Tài liệu Thực hiện chính sách phát triển du lịch trên địa bàn thành phố lạng sơn, tỉnh lạng sơn

  • Số trang: 99 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 348 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI HOÀNG MINH THẢO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG HÀ NỘI, 2019 VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI HOÀNG MINH THẢO THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN Ngành: Chính sách công Mã số: 8.34.04.02 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. CAO THU HẰNG HÀ NỘI, 2019 LỜI CAM ĐOAN Tôi cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn thạc sĩ Chính sách công về "Thực hiện chính sách phát triển du lịch trên địa bàn thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn" là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực. Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này. Tác giả luận văn Hoàng Minh Thảo DANH MỤC CÁC TỪ NGỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt APEC Nội dung Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á CCHC Cải cách hành chính CSLT Cơ sở lưu trú Du lịch MICE Là loại hình du lịch kết hợp hội nghị, hội thảo, triển lãm, tổ chức sự kiện… FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài GDP Tổng sản phẩm quốc nội GRDP Tổng sản phẩm trên địa bàn GTVT Giao thông Vận tải KHCN Khoa học công nghệ KHĐT Kế hoạch Đầu tư KHXH Khoa học xã hội LĐTBXH Lao động - Thương binh và Xã hội LHQ Liên hiệp quốc NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn TNMT Tài nguyên Môi trường TTTT Thông tin truyền thông UBND Ủy ban nhân dân UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp quốc VHTT Văn hóa Thông tin VHTT&DL Văn hóa - Thể thao và Du lịch WTO Tổ chức Thương mại thế giới MỤC LỤC MỞ ĐẦU ......................................................................................................................... 1 Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ............................................ 11 1.1. Khái niệm du lịch, chính sách phát triển du lịch, thực hiện chính sách phát triển du lịch ................................................................................................................................................... 11 1.2. Quy trình thực hiện chính sách phát triển du lịch ........................................................... 21 1.3. Các chủ thể chủ yếu tham gia vào công tác thực hiện chính sách phát triển du lịch ở Việt Nam hiện nay ................................................................................................................... 24 1.4. Các yếu tố tác động đến việc thực hiện chính sách phát triển du lịch ở Việt Nam hiện nay ............................................................................................................................................. 29 Chương 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN ........... 32 2.2. Thực trạng thực hiện chính sách phát triển du lịch trên địa bàn thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn ........................................................................................................................... 39 2.3. Một số hạn chế trong việc thực hiện chính sách phát triển du lịch trên địa bàn thành phố Lạng Sơn ........................................................................................................................... 50 2.4. Kinh nghiệm của một số quốc gia và một số địa phương trong nước trong việc thực hiện chính sách phát triển du lịch ............................................................................................ 54 Chương 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN ..................................................... 58 3.1. Quan điểm, mục tiêu phát triển du lịch của thành phố Lạng Sơn trong thời gian tới .. 58 3.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển du lịch trên địa bàn thành phố Lạng Sơn.................................................................................................... 60 KẾT LUẬN .................................................................................................................. 79 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................. 81 DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ BẢNG Bảng 2.1: Tổng hợp đất đai của thành phố Lạng Sơn ...............................................87 Bảng 2.2: Hiện trạng CSLT du lịch trên địa bàn thành phố Lạng Sơn .....................88 Bảng 2.3: Thống kê lượng khách du lịch đến thành phố Lạng Sơn..........................90 giai đoạn 2010 - 2017 ................................................................................................90 Bảng 2.4: Tổng thu từ khách du lịch của Thành phố ................................................91 giai đoạn 2010 - 2017 ................................................................................................91 Bảng 2.5: Tổng số lao động về du lịch trên địa bàn thành phố Lạng Sơn giai đoạn 2010 - 2017 ...............................................................................................................93 SƠ ĐỒ Sơ đồ 2.1: Hiện trạng CSLT du lịch trên địa bàn thành phố Lạng Sơn ....................89 Sơ đồ 2.2. Thống kê lượng khách du lịch đến Thành phố giai đoạn 2010 - 2017 ...91 Sơ đồ 2.3: Tổng thu từ khách du lịch của Thành phố giai đoạn 2010 - 2017 ...........92 Sơ đồ 2.4: Tổng số lao động về du lịch trên địa bàn thành phố Lạng Sơn 2010 2017 ...........................................................................................................................93 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Toàn cầu hóa, cạnh tranh quốc tế ngày càng gia tăng, du lịch đã và đang trở thành ngành kinh tế dịch vụ phát triển nhanh và lớn nhất trên thế giới. Đối với các quốc gia phát triển, du lịch không chỉ đóng góp quan trọng vào nền kinh tế mà còn là sự hỗ trợ đắc lực cho nền kinh tế trong những thời điểm khó khăn. Các nước đang phát triển, du lịch ngày càng trở thành công cụ hữu hiệu, nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng dân cư, góp phần xóa đói giảm nghèo và tăng trưởng kinh tế. Du lịch thế giới đang phát triển nhanh và mạnh, là ngành kinh tế giữ được sự tăng trưởng liên tụ, tạo ra nhiều việc làm và đóng góp lớn vào sự phát triển kinh tế, do đó chính sách phát triển du lịch đúng đắn, biết khơi dậy và phát huy tiềm năng du lịch sẽ giúp kinh tế của địa phương. Đối với Việt Nam, điều kiện chính trị ổn định, ngoại giao mở rộng, sự quan tâm của Đảng và Nhà nước cùng với thành tựu du lịch giai đoạn vừa qua đã tạo đà quan trọng cho du lịch phát triển lên tầm cao mới. Các Nghị quyết của Đảng qua các kỳ Đại hội đã xác định du lịch là ngành kinh tế dịch vụ quan trọng cần thúc đẩy phát triển để thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Luật Du lịch và các văn bản liên quan đã đi vào cuộc sống; các chương trình hành động quốc gia về du lịch, chương trình xúc tiến du lịch quốc gia, chương trình hỗ trợ phát triển hạ tầng du lịch và các đề án phát triển du lịch đã mang lại kết quả tăng trưởng đáng khích lệ. Đầu tư du lịch được đẩy mạnh, kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất du lịch được cải thiện, nâng cấp từng bước hiện đại; sản phẩm du lịch mở rộng loại hình và chất lượng được nâng dần; xúc tiến quảng bá du lịch được quan tâm; quản lý nhà nước về du lịch được đổi mới; nhận thức du lịch ngày càng cải thiện. Ngành du lịch Việt Nam đã có những bước phát triển đáng ghi nhận, trở thành ngành kinh tế quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Năm 2017, Việt Nam đón 12,92 triệu lượt khách du lịch quốc tế và 73,2 triệu lượt khách du lịch nội địa; ngành du lịch đã đóng góp khoảng 396.000 tỷ đồng; tạo ra gần 2,5 triệu việc làm, trong đó có 620.000 lao động trực tiếp du lịch [36]. 1 Thực hiện chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, của Ủy ban Nhân dân tỉnh Lạng Sơn, trong những năm qua, thành phố Lạng Sơn đã chú trọng phát triển du lịch. Là trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội của tỉnh Lạng Sơn, thành phố Lạng Sơn là một thành phố miền núi phía Đông Bắc của Việt Nam, có điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch; với những vùng núi đá cao, khí hậu quanh năm mát mẻ, dễ chịu; có quần thể hang động tự nhiên lớn nhỏ là tiềm năng quan trọng để du khách thập phương tham quan tìm hiểu ; nhiều danh lam thắng cảnh của thành phố Lạng Sơn đã đi vào ca dao, lịch sử, tiếng hát, lời ru, được nhiều người biết đến: “Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa Có nàng Tô Thị có chùa Tam Thanh…” Thành phố cũng là nơi có nhiều di tích, danh thắng gắn với những sự kiện lịch sử như thành Nhà Mạc, Thành cổ Lạng Sơn, di chỉ khảo cổ học Mai Pha; với hệ thống các đền, chùa đã được xếp hạng… Đây cũng là nơi cư trú của nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống như: Kinh, Tày, Nùng, Dao, Hoa...với nhiều nét đẹp mang đậm bản sắc văn hoá truyền thống phong tục tập quán trong sản xuất cũng như trong sinh hoạt đời thường. Với những cảnh quan và tài nguyên có giá trị như vậy, có thể thấy, thành phố Lạng Sơn thực sự là nơi lý tưởng cho phát triển du lịch. Trong những năm qua, nhờ thực hiện tốt các quan điểm chỉ đạo, lĩnh vực du lịch trên địa bàn thành phố Lạng Sơn đã có những thành tựu đáng kể. Các di tích, danh thắng được quan tâm tu bổ, tôn tạo; các nhà hàng, cơ sở lưu trú du lịch được xây dựng, nâng cấp, đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch; số lao động hoạt động trong lĩnh vực du lịch ngày càng tăng; Thành phố đã tích cực tham gia các sự kiện văn hoá trong, ngoài tỉnh; tổ chức các lễ hội truyền thống, Tuần văn hóa - thể thao và du lịch... nhằm quảng bá, đưa hình ảnh thành phố Lạng Sơn đến với bạn bè trong và ngoài nước. Khách du lịch đến với thành phố tăng qua các năm, từ 1,2 triệu lượt người năm 2010 đã tăng lên hơn 1,7 triệu lượt năm 2017 và 6 tháng đầu năm 2018 đạt hơn 1 triệu lượt khách [59]. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, du lịch của thành phố Lạng Sơn phát triển chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế. Sản phẩm du lịch chưa phong 2 phú; chưa có nhiều điểm, khu du lịch, khu vui chơi giải trí; số lượng du khách đến với thành phố hằng năm tăng, song vẫn thấp hơn nhiều so với các tỉnh, thành trong khu vực. Chưa thu hút được các doanh nghiệp, nhà đầu tư vào các hoạt động du lịch; công tác thông tin quảng bá, xúc tiến đầu tư về du lịch còn hạn chế. Điều này do những nguyên nhân khác nhau; song có thể thấy, một trong những nguyên nhân gây nên hiện tượng trên là do việc thực thi chính sách phát triển du lịch chưa thực sự tốt. Việc thực hiện tốt chính sách phát triển du lịch sẽ tạo tiền đề cho ngành kinh tế du lịch phát triển, kéo theo sự phát triển các ngành kinh tế dịch vụ tại địa phương. Đồng thời để có thể thực hiện tốt hơn nữa các các quan điểm của Đảng, Nhà nước về phát triển du lịch trên địa bàn thành phố Lạng Sơn, để trong tương lai thành phố Lạng Sơn trở thành một trong những trung tâm du lịch tầm cỡ của khu vực và quốc tế như Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII đề ra, tôi lựa chọn vấn đề "Thực hiện chính sách phát triển du lịch trên địa bàn thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn" làm đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Chính sách công. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Trong những năm gần đây, du lịch đã trở thành một ngành kinh tế được quan tâm, nhiều địa phương đã và đang phấn đấu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng, kinh tế mũi nhọn. Vì vậy, vấn đề du lịch, thực hiện chính sách phát triển du lịch đã có một số công trình triển khai nghiên cứu. Về cơ bản, thứ nhất, nghiên cứu về du lịch ở góc độ chung nhất, có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau: Công trình Du lịch bền vững của tác giả Nguyễn Đình Hòe và Vũ Văn Hiếu (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001) đã đề cập đến vị trí của du lịch trong phát triển, tác động của du lịch đến yếu tố sinh thái tự nhiên, tác động đến liên hệ xã hội - nhân văn,… Công trình cũng đề cập đến một số chính sách du lịch bền vững trên thế giới, đến du lịch bền vững ở vùng biển, vùng núi, vùng sinh thái hoang sơ… Có thể thấy, những nội dung trong công trình Du lịch bền vững, đặc biệt là vấn đề du lịch bền vững và du lịch bền vững ở vùng núi là tài liệu tham khảo cho tác giả luận văn khi triển khai, nghiên cứu đề tài của mình [18]. 3 Tác giả Phạm Trung Lương và cộng sự trong công trình nghiên cứu Cơ sở khoa học và giải pháp phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam đã làm rõ được thực trạng phát triển du lịch Việt Nam trong những năm gần đây, bao gồm cả những thành tựu và hạn chế; khẳng định rằng, Việt Nam muốn coi du lịch như một ngành kinh tế trọng điểm thì cần có quan điểm, giải pháp phát triển du lịch một cách bền vững. Qua đó, công trình cũng đã đề xuất một số giải pháp phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam hiện nay, bao gồm cả những giải pháp về kinh tế, môi trường, thể chế và văn hóa, xã hội,..[26]. Trong công trình Nghiên cứu đề xuất các giải pháp đầu tư phát triển khu du lịch, tác giả Lê Văn Minh đã đề cập đến vai trò của đầu tư trong phát triển du lịch, thể hiện ở các khía cạnh kinh tế, văn hóa, xã hội. Qua đó, công trình đã đề xuất một số giải pháp nhằm tổ chức, quản lý khu du lịch, phát huy vai trò của cộng đồng, cải cách hành chính… nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư khu du lịch. Dù không trực tiếp đề cập đến vấn đề thực hiện chính sách phát triển du lịch, nhưng những đánh giá, đặc biệt là những đề xuất của tác giả Lê Văn Minh trong bài viết này là những tài liệu tham khảo quý cho học viên triển khai nghiên cứu đề tài, trong việc xem xét, tham khảo các giải pháp mà tác giả đề xuất [28]. Văn hóa du lịch của Nguyễn Phạm Hùng (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2017): công trình đã đề cập đến những vấn đề chung về văn hóa du lịch, đến vai trò của văn hóa vật thể, văn hóa phi vật thể trong phát triển du lịch; vấn đề kinh doanh du lịch, vấn đề bảo vệ di sản văn hóa trong phát triển du lịch… Dù không trực tiếp bàn về việc thực hiện chính sách phát triển du lịch, nhưng những nội dung triển khai trong công trình của tác giả Nguyễn Phạm Hùng là tài liệu tham khảo quý báu cho tác giả luận văn trong quá trình triển khai đề tài nghiên cứu của mình [20]. Công trình Du lịch Việt Nam - từ lý thuyết đến thực tiễn của tác giả Phan Huy Xu và Võ Văn Thành (Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2018) đã đề cập đến một số vấn đề về phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam hiện nay; khẳng định rằng, du lịch là một công cụ hữu hiệu để quảng bá giá trị văn hóa Việt Nam ra thế giới; góp phần phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo. Công trình cũng đã đề cập đến vai trò 4 của cộng đồng địa phương trong phát triển du lịch cộng đồng, vai trò của du lịch tâm linh,…[61]. Ngoài các công trình trên, còn có các bài viết nghiên cứu về vấn đề phát triển du lịch, qua đó cho thấy cả vấn đề lý luận và thực tiễn của chính sách du lịch ở Việt Nam hiện nay. Đó là bài viết của tác giả Phạm Từ (2008), Phát triển du lịch - nhìn từ góc độ kinh tế và văn hóa, Tạp chí Cộng sản số 2-2008, Hà Nội. Bài viết đã đề cập, phân tích bản chất của du lịch là văn hóa và kinh tế vừa là phương tiện vừa là mục tiêu phát triển du lịch; những vấn đề đặt ra đối với du lịch Việt Nam, từ đó đề ra các giải pháp để đạt mục tiêu phát triển du lịch nhanh và bền vững. Nguyễn Văn Tuấn (2014), Du lịch Việt Nam trước yêu cầu phát triển và hội nhập khu vực và quốc tế: Bài nghiên cứu đã nêu lên những cơ hội, thách thức của du lịch Việt Nam, đề ra quan điểm trọng tâm có tính đột phá trong Chiến lược phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, đó là: Chuyển từ phát triển trên diện rộng sang phát triển theo chiều sâu; phát triển du lịch theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, có trọng tâm, trọng điểm; đảm bảo chất lượng và hiệu quả, khẳng định thương hiệu và khả năng cạnh tranh. Theo đó, về mục tiêu phát triển đến năm 2020, đưa du lịch cơ bản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có tính chuyên nghiệp, có hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật tương đối đồng bộ, hiện đại; sản phẩm du lịch có chất lượng cao, đa dạng, có thương hiệu, mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc, cạnh tranh được với các nước trong khu vực và thế giới. Phấn đấu đến năm 2030, Việt Nam trở thành quốc gia có ngành du lịch phát triển [37]. Đỗ Thị Thanh Hoa (2016), Những vấn đề đặt ra trong phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam: nghiên cứu, đánh giá các tiềm năng phát triển du lịch sinh thái, các hoạt động du lịch sinh thái ở Việt Nam hiện nay; đồng thời đánh giá thực trạng khai thác tiềm năng du lịch sinh thái giai đoạn hiện nay, phân tích những hạn chế, những cơ hội, thách thức, điểm mạnh, điểm yếu của du lịch sinh thái Việt Nam, từ đó đề xuất các thể chế, chính sách để có thể khai thác tiềm năng, phát triển du lịch sinh thái trong tương lai. 5 Liên quan đến vấn đề du lịch, phát triển du lịch, còn có các công trình nghiên cứu khác như Phát triển du lịch bền vững từ góc độ môi trường (Phạm Trung Lương,Tạp chí Du lịch số 7/2007), Phát triển các ngành du lịch trong quá trình phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế (Lưu Đức Hải, Tạp chí Tổng quan kinh tế xã hội Việt Nam số 4-2009, Hà Nội), Quy hoạch du lịch (Bùi Thị Hải Yến chủ biên, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2010), Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam (Phạm Trung Lương, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2010), Phát triển nguồn nhân lực du lịch - yếu tố quyết định sự phát triển của ngành du lịch Việt Nam (Nguyễn Văn Lưu, Nxb Thông tấn, Hà Nội, 2014), Du lịch Việt Nam thời kỳ đổi mới (Trần Thị Minh Hòa chủ biên, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2015), Phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam trong sự cạnh tranh với các nước trong khu vực ASEAN (Đoàn Mạnh Cương, in trong: Toàn cầu hóa du lịch và địa phương hóa du lịch, Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2017), Địa lý du lịch-cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển ở Việt Nam (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2018), Phát triển công nghiệp văn hóa ở Việt Nam (Từ Thị Loan chủ biên, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2017)…. Các công trình này đều khẳng định vai trò của du lịch đối với sự phát triển ở Việt Nam: phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo; tạo sự trao đổi, giao lưu văn hóa, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc,… Song, các công trình nghiên cứu trên cũng cho rằng, bên cạnh khía cạnh tích cực, phát triển du lịch ở Việt Nam hiện nay cũng đặt ra một số vấn đề cần giải quyết như: các chủ trương, chính sách liên quan đến phát triển du lịch thì tương đối sát thực tế nhưng việc thực thi chưa tốt và khẳng định, để nâng cao hơn nữa việc phát triển du lịch, thực hiện tốt các chiến lược phát triển du lịch của Đảng và Nhà nước thì cần thiết nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát huy vai trò của cộng đồng, công tác quy hoạch du lịch cần thực hiện tốt hơn nữa,… Thứ hai, những nghiên cứu về du lịch tại Lạng Sơn Công trình của UBND thị xã Lạng Sơn: Thị xã Lạng Sơn xưa và nay, (NXB Văn hóa Thông tin, 1989) là một quyển cẩm nang để các nhà nghiên cứu, nhà khoa học, các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan… có thể khai thác các thông tin liên quan đến các nội dung như: lịch sử hình thành thị xã Lạng Sơn; các di tích, danh 6 thắng, các phong tục, tập quán, văn hóa truyền thống và quá trình chiến đấu, xây dựng XHCN từ sau năm 1945 đến thời điểm biên soạn tác phẩm. Nguyễn Cường - Hoàng Nghiệm (2000), Xứ Lạng - Văn hóa và du lịch: Tác phẩm đã đánh giá về các điều kiện tự nhiên, điều kiện nhân văn, các thế mạnh về văn hóa, lịch sử của tỉnh Lạng Sơn, đây là những thế mạnh để có thể phát triển du lịch gắn với phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn. Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Lạng Sơn đã xuất bản công trình Di sản văn hóa Lạng Sơn, (Nxb Văn hóa Thông tin, 2006). Công trình gồm 02 tập: Tập 01 di sản văn hóa vật thể và Tập 02 di sản văn hóa phi vật thể đã thống kê, tập hợp toàn bộ các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của tỉnh Lạng Sơn. Đây là tài liệu quan trọng, đầy đủ về các di sản văn hóa của tỉnh Lạng Sơn, qua đó đánh giá tiềm năng, thế mạnh của văn hóa gắn với phát triển du lịch, để từ đó đưa ra các giải pháp bảo tồn, gìn giữ, khai thác và phát huy các di sản văn hóa đó. Hoàng Páo - Hoàng Giáp, Văn hóa Lạng Sơn (Nxb Văn hóa Thông tin, 2012): Tác phẩm đã thống kê, nghiên cứu về văn hóa của Lạng Sơn, trong đó có các lễ hội truyền thống, những phong tục tập quán của các dân tộc trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn. Đây là công trình có ý nghĩa quan trọng trong việc cung cấp thông tin liên quan đến văn hóa của Lạng Sơn, qua đó cung cấp các thông tin giúp các nhà nghiên cứu, các cơ quan quản lý nhà nước có định hướng trong việc bảo tồn, phát triển nền văn hóa Xứ Lạng gắn với phát triển du lịch. Ban Quản lý di tích tỉnh Lạng Sơn (2014), Những điểm đến văn hóa và du lịch hấp dẫn tỉnh Lạng Sơn: công trình đã thống kê các điểm du lịch, văn hóa trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, đây là cơ sở để xây dựng các tuyến du lịch, các sản phẩm du lịch và đề ra các phương án khai thác các điểm du lịch, văn hóa gắn với phát triển kinh tế. Trần Thị Bích Hạnh (2016), Phát triển du lịch tâm linh ở Lạng Sơn, Luận văn thạc sỹ Du lịch học, Đại học KHXH và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội: Luận văn phân tích, đánh giá sâu về du lịch tâm linh như đưa ra những cơ sở lý luận, một số vấn đề về du lịch tâm linh, thực trạng du lịch tâm linh trên địa 7 bàn cả nước; đánh giá khái quát về du lịch tâm linh tại tỉnh Lạng Sơn, qua đó đề xuất một số giải pháp để phát triển du lịch tâm linh trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn. Tỉnh Lạng Sơn cũng đã ban hành các văn bản liên quan đến phát triển du lịch, đó là: Quyết định số 1278/QĐ-UBND ngày 21/8/2010 của UBND tỉnh Lạng Sơn về việc phê duyệt "Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2010 2020 và tầm nhìn đến năm 2030”. Quyết định đã đưa ra mục tiêu phát triển du lịch tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2010 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, đó là: phát triển du lịch sẽ góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu nhập, nâng cao đời sống cho nhân dân, góp phần xóa đói giảm nghèo; đưa du lịch Lạng Sơn trở thành một trong những địa bàn trọng điểm du lịch của các tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc; nâng cao dân trí, bảo tồn và phát huy giá trị cảnh quan, di tích lịch sử và môi trường khu vực [47]. Nghị quyết số 41-NQ/TU ngày 18/6/2012 của Tỉnh ủy Lạng Sơn về phát triển thương mại, dịch vụ, du lịch đến năm 2015, định hướng đến năm 2020. Theo đó, mục tiêu phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn là: Phát triển thương mại, du lịch, dịch vụ trở thành lĩnh vực kinh tế mũi nhọn, là khâu đột phá, thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh [35]. Với những điều đã trình bày như trên, có thể thấy rằng, việc nghiên cứu "Thực hiện chính sách phát triển du lịch trên địa bàn thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn" mới chỉ được đề cập một cách rải rác trong một số văn bản, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách chuyên biệt, toàn diện vấn đề trên. Tuy nhiên, các công trình trên là tài liệu tham khảo hữu ích cho tác giả luận văn khi triển khai nghiên cứu đề tài. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận về thực hiện chính sách phát triển du lịch, đánh giá những thành tựu và hạn chế trong thực hiện chính sách phát triển du lịch ở thành phố Lạng Sơn, đề tài đề xuất một số nhóm giải pháp cơ bản nhằm nâng 8 cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển du lịch trên địa bàn thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn hiện nay. 3.2. Nhiệm vụ - Làm rõ một số vấn đề lý luận về thực hiện chính sách phát triển du lịch ở Việt Nam hiện nay. - Làm rõ thực trạng thực hiện chính sách phát triển du lịch trên địa bàn thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn. - Đề xuất một số nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển du lịch trên địa bàn thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn hiện nay. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Thực hiện chính sách và đưa ra các giải pháp chính sách mới nhằm phát triển du lịch trên địa bàn thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Nội dung: Việc thực hiện và triển khai các giải pháp chính sách phát triển du lịch trên trên địa bàn thành phố Lạng Sơn. Không gian nghiên cứu: Thực hiện chính sách phát triển du lịch trên địa bàn thành phố Lạng Sơn. Thời gian nghiên cứu: Thời gian thu thập số liệu, cơ sở dữ liệu sử dụng phục vụ nghiên cứu từ năm 2010 đến nay. Thời gian này được tính từ khi Quyết định số 1278/QĐ-UBND ngày 21/8/2010 của UBND tỉnh Lạng Sơn về việc phê duyệt "Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2010 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2030” ban hành. 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5.1. Cơ sở lý luận Luận văn có cơ sở lý luận là chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về văn hóa, du lịch, phát triển du lịch. 9 5.2. Phương pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, cùng với các phương pháp nghiên cứu cụ thể, bao gồm: Phương pháp nghiên cứu tài liệu; phương pháp phỏng vấn; phương pháp thống kê; phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu, phân tích định tính; phương pháp lịch sử và logic… 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 6.1. Ý nghĩa lý luận Luận văn góp phần làm sáng rõ hơn một số vấn đề lý luận về việc thực hiện chính sách phát triển du lịch ở Thành phố Lạng Sơn hiện nay. 6.2. Ý nghĩa thực tiễn Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong quá trình tham mưu thực hiện chính sách phát triển du lịch trên địa bàn thành phố Lạng Sơn. Đồng thời luận văn cũng là tài liệu tham khảo trong công tác nghiên cứu, giảng dạy liên quan đến phát triển du lịch, thực hiện chính sách phát triển du lịch ở Việt Nam hiện nay. Luận văn cũng có ý nghĩa khuyến nghị trong việc nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển du lịch ở Thành phố Lạng Sơn và của các cấp chính quyền ở các huyện, thị xã, thành phố có điều kiện kinh tế - xã hội tương đồng với thành phố Lạng Sơn. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương, 13 tiết: Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thực hiện chính sách phát triển du lịch ở Việt Nam hiện nay. Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách phát triển du lịch trên địa bàn thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Chương 3: Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển du lịch trên địa bàn thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn. 10 Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1.1. Khái niệm du lịch, chính sách phát triển du lịch, thực hiện chính sách phát triển du lịch 1.1.1. Du lịch Có nhiều quan niệm khác nhau về du lịch. Theo W.Hunziker và Kraff (Thụy Sĩ) thì du lịch là tổng hợp những và các hiện tượng và các mối quan hệ nảy sinh từ việc di chuyển và dừng lại của con người tại nơi không phải cư trú thường xuyên của họ; hơn nữa, họ không ở lại đó vĩnh viễn và không có bất kỳ hoạt động nào để có thu nhập tại nơi đến”. Theo Tổ chức du lịch thế giới: "Du lịch là hoạt động về chuyến đi đến một nơi khác với môi trường sống thường xuyên của con người và ở lại đó để tham quan, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí hay các mục đích khác ngoài các hoạt động để có thù lao ở nơi đến với thời gian liên tục ít hơn 1 năm" [47, tr.13]. Theo WTO thì du lịch là “một tập hợp các hoạt động và dịch vụ đa dạng, liên quan đến việc di chuyển tạm thời của con người ra khỏi nơi ở thường xuyên của họ nhằm mục đích tiêu khiển, nghỉ ngơi, văn hóa, dưỡng sức… và nhìn chung là vì những lý do không phải để kiếm sống”. Theo Khoản 1, Điều 3, Luật Du lịch Việt Nam năm 2017: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác” [33, tr.13]. Luận văn sử dụng khái niệm này trong triển khai nghiên cứu đề tài. Có thể thấy, các định nghĩa trên dù có cách tiếp cận khác nhau nhưng đều coi du lịch có chung một hoạt động nhằm mục đích đi chơi, giải trí. Ngày nay, cùng với sự phát triển của xã hội, thì ngoài mục đích đi chơi, giải trí thì du lịch còn có những mục đích khác như chữa bệnh, kết hợp hội thảo,…. Song, mục đích đi chơi, giải trí vẫn là mục đích 11 cơ bản và phân biệt hoạt động du lịch với các hoạt động khác (như chữa bệnh, hội nghị, hội thảo, công vụ…) [20, tr. 59,60]. Về cơ bản, du lịch có vai trò sau: Thứ nhất, góp phần phát triển kinh tế Thực tiễn đã chứng minh rằng, du lịch ngày càng đóng góp quan trọng trong GDP của các quốc gia, dân tộc, thông qua các hoạt động như xây dựng cơ sở vật chất, xây dựng cơ sở lưu trú, phát triển giao thông; phát triển các ngành chế biến thực phẩm, thủ công mỹ nghệ. Ở Việt Nam, theo Tổng cục Du lịch, năm 2017, ngành du lịch đã đóng góp khoảng 396.000 tỷ đồng (tương đương 7,9% GDP); Tạo ra gần 2,5 triệu việc làm (chiếm 4,6% tổng việc làm cả nước), giá trị xuất khẩu theo lượng khách đạt 8,837 tỷ USD (chiếm 4% tổng giá trị xuất khẩu cả nước) [23]. Thứ hai, góp phần phát triển văn hóa - xã hội Đó là góp phần nâng cao trình độ dân trí. Ở khu vực du lịch phát triển, người dân có ý thức trong việc nâng cao hiểu biết của mình để đáp ứng nhu cầu phục vụ du khách, đặc biệt là trong bối cảnh có sự phát triển du lịch cộng đồng, homestay như hiện nay. Quá trình này cũng nâng cao trình độ ứng xử của người dân; góp phần bảo tồn và phát huy di sản văn hóa; góp phần tạo sự bình đẳng giới, tăng sự tham gia của phụ nữ vào các hoạt động kinh tế, văn hóa xã hội của địa phương; giảm bớt sự bất bình đẳng giữa các khu vực, vùng miền; tạo sự giao lưu, trao đổi văn hóa,… Tuy nhiên, bên cạnh đó, du lịch cũng gây ra một số vấn đề xã hội cần phải giải quyết, đó là việc sử dụng, lạm dụng tài nguyên thiên nhiên đến cạn kiệt; ô nhiễm môi trường sống; xói mòn bản sắc văn hóa dân tộc, các tệ nạn xã hội có nguy cơ phát sinh… Chính vì sự tác động mang tính 2 mặt như trên, do vậy, trong quá trình phát triển du lịch, cần thiết có những chương trình, chính sách và thực thi chính sách phát triển du lịch hiệu quả. 12 1.1.2. Chính sách, chính sách công và chính sách phát triển du lịch 1.1.2.1. Chính sách Để hiểu thế nào là chính sách phát triển du lịch, cần tìm hiểu thế nào là chính sách. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, chính sách là “những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa…” [39, tr.475]. Từ đó có thể thấy, chính sách là “sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt được một mục đích nhất định, được đề ra dựa vào đường lối chính trị và tình hình thực tế” [25, tr.181]. Theo nghĩa đó, chính sách có thể là chính sách của một tổ chức, một cơ quan, một đơn vị, doanh nghiệp, một đảng phái, chính phủ… đề ra nhằm thực hiện một mục tiêu nào đó. Ở tầm vĩ mô, chính sách của Nhà nước, Chính phủ thường được coi là chính sách công. 1.1.2.2. Chính sách công Theo William Jenkins (1978): Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm các nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt các mục tiêu đó. Quan điểm này xác định chính sách công là tập hợp các quyết định có liên quan với nhau, quyết định thuộc thẩm quyền nhà nước để xác định mục tiêu và cách thức đạt được mục tiêu đó trong thực tiễn [24]. Về cơ bản, chính sách công có thể được hiểu như sau:“Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu và giải pháp thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định”[13]. Ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng là một chủ thể của chính sách công [60, tr.3-8], trên cơ sở đó, Chính phủ hoạch định, xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện. Bản chất của chính sách công là công cụ để nhà nước thực hiện chức năng, 13 nhiệm vụ của mình, thực hiện các hoạt động liên quan đến công dân và can thiệp vào hành vi xã hội trong quá trình phát triển chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội. Về cơ bản, chính sách công có đặc điểm sau: Thứ nhất, chủ thể ban hành Chính sách công là nhà nước Nếu như chủ thể ban hành các chính sách tư có thể là các tổ chức tư nhân, các đoàn thể chính trị - xã hội, cũng như các cơ quan trong bộ máy nhà nước để điều tiết hoạt động trong phạm vi tổ chức, đoàn thể hay cơ quan riêng biệt đó, thì chủ thể ban hành chính sách công chỉ có thể là nhà nước. Các cơ quan trong bộ máy nhà nước vừa là chủ thể ban hành, vừa là chủ thể tổ chức thực thi chính sách công. Chủ thể ban hành chính sách công là các cơ quan có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước bao gồm: Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, chính quyền địa phương các cấp... Trong việc thực thi chính sách công, các cơ quan và tổ chức của nhà nước là những chủ thể thực thi chủ yếu, song việc thực thi chính sách đó cũng là nghĩa vụ và trách nhiệm của mọi tổ chức và mọi thành viên có liên quan đến lĩnh vực mà chính sách công điều tiết. Thông thường, các cơ quan nhà nước đứng ra tổ chức thực thi và huy động các lực lượng khác trong xã hội hưởng ứng chính sách đó. Thứ hai, chính sách công gồm tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau: Các quyết định này có thể bao gồm cả Hiến pháp, pháp luật, các quyết định dưới luật, các chương trình hành động hay một kế hoạch hành động. Một chính sách có thể được thể chế hóa thành các văn bản pháp luật để tạo căn cứ pháp lý cho việc thực thi. Do đó, chính sách công không chỉ là một quyết định đơn lẻ, mà chính sách công có tính tổng thể và có thể bao gồm nhiều chính sách cụ thể. Thứ ba, chính sách công tập trung giải quyết một vấn đề đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo những mục tiêu xác định, là một quá trình hành động nhằm giải quyết một vấn đề nhất định nhằm vào những mục tiêu mà nhà nước mong muốn đạt được. Các mục tiêu đó có thể là định tính hoặc định lượng, là mục tiêu lâu dài có tính chiến lược, hay là những mục tiêu chung hạn hoặc ngắn hạn nhằm giải quyết những vấn đề quan trọng của đất nước trong một thời gian nhất định. 14
- Xem thêm -