tế biển. Với vị trí địa lý thuận lợi do thiên nhiên ban tặng như vậy cho nên nền kinh tế ở Đà Nẵng, ngày càng phát triển thịnh vượn trên con đường hội nhập quốc tế. Làng điêu khắc tượng đá non nước Ngũ Hành Sơn Nước được hình thành cách đây hơn 400 năm với những sản phẩm đá mỹ nghệ tinh xảo nổi tiếng trong và ngoài nước, thu hút lượng du khách đáng kể đến tham quan và mua sắm hằng năm, sản phẩm được xuất khẩu đi đến nhiều nước trên thế giới không chỉ góp phần vào việc đưa kinh tế ở Đà Nẵng đi lên mà còn là một điểm thu hút khách du lịch lớn trên toàn Thế Giới đến với Việt Nam. Với bề dày lịch sử hình thành lâu đời cho nên việc kế thừa và phát huy, từ những kinh nghiệm được truyền từ đời này sang đời khác, đã làm nên những sản phẩm điêu khắc đá nổi tiếng. Tuy nhiên, làng điêu khắc đá truyền thống Non Nước, quận Ngũ Hành Sơn cũng như nhiều làng nghề khác trên cả nước, bên cạnh những lợi ích lớn như đã nêu trên, cũng đang đặt ra những vấn đề tồn tại, bất cập liên quan đến xu thế phát triển và tồn tại của các làng nghề nói chung: như xây dựng quy hoạch tổng thể cho các làng nghề truyền thống, xây dựng vùng nguyên liệu ổn định cho các làng nghề truyền thống, tìm kiếm thị trường tiêu thụ cho các sản phẩm của làng nghề truyền thống, xây dựng nguồn nhân lực cho các làng nghề truyền thống, phát triển làng nghề truyền thống gắn với việc bảo vệ môi trường sinh thái, phát triển làng nghề truyền thống gắn với du lịch để bảo tồn và phát huy các làng nghề truyền thống một cách bền vững và chính sách hỗ trợ về vốn, mặt bằng và thông tin để làng nghề tiếp tục phát triển,...Đây là những vấn đề được đặt ra trong quá trình hoạt động thực tiễn của làng nghề, nó ảnh hưởng không chỉ đến sự phát triển bền vững của các làng nghề truyền thống mà còn đến chiến lược, chính sách phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá nói chung của Đảng và Nhà nước ta. Để làng nghề truyền thống đá mỹ nghệ Non Nước phát triển một cách bền vững, thực sự phát huy tiềm năng và hiệu quả, đóng góp ngày một nhiều hơn cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng của thành phố Đà Nẵng nói chung và quận Ngũ Hành Sơn, đòi hỏi các cấp các ngành và lãnh đạo thành phố Đà Nẵng cần phải có những chính sách, giải pháp phù hợp và đảm bảo việc sản xuất cho làng nghề đá non nước, trong đó chú trọng vấn đề về môi trường sản xuất tại làng nghề, vấn đề bố trí đất cho hộ sản xuất bị thu hồi đất vào làng nghề, vấn đề chuyển đổi ngành nghề và tạo việc làm... Tất cả những điều này đòi hỏi phải nghiên cứu hoàn thiện các chính sách phát triển làng nghề cũng như vấn đề thực thi chính sách đối với sự phát triển của làng nghề truyền thống. Xuất phát từ thực tiễn và tính cấp bách của vấn đề, là một cán bộ đang công tác tại quận Ngũ Hành Sơn, được chứng kiến thực trạng sự phát triển của làng nghề đá mỹ nghệ ở đây, học viên quyết định chọn đề tài “Thực hiện chính sách phát triển làng nghề truyền thống từ thực tiễn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà nẵng” để thực hiện luận văn thạc sĩ chính sách công của mình. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Phát triển làng nghề truyền thống là vấn đề được các cấp, các ngành, các địa phương quan tâm, đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu và viết bài trên các sách báo, tạp chí, bài luận văn, đề tài khoa học, công trình nghiên cứu về chính sách phát triển làng nghề truyên thống, tiêu biểu về lĩnh vực này bao gồm: - Tác giả Bùi Văn Vượng “Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam” , đây là công trình giới thiệu một cách tổng quan về các làng nghề truyền thống ở Việt Nam. - Tác giả Trần Minh Yến “Làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, đây là công trình nghiên cứu mang tính tổng quan và chủ yếu tập trung nghiên cứu vị trí, tầm quan trọng của làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước ta hiện nay. - Đối với quận Ngũ Hành Sơn, có các công trình của nhóm tác giả Phùng Văn Thành, Hồ Thị Thanh Thúy và Lưu Vạn Tâm Anh về “Nghiên cứu xây dựng Lễ hội Thạch nghệ Tổ sư làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng” (2015). Tập trung nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp đổi mới tổ chức Lễ hội Thạch nghệ Tổ sư ở Làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước. - Đề án phát triển làng nghề đá Non nước quận Ngũ Hành Sơn của UBND quận Ngũ Hành Sơn. Những công trình nghiên cứu nêu trên đã cung cấp một lượng kiến thức, thông tin lớn về làng nghề truyền thống ở trên cả nước và ở thành phố Đà Nẵng, đã có thêmnguồn tư liệu tham khảo rất hữu ích cho bản thân trong quá trình thực hiện luận văn này. Các công trình nghiên cứu nêu trên mới chỉ đề cập đến làng nghề truyền thống nói chung đối với các làng nghề truyền thống nông nghiệp ở nông thôn, các vấn đề được phân tích chủ yếu về văn hoá làng nghề, chưa tập trung phân tích các giải pháp thực hiện chính sách đối với làng nghề truyền thống việc thực hiện chính sách phát triển làng nghề truyền thống còn mờ nhạt. Đặc biệt, đến nay chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu đầy đủ, có hệ thống về chính sách phát triển làng nghề đá mỹ nghệ truyền thống tại quận Ngũ Hành Sơn thành phố Đà Nẵng trong quá thực hiện đền bù, giải tỏa trong quá trình đô thị hóa.Trên cơ sở đó, luận văn tiếp tục nghiên cứu theo hướng chuyên sâu, cụ thể trên phạm vi làng nghề đá truyền thống quận Ngũ Hành Sơn nhằm nêu rõ những kết quả đạt được, tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của việc thực hiện chính sách phát triển làng nghề truyền thống đá mỹ nghệ trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng, 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu Là làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách phát triển làng nghề truyền thống. Qua đó, phân tích, đánh giá thực trạng chính sách phát triển làng nghề truyền thống đá mỹ nghệ Non Nước tại quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường công tác thực hiện chính sách phát triển làng nghề truyền thống đá mỹ nghệ Non Nước quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng nói riêng và trên cả nước nói chung. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt được mục tiêu trên, luận văn tập trung nghiên cứu các nhiệm vụ sau: Thứ nhất: Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về thực hiện chính sách phát triển đối với làng nghề truyền thống nói chung, làng nghề truyền thống đá mỹ nghệ Non Nước quận Ngũ Hành Sơn thành phố Đà Nẵng nói riêng. Thứ hai: Khảo sát, phân tích thực trạng việc thực hiện chính sách tại làng nghề điêu khắc Đá Mỹ nghệ Non Nước quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng nêu ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân. Thứ ba: Đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện chính sách phát triển làng nghề Đá Mỹ nghệ Non Nước, tôn vinh các giá trị truyền thống, mang bản sắc vùng miền, thân thiện với môi trường và văn minh trong thương mại trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là việc thực hiện hính sách phát triển làng nghề truyền thống nói chung và phát triển làng nghề truyền thống đá mỹ nghệ Non Nước quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng nói riêng. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Về nội dung, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn liên quan đến việc thực hiện chính sách của Nhà nước và của thành phố Đà Nẵng đối với làng nghề truyền thống Đá Mỹ nghệ Non Nước quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng không đi sâu nghiên cúu các vấn đề khác như truyền thống, văn hoá, cấu trúc, tổ chức.. của các làng nghề này. Về không gian, luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng thực hiện chính sách của Nhà nước và của thành phố Đà Nẵng đối với làng nghề truyền thống Đá Mỹ nghệ Non Nước quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng. Về thời gian, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng thực hiện chính sách của Nhà nước và của thành phố Đà Nẵng đối với làng nghề truyền thống Đá Mỹ nghệ Non Nước ở quận Ngũ Hành Sơn thành phố Đà Nẵng trong vòng 12 năm trở lại đây (2005 - 2017). 5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5.1. Phương pháp luận Luận văn dựa trên cơ sở chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Max - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng, Nhà nước; dựa trên cơ sở các chính sách đã ban hành để thực hiện đối với làng nghề truyền thống của nước ta hiện nay. 5.2. Phương pháp nghiên cứu Luận văn kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu phổ biến của khoa học xã hội để giải quyết các mục đích, yêu cầu và nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra. Cụ thể: - Phương pháp tổng hợp, phân tích: Trên cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý luận văn tập trung nghiên cứu, phân tích các công trình nghiên cứu hiện có và các tài liệu khác để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn liên quan đến thực hiện chính sách phát triển làng nghề truyền thống nói chung và làng nghề truyền thống Đá Mỹ nghệ Non Nước của quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng hiện nay (ở Chương 1). - Phương pháp tổng hợp, thống kê, phân tích, so sánh: Dựa vào các báo cáo chuyên môn của chính quyền địa phương các cấp, các báo cáo chuyên ngành, các tài liệu liên quan...kết hợp với phương pháp quan sát thực tế, đánh giá thực tế về hiện trạng phát triển của làng nghề truyền Thống đá Mỹ nghệ Non Nước ở quận Ngũ Hành Sơn thành phố Đà Nẵng (ở Chương II). - Phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh qua đó để đề xuất các quan điểm, giải pháp nhằm nâng caohiệu quả thực hiện các chính sách liên quan đến phát triển làng nghề truyền thống Đá Mỹ nghệ Non Nước quận Ngũ Hành Sơn thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới (ở Chương III). 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 6.1. Ý nghĩa lý luận Luận văn này là một trong số ít các nghiên cứu về chính sách phát triển làng nghề truyền thống nói chung và đặ biệt đối với làng nghề truyền thống Đá Mỹ nghệ Non Nước của quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng hiện nay. Kết quả nghiên cứu của luận văn đã vận dụng lý luận về đánh giá chính sách công trong quá trình triển khai, thực hiện chính sách nhằm phát hiện các vấn đề tồn tại, vướng mắc trong quá trình thực hiện chính sách phát triển làng nghề truyền thống làm cơ sở và định hướng cho việc đưa ra các khuyến nghị về thực hiện chính sách nói chung và các kiến nghị, đề xuất cho việc thực hiện chính sách phát triển làng nghề truyền thống Đá Mỹ nghệ Non Nước quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng nói riêng. 6.2. Ý nghĩa thực tiễn Các phân tich, đánh giá về thực hiện chính sách phát triển làng nghề truyền thống Đá Mỹ nghệ Non Nước quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng đã giúp nhìn nhận rõ hơn những kết quả, những tồn tại trong việc hoạch định chính sách và thực thi chính sách. Qua đó, đề xuất giúp cho cơ quan quản lý, các sở, ban ngành có liên quan, các nhà hoạch định chính sách có cơ sở khoa học và thực tiễn để vận dụng, điều chỉnh chính sách và tổ chức thực hiện chính sách phát triển làng nghề truyền thống Đá Mỹ nghệ Non Nước quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng đạt được các mục tiêu của chính sách. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, luận văn gồm 3 chương: - Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách phát triển làng nghề truyền thống ở nước ta hiện nay. - Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách đối với làng nghề truyền thống Đá Mỹ nghệ Non Nước trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng. - Chương 3: Quan điểm, giải pháp nhằm thực hiện tốt chính sách phát triển làng nghề truyền thống Đá Mỹ nghệ Non Nước quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng thời gian tới. CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 1.1. Khái niệm làng nghề truyền thống, đặc điểm và phân loại 1.1.1. Khái niệm làng nghề và làng nghề truyền thống Quan điểm thứ nhất, “Làng nghề truyền thống là làng nghề cổ truyền làm nghề thủ công. Ở đây, các hộ dân trong làng không nhất thiết tất cả các hộ dân trong làng đều sản xuất hàng thủ công. Mà người thợ thủ công nhiều trường hợp cũng đồng thời làm nghề nông, nhưng yêu cầu và đòi hỏi về chuyên môn, kỹ thuật tay nghề cao tạo nên những sản phẩm độc đáo do những người thợ chuyên sản xuất hàng truyền thống ngay tại làng nghề của mình” [40, tr.10]. Quan điểm thứ hai, “Làng nghề là một nơi quần cư đông người, sinh hoạt có tổ chức, có kỷ cương tập quán riêng theo nghĩa rộng. Làng nghề không những là một làng sống chuyên nghề mà là những người cùng nghề sống hợp quần thể để phát triển tạo ra việc làm lúc nông nhàn. Đực trưng của các làng nghề Việt nam đó là vừa phát triển kinh tế, vừa giữ gìn bản sắc dân tộc và nó có những đặc trưng khác biệt của địa phương so với các địa phương khác” [43, tr.32]. Quan điểm thứ ba, “Làng nghề là một thiết chế kinh tế - xã hội ở nông thôn, được cấu thành bởi hai yếu tố là làng và nghề, làng nghề đó tồn tại trong một không gian nhất định trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chủ yếu, giữa họ có những mối liên kết về kinh tế, xã hội và văn hóa” [42, tr.21]. Quan điểm thứ tư, “Làng nghề là một thực thể vật chất và tinh thần được tồn tại cố định về mặt địa lý, ổn định về nghề nghiệp hay một nhóm các nghề có mối liên hệ mật thiết với nhau để làm ra một sản phẩm, có bề dày lịch sử và được tồn tại lưu truyền trong dân gian” [11, tr.45]. Về mặt pháp lý, tại Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 của Chính phủ quy đinh, theo đó có thể hiểu: Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau. Nghề truyền thốnglà nghề được hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính chất riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc đang có nguy cơ bị mai một hoặc thất truyền. Làng nghề truyền thống, là làng có nghề truyền thống được hình thành từ lâu đời tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận. Làng nghề truyền thống phải có đủ các tiêu chí của làng nghề, đồng thời phải có ít nhất một nghề truyền thống tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hoá dân tộc; nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề. Từ những cơ sở về các khái niệm trên, có thể khái niệm về làng nghề truyền thống đó là: Một đơn vị thôn làng đã và đang làm ra một hoặc một số loại sản phẩm tiêu dùng hay nghệ thuật bằng những phương pháp truyền thống từ lâu đời và nguyên liệu đặc thù ở địa phương, được pháp luật công nhận có đủ các tiêu chí của một làng nghề truyền thống. 1.1.2. Phân loại và đặc điểm của làng nghề truyền thống ở Việt Nam Ở nước ta nhiều nghề thủ công ra đời nhằm tận dụng lúc nông nhàn của đại bộ phận dân cư nông nghiệp, dần phát triển thành sản xuất ra các sản phẩm độc đáo, tiến hành trao đổi hàng hóa và tìm kiếm thu nhập ngoài nghề nông, từ đó hình thành và phát triển nên các làng nghề và làng nghề truyến thống. Dù nhiều làng nghề thất truyền cùng với thời gian, theo thống kê cho thấy ở nước ta hiện nay có khoảng 5.096 làng nghề và làng có nghề, có 1.839 làng nghề đầy đủ các tiêu chí theo quy định của Chính phủ... [44, tr.29]. Được phân loại như sau: Theo chất liệu tạo ra sản phẩm, thì các làng nghề được chia ra làm 14 nhóm, đó là: Đá mỹ nghệ; Đồ gỗ; Mây tre đan, kể cả các sản phẩm đan lát, bện thủ công; Cói; Gốm sứ; Sơn mài, khảm trai; Thêu ren, Dệt; Cây cảnh; Giấy thủ công; Tranh nghệ thuật , hoa các loại bằng vải, lụa, giấy; Trò chơi dân gian; Sản phẩm kim khí; Chế biến nông sản và thực phẩm [48, tr.49]. Theo nhóm sản phẩm, thì có16 nhóm đó là: Điêu khắc, chạm khắc gỗ; Thủ công mỹ nghệ; Mây tre đan; Gốm, sứ, pha lê; Dâu tằm; Làm giấy; Làm trống; Chế biến thực phẩm; Thêu, dệt, lụa; Đánh bắt, chế biến hải sản; Đúc đồng, chạm bạc; Đóng, sửa chữa tàu thuyền; Sản xuất hàng dân dụng; Hoa, cây cảnh; Làm chiếu; Sơn mài. Việc phân làng nghề truyền thống như trên chỉ là theo quy ước, bởi vì cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu đầy đủ và cụ thể về phương pháp phân nhóm làng nghề. Mặc dù được phân nhóm, song các làng nghề truyền thống hiện nay thường có những đặc điểm chung như sau: - Đặc điểm nổi bật nhất của các làng nghề là tồn tại ở nông thôn, gắn bó chặt chẽ với nông nghiệp, các làng nghề xuất hiện trong từng làng- xã ở nông thôn sau đó các ngành nghề được tách dần nhưng không rời khỏi nông thôn, sản xuất nông nghiệp và sản xuất- kinh doanh thủ công nghiệp trong các làng nghề đan xen lẫn nhau. người thợ thủ công trước hết và đồng thời là người nông dân. - Hai là, công nghệ kỹ thuật sản xuất sản phẩm trong các làng nghề, đặc biệt là các làng nghề truyền thống thường rất thô sơ, lạc hậu, sử dụng kỹ thuật thủ công là chủ yếu công cụ lao động trong các làng nghề đa số là công cụ thủ công, công nghệ sản xuất mang tính đơn chiếc. nhiều loại sản phẩm có công nghệ- kỹ thuật hoàn toàn phải dựa vào đôi bàn tay khéo léo của người thợ mặc dù hiện nay đã có sự cơ khí hoá và điện khí hoá từng bước trong sản xuất, song cũng chỉ có một số không nhiều nghề có khả năng cơ giới hoá được một số công đoạn trong sản xuất sản phẩm. - Ba là, đại bộ phận nguyên vật liệu của các làng nghề thường là tại chỗ. hầu hết các làng nghề truyền thống được hình thành xuất phát từ sự sẵn có của nguồn nguyên liệu sẵn có tại chỗ, trên địa bàn địa phương. cũng có thể có một số nguyên liệu phải nhập từ vùng khác hoặc từ nước... song không nhiều. - Bốn là, phần đông lao động trong các làng nghề là lao động thủ công, nhờ vào kỹ thuật khéo léo, tinh xảo của đôi bàn tay, vào đầu óc thẩm mỹ và sáng tạo của người thợ, của các nghệ nhân. trước kia, do trình độ khoa học và công nghệ chưa phát triển thì hầu hết các công đoạn trong quy trình sản xuất đều là thủ công, giản đơn. ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa họccông nghệ, việc ứng dụng khoa học- công nghệ mới vào nhiều công đoạn trong sản xuất của làng nghề đã giảm bớt được lượng lao động thủ công, giản đơn. tuy nhiên, một số loại sản phẩm còn có một số công đoạn trong quy trình sản xuất vẫn phải duy trì kỹ thuật lao động thủ công tinh xảo. việc dạy nghề trước đây chủ yếu theo phương thức truyền nghề trong các gia đinh từ đời này sang đời khác và chỉ khuôn lại trong từng làng. sau hoà bình lập lại, nhiều cơ sở quốc doanh và hợp tác xã làm nghề thủ công truyền thống ra đời, làm cho phương thức truyền nghề và dậy nghề đã có nhiều thay đổi, mang tính đa dạng và phong phú hơn. - Năm là, sản phẩm làng nghề, đặc biệt là làng nghề mang tính đơn chiếc, có tính mỹ thuật cao, mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc. các sản phẩm làng nghề truyền thống vừa có giá trị sử dụng, vừa có giá trị thẩm mỹ cao, vì nhiều loại sản phẩm vừa phục vụ nhu cầu tiêu dùng, vừa là vật trang trí trong nhà, đền chùa, công sở nhà nước... các sản phẩm đều là sự kết giao giữa phương pháp thủ công tinh xảo với sự sáng tạo nghệ thuật. Tất cả đều mang vóc dáng dân tộc, quê hương, chứa đựng ảnh hưởng về văn hoá tinh thần, quan niệm về nhân văn và tín ngưỡng, tôn giáo của dân tộc. - Sáu là, thị trường tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề hầu hết mang tính địa phương, tại chỗ và nhỏ hẹp. bởi sự ra đời của các làng nghề, đặc biệt là các làng nghề truyền thống, là xuất phát từ việc đáp ứng nhu cầu về hàng tiêu dùng tại chỗ của các địa phương. ở mỗi một làng nghề hoặc một cụm làng nghề đều có các chợ dùng làm nơi trao đổi, buôn bán, tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề. cho đến nay, thị trường làng nghề về cơ bản vẫn là các thị trường trong nước và một phần cho xuất khẩu. - Bảy là, hình thức tổ chức sản xuất trong các làng nghề chủ yếu là ở quy mô hộ gia đình, một số đã có sự phát triển thành tổ chức hợp tác và doanh nghiệp tư nhân. - Tám là, về phát triển du lịch: Các làng nghề truyền thống có sức hấp dẫn mới, lạ thu hút du khách đực biệt là du khách quốc tế. Do vậy phát triển du lịch tại các làng nghề truyền thống là một giải pháp hữu hiệu để phát triển kinh tế xã hội ở địa phương theo hướng tích cực và bền vững. - Chín là, các cơ sở sản xuất ở làng nghề là có vốn đầu tư không lớn, nhưng giá trị làm ra không nhỏ, thời gian thu hồi vốn nhanh. Kết cấu hạ tầng làng nghề không đòi hỏi cao như các ngành công nghiệp hiện đại, các khu công nghiệptập trung. Những nơi không thuận lợi trong việc phát triển công nghiệp quy mô lớn thì có thể phát triển tiểu thủ công nghiệp nông thôn. Việc quản lý cơ sở làng nghề không phức tạp, phù hợp trình độ của chủ hộ, chủ doanh nghiệp xuất thân là nông dân. *****1.1.3. Khái niệm, đặc điểm của làng nghề truyền thống đá mỹ nghệ Trên cơ sở các khái niệm về làng nghề và làng nghề truyền thống nêu trên, có thể khái quát về khái niệm làng nghề truyền thống đá mỹ nghệ, như sau: Làng nghề truyền thống đá mỹ nghệ là một đơn vị thôn làng đã và đang làm ra một hoặc một số loại sản phẩm bằng các loại đá quý có giá trị sử dụng và giá trị nghệ thuật cao, sử dụng những phương pháp điêu khắc, chế tác đá truyền thống được các nghệ nhân của làng nghề truyền dạy qua nhiều đời. Do những đặc điểm chung của làng nghề truyền thống, có thể rút ra những đặc điểm riêng của làng nghề truyền thống đá Mỹ nghệ Non Nước quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng, như sau: - Làng nghề truyền thống đá Mỹ nghệ Non Nước, quận Ngũ Hành Sơn chỉ sản xuất và kinh doanh các sản phẩm được tạo ra từ nguyên liệu bằng đá, có giá trị sử dụng, giá trị kinh tế và chứa giá trị nghệ thuật cao. - Những tạo sản phẩm của làng nghề truyền thống đá mỹ nghệ chủ yếu sử dụng những kinh nghiệm và phương pháp cổ truyền được các nghệ nhân đúc kết kinh nghiệm. 1.2 Quan điểm về phát triển và vai trò làng nghề truyền thống 1.2.1 Quan điểm về phát triển ngành nghề truyền thống Các ngành nghề nông thôn là tiền đề cho phát triển mạnh công nghiệp nông thôn, tiểu thủ công nghiệp cần vốn đầu tư ít, thu lãi nhanh, có sức sống linh hoạt mềm dẻo, có khả năng chuyển hướng sản xuất khi thị trường biến động. Phát triển làng nghề phải gắn với công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Các ngành nghề truyền thống ở nước ta rất đa dạng, được phân bố rộng khắp các vùng trong nông thôn, trong giai đoạn đất nước bước vào công nghiệp hoá – hiện đại hoá đòi hỏi các ngành phải từng bước đổi mới trang thiết bị áp dụng những công nghệ tiên tiến vào sản xuất, dịch vụ. Phát triển các làng nghề, ngành nghề truyền thống phải lấy hiệu quả kinh tế xã hội làm thước đo. Trước hết nhằm khôi phục lại sản xuất những ngành nghề đã bị mai một, phát triển mạnh những ngành nghề đang còn tồn tại, duy trì và tăng số lượng các ngành nghề tăng số hộ, số lao động trên cơ sở đó tăng sản lượng, sản phẩm phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu, về mặt xã hội thì phát triển ngành nghề nhằm tạo thêm nhiều chỗ làm việc mới, góp phần giảm bớt tình trạng thất nghiệp trầm trọng ở nông thôn, tạo điều kiện cho các hộ gia đình và người lao động tăng thu nhập ổn định và cải thiện đời sống… Đi đôi với nâng cao năng suất lao động và phát triển kinh tế của các làng nghề là quá trình không ngừng nâng cao chất lượng của đội ngũ lao động thông qua công tác đào tạo kỹ thuật, tay nghề cho người lao động, bồi dưỡng kiến thức và kinh nghiệm quản lý kinh tế, kiến thức thị trường cho đội ngũ những người quản lý. Chú trọng nâng cao trình độ dân trí văn hoá cho lao động và dân cư trong các làng nghề đặc biệt là lớp trẻ, của các hộ gia đình ngành nghề - đó là lực lượng nòng cốt để duy trì và phát triển các ngành nghề trong tương lai. Phát triển các làng nghề nói chung và các làng nghề truyền thống nói riêng phải đi đôi với chủ trương xây dựng và phát triển nông thôn mới, bảo tồn và giữ gìn các phong tục tập quán dân gian của dân tộc gắn với việc bảo vệ môi trường sinh thái. Mỗi ngành nghề, làng nghề đều có những nét riêng và đặc trưng riêng cần được giữ gìn bảo tồn. Cùng với phát triển kinh tế, chú ý đến các biện pháp xử lý ô nhiễm môi trường bảo vệ sức khoẻ, đời sống nhân dân. 1.2.2Vai trò của làng nghề truyền thống Việt Nam là một đất nước xuất phát từ một nền văn minh lúa nước, với sự sáng tạo của người nông dân qua bao thế hệ đã sản sinh ra nhiều ngành, nghề thủ công truyền thống, các ngành nghề truyền thống đã tồn tại, trải qua nhiều thăng trầm và phát triển của lịch sử dân tộc cho đến ngày nay. Những ngành, nghề thủ công truyền thống đã tồn tại và phát triển góp phần gìn giữ nét đẹp văn hóa của cha ông chúng ta để lại và tạo điều kiện cho xã hội phát triển. Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển nông thôn mới, làng nghề truyền thống đóng vai trò rất quan trọng. - Góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động ở nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo: Người nông dân tham gia sản xuất nông nghiệp thường theo mùa vụ nên thường xuyên có những thời gian nhàn rỗi dẫn đến dư thừa sức lao động. Trong lúc nhàn rỗi, người nông dân có thể tham gia vào sản xuất các sản phẩm truyền thống. Không những sức lao động sẽ được sử dụng triệt để mà việc sản xuất còn tăng thu nhập cho các hộ gia đình, đảm bảo cuộc sống. Đặc biệt, các ngành nghề truyền thống không kén chọn nên có thể sử dụng lao động với độ tuổi rất phong phú. Có thể là người già, trẻ em và cả người khuyết tật. Chính vì thế, làng nghề truyền thống đã, đang và sẽ giải quyết vấn đề việc làm cho rất nhiều người, giảm bớt gánh nặng cho nhà nước. - Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động nông thôn ngày càng hợp lý hơn và khai thác vốn kỹ thuật của dân: Theo đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, việc phát triển làng nghề sẽ tận dụng được nguồn nguyên liệu là sản phẩm của ngành nông nghiệp hoặc công cụ sản xuất nông - lâm nghiệp làm tăng khả năng tích lũy vốn và kỹ thuật, hỗ trợ cho nông nghiệp, công nghiệp và các loại hình dịch vụ khác ở nông thôn phát triển. Các vùng nông thôn chủ yếu là cơ cấu kinh tế nông nghiệp, chiếm hơn một nửa. Chính vì thế, nếu làng nghề phát triển sẽ trở thành trung tâm kinh tế cho địa phương, thúc đẩy quá trình nông thôn mới, động viện người dân không tha phương, giảm bớt làn sóng nhập cư về thành phố gây ra nhiều vấn đề. Chính vì thế, trong chương trình xây dựng nông thôn mới phải có những biện pháp giải cứu cho làng nghề, trước hết tháo gỡ khó khăn về kinh tế, về sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, giải quyết công ăn việc làm cho hàng triệu lao động, nhất là nhiều người mất việc làm ở thành phố, khu công nghiệp trở về làng. Quá trình sản xuất các sản phẩm của làng nghề đã tận dụng một cách triệt để các yếu tố về vốn, lao động, kỹ thuật của từng hộ gia đình. Tất cả mọi thành viên trong gia đình đều có thể tham gia sản xuất các mặt hàng truyền thống. Nhờ đó mà những ngành nghề ông cha để lại không bị mai một, ngược lại ngày càng phát triển đáp ứng đúng nhu cầu thị trường. -Góp phần bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc. Do hầu hết các làng nghề và làng nghề truyền thống được hình thành và phát triển từ sự sáng tạo trong quá trình lao động của người nông dân và các nghệ nhân dân gian nên trong sản phẩm làng nghề từ kiểu dáng, mẫu mã đều mang đậm nét về bản sắc văn hoá của từng địaphương. Lịch sử phát triển của các làng nghề truyền thống gắn với lịch sử phát triển văn hóa dân tộc. Nhiều sản phẩm truyền thống có tính nghệ thuật cao, trongđó thể hiện những sắc thái riêng của mỗi làng nghề. Bảo tồn và phát triển cáclàngnghề truyền thống chính là sự kế thừa và phát huy đội ngũ nghệ nhân có bàn taykhéo léo cùng những bí quyết nghề quý giá và thông qua đó bảo tồn những nét độcđáo của bản sắc dân tộc Việt Nam nói chung và của làng nghề truyền thống Đá Mỹ nghệ Non Nước quận Ngũ Hành Sơn nói riêng trong cộngđồng quốc tế. Ngoài việc tạo sản phẩm, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ hànghoá, nhiều làng nghề đã hình thành việc liên kết có tính cộng đồng theo từngnhóm làng nghề, duy trì các truyền thống, lễ hội theo nhóm ngành nghề. Thông qua việc tạo ra các sản phẩm của làng nghề, cộngđồng dân cư trở nên gắn bó hơn trong cuộc sống, góp phần
- Xem thêm -