Tài liệu Thực hiện chính sách luân chuyển cán bộ, công chức từ thực tiễn huyện sơn tây, tỉnh quảng ngãi.

  • Số trang: 69 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 246 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI NGUYỀN THANH VƯƠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH LUÂN CHUYỂN CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TỪ THỰC TIỄN HUYỆN SƠN TÂY, TỈNH QUẢNG NGÃI Chuyên ngành : Chính sách công Mã số : 834.04.02 LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS. BÙI NHẬT QUANG HÀ NỘI, năm 2018 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đất nước ta đã trải qua 30 năm đổi mới đã đạt được những thành tựu kinh tế- xã hội rất đáng khích lệ. Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thữ XII xá định mục tiêu phấn đấu đến nữa thế kỹ XXI xây dựng nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp, có cơ sở vật chất kỷ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống, vật chất và tinh thần của người dân được nâng cao; quốc phòng, an ninh được vững chắc, hực hiện thắng lợi mục tiêu, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Để phấn đấu đạt được mục tiêu trên là sự nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn dân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam mà nòng cốt là phải xây dựng cho được lực lượng cán bộ các cấp mà nhất là cấp chiến lược có phẩm chất, năng lực, uy tín đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hó, hiện đại hóa đất nước ( VK hội nghị lần thứ 7 BCHTW Đảng khóa XII) . Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập ra Đảng cộng sản Việt nam, người đặc nền móng cho việc xây dựng đội ngũ cán bộ của nước ta, ngay từ khi khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, người thấy rất rõ vị trí, vai trò của cán bộ.. Vì vậy, ngay từ những ngày đầu cách mạng, Hồ Chí Minh đã quan tâm đặc biệt đến việc đào tạo, đánh giá và sử dụng cán bộ, giao cho họ những trọng trách và giúp đỡ họ hoàn thành nhiệm vụ cách mạng giao phó. Để có được những cán bộ ưu tú một lòng vì Đảng, vì dân ” [44] Theo chủ tịch Hồ Chí Minh cán bộ là “ cầu nối” giữa Đảng, chính phủ với quần chúng nhưng không phải là “vật mang” là “ Dây dẫn”, là sự chuyển tải cơ học mà chính là 2 con người có đủ tư chất, tài năng và đạo đức để làm việc đó Nghị quyết hội nghị lần thứ 3, Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) xây dựng chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nghị quyết này là sự tập trung trí tuệ của cả hệ thống chính trị và các nhà khoa học để phản ánh đúng những quan điểm, nội dung phong phú và sâu sắc về cán bộ và công tác cán bộ cũng như chỉ ra những kết quả kinh nghiệm quý báu của một số quốc gia trong công tác cán bộ, cũng như những nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp, thực hiện tốt chiến lược cán bộ, đăc biệt là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược của Đảng [2]. Trong quá trình tổ chức thực hiện Nghị quyết trung ương 3 khóa VIII tại tỉnh Quảng Ngãi nói chung, huyện Sơn Tây nói riêng một trong những giải pháp thực hiện tốt công tác cán bộ đó là: thực hiện luân chuyển một số vị trí lãnh đạo chủ chốt để qua đó có thể rèn luyện, thử thách nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ các cấp trong huyện, để giúp họ hoàn thiện về mọi mặt để đáp ứng nhu cầu công tác lãnh đạo quản lý trong thời kỳ mới đạt kết quả cao. Qua quá trình học thạc sỉ chuyên ngành chính sách công tại Học viện khoa học Xã hội Thuộc Viện Hàn Lâm khoa học Xã hội Việt Nam, bản thân tôi quyết định chọ đề tài “Thực hiện chính sách luân chuyển cán bộ, công chức từ thực tiễn huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi” để làm luận văn thạc sỹ chính sách công. Luận văn này tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn, phân tích các yếu tố tác động đế chính sách điều động, luân chuyển cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi, trên cơ sở đó bản thân đề ra các nhóm giải pháp đổi mới, hoàn thiện chính sách nhằm giúp cho các cơ quan quản lý nhà nước trên địa bàn huyện thực hiện công tác điều động, luân chuyển cán bộ đạt hiệu quả cao. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài 3 Vấn đề cán bộ và công tác cán bộ nói chung cũng như các chính sách về cán bộ và công tác cán bộ nói riêng đã được rất nhiều nhà nghiên cứu và đã có không ít công trình được công bố, ví dụ đề tài cấp Nhà nước KX 0501 “ Xác định cơ cấu và tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong hệ thống chính trị đổi mới”, nghiên cứu vấn đề cơ cấu cán bộ, tiêu chuẩn cán bộ, mối quan hệ giữa tiêu chuẩn và cơ cấu của cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp trong hệ thống chính trị, ngoài ra còn rất nhiều nghiên cứu về vị trí, vai trò của cán bộ, vấn đề tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, thu hút nhân tài… đã được đề cập. Đặc biệt đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước “ Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” do PGS, TS Nguyễn Phú Trọng và PGS.TS Trần Xuân Sầm ( Đồng chủ biên năm 2001) đã tập trung phân tích, lý giải hệ thống hóa các căn cứ khoa học của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, từ đó đưa ra một hệ thống các quan điểm, phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đôi ngũ cán bộ, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong giai đoạn đầu thế kỷ XXI 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu Cán bộ và công tác cán bộ có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa quyết định sự thành bại của cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh “ Cán bộ là cái gốc của mọi công việc” “ Muốn vệc thành công hoặc thất bại điều do cán bộ tốt hay kém”. Nghị quyết 11-NQ/TW ngày 25/01/2002 của Bộ chính trị đã chỉ rõ: Từ khi thành lập, trong các thời kỳ cách mạng và kháng chiến, Đảng ta đã thực hiện việc luân chuyển cán bộ đáp ứng yêu cầu của cách mạng trong giai đoạn mới. Đại hội IX của Đảng khẳng định “ Thực hiện chủ trương luân chuyển cán bộ lãnh đạo và quản lý theo quy hoạch ở các 4 ngành và các địa phương”, có thể nói đây là một chủ trương rất quan trọng trong công tác cán bộ của Đảng, của cả hệ thống chính trị và các lượng vũ trang, nhằm đảm bảo thực hiện chủ trương đào tạo, bối dưỡng toàn diện và sử dụng hiệu quả đội ngũ cán bộ, tạo điều kiện cho cán bộ trẻ, có triển vọng, cán bộ trong quy hoạch được rèn luyện trong thực tiễn; tạo nguồn cán bộ lâu dài cho đất nước; tăng cường cán bộ các lĩnh vực và địa bàn cần thiết; khắc phục tình trạng cục bộ trong công tác cán bộ, khép kín trong các ngành, từng địa phương và đơn vị. Thực hiện chủ trương của Đảng và nhà nước trong những năm qua công tác luân chuyển cán bộ của cả nước nói chung, huyện Sơn Tây nói riêng đạt được nhiều kết quả quang trọng góp phần làm cho cán bộ và công tác án bộ ngày càng hoàn thiện hơn, đội ngũ cán bộ trưởng thành nhanh chóng, góp phần hoàn thiện nhiệm vụ chính trị của cả nước và từng địa phương. Tuy nhiên công tác luân chuyển cán bộ còn gặp nhiều khó khăn, bất cập, nhất là cơ chế chính sách, thực trạng đội ngũ cán bộ, các giải pháp thực hiện…Trên cở sở nghiên cứu lý luận về công tác cán bộ, chính sách đối với cán bộ công chức nói chung, qua khảo sát, đánh giá chính sách cán bộ (Trong đó có chính sách điều động, luân chuyển cán bộ công chức) tại huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi, bản thân xét thấy đây là vấn đề quang trong và cần thiết. Do đó cần tập trung nghiên cứu làm sáng tỏ thêm một số cơ sở lý luận, đánh gia sát thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức trên địa bàn huyện đông thời đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện chính sách cán bộ trên địa bàn huyện nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ tại huyện Sơn Tây cả về số lượng và chất lượng, xây dựng đội ngũ cán bộ ,công chức có phẩm chất chính trị trong sáng, đạo đức lối sống tốt, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ nhằm đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ phát triển của đất nước. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu 5 Luận văn tập trung phân tích cơ sở lý luận, lý thuyết cơ bản về công tác cán bộ và chính sách cán bộ Phân tích, đánh giá và làm rỏ việc thực hiện công tác cán bộ, chính sách cán bộ, mục tiêu, các giải pháp; các yếu tố tác động làm ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách cán bộ tại huyện Sơn Tây- Tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2005- 2017. Qua đó đề xuất, kiến nghị nhiều nhóm giải để hoàn thiện chính sách cán bộ (Trong đó có chính sách điều động, luân chuyển cán bộ) ở huyện đạt hiệu quả cao hơn trong thời gian đến. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu *. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu đề tài là công tác cán bộ và chính sách điều động, luân chuyển cán bộ, công chức. - Phạm vi không gian: Trên địa bàn Huyện Sơn Tây- Tỉnh Quảng Ngãi. - Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2005- 2017 5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5.1. Phương pháp luận Luận văn thực hiện cách tiếp cận đa ngành, tận dụng phương pháp nghiên cứu chính sách công, đó là cách tiếp cận quy phạm chính sách công về chu trình từ hoạch định đến việc xây dựng, thực hiện và đánh giá chính sách công có sự tham gia của các chủ thể chính sách. Lý thuyết chính sách công được định hướng qua thực tiễn, giúp hình thành lý luận về chính sách chuyên ngành. 5.2. Phương pháp nghiên cứu Thực hiện phương pháp nghiên cứu định tính, định lượng và phương pháp tổng hợp, thu thập số liệu: + Số liệu thứ cấp: các số liệu thu thập về cán bộ, công chức, viên chức 6 tại huyện Sơn Tây- Tỉnh Quảng Ngãi . + Các văn bản gòm: Luât, Nghị quyết của Đảng, chính sách của nhà nước quy định về công tác cán bộ, chính sách đối với cán bộ. + Số liệu sơ cấp được tự thu thập qua công tác điều tra thực tế tai huyện Sơn Tây , Tỉnh Quảng Ngãi. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 6.1. Ý nghĩa lý luận - Đề tài vận dụng, bổ sung lý thuyết khoa học chính sách công để làm sáng tỏ vấn đề khoa học và vấn đề thực tiễn của công tác cán bộ và chính sách cụ thể: chính sách cán bộ ( Điều động, luân chuyển cán bộ , công chức). - Đề tài cung cấp những nghiên cứu, tư liệu, khảo sát thực tế tại huyện Sơn Tây- Tỉnh Quảng Ngãi, qua đó góp phần làm sâu sắc thêm hệ thống lý luận của khoa học chính sách công. 6.2. Ý nghĩa thực tiễn Qua nghiên cứu thực tiễn công tác cán bộ, chính sách cán bộ (điều động, luân chuyển cán bộ, công chúc) tại huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi từ đó chỉ ra những khó khăn, những hạn chế trong hoạch định và thực hiện chính sách, đồng thời kết quả nghiên cứu sẽ giúp cho lãnh đạo huyện, các ban ngành liên quan có cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn để vân dụng và điều chỉnh chính sách, đồng thời tổ chức thực hiện công tác cán bộ, thực hiện chính sách điều động, luân chuyển cán bộ, công chức tại huyện Sơn Tây-Tỉnh Quảng Ngãi có hiệu quả hơn. 7. Cơ cấu của luận văn *Luận văn được cơ cấu gồm các phần sau: - Phần mở đầu. - phần kết luận. - phần phụ lục. 7 - Danh mục các chữ viết tắt - Danh mục các hình và bảng. - Danh mục tài liệu tham khảo. *Luận văn được bố cục theo các chương sau: Chương 1: Cơ sở lý thuyết về luân chuyển cán bộ Chương 2: Thực trạng thực hiện hính sách luân chuyển cán bộ tại huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi Chương 3: Định hướng, giải pháp tăng cường thực hiện chính sách luân chuyển cán bộ từ thực tiễn huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi 8 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ LUÂN CHUYỂN CÁN BỘ 1.1. Một số khái niệm cơ bản .Từ cán bộ được hình thành trong những năm 60-70 của thế kỷ XX, tồn tại cho đến ngày hôm nay nhằm để chỉ; đây là những chiến sĩ cách mạng, những lớp người mới, họ là những người sẵn sàng chịu đựng gian khổ, hy sinh, gắn bó với nhân dân, vì sự nghiệp và phục vụ cho sự nghiệp giành độc lập, tự do cho dân tộc. Qua các thời kỳ cách mạng, khái niệm cán bộ không được làm rõ. Từ cán bộ gần như được dùng thay thế cho từ công chức, cũng trong giai đoạn dài hình ảnh công chức trong xã hội (cũ) thường bị coi là xấu “ Sáng vác ô đi, chiều vác về” Ở nước ta, theo cách hiểu thông thường, cán bộ được coi là tất cả những người thoát ly, làm việc trong cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể, Lực lượng vũ trang, trong quan niệm hành chính, cán bộ được coi như những người có mức lương từ cán sự (cũ) trở lên, để phân biệt với nhân viên có mức lương thấp hơn cán sự. vậy cán bộ là gì? cán bộ phải là những người có bản lĩnh chính trị vũng vàng, đạo đức lối sống trong sáng, năng lực chuyên môn giỏi, trình độ học vấn cao, tinh thông nghiệp vụ, có tâm lý và văn hóa của người chỉ huy, người lãnh đạo, điều hành Như vậy; để làm rỏ các khái niệm cán bộ, công chức, trước tiên ta nghiên cứu khái niệm chính sách công. * Khái niệm chính sách công: Chính sách là một thành tố, công cụ của quản lý. Chính sách công là thành tố của quản lý nhà nước, có thể được hiểu “là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, 9 kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội” (Vũ Cao Đàm, Quản lý học đại cương,1996) Chính sách công cũng có thể được hiểu “là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Đảng và Nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể và giải pháp thực hiện giải quyết các vấn đề xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định” (Đỗ Phú Hải ). * Khái niệm cán bộ [43] Theo luật cán bộ, công chức do Quốc hội Khóa XII nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam quy định - Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm, giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam, nhà nước, tổ chức chính trị- xã hội ở Trung ương, ở Tỉnh, Thành phố trực thuộc trung ương ( Sau đây gọi chung là cấp Tỉnh), Ở huyện,quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh. (Sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước. - Cán bộ xã, phường, thị trấn (Sau đây gọi chung là cấp xã ) là công dân Việt Nam, được bầu cử, giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, phó bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ cức chính trị- xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. * Khái niệm công chức [43] Theo luật cán bộ, công chức do Quốc hội khóa XII nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam quy định: - Công chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan Đảng công sản Việt Nam, nhà nươc, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, 10 đơn vị thuộc quân đội nhân dân mà không phải là sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân Quốc phòng, trong cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân mà không phải là sỹ quan, hạ sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên nghiệp trong bộ máy lãnh đao, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhà nước, tổ cức chính trị- xã hội (Sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong bên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước. Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. 1.2.Vị trí của cán bộ và công tác cán bộ 1.2.1. Các lý luận: - Lý luận theo chủ tịch Hồ Chí Minh [44] Trong sự nghiệp cách mạng , chủ tịch Hồ Chí Minh coi “ Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “ Muốn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay xấu” Hồ Chủ tịch chỉ ra rằng: “ Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, đề ra cho chính sách đúng”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt cán bộ ở vị trí có tính chất quyết định: chính sách đúng đắn có thể không thu được kết quả nếu cán bộ làm sai, cán bộ yếu kém. Về vấn đề này, Hồ Chí Minh đã đi xa hơn, sâu hơn, chỉ ra cội rễ của vấn đề một cách vừa cụ thể vừa có tính chất tổng quát, người nói: “ khi đã có chính sách đúng thì sự thành công và thất bại của chính sách đó là do cách tổ chức công việc, do nơi lựa chọn cán bộ, do nơi kiểm tra. Nếu ba điểm ấy sơ sài, thì chính sách đúng mấy cũng vô ích”. Theo Hồ chủ tịch trong công tác tổ chức cán bộ cần xem xét các vấn đề 11 lớn sau đây và các vấn đề đó có quan hệ gắn bó chặc chẽ với nhau: Để có cán bộ tốt, đáp ứng được phong trào, cho nhiệm vụ của mỗi giai đoạn cách mạng, công tác cán bộ cần phải có vị trí quyết định. Theo chủ tịch Hồ Chí Minh, cán bộ luôn gắn với tổ chức, chất lượng cán bộ là kết quả tổng hợp của tất cả các khâu đào tạo, rèn luyện, bồi dưỡng, đánh giá, sử dụng, đề bạt, cất nhắc, kiểm tra, giám sát, phê bình… và sự nỗ lực phấn đấu của từng người. - Lý luận theo Đảng cộng sản Việt Nam [44] * Theo văn kiện đại hội lần thứ XII của Đảng: Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thữ XII của Đảng, trong phần đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ nêu: Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ. Thể chế hóa, cụ thể hóa các nguyên tắc về: Quan hệ về đường lối chính trị và đường lối cán bộ; quan điểm giai cấp và chính sách đại đoàn kết rộng rãi trong công tác cán bộ; quan hệ giữa tiêu chuẩn và cơ cấu; giữa đức và tài; giữa kế thừa và phát triển… Quán triệt và nghiêm túc thực hiện quan điểm Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ đi đôi với phát huy quyền và trách nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị về công tác cán bộ. Tiếp tục ban hành và thực hiện các quy định, quy chế, cơ chế trong công tác cán bộ đảm bảo tính thông nhất, đồng bộ và chặc chẽ giữa các khâu, liên thông giữa các cấp trong đó có quy chế về việc đánh giá đúng đắn, khách quan đối với cán bộ để cơ sở sử dụng, bố trí cán bộ, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng chạy chức, chạy tuổi, chạy bằng cấp,… Tăng tỷ lệ cán bộ lãnh đạo, cấp ủy là người dân tộc thiểu số, cán bộ nữ, cán bộ trẻ… Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực và phẩm chất, ngang tầm nhiệm vụ. có cơ chế, chính sách phát hiện, trọng dụng nhân tài. 12 Theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa XII về công tác cán bộ * Nghị quyết hội nghị trung ương 7 khóa XII - Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; công tác cán bộ là khâu "then chốt" của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là công việc hệ trọng của Đảng, phải được tiến hành thường xuyên, thận trọng, khoa học, chặt chẽ và hiệu quả. - Thực hiện nguyên tắc Đảng lãnh đạo trực tiếp, toàn diện, mọi mặt về công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trong toàn hệ thống chính trị. Chuẩn hoá, đảm bảo kỷ luật, kỷ cương cùng với xây dựng thể chế và tạo môi trường, tạo điều kiện thuận lợi để thúc , đổi mới, phát huy sáng tạo và bảo vệ những cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung. Phân công, phân cấp gắn với giao quyền, ràng buộc trách nhiệm, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực và xử lý nghiêm minh sai phạm. - Tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan, thường xuyên đổi mới công tác cán bộ phù hợp với tình hình thực tiễn. Xây dựng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải xuất phát từ yêu cầu, thực tiễn qua các phong trào cách mạng của nhân dân; đặt trong tổng thể của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, kiện toàn tổ chức bộ máy của cả hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, tập trung trọng dụng, thu hút nhân tài. - Xây dựng đội ngũ cán bộ là trách nhiệm của toàn đảng, toàn quân và toàn dân, mà trách nhiệm cao nhất là người đứng đầu các tổ chức và cơ quan tham mưu về công tác cán bộ. 1.2.2. Lý luận về chính sách điều động, luân chuyển cán bộ lãnh đạo quản lý ở nước ta hiện nay Nghị quyết 11-NQ/TW ngày 25/01/2002 của Bộ chính trị đã chỉ rõ: Kể 13 từ khi mới thành lập, đã trải qua các thời kỳ cách mạng, Đảng ta đã thực hiện việc luân chuyển cán bộ nhằm đáp ứng yêu cầu của từng giai đoạn cách mạng và tại Nghị quyết TW 3 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đề ra nhiệm vụ: Luân chuyển cán bộ, quản lý giữa các vùng, các ngành, các cấp [4] Đại hội IX của Đảng tiếp tục khẳng định “ Thực hiện chủ trương luân chuyển cán bộ lãnh đạo và quản lý theo quy hoạch ở các ngành và các địa phương”, có thể nói đây là một chủ trương rất quan trọng trong công tác cán bộ của Đảng, của cả hệ thống chính trị và các lượng vũ trang, nhằm đảm bảo thực hiện chủ trương đào tạo, bối dưỡng toàn diện và sử dụng hiệu quả đội ngũ cán bộ, tạo điều kiện cho cán bộ trẻ, có triển vọng, cán bộ trong quy hoạch được rèn luyện trong thực tiễn; tạo nguồn cán bộ lâu dài cho đất nước; Cần tạo điều kiện để thử thách, rèn luyên, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ trẻ, có triển vọng, giúp họ trưởng thành nhanh và toàn diện hơn, đáp ứng yêu cầu trước mắt và lâu dài về công tác cán bộ của cả hệ thống chính trị và của các cấp, các ngành, kể cả lực lượng vũ trang. Ngày 11/9/2017 Bộ Chính Trị ban hành kết luận số 17-KL/TW về tình hình thực hiện tinh giảm biên chế của các tổ chức trong hệ thống chính trị năm 2015- 2016, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp giai đoạn 2017- 2021. Ngày 7/ 10/ 2017 Ban Chấp hành Trung ương ban hành quy định số 98QĐ/TW về luân chuyển cán bô. Trong đó yêu cầu: + Thực hiện có hiệu quả các nghị quyết của Đảng về công tác cán bộ và công tác luân chuyển cán bộ, qua đó xây dựng đội ngủ cán bộ ngang tầm nhiệm vụ trong thời kỳ đổi mới đất nước. + Đổi mới mạnh mẽ công tác luân chuyển cán bộ, đảm bảo dân chủ, khách quan, công khai, minh bạch, công bằng, ngăn chặn tiêu cực, tham những, lợi ích nhóm, quan hệ họ hàng, thân quen… + Kết hợp việc luân chuyển với điều động, việc bố trí đội ngũ cán bộ 14 phải hợp lý trong toàn hệ thống chính trị. *Trên cơ sở NQ TW 7 khóa XII về công tác cán bộ. Ngày 15/ 5/ 2018 Tỉnh ủy Quảng Ngãi ban hành quy định số 01- QĐ/TU về việc quy định luân chuyển, điều động cán bộ lãnh đạo, quản lý và cán bộ trẻ trên địa bàn tỉnh với các yêu cầu như sau: + Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chủ trương, nghị quyết của Đảng về công tác cán bộ và luân chuyển cán bộ, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ ngang tầm nhiệm vụ trong từng giai đoạn. + Đổi mới mạnh mẽ công tác luân chuyển cán bộ, đảm bảo dân chủ, khách quan, công khai, minh bạch, công bằng, ngăn chặn tiêu cực, tham những, lợi ích nhóm, quan hệ họ hàng, thân quen… + Cán bộ sau 01 năm luân chuyển phải nắm bắt được tình hình tại địa phương và phải phát hiện được những điêmt mới, vấn đề mới, những việc khó khăn, những yếu kém, mâu thuẫn ở đơn vị mới, từ đó đề xuất các giải pháp để tổ chức thực hiện, sau 02 năm có kết quả, sau 03 năm phải tạo sự chuyển biến rõ nét, được địa phương, đơn vị và cơ quan quyết định luân chuyển ghi nhận kết quả thực hiện. Nghiêm túc thực hiện chủ trương luân chuyển cán bộ kết hợp chặt chẽ với bố trí chức danh lãnh đạo chủ chốt cấp Tỉnh, cấp huyện không là người địa phương và cán bộ không giữ chức vụ 2 nhiệm kỳ liên tiếp. 15 Kết luận Chương 1 Trong chương 1 tác giả trình bày các khái niệm cơ bản về chính sách công, khái niệm về cán bộ, công chức các vị trí cán bộ, công chức theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chính Minh và của Đảng ta. Trong chương này tập trung làm sáng tỏ cũng như trình bày các lý luận về chính sách điều động, luân chuyển cán bộ lãnh đạo quản lý ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, qua đó làm cơ sở cho việc đề ra các giải pháp thực hiện công tác luân chuyển cán bộ trong thời gian đến đạt kết quả cao. Chương 2 cần tập trung làm sáng tỏ về thực trạng thực hiện chính sách luân chuyển cán bộ tại huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi. Nhất là thực trạng về kinh tế- xã hội và các vấn đề khác có liên quan. 16 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH LUÂN CHUYỂN CÁN BỘ TẠI HUYỆN SƠN TÂY- TỈNH QUẢNG NGÃI Trong chương này tác giả sẽ trình bày các điều kiện thực hiện chính sách luân chuyển cán bộ tại huyện Sơn Tây- tỉnh Quảng Ngãi, nhất là điều kiện kinh tế-xã hội sẽ tác động trực tiếp đến đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ trên địa bàn huyện. Đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức, thực trạng về việc điều động cán bộ, công chức trên địa bàn huyện, từ việc đánh giá thực trạng để làm cơ sở cho việc đề ra các giải pháp có hiệu quả hơn. chương này tổ chức khảo sát, lấy ý kiến của nhiều cán bộ, công chức được điều động luân chuyển trên địa bàn huyện và chính sách điều động, luân chuyển cán bộ của Đảng và nhà nước trên địa bàn huyện trong những năm qua. 2.1. Các điều kiện thực hiện chính sách luân chuyển cán bộ tại huyện Sơn Tây- tỉnh Quảng Ngãi 2.1.1. Thực trạng phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh Quảng Ngãi * Đặc điểm tự nhiên: Tỉnh Quảng Ngãi thuộc duyên hải Trung Trung bộ, Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam, Phía nam giáp tỉnh Bình Định, phía tây giáp tỉnh Kong Tum, phía đông giáp biển có đặc điểm chung là núi và biển. Địa hình được phân chia theo vùng: Đồng bằng, miền núi và hải đảo. được mịnh họa qua số liệu tại bảng 2.1 sau: Bảng 2.1. Diện tích tự nhiên của các huyện, thành phố cảu tỉnh Quảng Ngãi Số TT Tên đơn vị hành chính cấp huyện, thành phố I Các huyện đồng bằng 17 Diện tích km² Tỷ lệ(%) 1.899 36,85 1 Thành phố Quảng Ngãi 37 0,72 2 Huyện Bình Sơn 468 9,07 3 Huyện Sơn Tịnh 344 6,67 4 Huyện Tư Nghĩa 228 4,42 5 Huyện Nghĩa Hành 235 4,55 6 Huyện Mộ Đức 214 4,15 7 Huyện Đức Phổ 373 7,23 II Các huyện miền núi, hải đảo 3.254 63,17 8 Huyện Sơn Tây 382 7,42 9 Huyện Ba Tơ 1.137 22,06 10 Huyện Minh Long 217 4,21 11 Huyện Sơn Hà 752 14,59 12 Huyện Tây Trà 337 6,55 13 Huyện Trà Bồng 419 8,17 14 Huyện Lý Sơn( huyện đảo) 10 0,20 5.153 100 Tổng cộng (Nguồn: Cục Thống Kê tỉnh Quảng Ngãi năm 2015) Qua bảng số liệu trên, phản ánh, diện tích tự nhiên chủ yếu phân bổ ở các huyện miền núi với 3.254 km² chiếm 63,17% diện tích toàn tỉnh. Trong khi đó các huyện đồng bằng chỉ chiến 1.899 km² chiếm 36,85% diện tích toàn tỉnh, còn thành phố Quảng Ngãi chỉ có 37 km² chiếm 0,72% diện tích toàn tỉnh. . Quảng Ngãi có huyện đảo Lý Sơn nằm ở hướng Đông Đông Bắc của tỉnh có diện tích 10 km² có vị trí chiến lược quốc phòng quan trọng, đồng thời cũng là có cảnh quan thiên nhiên đẹp. * Đặc điểm xã hội. Dân số của tỉnh (đến năm 2015) là 1.219.286 người. Dân số có cơ cấu trẻ: cơ cấu các nhóm tuổi tương đối hợp lý, tuy nhiên ở nhóm trẻ có tính vượt trội hơn, đây là một thuận lợi về phát triển nguồn nhân lực trong giai đoạn tới, 18 Là nguồn lao động dồi dào của tỉnh trong thời kì mới. tuy nhiên cơ cấu dân số trẻ cũng là một vấn đề khó khăn , do độ tuổi bước vào độ tuổi lao động hằng năm trên địa bàn tỉnh khá cao, do đó đặt ra cho tỉnh nhà vấn đề giải quyết việc làm , công tác xóa đói, giảm nghèo,việc giáo dục đào tạo, nhất là đào tạo nghề đang đặt ra yêu cầu rất lớn trên địa bàn tỉnh. Tỉnh Quảng Ngãi có 14 đơn vị hành chính cấp huyện gồm: Thành Phố Quảng Ngãi, 6 huyện đồng bằng, 6 huyện miền núi và huyện đảo Lý Sơn. Dân số và mật độn dân số của tỉnh từ năm 2008 đến năm 2010 được thể hiện qua bảng 2.2 sau: Bảng 2.2. Mật độ dân số các huyện trong tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2013 đến năm 2015 Dân số qua các năm Mật 2013 2014 2015 độ Số dân số số T Tên đơn vị hành năm Số số tỷ lệ tỷ lệ lượng tỷ lệ T chính cấp huyện, lượng 2015 lượng (%) (%) (người (%) (ngườ thành phố (người) ( người) ) i/km) Các huyện đồng I bằng 1.097.6 999.71 04 83,43 997.650 81,99 1 81,99 1 Thành phố Quảng 126.668 9,63 112.384 19 9,24 526 112.61 9,24 3.044 Ngãi 6 2 Huyện Bình Sơn 175.30 184.655 14,04 174.939 14,38 0 14,38 375 3 Huyện Sơn Tịnh 187.50 197.745 15,03 187.119 15,38 8 15,38 545 4 Huyện Tư Nghĩa 167.59 183.901 13,98 167.252 13,75 7 13,75 735 Huyện Nghĩa 5 Hành 101.532 7,72 89.488 7,34 381 6 Huyện Mộ Đức 126.31 146.980 11,17 126.059 10,36 9 10,36 590 7 Huyện Đức Phổ 140.48 156.123 11,87 140.593 11,55 3 11,55 378 Các huyện miền II núi 219.57 217.948 16,57 219.123 18,01 5 18,01 67 8 Huyện Sơn Tây 16.458 1,25 18.092 1,49 19,448 1,49 50 9 Huyện Ba Tơ 50.690 3,85 51.468 4,23 51.574 4,23 45 10 Huyện Minh Long 15.490 1,18 15.498 1,27 15.535 1,27 72 11 Huyện Sơn Hà 76.709 5,15 68.345 5,62 68.486 5,62 91 12 Huyện Tây Trà 16.718 1,27 17.798 1,46 17.835 1,46 53 13 Huyện Trà Bồng 30.204 2,30 29.699 2,44 29.761 2,44 71 14 Huyện Lý Sơn 20.598 1,57 18.223 1,50 18.260 1,50 1.826 IV Tổng cộng 1.315.5 52 100 1.216.77 3 100 1.219.2 86 100 89.304 7,34 III Huyện hải đảo 237 Nguồn: Cục thống kê tỉnh Quảnng Ngãi 2013-2015 Mật độ dân số tỉnh Quảng Ngãi năm 2015 là 237 người/km², tỉ lệ tăng dân số tự nhiên là 0,96%. Dân số Thành phố Quảng Ngãi là 112.616 người chiếm 9,24% dân số toàn tỉnh nhưng chỉ số trên 37 km², chiếm 0,72% tổng diện tích toàn tỉnh, nên có mật độ dân số cao nhất, đạt 3.044 người/km². 20
- Xem thêm -